Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiếp tục thực hiện các chủ trương, chính sáchcủa Đảngvề cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyếtsố 48-NQ/TW củaBộ Chính trị ngày 24/5/2005 vềchiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướngđến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác định yêu cầu tiếp tục hoàn thiện về tố tụng dân sự, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý… là khâu quan trọng, đột phá củahoạtđộngxétxửđãtiếp tục đặt ra những nhiệm vụ, yêu cầu mớichohệthống Tòa án nhân dân (TAND) nói riêng và hệ thống chính trị của Việt Nam nói chung là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật,đặc biệt là pháp luật tố tụng dân sự, trong đó có thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN.
Bộ luậtTố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết cácvụ việcdân sựcó yếu tố nướcngoài (YTNN) tại Chương XXXV (từ Điều 410 đến Điều 413). Các quy định này đã góp phần trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước , quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, các quy định nêu trên còn nhiều
tồn tại, hạn chế và vướng mắc trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự như: còn có quyđịnh có cách hiểu khác nhau dẫn đến áp dụng khác nhau, có quyđịnhcòn chồng chéo, kỹ thuật lập pháp chưa đáp ứng yêu cầu của thực tế, có quy định được
ghi nhận ở các luật chuyên ngành nhưng chưa được BLTTDSđề cập… Những bất cập, hạn chế của BLTTDSảnh hưởng đến việcbảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thực tế thì Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao chưa có Thông tư liên tịch hướng dẫn về Chương XXXV BLTTDS. Hộiđồng Thẩm phán TANDTCđãban hànhmộtsốNghị quyết hướng dẫn một số quy định của BLTTDS, nhưng chưa có nghị quyết hướng dẫn vềthẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN. Đây làkhó khăn của Tòa án các cấp khi giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN.
1
Về tương trợ tư pháp thì Nhà nước ta cũng đã ký kết 19 hiệp định tương trợtư pháp (HĐTTTP), thỏa thuận tương trợ tư pháp và 01 Nghị định thưbổ sung HĐTTTP với các quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó một số hiệp định cũng có đề cậpđến vấn đề thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết cácvụ việc dân sựcóYTNN. Tuy nhiên, quy định của các HĐTTTP nêu trên về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN trong các HĐTTTP còn ít ỏi, sơlược, có quy định lại cho phép Tòaán của cảhai bênký kết đều cóthẩm quyền giải quyết… nên việc hiểu, áp dụng những quy định đó còn nhiều lúng túng.
Trên thực tế thì cùng với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các quan hệ dân sự(bao gồmcả quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ kinh doanh – thương mại, lao động) cũng phát triển ngày càng đa dạng, phong phú và hệ quả tất yếu là các tranh chấp, yêu cầu (các vụ, việc dân sự) có YTNN mà Tòa án thụ lý, giải quyết ngày càng tăng cao…
Do vậy, việc nghiên cứu thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việcdân sự có YTNN là cần thiết nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật nói chung và tư pháp quốc tế (TPQT) nói riêng của Việt Nam. Nghiên cứu sinh đãchọn đề tài “Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nướcngoài” làm luận án tiến sĩ luật học.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án
Đâylà luận án tiến sĩ luật học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứuvề thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN. Những kết quảkhoa học của luận án sẽ góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về TPQT Việt Nam; mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là:
(1) Góp phầnnhất địnhnâng cao tri thức lý luận chuyên sâu về thẩm quyền củaTòa án giải quyết các vụ việc dân sự trong TPQT Việt Nam;
(2) Làm sáng tỏ những thành tựu, sựtiến bộ, hiện đạicũng như nêu ra những bất cập của những quy định pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN;
2
(3) Góp phần vào việc tiếptụchoàn thiện pháp luậtvềthẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN trong hệ thống TPQT của Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
(1) Nghiên cứutoàn diện cácvấnđề lý luận và quyđịnh pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sựcó YTNN trong mối liên hệ so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới.
