Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An

Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình xây dựng nhànướcpháp quyền xãhộichủnghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, các cơ quan tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) nói riêng luôn giữ vị trí quan trọng, là lực lượng nòngcốtthực hiện nhiệmvụđấutranh phòng chốngtộiphạm, bảovệ các quyền cơ bản của công dân, là nền tảng cơ bản của nhà nước pháp quyền.

Thực hành quyền công tố (THQCT) trong tố tụng hình sự là hoạtđộng quan trọng, cơ bản và mang tính xuyên suốt, liên tục của VKSND, nhằm thực hiệnmộttrong ba chức năng của tốtụng hìnhsự:Chức năng buộc tội, chức nănggỡtội và chức năng xét xử. THQCT có ý nghĩa to lớn trong việc giảm thiểu oan sai và chốngbỏlọttộiphạm. Chính vì vậy, hệ thống pháp luậttốtụng hình sự hiện hành quy định VKSND các cấp nhiều quyền năng và nhiệm vụquan trọng. Không thể phủnhận vai trò, ýnghĩa của mọikhâu công tác cũng như nhiệm vụ khác, nhưng THQCT trong tố tụng hình sự thể hiện rõ nét nhất vị trí, vai trò của VKSND và cũng là giai đoạn mà ngành Kiểm sát phải gánh vác nhiều nhiệmvụ,vớitrách nhiệm nặngnềnhất,đâylà hoạtđộngmàVKS đại diện cho nhà nước thực hiện tất cả các hoạt động luật định nhằm buộc tội đối với người bị coi là tội phạm.

Mộttrong nhữngnộidung, định hướngcảicách tư pháp hiện naycủaĐảng, Nhà nước ta là tăng cường, hoàn thiện chức năng công tố. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm củacông tác tư pháp trong thời giantớiđãnhậnđịnhvềcông tác tư

pháp: “…nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trườnghợpbỏlọttộiphạm, làm oanngườivô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và cơ quan tư pháp”. Đồng thời, Nghị quyết cũng đãxácđịnhmộtsốnhiệm vụtrọng tâm củacông tác tư pháp liên quanđến trách nhiệm của VKS trong thời gian tới: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạtđộngtư pháp. Hoạtđộngcôngtốphảiđượcthực hiện ngaytừkhi khởi tốvụ ánvà trong suốt quá trình tốtụng nhằm đảmbảokhông bỏlọttộiphạm vàngườiphạm tội, không làm oanngườivô tội…”. Ngày 24/5/2005, BộChínhtrịban hành Nghị quyếtsố48-NQ/TW“VềChiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật” Việt Nam đến năm 2010,định hướng đến năm 2020, trong đó có nội dung: “Hoàn thiện pháp luật vềtổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Khóa 10 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu

rõ:“…bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Việnkiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tưpháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”.

Để hoàn thành nhiệm vụ đó, ngành Kiểm sát nói chung, VKSND hai cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, hoàn thànhtốtnhiệm vụchuyên môn, góp phần quan trọng vào công cuộcđấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xãhội,bảovệquyền vàlợiíchhợpphápcủacông dân. Tuy nhiên, bên cạnh nhữngkếtquảđạtđược,công tác THQCT trongtốtụng hìnhsựtrênđịa bàn tỉnh Nghệ An còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế. Vẫn còn tình trạng bỏlọt tội phạm hoặc để xảy ra các trường hợp khởi tố bị can sau đó phải đình chỉ điều tra vì không phạm tội; số lượng án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung vẫncòn nhiều, trongđócó nhữngvụphảitrảhồsơđểđiềutrabổsung nhiều lần;vẫncònmộtsốtrườnghợpáp dụng biện pháp ngăn chặn,đặc

biệt là tạm giữ, tạm giam không có căn cứ… Một trong những nguyên nhân dẫnđếntình trạngđólà do công tác THQCT của Viện kiểm sát (VKS) chưa được thực hiện chặt chẽ và có hiệu quả. Những hạn chế đó không chỉảnhhưởngtrực tiếpkếtquảgiải quyếtvụán mà cònảnhhưởngđếndanh dự,nhân phẩm và các quyền cơbảncủacông dân cũng như uy tín của ngành kiểm sát và các cơ quan tư pháp.