(2) Đánh giá thực trạng pháp luật và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sựcó YTNN phù hợp với mục đích, yêu cầu đặt ra của chiến lược cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Luận án tiến sĩ Luật học với đề tài “Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” là công trình ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về đề tài này, trên cơ sở tham khảo, kế thừa kết quả nghiên cứu đãcó đồng thời thể hiện kết quả nghiên cứu và những quanđiểm, lập luận mới về các nội dung nghiên cứu.
3. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Phạm vi nghiên cứu của luận án là nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sựcó YTNN trong việc phân định thẩm quyền với Tòa án nước ngoài (chứ không nghiên cứu về phân biệt thẩm quyền của Tòa án theo cấp xét xử, thẩm quyền của Tòa án theo loại việc, thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ… của Tòa án trong nước giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN; đồng thời luận án cũng không nghiên cứu về thẩm quyền của Trọng tài thương mại mà chỉ đề cập phần nào trong mối quan hệgiữa thẩm quyền của Tòa án với Trọng tài thương mại trong giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN). Việc nghiên cứu bao gồm các vấn đề lý luận chung cơ bản, thực trạng quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng, những vướng mắc, bất cập và các giải pháp bổ sung, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN.
3
Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án tiến sĩ với giới hạn về số trang tối đa, tác giả không thể đề cập và giải quyết tất cảnhững vấn đề, nội dung có liên quanđến thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN nêu trên mà chỉ tập trung trình bày những nội dung cơ bản về mặt lý luận cũng như chọn
lọc một số vấn đề trong thực tiễn thực thi pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN. Đồng thời, do lĩnh vực quan hệ dân sựcó YTNN có phạm vi rất rộng (bao gồm các lĩnh vực quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động – theo quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sựViệt Nam hiện hành cótớihơn 40 nhóm quan hệcụ thể)nên luận án không thểđề cập, phân tích đầy đủ tất cả các nhóm quan hệ dân sự có YTNN.
Mặt khác, do thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sựcó YTNN có lịchsửhình thành, phát triển lâu đời, nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu từ giai đoạn năm 1945 đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án – Phương pháp nghiên cứu
Tác giả chủyếu sửdụng các phương pháp so sánh, phân tích, hệ thống hóa và tổng hợp để giải quyết từng vấn đề trong nội dung luận án, cụ thể:
Thứ nhất, phương pháp phân tích đượcsửdụng để làm rõ các vấn đề lýluận được giải quyết trong luận án.
Thứ hai, phương pháp phân tích và phương pháp hệ thống hóa được sửdụng để làm rõ và tổng hợp các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyềncủaTòa án Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự có YTNN trong mối quanhệvới các điều ước quốctế mà Việt Namđã tham gia, các cam kết quốc tế của Việt Nam đối với các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như pháp luật của một số nước.
Thứ ba, phương pháp so sánh được sửdụng để tìmra sự giống nhau, khác nhau giữa những quyđịnh củađiềuước quốc tế, củapháp luậtmộtsố nướcngoài với quy định của pháp luật Việt Nam để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu.
4
Thứ tư, phương pháp tổng hợp được sửdụngđể rút ra những kết luận đối với từngvấnđề mà luận án đã phân tích, làm cơsởcho việc đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết vụviệc dân sự có YTNN nói riêng và TPQT của Việt Nam nói chung.
5. Những đóng góp mới của luận án
Một là, bổ sung mộtsố kết quảnghiên cứu mới so với nhiều công trình khoa học đã có trước đây về thẩm quyền của Tòa án trong TPQT Việt Nam, qua đógóp phần làm phong phú hơn tri thức của TPQT Việt Nam, cụ thể là:
– Lịch sửhình thành, phát triển của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN;
– Nhữngvấnđề lý luận về thẩm quyềncủaTòa án trong tố tụng dân sựquốc tế nói riêng và tố tụng dân sự nói chung.
– Thực tiễn quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN; những vướng mắc, bất cập.