Trong những năm qua, Đảngđã ban hành nhiều Nghị quyết,Chỉthịliên quanđếnlĩnh vực tư pháp; Quốc hội đã sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật, trongđócó nhiều quyđịnhmớiliên quanđếnchức năng, nhiệm vụcủa VKSND như: Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015… Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập cả về lý luận lẫnthực tiễn áp dụng những quy định trên, đòi hỏi phải cósựnghiên cứu thấu đáo, có hệ thống, tạo cơ sở pháplý đểVKSND thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong tố tụng hình sự.

Xuất pháttừnhững lý do nêu trên, tác giả chọnđề tài “Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An” làm luận án tiến sỹ luật học tại Học viện Khoa học xã hội.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án – Mục đích:

Làm rõ luậncứkhoa học về quyền côngtố(QCT) và THQCT; thực tiễn THQCT trênđịabàn tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở đó, luận án đưa ra yêu cầu, giải pháp nhằmbảo đảmthực hiện chức năng của VKS hai cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, đáp ứng yêucầucải cách tư pháp.

– Nhiệm vụ:

+ Phân tích cơ sở lý luận về chức năng thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự của VKSND.

+ Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự của VKSND haicấpở Nghệ An, có so sánh, đối chiếuvới số liệu của cả nước và một sốtỉnh điển hình.

+Đềxuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng THQCT trong tố tụng hình sự của VKS.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án – Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự, luậnántậptrung nghiên cứu, phân tích, làm rõ quanđiểm khoahọcvềQCT, THQCT;bảnchất pháp lýcủaQCT, THQCT và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quanđếnhoạtđộngTHQCTtạiNghệ An, có so sánhvớisốliệu toàn quốc và một số tỉnh điển hình; nghiên cứu định hướng của Đảng, Nhànước đối với công cuộc cải cách tư pháp nói chung, đối với ngành Kiểm sát nói riêng; nghiêncứucác quyđịnhpháp luậtvềhoạtđộngTHQCT của VKSND.

– Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiêncứucủaluận án là nhữngvấnđềlý luậnvềQCT và THQCT; thực tiễn hoạt động THQCT trong tố tụng hình sự của VKSND hai cấptrênđịabàn tỉnh Nghệ An. Hoạtđộngkiểm sát hoạtđộngtư pháp của VKSND, hoạtđộng củaVKS quân sự không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài. Luận án giớihạnviệc khảo sát thực tiễn trên địa bàn tỉnh Nghệ An từnăm 2006 đến năm 2015, số liệu so sánh với các địa phương khác lấy từ năm 2010 đến 2015.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án – Phương pháp luận

Luận ánđược thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duyvậtbiện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nướcvà Pháp luật;Đườnglốicủa ĐảngCộngsảnViệt Namvề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay; Quan điểmđổi mớitổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, VKSND nói riêng trong thời kỳ mới.

Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An
Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An

– Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu như: phân tích, tổng hợp, hệ thống, liên ngành,

luật học so sánh, thống kê, khảo sátthực tiễn…

Phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua tổng hợp và phân tích tài liệu, so sánh các vấn đề nghiên cứu giữa các đối tượng được lựa chọn.

Phương pháp nghiêncứutrực tiếp qua khảo sát thực tiễn, tiếp xúc vàtraođổitrực tiếpvớicác nhà nghiên cứu, nhữngngườiphụtrách và nghiên cứu lĩnh vực chính trị, luật pháp, những người làm công tác thực tiễn.

Sửdụng phương pháp tiếpcậnhệ thống, đa ngành và liên ngành luật học, phương pháp tiếpcậnchuyên ngành luật hìnhsựvà tốtụng hình sự, phương pháp liên ngành lịch sử, chính trị, kinh tế.

Phương pháp thống kê, tổnghợphệthống: nhằm thống kê, tổng hợp, so sánhnộihàm chức năng THQCT trong lịchsửtốtụng hìnhsựViệt Nam.

Phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học: nhằm xây dựng hệ thống khái niệm liên quan đến THQCT trong tố tụng hình sự, làm rõchủthể thực hiện QCT và vai trò của chức năng THQCT trong tố tụng hình sự.

Phương pháp nghiêncứuluậthọcso sánh: nhằm so sánh chức năng THQCT của VKSND trong mô hình tố tụng hình sự Việt Nam với cơ quan công tố/Viện kiểm sát của một số mô hình tố tụng điển hình trên thế giới.

Phương pháp phân tích, dự báo khoa học, nhằmdựbáo về xu hướng phát triển, hoàn thiệnvềnộihàm chức năng THQCT trongtốtụng hìnhsựViệt Nam.

5. Đóng góp mới về khoa họccủaluận án

Đâylà công trình chuyên khảo trong khoahọcpháp lý Việt Nam ở cấpđộluận án tiếnsỹnghiêncứumộtcách toàn diện, cóhệ thốngvề

5

THQCT trongtốtụng hìnhsựtrên cơsở tổngkếtthực tiễn hoạtđộngcủa VKSND hai cấp ở tỉnh Nghệ An. Những đóng góp mới của luận án thể hiện qua các nội dung sau :

-Hệthống hóa và góp phần làm rõ thêm nhữngvấnđềlý luậnvềQCT, THQCT, mốiliênhệgiữa THQCT và kiểm sát hoạtđộngtư pháp (HĐTP) trong tố tụng hình sự.

– Phân tích các quy định pháp luật tố tụng hình sự quy định chức năng THQCT của VKS và những hạn chế, bất cập, vướng mắc xuất phát từ hạn chếcủa các quy phạm pháp luật.

– Đưa ra những nghiên cứu, so sánh các quan điểm, quy định về chức năng THQCT trongtốtụng hìnhsựqua các giaiđoạnlịchsửkhác nhau và trongsựgiao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau của các mô hình tố tụng hình sự, mô hình tổ chức cơ quan công tố (Viện kiểm sát) giữa Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới.

– Đánh giá thực trạng chất lượng công tác THQCT trên địa bàn tỉnh Nghệ An, có sự khảo sát, so sánh với số liệu chung trên toàn quốc và một số tỉnh tương đồng.

– Lý giải cácyếutốtácđộngđếnhiệuquảcông tác THQCT trongtố tụng hình sự, đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác của VKS trong lĩnh vực này, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp.

6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Luận án đóng góp nhấtđịnhvề mặtkhoa họcnhằm giải quyết một trong nhữngvấnđề quan trọng của tốtụng hìnhsự:nâng cao hiệu quả hoạtđộng THQCT của VKS, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm vàgiảm thiểu oan, sai.

Nhữngkếtquảnghiêncứucủaluận ánsẽgóp phần vào quá trìnhđổi mớitổchứcbộmáy nhànước,kiện toànhệthống cơ quan VKS cáccấpvà phân định rõ chức năng, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố

tụng hình sự.

6

Các trường có đào tạo chuyên ngành luật có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án trong quá trình đào tạo cán bộ, đặt biệt phù hợp với hoạt độngđào tạo Kiểm sát viên (KSV) của ngành Kiểm sát.

Kếtquảnghiêncứucủaluận án, nhữngkếtluận, quanđiểm,kiến nghị được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, vì vậy VKS các cấpcóthểvậndụng, khai thácđểnâng cao chấtlượngcông tác THQCT trong tố tụng hình sự.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phầnmở đầu, kếtluận và tài liệu tham khảo, luận án xây dựng thành 04 chương, gồm:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Chương 2: Lý luận và lịchsửlậpphápvềthực hành quyền côngtốtrong tố tụng hình sự.

Chương 3: Quy định pháp luật và thực trạng thực hành quyền công tốtrong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp ở Nghệ An.

Chương 4: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Nghệ An.

7

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu về thực hành quyền công tố ở ngoài nước

1.2. Tình hình nghiên cứu về thực hành quyền công tố ở Việt Nam

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án

Trên cơsởtậphợpcác công trình nghiêncứuliên quanđếnLuận ánởtrong và ngoài nước như trên, tác giả có một số nhận xét, đánh giá như sau:

20

1.3.1.Vềnhững ưuđiểm vàkếtquảnghiêncứumà Luận ánsẽkếthừa, phát triển

Trên cơsởtìm hiểu, phân tích và đánh giá nhữngnộidungcủacác công trình nghiên cứu, bài viết có liên quanđếnQCT và THQCT, tácgiảcó một số nhận định sau:

– Quyền công tố và hoạt động THQCT là chức năng cơ bản của VKS (cơ quan công tố). Tùy thuộc vào thể chế chính trị và mô hình tố tụng khác nhau, cách thứctổchức hoạtđộngcũng như mô hình côngtốởmỗinướcđềucó những điểm đặc thù nhất định, nhưng là hoạt động không thể thiếuđối với nhà nước pháp quyền.

– Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước đã cung cấp cho tác giả tri thức tổng quan về chức năng, vị trí của cơ quan công tố/ Kiểm sát của một số nướcđiển hình trên thế giới. Qua những tài liệu nêu trên, tác giả được tiếp cận, tìm hiểuvề cách thức tổchức và hoạtđộngcủa cơ quan côngtố/Kiểm sát của nhiều nước khác nhau, những ưu điểm và hạn chế của những mô hình công tốcụthể, từ đó giúp tác giả có cơ sở nghiên cứu, so sánh với chức năng THQCTở ViệtNam cũng như tiếp cận khá toàn diện, với nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm QCT, THQCT. Các công trình nghiêncứuở ngoàinước cũng cho thấy những khó khăn chủ quan và khách quan của các Công tố viên/Kiểm sát viên trong quá trình tìm kiếm công lý và sự thật, đặt trong bối cảnh chính trị, xã hội, văn hóa pháp luật. Dựa trên kết quả đó, tác giả có thể so sánh trong quá trình nghiên cứu thực trạng hoạt động THQCTở ViệtNam.

– Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam nêu trên có nhiều nội dung liên quan đến luận án, đã tiếp cận và phân tích khái niệm QCT, THQCT ở nhiều gócđộkhác nhau, nghiêncứuthực tiễn THQCTởnhiều giai đoạn, phạm vi khác nhauvớimụcđích khác nhau, nhưng nhìn chungđềuthống nhất cho rằng: chủ thể của QCT là VKS, đó là hoạt động buộc tội của Nhànước đối với người phạm tội.

21

-Hệthống pháp luật quyđịnhvềchức năng QCT, THQCT ngày càngcụthể, toàn diện hơn. Hoạtđộngnghiêncứukhoahọcliên quanđến QCT, THQCT luôn thu hútsựquan tâm củacác nhà khoa học.Đãcó khánhiều công trình nghiên cứu về chức năng và đánh giá thực trạng của công tác THQCTcủaVKSởViệt Nam trong từng giaiđoạntốtụng nhất định, vớiphương thức và tiếpcậnkhác nhau. Những phân tích nàyđãđượctác giả đánh giá, bình luận và đưa ra nhận định, quan điểm riêngcủamình vềkhái niệm THQCT trongtốtụng hìnhsựcũng như làm rõ thực trạng vàđịnh hướng đưa ra giải pháp, kiến nghị.

1.3.2. Những vấn đề chưađượcgiải quyết thấu đáo, cầntiếp tục nghiên cứu

Do những hạn chế nhất định về mặt thời gian, bối cảnh nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu nên những công trình trên vẫn chưa trình bày có hệ thống vàtoàn diện vấn đề lý luận về THQCT trong tố tụng hình sự cũng như thực trạng, thực tiễn áp dụng ở tỉnh Nghệ An. Những kết quả đạt được nói trên đặt ra cho nghiên cứu sinh những vấn đề cấn tiếp tục nghiên cứu, phát triển, đó là:

Về lý luận: Chưa có nghiên cứu thấu đáo về THQCT xuyênsuốt tất cảcác giaiđoạncủa tốtụng hình sự, chưa làm rõđược nộihàm của THQCT trong tố tụng hình sự.

Việc phân tích, so sánh sự khác nhau giữa nội hàm và thực tiễn thực hiện chức năng THQCT ở Việt Nam và một số nước trên thế giới chưa sâu và chưa làm rõ vì sao có sự khác nhau. Trong điều kiện riêng về chính trị, kinh tế, xã hội củaViệt Nam thì áp dụng mô hình nào là phùhợpnhấtđểphát huy hiệuquảhoạt động THQCT trong tố tụng hình sự. Đó là vấn đề lớn về mặt lý luận, mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay cần được luận giải và làm rõ.

Về thực trạng nghiên cứu: Các công trình khoa học đã được thực hiện chủyếu tập trung làm rõ thực trạng THQCT đối với một nhóm tội cụ thể, hoặc nghiên cứu chức năng THQCT trên địa bàn cả nước. Chưa có công trình nào khảo sát vànghiên cứu toàn diện, tổng kết thực tiễn dưới góc độ khoa học hoạt động THQCT trong tố tụng hình sự trên một địa giới hành chính cụ thể (tỉnh Nghệ An).