– Làm rõ những ưu điểm, nhược điểmvà nêu một sốgiải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnh trong thực tiễn.
Hai là, góp phần nhất định trong việc giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn trên giác độ khoa học pháp lý nhằm phục vụ cho hoạt động lập pháp vàtrong quá trình nghiên cứu, xây dựng, ban hành đạo luật chuyên biệt về TPQT của Việt Nam nói riêng cũng như hoạt động pháp điển hóa TPQT Việt Nam nói chung.
Ba là, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác chuyên môn của hệthống TAND – nơi tác giả công tác – trong lĩnh vực giải quyết các vụ việc dân sự cóYTNN và khoa học xét xử.
Đồng thời, luận án cũng có thể được tham khảo cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu tại các Viện, Trường và các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luậnán gồm 4 chương:
5
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến thẩm quyền của Tòaán Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Chương 2: Những vấnđề lý luận vềthẩm quyền của tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Chương 3: Pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án giải quyết các vụviệc dân sự có yếu tố nước ngoài và thực tiễn áp dụng.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN THẨM QUYỀN CỦA TÕA ÁN VIỆT NAM
GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƢỚC
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƢỚC NGOÀI
1.3. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.3.1. Một số vấn đề đã đƣợc nghiên cứu
Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài và ở trong nước như nêu trên và cả các công trình khác có liên quan chưa được đề cập trong luận án này đã phần nào thể hiện nội dung liên quan đến đề tài mà nghiên cứu sinh thực hiện; tựu trung là:
– Những vấn đề lý luận cơ bản về thẩm quyền và giải quyết xung đột thẩm quyền trong TPQT có liên quan đến Tòa án với tư cách là thiết chế giải quyết tranh chấp quan trọng trong lĩnh vực TPQT.
– Pháp luật quốc tế và một số khu vực ở các châu lục (các quy phạm điều ước quốc tế đa phương) về các vấn đề của TPQT lĩnh vực dân sự, thương mại trong đócó các quy định chuyên biệt về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các vụ việc dân sựcó YTNN; đặcbiệt đáng lưu ý là các quyđịnh của Hội nghị La HayevềTPQT (mà Việt Nam gia nhập thành viên chính thức năm 2013); các quy định của Liên minh châu Âu, Ủyban liên hợp quốcvề luật thương mại quốc tếvà các tổ chức quốc tế quan trọng khác TPQT; các quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp
của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á trong lĩnh vực TPQT…
– Pháp luật quốc gia của các nước trên thế giới và Việt Nam, cùng với đó là thực tiễn TPQT trong lĩnh vực dân sự, thương mại nói chung và cơ chế xác định, thực thi thẩm quyền của Tòa án quốc gia trong giải quyết các vụ việc dân sự, thương mại có YTNN nói riêng – trên một số khía cạnh khác nhau trong cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN thông quathủ tục tố tụngdân sự quốc tế.
– Các luận điểm khoa học pháp lý về việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế phânđịnh thẩm quyền, giải quyết xung đột thẩm quyền trong TPQT, đặc biệt là thẩm quyền của Tòa án trong mối liên hệ giữa các quốc giavớinhau, giữa Tòa án và các thiết chế tư pháp khác như trọng tài thương mại quốc tế.
19
1.3.2. Một số tồn tại, hạn chế
Một là, các công trình khoa họcvềTPQTởnước ngoài tuy phong phú về kết quả nghiên cứuliên quan đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong TPQT, trong đó có Tòa án, song hầu hết không trực tiếp nghiên cứu về thẩm quyền của Tòaán Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN. Do tính chất đặc thù của lĩnh vực TPQT là riêng có của mỗi quốc gia và TPQT của các nước khác nhau là khác nhau, không thể có một hệ thống TPQT hoàn toàn chung cho các quốc gia, nên các công trình này chỉ có ý nghĩa tham khảo khi nghiên cứu thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN.