22

Kết luận Chƣơng 1

Nghiêncứuvề nguyên tắc tốtụng hình sự, các cơ quan tiến hànhtốtụng và những nội dung liên quan đến chức năng THQCTcủaViện kiểm sát (Cơ quan công tố) luôn dành được sự quan tâm của các học giả trong nước và

ngoài nước. Trên bình diện thế giới, Chương 1 của Luận ánđã tiếpcậnvà nghiên cứu nội dung cơ bản trong một số công trình khoa học của các học giảhoặc những người làm công tác pháp luật tiêu biểu của một số nước điển hình như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa liên bang Đức, Vương quốc Anh, các

nước ChâuÂu… Trong đó, đi sâu vào những luậnđiểmchính của các công trình này về hệ thống công tố, quyền năng, nhiệm vụ của các cơ quan công tố, Công tố viên. Đồng thời, tác giả cũng đi sâu tìm hiểu, đánh giá, so sánh giữa hệ thống côngtốcủacác nước vớinhau; giữa hệ thống côngtốcủamộtsốnước Châu Âuđiểnhìnhvớihệ thống côngtốHoa Kỳ;nhữngđiểmtươngđồng, khác biệt trongtổchức, hoạtđộngcũng như quyền năng của các hệthống công tố đó.

Các công trình nghiêncứuởViệt Namđãtiếpcậnvà phân tích QCT, THQCT ở nhiều góc độ khác nhau, việc thực hiện QCT trong từng giai đoạn lịch sử nhất định và đánh giá thực trạng thực hiện QCT ở Việt Nam. Những công trình khoa học này là tiền đề lý luận, thực tiễn quan trọng để tác giả có thể kế thừa, phát triển có chọn lọc những yếu tố hợp lý, khoa học. Tuy nhiên, những nội dung chưađược đề cập hoặc còn hạn chế trong các công trình khoa học đó đặt ra yêu cầu cụthể mà luận án phải giải quyết như: nghiên cứu thấu đáo về THQCT xuyên suốt các giai đoạn của tố tụng hình sự, làm rõ được nội hàm của THQCT trong tố tụng hìnhsự;trình bày cóhệthống và toàn diệnvấnđềlý luậnvềTHQCT trongtố

tụng hình sự cũng như thực trạng, thực tiễn áp dụng ở tỉnh Nghệ An. Đó là cơ sởlý luận và thực tiễn quan trọngđểxây dựng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng THQCT trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

23

Chƣơng 2

LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP VỀ

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1. Lý luận chung về quyền công tố, thực hành quyền công tố2.1.1. Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố

2.1.1.1. Khái niệm quyền công tố

Quyền côngtốlà khái niệm pháp lýgắnliềnvớichức năngcủaVKS, hiểu, nhận thức đúng, đầy đủ về QCT là vấn đề không đơn giản. Khái niệm QCTđã được đề cập tại các bài báo, tạp chí chuyên ngành và các công trình nghiên cứu, với nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Công tố, theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là:“điềutra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án” [59, tr.204].

TừđiểnLuậthọc địnhnghĩa QCT:“Quyềncông tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội” [5, tr.188].

Một sốnhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm QCTdướigóc độrấtrộng, có tácgiảcho rằng,mọihoạtđộngkiểm sát tuân theo pháp luậtđềulàTHQCT, coi công tố không phải là chức năng độc lập của VKSND, mà chỉ làmột quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật [57, tr.85-87]. Đâylà quanđiểmkhá phổbiếntrướckhi Luậttổchức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 được ban hành. Cơ sở lập luận của những quanđiểmnày là cácđiềuluật quyđịnhtrong Luậttổchức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, 1992 và một số điều luật trongBộ luậttố tụng hình sựnăm 1988. Trong giaiđoạnnày, các vănbảnpháp luật nói trên quyđịnh chưa rõ ràng, chưa phânđịnh đượcchức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Chúng tôi cho rằng, nhận thức về QCT như trên làchưa thật sự chính xác, bởi đã đồng nhất QCT với chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật (nay là kiểm sát hoạt động tư pháp). Dù có mối liên hệ mật thiết với

24

nhau, đan xen nhau, nhưngđâylà hai chức năng riêng biệtcủaVKS, có nội hàm khác nhau, “Trong quá trình thực hiện, dù giữa hai chức năng này có một sốnộidung đan xen, liênhệchặtchẽvà tácđộngqualạivớinhau, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận được tính độc lập của chúng cả về nội dung lẫn phạm vi áp dụng” [61, tr.10].