Hai là, các công trình khoa học về TPQT ở Việt Nam liên quan đến đề tài tuy đã nêu khá nhiều kết quả nghiên cứu, quan điểm, luận điểm khoa học về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự (theo phạm vi rộng) có YTNN, nhưng nhìn chung các công trình cũng chỉ giải quyết được phần nào các nội dung lý luận và thực tiễn xây dựng, từng bước hoàn thiện pháp luật trong mối liên hệ với pháp luật về thẩm quyền trong TPQT cũng như mối tương quan so sánh giữa Việt Nam và các nước.
Ba là, những điểm hạn chế nổi bật:
– Các công trình nêu trên đã nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về quá trình hình thành, phát triển pháp luật về thẩm quyền củaTòa án Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự có YTNN, nhưng do nhiều nguyên nhân vẫn chưa đáp ứngđược đòi hỏi của thực tiễn (có nguyên nhân do có công trình nghiên cứu thời gianđã lâu, khi mộtsốquy định pháp luậtmớichưa được ban hành; có nguyên nhân do cách tiếp cận, nghiên cứu khác nhau…).
– Các công trình nêu trên đã nêu thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dânsựcó YTNN; những vướng mắc, bất cập; nhưng chưa được toàn diện do nhiều nguyên nhân, trong đó cónguyên nhân do môi trường công tác, môi trường nghiên cứu không thường xuyênđề cập đến lĩnh vực này… Đặc biệt là chưa có những ví dụ sinh động để phân tích rõvề thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc có YTNN.
20
– Các công trình nêu trên đã làm sáng tỏphần nào mối liên hệgiữa pháp luật về thẩm quyềncủaTòa án trong lĩnhvực tố tụngdân sự trong nước (giải quyết vụ việc dânsựkhông có YTNN) và trong lĩnh vựctố tụng dân sựcó YTNN (TPQT), đã nêusựkhác biệt về thẩm quyền của Tòa án với Trọng tài thương mại, nhưng vẫn chưa có những minh chứng thuyếtphục từthực tiễn xét xử và giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN của hệ thống TAND.
– BLTTDS năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 nhưng chưa có sửa đổi, bổ sung các quy địnhvềthẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN. BLTTDS chưa nêu được khái niệm chuẩn xác về việc dân sự, chưa có khái niệmvề vụ án dân sự. Tuy nhiên, các công trình nêu trên cũng chưa đề xuất được vấn đề này.
– Các công trình đã có phân tích vấn đề hội nhập quốc tế, tăng cường sự phù hợp của pháp luật Việt Namvề TPQT nói chung và thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự có YTNN nói riêng với pháp luật quốc tế, đặc biệt làcác điều ướcquốc tế của Hội nghị La Haye về TPQT, Liên minh châu Âu, Liên hợp
quốc… và TPQT củacác quốc gia có quanhệ dân sự- thương mại sâu rộng với Việt Nam, nhưng vẫnchưa đáp ứng đượcyêu cầu của thực tiễn,đặc biệt là đang trong quá trình xây dựng BLTTDS sửa đổi.
– Các công trình nêu trên của các tác giả đều không phải là cán bộ làm công tác thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự có YTNN, chưa có điều kiện thuận lợi nắm
bắt các bất cập, vướngmắc của thực tiễn…, nên chưa có điều kiện tốt để tổng kết thực tiễn công tác của Tòa án, trong đó có thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNNđã có nhiều công trình khoa học pháp lý ở nước ngoài và trong nước nghiên cứu ởcác góc độ khác nhau. Kết quả tổng quan của những công trình nghiên cứu đó đã góp phần làm sáng tỏphần nào những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng và thực thi hệ thống quy phạm pháp luật về thẩm quyền của Tòa án giải quyết
21
các vụviệc dân sựcó YTNN. Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình khoa học pháp lý nào – đặc biệt là luận án tiến sĩ – nghiên cứu tổng thể, toàn diện chuyên sâu vấn đề nàyở cả góc độ lý luận và thực tiễn, cũng như có sựso sánh, liên hệ giữa pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài về thẩm quyền của Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN để làm sáng tỏ nhiều vấn đề cần lý giải sâu và có giải pháp thỏa đáng về lập pháp và thực thi quyđịnh pháp luật trên cơ sở tiếp cận với thực tiễn sinh động của các quan hệ TPQT.
So với các công trình khoa học đã công bố, luận án tiến sĩ luật học mà nghiên cứu sinh thực hiện tập trung làm sáng tỏ những một số nội dung mới cơ bản như: i) nghiên cứu về lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự có YTNN; ii) những vấn đề lý luận vềthẩm quyền của Tòa án trong tố tụng dânsựquốc tế nói riêng và tố tụng dân sự nói chung; iii) nghiên cứu về thực tiễn các quyđịnh của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sựcó YTNN; những vướng mắc, bất cập; iv) trình bày những giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnh trong thực tiễn.
22
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÕA ÁN VIỆT NAM GIẢI QUYẾT
CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
2.1. KHÁI NIỆM THẨM QUYỀN CỦA TÕA ÁN VIỆT NAM GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
2.1.1. Khái niệm về vụ việc dân sự có yếu tố nƣớc ngoài 2.1.1.1. Vụ việc dân sự
Bộ luật Tố tụng dân sựnăm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) không cóđịnh nghĩa rõ ràng về khái niệm vụ việc dânsự.Tuy nhiên căn cứĐiều 1 của Bộluật này thì có thể xác định vụ việc dân sựgồmcó hai nhóm là vụ án dân sự và việc dân sự.
Trong một số giáo trình, công trình khoa học về lĩnh vực tố tụng dân sự vàhoạt động của Tòa án cũng chưa chú trọng đến việc làm sáng tỏ khái niệm này. Ông Nguyễn Văn Tiến và ông Bành Quốc Tuấn cho rằng vụ án dân sự là những vụ việc dân sựcó tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa cá nhân, tổ chức với nhau [110, tr. 15]. Bà Đào Thị Thúy có nêu: “Vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sựmà cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp đểkhởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền, để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” [107, tr. 9].
Từquyđịnh tại Điều 1 BLTTDS có thể xácđịnh vụ án dân sựlà “tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”. Tranh chấp – hiểu một cách khái quát – là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia quan hệ dân sự. Tuy nhiên, không phải mọi tranh chấp trong các lĩnh vực nàyđều là vụ án dân sự. Các tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh củaBLTTDS gồm trên 40 loại tranh chấp cụ thể trong các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia đình (theo các điều 25, 27, 29, 31)
23
chỉ trở thành vụ án dân sự khi các đương sự không thể tự giải quyết được bằng các hình thức thương lượng hoặc thông qua trung gian hòa giải và do đó đề nghị Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Khi đương sự có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ tranh chấp thì cũng chưa được gọi là vụ án dânsựvì chưa phát sinh nghĩa vụ giải quyết của Tòa án vì khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xem xét đơn khởi kiện có đúng quy định hay không; kèm theo đơn khởi kiện có các tài liệu, chứng cứ hay không và sau đó Tòa án phải yêu cầu đương sựnộp tạmứngán phí (nếu không thuộc diện được miễn nộp) thì Tòa án mới thụ lý vụ án. Theo quyđịnh của pháp luật thì đơn khởi kiện phải có các nội dung chính như: ngày, tháng, năm khởi kiện; tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; tên, địa chỉ của người khởi kiện; tên,địa chỉ của người bị kiện; tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; họ, tên của người làm chứng (nếu có)… Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ;người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổchức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởikiện để bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sựthì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp. Trường hợp người khởi kiện không biết chữ, không nhìn được, khôngthể tựmình ký tên hoặc điểm chỉ thìphải cóngườilàm chứng vàngườinày phải ký xác nhậntrướcmặtngười có thẩm quyền chứng thực của Ủyban nhân dân cấp xã. Người có thẩm quyền chứng thực của Ủyban nhân dân cấp xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng [88, Điều 164]. Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp: i) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; ii) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòaán hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thayđổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, xin thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di
24
sản hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đấtcho thuê, chomượn,choởnhờmà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưađủđiều kiện khởi kiện; iii) Hết thờihạnđược thông báo quy định mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án,trừtrường hợp có trở ngại khách quan hoặcbấtkhả kháng; iiii) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện; iiiii)Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp [88, Điều 168].
Từphân tích nêu trên cho thấy khi đương sựnộp đơnkhởi kiện cho Tòa án thì vẫn chưa có vụ án dân sự. Chỉ khi các đương sự nộp đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứkèm theo đơn khởi kiện và thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạmứng án phí(nếu không thuộc diện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật vềán phí, lệ phí Tòa án) và Tòa án thụ lý vụ án dânsự[88, Điều 171] thì nhưvậy, mới phát sinh nghĩa vụ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án.
Trong khi đó, việc dânsựlà việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứlàm phát sinh quyền, nghĩa vụdân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, laođộng(Điều 311 BLTTDS).Ở việc dân sự thì người yêu cầu cũng phải nộp tiền tạmứnglệ phí cho Tòa án thì Tòa án mới thụ lý việc dân sự(trừtrường hợp được miễn nộp tiền tạmứng lệ phí theo quyđịnh của pháp luật). Các yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được quyđịnh tại các điều 26, 28, 30, 32 của BLTTDS có bản chất là việc cá nhân, cơ quan,
tổ chức không có tranh chấp. Đây là điểm khác biệt cơ bản với vụ án dân sự.
Với quy định tại Điều 311 BLTTDS nêu trên cho thấy có điểm chưa đúng là chưa nêu việc người yêu cầu phải có đơn theo đúng quy định, có tài liệu, chứng cứkèm theođơnyêu cầu, có nghĩavụ nộptiền tạm ứnglệphí (nếu không thuộc
25
diện được miễn nộp) và Tòa án phải có hành vi thụ lý yêu cầu vào sổ thụ lý. Tác giả cho rằng đây cũng là thiếu sót của BLTTDS vì nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêucầumà Tòa án chưathụlý thì chưathểlà việc dânsự.Trên thực tếgiải quyếtcủaTòa ánđãphát sinhmộtsốtrườnghợpsau khinộpđơnyêucầuthìngười yêu cầu không nộp tạm ứng lệ phí (trong trường hợp không được miễn nộp) và Tòa án không thụ lý yêu cầu. Do đó khi người yêu cầu chưa thực hiện nghĩa vụ thì theo quy định của pháp luật Tòa án từ chối thụ lý việc dân sự, trả lại đơn yêu cầu cho đương sự. Như vậy nếu chỉ nộp đơn yêu cầu cho Tòa án thì chưa phát sinh việc dân sự. Vì vậy, đây là thiếu sót của BLTTDS về khái niệm việc dân sự và tác giả sẽ đề xuất sửa đổi,bổ sung khái niệm này ở chương 4 của luận án.
2.1.1.2. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Xác định YTNN trong các vụ việc dân sự là vấn đề quan trọng trong lý luận và thực tiễn TPQT, bởi YTNN chínhlà đặctrưng của vụ việc dân sự có YTNN, đòi hỏi cơ chế giải quyết riêng biệt vì có liên quan đến các vấn đề như xung đột thẩm quyền giải quyết, xung đột pháp luật, nhu cầu tiến hành các hoạt động tương trợ tưpháp giữa các quốc gia hoặc vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài…
Ở các nước trên thế giới, quan điểmvề YTNN rất khác nhau. Trong pháp luật và khoa học TPQT các nước Châu Âu, khái niệm “yếu tố nước ngoài” trong vụviệc dân sự có thể là những sự kiện xảy ra tại nước ngoài hoặc các nước ngoài, hoặc cũng có thể là nơi cư trú nước ngoài, nơi thường trú hoặc nơi đặt trụ sở kinh doanh của các bên ở nước ngoài [146]. BLDS của Nga cũng giống như của Việt Nam cónêu khái niệmvề “yếutố nước ngoài”, còn ba nước khác ở Châu Âu là Thụy Sĩ, Italia, Bỉ có luật về TPQT nhưng đều không có khái niệm này [29, tr. 21].
Ở Việt Nam, trong khoa học pháp lý nói chung và TPQT nói riêng, việc xácđịnh “yếu tốnướcngoài” là vấn đề quan trọng và ở chừngmực nhất địnhđã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Theo quy định tại Điều 758 BLDS năm
26
2005 có ba dấu hiệu xác định YTNN trong quan hệ dânsựlà: (i)chủthể; (ii) căn cứđể xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự theo pháp luật nước ngoài, phát sinhở nước ngoài và (iii) tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [76]. Theo truyền thống, tranh chấp dân sự có YTNN được phân chia cụ thể thành tranh chấp dân sự(theo nghĩa hẹp) có YTNN, tranh chấp kinh doanh, thương mạicó YTNN, tranh chấp lao động có YTNN và tranh chấp hôn nhân và gia đình có YTNN. Theo quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi năm 2011), có tới trên 40 loại tranh chấp cụ thể trong các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và giađình [88, Điều 25, 27, 29, 31].
Khái niệm “yếu tố nước ngoài” trong vụ việc dân sự theo khoản 2 Điều 405 BLTTDS tương đồng với “yếu tố nước ngoài” trong quan hệ dân sự theo quy định tại BLDS năm 2005 (Ðiều 758) về quan hệ dân sự có YTNN cũng như một số văn bản pháp luật khác như Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Khoản 25 Điều 3), Luật Thương mại năm 2005, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Khoản 4 Điều 3)…Đâylà quyđịnh có điểmkhác biệt so với các văn bản pháp luật trước đây(Pháp
lệnh Thủtụcgiải quyết các vụ án dân sự, Nghị định ngày 18/10/1993 về thi hành án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế, Thông tư số 11/TATC ngày 12/7/1974 của TAND tối cao hướng dẫn một số vấn đề về nguyên tắc và về thủ tục trong việc giải quyết những việc ly hôn có nhân tố nước ngoài…) khi thay thế khái niệm “nhân tố nước ngoài” (chỉ quan hệ dân sự có người nước ngoài tham gia) bằng “yếu tố nước ngoài” để đảm bảo ngữ nghĩa đầy đủ hơn, chính xác hơn.
Khoản 2 Điều 405 BLTTDS năm 2004 quy định:
Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cưở nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa cácđương sựlà công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứđể xác lập, thayđổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [75].
27
Từquy định này của BLTTDS, có thể xác định kháiniệm vụviệc dân sự cóYTNN bao gồm(1) vụ việc dân sựnhưđã trình bày trên đâyvà (2) YTNN trong (các) vụ việc này được thể hiện như sau:
Thứ nhất, về chủ thể: Ít nhất một trong các đương sự làngười nướcngoài, người Việt Namđịnh cưở nước ngoài hoặc các bên đương sựđều là người nước ngoài. Theo Luật doanh nghiệp năm 2014 (khoản 1 Điều 4) thì cá nhân nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam. Luật quốc tịch không đưa ra khái niệm người nước ngoài mà chỉ đưa ra khái niệm người nước ngoài cư trú ở Việt Nam làcông dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam (Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008). Nhưvậytheo tác giả, có thể hiểu người nước ngoài bao gồm cá nhân nước ngoài (là người mang một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài hoặc người không có quốc tịch) và pháp nhân nước ngoài (là một tổ chức nhấtđịnh của người nước ngoài được thành lập và hoạt động tuân theo quyđịnh của pháp luật của nước ngoài). Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài [86, Điều 3]. Còn quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh [78, Điều 4]. Tuy nhiên, khái niệm quốc tịch của doanh nghiệp đã không cònđược đề cậpđến tại các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 [91].
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