Mộtsốtácgiảkhác lạicho rằng, QCT là quyềncủaVKS khi xuất hiện các hành vi vi phạm pháp luật và nhu cầubảovệ lợiích của nhà nước, xã hội và công dân. QCT không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sựmà làsựcáo buộccủaNhànước đốivớicác cá nhân, tổchứcđãvi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế và luật hình sự [62, tr. 82 – 88].

Chúng tôi cho rằng, việc tiếpcậnQCTdướigóc độnhư trên là quárộng, xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tốtụng khác, đồngnhất QCTvớicác quyền năng, nhiệmvụkhác của VKS.

Hoạt động của VKS trong các lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính… là chức năng, nhiệm vụ của VKS nhưng không thuộc nội dung QCT, không phải mọi chức năng, nhiệm vụ của VKS đều là QCT.

Ngược lại, một số tác giả lại có xu hướng thu hẹp khái niệm QCT. Cóquanđiểmcho rằng, QCT là việc truytốkẻphạmtộira trước Toà án, thực hiệnsựbuộc tộitạiphiên toà [61, tr.11]. Quanđiểmnày nhấn mạnh vai tròduy nhất của VKS trong việc thực hiện QCT trongtốtụng hìnhsựvà chỉđược thực thi ởgiai đoạn xét xử.

Tuy nhiên, lý luận và thực tiễn cho thấy, hoạt động truy tố, buộc tội tạiphiên tòachỉlàmộttrongsốcác quyềnhạncủaVKS khi thực hành QCT. Bên cạnh việc truytốvà buộc tội tại phiên toà, QCT còn được thực hiện trong suốt quá trình giải quyếtvụán hìnhsự,ngaytừkhi Cơ quanđiềutra (CQĐT) tiếp nhận tin báo,tốgiáctộiphạm. Việc nhận thức QCT

25

như trên đã thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi và không phản ánh đượcđầy đủ bản chất của QCT.

ỞViệt Nam, QCT luôn thể hiện là quyền lực công, quyền lực nhà nước. QCT gắn liền với bản chất giai cấp sâusắcvà là một bộ phận không thểtách rời với quyền lực nhà nước, được nhà nước sử dụng nhằm truy cứu trách nhiệm hìnhsựđốivớingườiphạm tội. QCT chính làsựbuộc tộicủanhànước, phát sinh khi cótộiphạm – tức hành vi nguy hiểm xâm phạmtớicác quanhệ xã hội được phápluật hình sự bảovệ xảyra. Đó là quan hệ giữa một bên là nhà nước (bên có quyền lực và đứng ra buộc tội) và người phạm tội (làngười bị truy cứu trách nhiệm hình sự). QCT chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự, bởi nó gắn liền với chức năng buộc tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vàvấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. QCT xuất hiện từkhi có hành vi phạm tội xảy ra, được thể hiện dưới hình thức cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự,chứng minh hành vi phạmtộivà tiến hành buộctộitrướcTòa án. Do đó, QCT chỉ chấm dứt khi vụ án được xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp QCT đều kéo dài cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), QCT cóthểchấmdứtởcác giaiđoạntốtụngsớmhơn, vídụnhư các trườnghợpcơquan có thẩm quyền đình chỉ vụ án.

Như vậy, quyền công tố là một loại quyền lực nhà nước, do cơ quan cóthẩm quyền(ởViệt Nam là Viện kiểm sát) thực hiện, nhằm truycứutrách nhiệm hình sự người phạm tội ra trước Toà án để xét xử vàbảo vệ sự buộc tộiđó tại phiên toà.

Đối tượng của quyềncông tố:

Đối tượng của QCT không phải mọi hành vi vi phạm pháp luật mà chỉ lànhững hành vi xâm phạm những quanhệxãhộiquan trọng,được nhànước bảo vệ vàđược quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS). Những hành vi xâm

26

phạm quanhệpháp luật dân sự, kinh tế, hành chính… không phải là đối tượng của QCT, bởi QCT là phạm trù gắn liềnvớitrách nhiệm hình sự và vấnđề truycứutrách nhiệm hình sự. QCTchỉtác độngvào những hành vi xâm phạm quanhệpháp luật hìnhsựvàngườithực hiện hành vi đó. QCTđược thực hiện thông qua cơ quan có thẩm quyền, nhằmđảmbảomọihành vi phạmtộiđềuđược phát hiện, xửlý, khôngbỏlọttộiphạm, không làm oan ngườivô tội, qua đó duy trìổnđịnhvà trậttựxã hội. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, đối tượng của QCT là tội phạm và người phạm tội.

* Nội dung của quyền công tố: xuất phát từ quan điểm về QCT và đối tượng của QCT như trên, theo chúng tôi, nội dung của QCT là sự buộc tội của nhà nướcđối vớingười thực hiện hành vi phạm tội.

* Phạm vi quyền công tố:

Hiện nay, vẫncó nhiều quanđiểmkhác nhauvề phạm vi QCT, kể cảphạm vi thời gian và phạm vi không gian.

Phạm vi không gian: hầu hết, các quan điểm hiện nay cho rằng, phạm vi QCT chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Nhưng cũng có quanđiểmcho rằng QCT không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn có cả trong lĩnh vực dân sự, hành chính, kinh tế. Chúng tôi không nhất trí với quan điểm này, vìbảnchất của QCT làsựbuộc tội, luôngắnliềnvớivấnđề tộiphạm vàngườiphạm tội. Trong phạm vi chức năng của mình, chủ thể thực hiện QCT (ở ViệtNam là VKS) sử dụng các quyền năng, biện pháp tố tụng hình sự cần thiết nhằm truycứutrách nhiệm hìnhsựđốivớingườibịcoi là thực hiện hành vi phạm tội. Nếu như trong các lĩnhvựcdân sự, kinhtế,laođộng,sự

thỏa thuận giữa cácđươngsựluôn là tốithượng thì trongtốtụng hình sự, QCTlạigắnliềnvớiquyềnlựcnhànướcvà mang tínhcưỡngchế, dùđối tượngbịtácđộngcó muốn hay không. Vì vậy, chúng tôi thống nhất với quan điểm cho rằng QCT chỉ có trong tố tụng hình sự.

27

Phạm vi thời gian: là thời điểmbắtđầu và thời điểmkếtthúc QCT. Cóquanđiểmcho rằng, QCTbắtđầu từ khi có quyết định truy tố và kết thúc ở phiên tòa sơ thẩm, có nghĩa là QCT không có ở giai đoạn điều tra. Quanđiểm này đã thu hẹp phạm vi QCT, bởi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là cả một quá trình, bắtđầu từkhi tội phạmxảyra, mặt khác, VKS còn phải thực hiện nhiệm vụ này trong các phiên tòa phúc thẩm.

Cũng có quan điểm khác cho rằng, QCT bắt đầu từ khi khởi tố vụ án vàkếtthúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án. Xác định phạm vi QCT như trên vừa quá rộng, vừa không đầy đủ, vì QCT không chỉ xuất hiện từ khi khởitốvụán. Ngay khitộiphạmxảyra thì QCT – tức quyền thực hiện các hoạtđộng cầnthiết của nhà nước nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạmtộiđã xuất hiện, còn việc có phát hiệntộiphạm hay không vàthực hiện QCT như thế nào là vấn đề thuộc nội hàm của THQCT. Quyếtđịnh khởitố vụ án chỉ là sự bắt đầu, là cơsở cho các hoạt động điều tra tiếp theo chứ không phải là xuất phátđiểmcủaQCT.Bởingaycả khi chưa có quyếtđịnhkhởitốvụán thì VKSvẫnthực hiện các quyền năng thuộc nộidung QCT như: phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnhbắtkhẩn cấp, gia hạntạm giữ; hủy bỏ quyếtđịnh tạmgiữ không có căn cứ, trái pháp luật; trực tiếp giải quyếttốgiác, tin báovề tộiphạm, kiến nghị khởitố;hủyquyếtđịnhkhông khởitốvụán hìnhsựvà ra quyếtđịnhkhởitốvụán… Mặtkhác, QCT làquyền nhân danh nhà nước buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội, khi bản án có hiệu lực pháp luật thì việc buộc tội đã chấm dứt. Vì vậy, QCT không có trong giai đoạn thi hành án.

Trên cơ sở phân tích như trên, chúng tôi thống nhất với quan điểm cho rằng: phạm vi QCTbắtđầu khi tội phạmxảyra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật [53, tr.50- 51]. Đây cũng là quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu hiện nay.

28

2.1.1.2. Khái niệm, phạm vi thực hành quyền công tố*

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *