Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài trong tương quan với pháp luật một số quốc gia trên thế giới

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài trong tương quan với pháp luật một số quốc gia trên thế giới

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong xuthế hộinhập với thế giới và giao lưu dân sự quốc tế, việc các cá nhân, pháp nhân, tổ chức của Việt Nam có quan hệ kinh doanh, thương mại với các cá nhân, pháp nhân, tổ chức của nước ngoài đang dần dần trở thành những quan hệ phổ biến và ngày càng phát triển đa dạng, phong phú. Đồng nghĩa với đó là các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài (YTNN) phát sinh ngày càng nhiều, với tính chất và mức độ ngày càng phức

tạptrong điều kiện Việt Nam thực hiện công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là yếu tố khách quan đòi hỏi phải có cơ chế hữu hiệu về mặt pháp lí và những vấn đề liên quan đến thẩm quyền của tòa án (TA) đối với cácvụviệc kinh doanh, thương mại cóYTNN để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào các quan hệ tố tụng dân sự có YTNN tại các cơ quan tài phán của nước mình, là vấn đề hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong thời đại ngày nay. Khi giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại có YTNN thường xảyra xung đột về thẩm quyền hay xung đột pháp luật là điều không thể tránh khỏi của mỗi quốc gia. Bên cạnh đó là vấn đềgiải quyết xung đột pháp luật;ủy thác tư pháp (UTTP) quốc tế;công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TA nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện hệ thống pháp luật về thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN, cũng như ký kết Hiệp định tương trợ và hợp tác trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư với các nước, tham gia các Điều ước quốc tế (ĐUQT)đểgiải quyết các vấn đềtrênđã đem lại nhiều thuận lợi hơn trong công tác

2

giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN. Tuy nhiên, quy định của cácHiệp địnhtương trợ tư pháp (TTTP)về thẩmquyền của TA Việt Nam giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung, kinh doanh, thương mại nói riêng có YTNN trong các Hiệp định TTTP còn ít ỏi,sơ lược,có quy địnhlại cho

phép TA của cả hai bên ký kết đều có thẩm quyền giải quyết,… nên việc hiểu,áp dụng những quyđịnh đó còn nhiều lúng túng. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam quyđịnh vềthẩm quyền của TA Việt Nam giải quyết cácvụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN còn nằm rải rác trong các văn bản khác nhau mà chưa có sự tập trung trong văn bản chuyên ngành, còn có sự mâu thẫu giữa các văn bản chuyên ngành như Luật Đầu tư năm 2014, Bộ luật Hàng hải năm

2015,… so với quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015. Các quy định về thẩm quyền của TA trong BLTTDS năm 2015 vẫn còn chứa đựng những bất cập, hạn chế, nhiều vấn đề chưa được luật hóa như quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án (TA), thẩm quyền của TA đối với cácvụ việc vềsở hữu trí tuệ,…

Hiện nay, Việt Nam gia nhập và ký kết nhiều ĐUQT về thương mại, đầu tư với các quốc gia. Để đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quyền và

lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như tạo một hành lang pháp lý an toàn, vững chắc, hiệu quả, tạo tâm lý an toàn cho các nhà đầu tư, yêu cầu đặt ra là cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về thẩm quyền giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại trong Tư pháp quốc tế (TPQT) để có hành lang pháp lý vững chắc tạo một cơ chế giải quyết tranh chấp chặt chẽ, đáp ứngđược yêu cầu của quá trình hội nhập.

Việc nghiên cứu thẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN, đặt trong mối tương quan so sánh với pháp luật của một sốquốc gia trên thế giới là cần thiết hiện nay. Chính vì vậy, tác giảchọn đềtài: “Thẩm quyền củaTòa án Việt Nam đối với các vụviệc kinh

3

doanh, thương mại có yếu tốnước ngoài trong tương quan với pháp luật một sốquốc gia trên thếgiới”, làm luận án Tiến sỹLuật học củamình. Nghiên cứu sinh hy vọng, luận án sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam vềthẩm quyền của TA, hài hòa hóa hệthống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

2. Mục đích và nhiệm vụ của Luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các quy định cả lý luận và thực tiễn về thẩm quyền giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại cóYTNN của TA Việt Nam; thực trạng pháp luật và những giải pháp hoàn thiện đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Với mục đích nêu trên nên luận án có nhiệm vụ chính sau đây:

– Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về thẩm quyền giải quyết cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN

– Giải quyết về mặt lý luận, thực trạng lập pháp về thẩm quyền giải quyết cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN của TA trongđó có thẩm quyền tài phán chung và thẩm quyền riêng biệt của TA Việt Nam, thẩm quyền công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của TA nước ngoài; thẩm quyền của TA đối với các hoạt động của trọng tài nước ngoài, công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài,…đặt trong tương quan vớipháp luật một sốquốc gia trên thế giới để có những đánh giá, so sánh cần thiết, tiếp thu, tham khảo khi kiến giải hoàn thiện pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó chỉra những nội dung cần hoàn thiện.

– Đánh giá ưu, nhược điểm của thực trạng thẩm quyền của TA Việt Nam giải quyết cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN và chỉra nguyên nhân của thực trạng.

– Đưa ra những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật tố tụng dânsựvà pháp luật có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và bổ sung một số quy phạm

4

mới về thẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN đáp ứng yêu cầu hội nhập: Những đề xuất, kiến nghị cụ thể, có cơ sở lý luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề về thẩm quyền giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại cóYTNN của TA Việt Nam theo các ĐUQT, pháp luật Việt Nam đặt trong mối tương quan trên cơ sở phân tích, so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới.

3.2. Phạm vi nghiên cứu + Về nội dung:

Thẩm quyền giải quyết cácvụviệc dân sựcó YTNN của TA là một phạm trù rộng, gồmnhiều chế định, quy phạm pháp luật phức tạp vềthẩm quyền. Trong phạm vi nghiên cứu của một luận án tiến sỹ, cần phải có cách tiếp cận và nghiên cứu sâu về một lĩnh vực cụ thể. Do vậy, luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

Thứnhất, Luận án chỉtập trung nghiên cứu thẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN: Thẩm quyền xét xửcủa TA đối với các tranh chấp kinh doanh, thương mại có YTNN; thẩm quyền công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của TA nước ngoài; thẩm quyền của TA đối với các hoạt động của trọng tài thương mại. Luận án không giải quyết tất cảcác vấn đềvềthẩm quyền của TA trong các lĩnh vực khác cũng như không đi vào các nội dung trình tự, thủtục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của TAnước ngoài, Phán quyết của trọng tài nước ngoài.

Thứhai, Luận án tập trung vào những vấn đềlý luận cơ bản vềthẩm quyền của TA giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN. Xácđịnh thẩm quyền của TAđối với cácvụviệc kinh doanh, thương mại có

5

YTNNtrong ĐUQT và pháp luật Việt Nam, luận án đặt trọng tâm vào cácĐUQT mà Việt Nam là thành viên và nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành vềthẩm quyền giải quyết các vụviệc kinh doanh, thương mạicủa TA trong tương quan so sánh với pháp luật của một sốquốc gia. Những vướng mắc, bất cập của pháp luật về vấn đề trên từ thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

+ Về không gian:

Luận án tập trung nghiên cứu các Hiệp định TTTP mà Việt Nam là thành

viên, Công ước Hague năm 2005 về thỏa thuận lựa chọn TA,…

Ngoài ra, Luận án còn nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia về thẩm quyền của TAđối vớicácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN nhưCộng đồng các quốc gia Châu Âu (EU), Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản,

Singapore,… Tuy nhiên, Nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu vào các quốc

gia như Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore,…mục đích của việc nghiên cứu pháp luật của các quốc gia này để đánh giá mức độ tương quan so sánh,đánh giá được ưu, nhược điểm của các quy phạm pháp luật khi áp dụng vào thực tiễn, từ đó học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia. Theo đó, Nghiên cứu sinh chọn lọc, đánh giá học hỏi kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Việc lựa chọn hệthống pháp luật của mộtsốquốc gia như Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Liên Bang Ngađểnghiên cứu so sánh bởi vì:

Cộng hòa Pháp và Liên bang Nga là một trong những nước tiêu biểu cho truyền thống Civil law, pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều từtruyền thống pháp luật của Pháp và Liên bang Nga. Mặc dù là thành viên của Liên minh Châu Âu, tuy nhiên pháp luật Pháp có những nét đặc thù riêng, đặc sắc cần nghiên cứu để học hỏi kinh nghiệm từ quốc gia này.

 

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài trong tương quan với pháp luật một số quốc gia trên thế giới
Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài trong tương quan với pháp luật một số quốc gia trên thế giới

Trung Quốc là một nước láng riềng với Việt Nam nên có nhiều điểm tương đồng về phong tục tập quán, truyền thống hay thể chế chính trị. Ngoài ra, Trung Quốc còn là một trong những nước có quan hệ thương mại rất lớn với Việt Nam.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa các loại của cả nước đạt 517,26 tỷ USD, tăng 7,6% so với năm 2018. Trong đó, xuất khẩu 264,19 tỷ USD, tăng 8,4% và nhập khẩu 253,07 tỷUSD, tăng 6,8%. Như vậy, con số xuất siêu lên tới11,12 tỷUSD, mức cao nhất từ trước tới nay, tăng 62,9% so với năm trước.

Trong hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ có hoạt động xuất nhập khẩu với Việt Nam thì Trung Quốc tiếp tuc là thị trường lớn nhất và là năm thứ hai liên tiếp kim ngạch giữa 2 nước đạt trên 100 tỷ USD. Cụ thể, năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đạt 116,866 tỷUSD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam là 41,414 tỷ USD và nhập khẩu tới 75,452 tỷUSD. So với năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam vàTrung Quốc tăng thêm hơn 10 tỷ USD (năm 2018 là 106,706 tỷ USD).

Như vậy, riêng thị trường Trung Quốc chiếm đến 22,6% tổng kim ngạch xuất nhập khẩucủacảnướctrong năm 2019.Đặcbiệt, nhập khẩutừTrung Quốc chiếm gần 30% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước. Tuy nhiên, kim ngạch tăng thêmchủyếutừnhập khẩutừTrung Quốc tăng mạnh, trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang nước láng giềng này tăng không đáng kể.

Năm 2019, kim ngạch nhập khẩu của Việt Namtừ Trung Quốc tăng 10,014 tỷ USD, trong khi xuất khẩu chỉ tăng gần 150 triệu USD. Chính vì vậy, cán cân thương mại của nước ta với Trung Quốc bị thâm hụt rất lớn lên tới hơn 34 tỷ USD1. Do đó, tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh doanh,

1http://vinanet.vn/thuong-mai-cha/kim-ngach-xuat-nhap-khau-viet-nam-trung-quoc-nam-2019-dat-gan-117- ty-usd-724647.html (truy cập ngày 4/2/2020)

7

thương mại có khả năng phát sinh, nghiên cứu pháp luật Trung Quốc về vấnđề này sẽ giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Nhật Bản, từ khi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược (năm 2009) và nâng tầm lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện từ năm 2014.

Hiện nay, Nhật Bản hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 (sau Hoa Kỳvà Trung Quốc) và là thị trường nhập khẩu lớn thứ 3 (sau Trung Quốc và Hàn Quốc) của Việt Nam. Năm 2018, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với Nhật Bản chiếm 7,9% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với thếgiới; trong đó, xuất khẩu sang Nhật Bản chiếm 7,7% tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu từNhật Bản chiếm 8% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Trong 5 tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt 15,28 tỷUSD, tăng 3,7% so với cùngkỳnăm 2018. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Nhật Bản gồm: hàng dệt may, phương tiện vận tải và phụ tùng, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, thủy sản, gỗ, giày dép các loại,…

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản đạt 7,35 tỷ USD, tươngđương so với cùng kỳ 2018. Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từNhật Bản là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, sắt thép các loại, linh kiện, phụ tùng ô tô2.

Ngoài ra, mặc dù Nhật Bản mới đưa các quy định về thẩm quyền của TA giải quyết cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN vào quyđịnh của BLTTDS (trước đâyNhật Bản áp dụng các án lệđểgiải quyết cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN)3. Tuy nhiên, các quy định về thẩm quyền

2https://bnews.vn/viet-nam-va-nhat-ban-hop-tac-kinh-te-thuong-mai-phat-trien-tren-nhieu-linh- vuc/126360.html (truy cập ngày 4/2/2020).

3 Trong nhiều năm, tại Nhật Bản không có luật điều chỉnh thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tốnước ngoài. Sau một thời gian, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản được điều chỉnh dựa trên các nguyên tắc đã được đưa ra tại các quyết định của Tòa án Tối cao Nhật Bản. Một trong số đó là quyết định của Tòa án Tối cao trong vụ hãng Hàng không Malaysia năm 19813 đã thiết lập quy tắc – thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Nhật Bản có thể được suy ra từ các quy tắc về thẩm quyền xét xử dân sự của Tòa

8

của TA trong BLTTDS Nhật Bản lại có rất nhiều điểm mới, việc nghiên cứu pháp luật Nhật Bản về vấn đề này thực sự rất bổ ích và cần thiết hiện nay.

Singapore là mộtquốc gia Đông Nam Á và là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Hiệp định đối tác tòa diện và tiến bộxuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Quan hệthương mại giữa Việt Nam vàSingapore theo đó cũng ngày càng phát triển kéo theo các tranh chấp kinh doanh, thương mại giữa thương nhân hai nước có thểsẽgia tăng trong thời gian tới. Đạo luật Thỏa thuận lựa chọn Tòa án mới được Singapore thông qua vào năm 2016, trên cơ sở sự gia nhập của quốc gia này vào Công ước La Haguesvề Thỏa thuận lựa chọn Tòa án ngày 25/03/2015 càng làm cho hệ thống tư pháp của Singapore được đánh giá cao. Việc nghiên cứu pháp luật Singapore rất có ý nghĩa hiện nay.

Chính vì những lý do nêu trên, việc nghiên cứu pháp luật của những quốc gia nàysẽgiúp Nghiên cứu sinh có cái nhìn tổng quan hơn, từđó vận dụng vào tình hình của Việt Nam để kiến giải những giải pháp mang tính khoa học và phù hợp vớitình hình phát triển của các quan hệ kinh doanh, thương mại hiện nay.

+ Về thời gian: Luận án nghiên cứu các quy định của pháp luật từ năm 1989 đến nay.

4. Phương pháp nghiên cứu của Luận án a. Phương pháp luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

án Nhật Bản được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản, điều này được biết đến như là “cách tiếp cận suy luận đảo ngược”. Trong vụ việc này, Tòa án Tối cao xác định rằng một Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền xem xét một yêu cầu khởi kiện của một người thừa kế của Nhật Bản khi người để lại thừa kế là nạn nhân của một vụ tai nạn hãng Hàng không của Malaysia tại Malaysia (Nguồn: Yoko Maeda (2011), New Law on International Civil Jurisdiction in Japan and its impact on foreign corporations, International Bar Association Legal practice division).

9

sử. Các Nghị quyết, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách phát triển thịtrường và hội nhập quốc tếcủaĐảng, Nhà nướcta về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong thời đại mới;

b. Phương pháp nghiên cứu

Luận ánsửdụng các phương pháp thường dùng trong nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng, chủ yếu là các phương pháp:

– Phương pháp so sánh: Đượcsửdụng đểso sánh các quyđịnh tại các văn bản luật mới và cũ, các quy phạm của pháp luật nước ngoài trong tương quan với pháp luật Việt Nam trong phần phân tích quy định của pháp luật; .

– Phương pháp phân tích, đánh giá: Được sử dụng trong toàn bộ Luận ánđể phân tích các quy định của pháp luật, các báo cáo, số liệu và những vụ ánđiển hình.

– Phương pháp tổng hợp: Được sửdụng trong toàn bộLuận ánđểtổng hợp các quan điểm, các quyđịnhcủa pháp luật và thực trạng để đưa ra quan điểm của tác giả.

– Phương pháp thống kê: Được sử dụng để thống kê tình hình trong phần thực trạng, liệt kê được sử dụng để liệt kê các ĐUQT, các quy định pháp luật làm dẫn chứng trong toàn bộ Luận án .

Bên cạnh các phương pháp luận nói trên luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp logic,…

– Phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích các mặt lí luận, quy định của pháp luật, thực trạng và các giải pháp hoàn thiện về thẩm quyền của TA giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN.

– Phương pháp tổng hợp để khái quát nội dung nghiên cứu một cách có hệ thống được ngắn gọn, dễ hiểu.

10

– Phương pháp logic đểphân tích tính logic của pháp luật trong tình hình thực tế hiện nay.

5. Những đóng góp về mặt khoa học của Luận án

Luận án nghiên cứu chuyên sâu về thẩm quyền của TA Việt Nam đối với cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN và đặc biệt nghiên cứu trong tương quan với pháp luật một số quốc gia trên thế giới càng làm cho Luận án có tính mới. Những kết quảnghiên cứu củaLuận án có những đóng góp vềmặt khoa học:

– Đóng góp và làm phong phú thêm cơ sở lý luận cơ bản vềthẩm quyền giải quyết cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN của TA Việt Nam vào các công trình nghiên cứu trước đây.

Xây dựng tiêu chí xác định thẩm quyền của TA;

Thực trạng pháp luật về thẩm quyền của TA trong việc giải quyết cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN; đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật hiện hành.

– Góp phần nâng cao hiệu quảcông tác chuyên môn của TA. Việc nghiên cứu đềtài một cách toàn diện, chuyên sâu, giúp các cơ quan tốtụng (TA) xác định chính xác, nhanh chóng thẩm quyền của TA Việt Nam trong mỗi vụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN cụthể, tránh trường hợp xác định sai thẩm quyền mà bỏ sót cho rằng TA Việt Nam không có thẩm quyền và không thụ lý giải quyết.

– Luận án có thểsửdụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu cho giảng viên và sinh viên.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Góp phần nâng cao kiến thức lý luận về thẩm quyền của TA giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN trong TPQT Việt Nam và làm sáng tỏ những thành tựu đạt được của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của TA Việt Nam giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN;

11

Đóng góp vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của TA trong TPQT. Làm rõ những ưu, nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành vềthẩm quyền củaTA Việt Nam trong tương quan so sánh đối chiếu với pháp luật trước đây và với pháp luật củamột sốquốc gia trênthếgiới. Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn đề nêu trên. Từ đó, góp phần giải quyết hiệu quảcác vấn đềlý luận và thực tiễn vềthẩm quyền của TA Việt Namđối vớicácvụviệc kinh doanh, thương mạicó YTNN, là tài liệu có tính chất tham khảo để từ đó xây dựng và đưa ra những sửa đổi, hoàn thiện pháp luật.

Góp phần nâng cao kiến thức pháp luật, hiểu biết về thẩm quyền của TA trong TPQT. Từ đó, giúp mỗi người có cái nhìn tổng quan về thực trạng pháp luật Việt Nam;

Góp phần vào việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của TA Việt Namđối vớicácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án chia làm 4 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2.Những vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài.

Chương 3.Thực trạng thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với cácvụviệc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài trong tương quan so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới.

Chương 4. Phương hướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh hội nhập.

12

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiêncứuvà nhữngvấnđềliên quanđến luận án

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới và Việt Namvềthẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu ởcác nước trên thếgiới vềthẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

1.1.2. Các nghiên cứu liên quan đến luận án

1.1.2.1. Các nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về thẩm quyền của tòa án đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

1.1.2.2. Các nghiên cứu liên quan đến thực trạng thẩm quyền của tòa ánđối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 1.2.1. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

Từ việc nghiên cứu các công trình trong và ngoàinước liên quan đến Luận án của tác giả, cho thấy những công trình nêu trên đã đượcnhững kết quả nhất định:

Thứ nhất, những vấn đề lí thuyết cơ bản về thẩm quyền của TA đối với các vụ việc dân sự có YTNN đã được các nhà khoa học pháp lí nghiên cứu khá đầyđủ và công phu. Những công trình này ít nhiều đã được khoa học pháp lí công nhận tính khoa học và thực tiễn như khái niệm vụ việc dân sự có YTNN, xung

đột thẩm quyền, dấu hiệu xác định thẩm quyền của TA trong TPQT,… Một sốcông trình nghiêncứu vềgiải quyết tranh chấp kinh doanh, thươngmạicóYTNN tại TA Việt Nam nghiên cứu khá cụ thể các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có YTNN. Kết quả nghiên cứu của các công trình này sẽ được Luận án tiếp thu để làm cơ sở cho việc nghiên cứu sâu vào chủđề chính của Luận án là “thẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN trong mối tương quan so sánh với pháp luật một sốquốc gia trên thế giới”.

Thứ hai, các công trình nghiên cứu nêu trên cũng đã phân tích và bình luận các quyđịnhcủa Châu Âu nói chung, Trung Quốc, Anh, Pháp nói riêng

40

về thẩm quyền của TAđối với cácvụ việc dân sự, thương mại có YTNN (thẩm quyền chung, thẩm quyền riêng biệt, những trường hợp TA không có thẩm quyền), công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của TAnước ngoài. Điều này là một lợi thế rất lớn cho Luận án khi nghiên cứu thẩm quyền của TA Việt Namđốivới cácvụviệc kinh doanh, thương mại trong tương quan với pháp luật nước ngoài dưới góc độ so sánh.

Thứ ba, các công trình nghiên cứucủa các nhà khoa học nêu trên, đặc biệt là của các học giả nước ngoài còn chỉ ra những bất cập của pháp luật dưới góc độ pháp lí và từ những vụ việc thực tiễn; một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Với những vấn đề đã được các học giả nghiên cứu chỉ ra trong pháp luật cácnước sẽ được Luận ántiếp tục tiếp thu và cân nhắc về việc vận dụng vào bối cảnh thực tế của Việt Nam, chọn lọc và nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm của nướcngoài khi đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

Thứ tư,đối với các bất cập trong pháp luật Việt Nam, ĐUQTđã được các học giả nghiên cứu; những bất cập nảy sinh trong thực tiễn, các kiến nghị, giải pháp được đưa ra sẽ được Luận án tiếp tục kế thừa có chọn lọc vào giai đoạn hiện nay khi nghiên cứu pháp luật hiện hành và các ĐUQT có liên quan.

Thứ năm, về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, luận án tiếp tục sử dụng các phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu truyền thống trong khoa học pháp lý mà các học giả trước đã sử dụng. Tuy nhiên, Luận án sẽ kết hợpnhiều phương pháp nghiên cứu và bố trí hợp lý để phù hợp với nội dung nghiên cứu trong từng phần để tạo ra cái nhìn toàn diện về thẩm quyền của TA trong TPQT, đặc biệt là thẩm quyền của TA đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN mà luận án nghiên cứu,từ đó đạt được mục tiêu nghiên cứu. Cụ thể, Luận án tiếp tục sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, và các phương pháp nghiên

41

cứu: phương pháp mô tả, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp.

1.2.2. Vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu về thẩm quyền của Tòa ánđối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

1.2.2.1. Những vấn đề còn tồn tại, hạn chế

Mặc dù, các công trình nghiên cứu nêu trên của các học giảtrong và ngoài nước đã đặt được những giá trị lí luận và thực tiễn nhất định. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên vẫn còn một số hạn chế nhất định:

Thứ nhất, các công trình của các học giả nước ngoài chỉ nghiên cứu thẩm quyền của TA trong TPQT theo pháp luật nước họhoặc các ĐUQT trong phạm vi các nước Châu Âu mà không có công trình nào so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam.

Thứ hai, các công trình nghiêncứu hầu hết đều đề cập đến cáckhái niệm thẩm quyền, cơ sởlý luận đểxác định mối liên hệtrong pháp luật các quốc gia về thẩm quyền của TA như dấu hiệu quốc tịch, nơi cư trú của cá nhân hay mối quan hệgắn bó nhất,… Một sốluận án có đềcập đến đặc điểmcủagiải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có YTNN,… Tuy nhiên, mỗi luận án đều có những cách tiếp cậnkhác nhau, việc nghiên cứu, đánh giáphụthuộc vào cách tiếp cận và quan điểm của từng học giả, các nhà nghiên cứu. Ngoài ra, có một số vấn đề về mặt lý luận, luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật đểxác định thẩm quyền tài phán dân sựquốc tếcủa TA còn chưa được làm sáng tỏ và giải quyết một cách căn cơ, khoa học, phù hợp với thực tiễn vàquá trình hội nhập sâu vào các quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay.

Thứ ba, một số công trình nghiên cứu là các bài báo khoa học chỉ đề cập đến một vài vấn đề cụ thể mà không nghiên cứu sâu và toàn diện toàn bộ các quy định và cácvấn đề đặt racủa Luận án. Các vấn đề về thẩm quyền của TA Việt Namđối với cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN còn chưa được đánh giá và nhìn nhận dưới góc độ so sánh, đối chiếu để hội nhập.

42

Một sốcông trình nghiên cứu trước năm 2015 nên nhiều vấn đềvềlýluận cũng như kiến nghị không còn mang tính thời sự.Mộtsốcông trình làcác bài báo khoa học nên các công trình này bị giới hạn bởi một bài viết nên phạm vi nghiên cứu chỉ ở lĩnh vực nhỏ lẻ, chưa có tính toàn diện và hệ thống. Các giải pháp đưa ra chưa có tính đồng bộ và đầy đủ.

Vẫn còn một số quan điểm khác nhau liên quan đến cơ sở để xây dựng căn cứ xác định thẩm quyền của TA. Việc nghiên cứu toàn diện các vấn đề về thẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN sẽ bao quát các vấn đề về thẩm quyền của TA Việt Nam đánh giá thực tiễn vàmang tính chất dự liệu về các tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai.

Thứtư, quan hệkinh doanh, thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển, do đócác tranh chấp trong lĩnh vực nàysẽphát sinh ngày càng nhiều giữa các thương nhân của các nước. Việc nội luật hóa các quyđịnh của các ĐUQT hay vấn đề nhất thể hóa, hài hóa hóa hệ thống pháp luật giữa các quốc gia nhất là các quốc gia có nền kinh tếtương đồng hay có quan hệthương mại lớn với Việt Nam là thực sự cần thiết. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu pháp luật hiện hành về thẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN trong mối tương quann so sánh với pháp luật một số quốc gia còn ít, phạm vi nghiên cứu còn hạn chế.

Do đó, Nghiên cứu sinh cho rằng, khoa học pháp lí về TPQT Việt Nam vẫn còn một “khoảng trống” cho luận án nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện hơn về vấn đề này.

1.2.2.2. Những vẫn đề luận án tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện Luận án sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, xây dựng cơ sở lí luận cho việc xây dựng chế định thẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN.

Thứhai, phân tích và đánh giá các quyđịnh trong pháp luật hiện hành của Việt Nam về thẩm quyền của TA đối với các vụ việc kinh doanh, thương

43

mại có YTNN. Luận án sẽ nghiên cứu pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như các ĐUQT mà Việt Nam là thành viên trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài đểthấyđược ưu, nhược điểmcủapháp luật vềthẩm quyền của TA, mối tương quan so sánh. Đồng thời, rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Thứba, Luận ánchỉra những điểmhạnchế, bất cập của pháp luật vềthẩm quyền của TA đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNNtừviệc nghiên cứu pháp luật và từ những bản án, quyết định thực tế của TA vềvấn đề luận án nghiên cứu. Từ đó, sẽ làm cơ sở để luận án đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện.

Thứ tư, trên cơ sở những vấn đề lý luận, thực tiễn và quan điểm cá nhân của người nghiên cứu, luận án đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của TA Việt Nam đối với cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 1.3.1. Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu 1: Kinh doanh, thương mại và vụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN là gì? Phạm vi thẩm quyền của TA đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN gồm những vấn đề gì? Vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN có những đặc thù gì khác so với các loại vụ việc khác?

Câu hỏi nghiên cứu 2: Việc TA Việt Nam xác địnhsai thẩm quyền có ảnh hưởng như thế nào tới các bên cũng như năng lực cạnh tranh của TA Việt Nam trong quá trình hội nhập và tham gia các quanhệkinh doanh, thương mại quốc tế?

Câu hỏi nghiên cứu 3: Pháp luật Việt Nam hiện hành có ưu, nhược điểm gì? Nét tương đồng của pháp luật Việt Nam so với pháp luật một số quốc gia là gì? Những vấn đề gì cần học hỏi kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài?

44

Câu hỏi nghiên cứu 4: Quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của TA đối với cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN đã hợp lýchưa? Những bấtcập, hạn chếtrong pháp luật Việt Namvềthẩm quyền của TA đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN là gì? Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế này là gì?

Câu hỏinghiên cứu5:Từviệc đánh giá trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài và từ thực trạng của pháp luật Việt Nam các giải pháp được đặt ra là gìđểloại bỏbất cập, hạn chếtrong hệthống pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN cũng như bổsung, sửa đổi hoàn thiện hệthống pháp luật đểphù hợp với quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay?

1.3.2. Giả thuyết nghiên cứu

Giảthuyết nghiên cứu 1: Kinh doanh, thương mại có YTNN là hoạt động có tính chất đặc thù, thường liên quan đến các chủ thể có quốc tịch, trụsởthương mại,…ởcác quốc gia khác nhau. Khái niệm kinh doanh, thương mại có YTNN vẫn còn có những quan điểmvà cách hiều khác nhau trong khoa học pháp lý. Chính vì vậy, vẫn chưa có khái niệm thống nhất về vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN. Trên cơ sởđó, Nghiên cứu sinh sẽphân tích và đưa ra những nhận định dựa trên cơ sởlý luận và cơ sởthực tiễn đểlàm rõ các vấn đề sau:

Về mặt lý luận: xây dựng các khái niệm liên quan, phù hợp với bản chất của vấn đề nghiên cứu; Phản ánh khách quan và đầy đủ nội hàm của các vấn đềluận án nghiên cứu. Xây dựng khái niệmđầyđủnhất vềthẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN.

Giả thuyết nghiên cứu 2: Vì đặc thù của các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN nên thường liên quan đến ít nhất là hai quốc gia. Khi các bên khởi kiện ra TA quốc gia nào quốc gia đó thường xem xét có thuộc thẩm

45

quyền của TA nước mình hay không rồi mới tiến hành thụ lý giải quyết. Một trong những vấn đề hiện nay là các quy phạm pháp luật cần phải vừa mở rộngđược thẩm quyền của TA quốc gia, vừa tạo điều kiện dễ dàng cho các bên chủthể trong quan hệ thương mại có YTNN lựa chọn được TA Việt Nam để giải quyết các tranh chấp phát sinh một cách dễ dàng và thuận tiện nhưng lại phải đảm bảo được lợi ích quốc gia, quyền tự do thỏa thuận của các bênchủthể, tạo được uy tín của cơ chếgiải quyết tranh chấp bằng TA Việt Nam trên trường quốc tế.

Giảthuyết nghiên cứu 3: Trên cơsởphân tích các vướng mắc, bất cập của pháp luật thực định, cũng như đối chiếu trong tương quan so sánh với pháp luật một số quốc gia, Nghiên cứu sinh sẽ làm rõ các điểm tương đồng vàbất cập củapháp luật thực định Việt Namvềthẩm quyền của TA Việt Namđối với cácvụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN. Để làm rõ vấn đề này, Nghiên cứu sinh cho rằng cần phải đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật hiện hành vềvấn đềnghiên cứu. Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi nghiên cứu so sánh với pháp luật nước ngoài từđómới có thểcó cái nhìn tổng quan vềvấn đềnghiên cứu cũng như sẽcó những dựliệu tương lai đểđưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Giả thuyết nghiên cứu 4: Khác với các vụ việc dân sự có YTNN, vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN có đặc điểm riêng là có mục đích lợi nhuận của các chủ thể tham gia. Do đó, việc các chủ thể này thỏa thuận lựa chọn TA Việt Nam để giải quyết tranh chấp có thể sẽ ngày càng nhiều. Vì vậy, nghiên cứu sinh cho rằng khung pháp lý vềthẩm quyền của TA Việt Nam cần phải đảmbảo được tính đồng bộ, hài hòa với pháp luật các quốc gia và đáp ứngđược yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Để làmđược điều nàythì cần chỉ rađược nguyên nhân của những vướng mắc, tồn tại, nghiên cứu sinh cho rằng ngoài các vướng mắc về mặt pháp luật những vướng mắc về trình độ xét xử, năng lực chuyên môn,… cũng cần được đánh giá một cách toàn diện.

46

Giảthuyết nghiêncứu5: Trên cơsởđánh giá thực trạng và nghiên cứu pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánhvớipháp luậtmộtsốquốc gia, Nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam, nâng cao hiệuquảáp dụng pháp luậtvềthẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN.

47

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua việc nghiên cứu về tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, luận án rút ra những kết luận sau đây:

Việc nghiên cứu tổng quan các công trình liên quan đến vấn đề Luận án nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn trong quá trình xây dựng các khái niệm cũng như các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của TA đối với cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN sau nàycủaLuận án. Các công trình nghiên cứu về thẩm quyền của TA trong TPQTdưới các góc độ nghiên cứu khác nhau nên mỗi công trình đều có cách tiếp cận và hướng nghiên cứu khác nhau nên các quan điểm đưa ra sẽ có tính chất tham khảo, kế thừa.

Việc một số văn bản pháp luật về thẩm quyền của TA trong TPQT mới có hiệu lực và đang đi vào thực tiễn vẫn tiềmẩn những bất cập cần hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với tình hình phát triển của xu thế hội nhập quốc tế, chưa mang tính dự liệu lâu dài. Ngoài mục tiêu xây dựng cơ sở lý luận cho việc xác định thẩm quyền của TA Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN, hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này, luận án còn chú trọng đến việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Chính vì vậy, Luận án sẽ giải quyết những vấn đề còn bất cập của pháp luật và những vấn đề còn bỏ ngỏ của các công trình nghiên cứu trước đây.

48

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀTHẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN

GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC KINH DOANH,

THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

2.1. Khái niệm, đặc điểm và phạm vi thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài.

2.1.1. Khái niệm thẩm quyền của tòa án đối vớicác vụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

2.1.1.1. Khái niệm thẩm quyền

Khoa học pháp lý Việt Nam cũng như trên thếgiới đều không đưa ra khái niệm “Thẩm quyền”, tuy vậy, thuật ngữnày lại được sửdụng rất phổbiến trong hệthống pháp luật của các quốc gia. Trong tiếng Anh, thuật ngữthẩm quyền là “jurisdiction” hoặc “competence”, có nghĩa là quyền phán quyết về một vụ việc nào đó trong phạm vi pháp luật cho phép.

Trong cuốn sách “Khái quát chung về luật xung đột”(Conflicts in nutshell), David D.Giegel viết: “Thẩm quyền là quyền lực giải quyết tranh chấp của Nhà nước được thực hiện thông qua hệthống TA hoặc một sốcơquan có tính chất xét xử(quasi-Judicial body) như Hội đồng trọng tài hoặc Hội đồng tài phán hành chính”. Trong lĩnh vực luật quốc tế, theo Micheal Akehurst, có 3 bộ phận trong thẩm quyền của một Nhà nước: Quyền của Nhànước thực hiện các hoạt động trong lãnh thổ của một Nhà nước khác (executive jurisdiction); quyền của TA trong Nhà nước đó xét xử các vụ án cóYTNN (judicial jurisdiction); quyền của Nhànước áp dụng pháp luật nước mình trong khi giải quyết cácvụán có YTNN (legislative jurisdiction); vàvấn đềkhi nào thì các Nhà nước theo nghĩa vụpháp lý phải công nhận sựthực thi thẩm quyền của các Nhà nước khác21.

21Micheal Akehurt (1999), Jurisdiction in International law, in W. Micheal Reisman, ed., Jurisdiction in International law, Ashgate Dartmouth.

49

Theo Từ điển Luật học: Thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụhành động, quyếtđịnh của các cơ quan, tổchức thuộc hệthống bộmáy nhànước do pháp luật quy định22.

Theo tác giả Lê Thị Hà, thẩm quyền là tổng hợp các quyền mà pháp luật quyđịnh cho một cơ quan, tổchức hoặc một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thể trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy nhà nước23.

Theo tác giả Nguyễn Quốc Tuấn thì “Thẩm quyền là quyền năng pháp lýxuất phát từ quyền lực nhà nước (quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp và quyền lực tư pháp) được xác định theo quyđịnh của pháp luật, đối với (những) vụ việc/lĩnh vực nhất định”24.

Tác giả Đồng Thị Kim Thoa cho rằng: Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có YTNN là tổng hợp các quyền năng của TA hoặc trọng tài (lànhững cơ quan có tính chất xét xử) trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế – thương mại, lao động, hôn nhân gia đình có YTNN.25

Tác giả Nguyễn Hồng Nam cho rằng: Thẩm quyền của TA Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự có YTNN là tổng hợp các quyền mà TA Việt Nam được giải quyết vụ việc dân sự có YTNN và ra quyết định đối với các vấn đề pháp lýcủa vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự do pháp luật Việt Nam quy định.26

Nghiên cứu sinh đồng tình với những quan điểm này của các tác giả nêu trên. Tuy nhiên, nghiên cứu sinh cho rằng thẩm quyền giớihạnnhiệm vụ, quyềnhạncủacácchủthểnhấtđịnh,đượcquyếtđịnhkhi thực hiện các hoạt

22Từ điển Luật học Việt Nam ( 2006), Viện Khoa học Pháp Lý, Nhà xuất bản Tư Pháp – Bộ Tư pháp phối hợp với Nhà xuất bản Từ điển bách khoa.

23Lê Thị Hà ( 2003) “Phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong hệ thống Tòa án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, trang

24Nguyễn Quốc Tuấn (2008), Thẩm quyền của tòa án trong tư pháp quốc tế, Luận văn thạc sỹ;

25 Đồng Thị Kim Thoa (2004), “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật Việt Nam và Thụy Điển – từ góc độ nghiên cứu so sánh”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

26 Nguyễn Hồng Nam (2015), “Thẩm quyền của tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tốnước ngoài”, Luận án tiến sỹ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 36.

50

động thẩm quyền.Vì vậy mà “thẩm quyền” và “quyền hạn” vẫn có sự điểm khác nhau nhưng cómốiquanhệmậtthiếtvớinhauởhai khái niệm này.“Thẩm quyền” chỉ các quyền của chủ thể được làm những gì, mang tính chất bao hàm và đầy đủ, còn “Quyền hạn” là giới hạn các quyền mà chủ thể được phép thực hiện theo thẩm quyền của mình ở một số lĩnh vực nhất định. Thẩm quyền có thểđượcphân thành: thẩm quyền theovụviệc, thẩm quyền theocấpxétxử,thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, thẩm quyền của Tòa chuyên trách. Tuy nhiên, thẩm quyền của TA không chỉ được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc gia mà có thể còn được ghi nhận trong các ĐUQT mà quốc gia đó là thành viên.

Từđó,cóthểhiểu: Thẩm quyềncủaTA là quyền năng pháp lýcủaTA (quyền lực tư pháp, quyền tài phán của quốc gia) được xác định theo quy định của pháp luật quốc gia hoặc ĐUQT có quyền xem xét thụ lý, giải quyết các vụviệc bằng một quyết định hoặc bản án của TA theo trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng.

2.1.1.2. Khái niệm các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN + Khái niệm vụ việc

BLTTDS năm 2015 mặc dù không đưa ra định nghĩa thế nào là vụ việc dân sự, tuy nhiên, dựa vào quy định tại Điều 1 của Bộ luật có thể xác định vụviệc dân sự gồm có hai nhóm là vụ án dân sự và việc dân sự.

Theo giáo trình “Luật Tốtụng dân sựViệt Nam” của Trường Đại học Luật thành phốHồChí Minh thì: Vụviệc dân sựphát sinh tại TA nhân dân trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn tới TA có thẩm quyền đềnghị TA giải quyết cácvấn đềtranh chấp, các yêu cầu không có tranh chấp, phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và được TA thụ lý theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”.27

27 Giáo trình “Luật Tố tụng dân sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, NXB HồngĐức- Hội luật gia Việt Nam, 2018, trang 18.

51

Khái niệmvụán dân sựvà khái niệm việc dân sựđược phân biệt như sau:

– Vụ án dân sự phát sinh tại TA nhân dân trong trường hợp cá nhân, cơ

quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (dấu hiệu có tranh chấp là dấu hiệu đặc trưng của vụ án dân sự).

– Việc dân sựlà việc cá nhân, cơ quan, tổchức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu TA công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lýlàm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu TA công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (dấu hiệu không có tranh chấp là dấu hiệu đặc trưng của việc dân sự).

Như vậy, cách quy định trong BLTTDS vềvụviệc dân sự và việc định nghĩa vụ việc dân sự như trên theo Nghiên cứu sinh là hoàn toàn hợp lí.

+ Khái niệm kinh doanh, thương mại:

Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệmthếnào là kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 có đưa ra khái niệmvềhoạt động thương mại tại khoản 1 Điều 3. Theo đó, “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằmmụcđích sinh lợi khác”28. Khái niệm thương mại theo Luật mẫu vềthương mại điện tửcủa UNCITRAL: “Thuật ngữthương mại được diễn giải theo nghĩa rộng đểbao quát các vấn đề nảy sinh từ mọi quan hệ thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây:

bất cứgiao dịch thương mại nào vềcung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đạidiện hoặc đạilý thương mại; ủythác hoa

28 Khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005

52

hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh hoặc các hình thức vềhợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chởhàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”. Như vậy, quy định của Luật Thương mại Việt Nam về khái niệm thương mại khá tương thích với quy định của Luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL.

Theo khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì kinh doanh là“việc thực hiện liên tục một, một sốhoặc tất cảcác công đoạn của quá trìnhđầu tư, từsản xuất đến tiêuthụsản phẩm hoặc cung ứng dịch vụtrên thịtrường nhằm mục đích sinh lợi”.

Ngoài ra, BLTTDS năm 2015, cũng đã liệt kê các vụ, việc kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của TA Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 30 BLTTDS năm 2015 những vụ án kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của TA Việt Nam bao gồm: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhauvà đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyểnđổi hình thức tổ chức của công ty; Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan,tổ chức khác theo quy định của pháp luật29.

29Xem Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

53

Việc kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của TA Việt Namđược quy định tại Điều 31 của BLTTDS năm 2015 bao gồm: Yêu cầu hủy bỏ nghịquyết của Đại hội đồng cổ đông,nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật vềdoanh nghiệp; Yêu cầu liên quan đến việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quyđịnh của pháp luật vềtrọng tài thương mại; Yêu cầu bắtgiữtàu bay, tàu biển theo quyđịnh của pháp luật vềhàng không dân dụng Việt Nam, vềhàng hải Việt Nam, trừtrường hợp bắtgiữtàu bay, tàu biển đểbảo đảmgiải quyếtvụán; Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của TA nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của TA nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của trọng tài nước ngoài; Các yêu cầu khác vềkinh doanh, thương mại,trừtrường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơquan, tổ chức khác theo quyđịnh của pháp luật”30.

Theo tác giảPhan Hoài Nam: Khái niệm kinh doanh và khái niệm thương mại đã được luật hóa trong Luật Thương mại và Luật Doanh nghiệp. Mặc dù, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của các luật này có những điểm khác nhau nhưng nếu chỉmổxẻởkhái niệm thuật ngữluật học thì hai khái niệm này có nhiều điểm chung, trong đó điểm chung nổi bật là mục đích của chúng đều nhằm sinh lợi. Tác giả cho rằng: “kinh doanh và thương mại là hai khái niệm chỉ các hoạt động thương mại do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm mục đích sinh lợi. Do đó, có thểgọi chung hoạt động kinh doanh vàhoạt động thương mại là hoạt động kinh doanh thương mại và các tranh chấp phát sinh từcác hoạt động này chính là các tranh chấp kinh doanh, thương

30 Xem Điều 31 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

54

mại. Như vậy, tranh chấp kinh doanh, thương mại là các tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại do các chủ thể kinh doanh thực hiện”.31

Vớicác quyđịnhcủapháp luậtvềkinh doanh, thươngmạicho thấy cách thứcsửdụng thuậtngữkinh doanh, thươngmạilà quá dài dòng và không cần thiết32 bởi hoạt động kinh doanh thực tế bị bao quát bởi các hoạt động thương mại.

Do đó, kinh doanh, thương mại là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi được thực hiện bởi các chủ thể kinh doanh.

+ Khái niệm yếu tố nước ngoài

ỞViệt Nam, YTNN được quyđịnh trong một sốvăn bản như BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015,…

VềYTNN của vụ, việc dân sựđược quy định tạikhoản 2 Điều 464 BLTTDS năm 2015. Theo đó, vụviệc dân sựcó YTNN là vụviệc dân sựthuộc một trong các trường hợp sau:

– Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổchức nước ngoài;

– Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổchức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài;

– Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổchức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ đó ở nước ngoài.

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên của BLTTDS thì có thể hiểu vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN là vụ việc có một trong ba dấu hiệu sau:

Về chủ thể:có một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài. Cá nhân nước ngoài là người không mang quốc tịch Việt Nam bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch (Điều 3 Luật Quốc

31 Phan Hoài Nam (2018), Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại tòa án Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, trang 29.

32 Nguyễn Văn Tiến (2009), “Thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân đối với các vụ việc kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, tr84.

55

tịch năm 2008). Như vậy, theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam cá nhân mang quốc tịch Việt Nam không được coi là cá nhân nước ngoài. BLDS năm 2015 tại khoản 2 Điều 663 cũng nêu khái niệm quan hệ dânsự cóYTNN vềyếu tốchủthểxác định “có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài”. Như vậy, BLDS năm 2015 cũng bỏđi chủthểlà người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Về dấu hiệu chủ thể là “pháp nhân” theo BLDS năm 2015, “cơ quan, tổchức” theo BLTTDS năm 2015.

Tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005, quốc tịch của doanh nghiệp làquốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh. Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời, khái niệm quốc tịch của doanh nghiệp đã không còn được đề cập đến. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 tại khoản 1 Điều 676 quy định: “Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập”.

Như vậy, BLTTDS năm 2015 quy định chủ thể có YTNN là các cá nhân, cơ quan, tổchức nước ngoài. Tuy nhiên, BLDS năm 2005 tại khoản 2 Điều 663 lại quy định chủ thể có YTNN lại là cá nhân, pháp nhân nước ngoài. Do đó, chủ thể có YTNN trong hai văn bản này còn có điểm chưa tương thích.

Trường hợp doanh nghiệp tham gia vào các quan hệthương mại có YTNN nhưng theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp đó chưa chắc đãlà pháp nhân (ví dụ Luật Doanh nghiệp 2014 quy định doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân; hoặc công ty hợp danh theo luật Anh cũng không có tư cách pháp nhân) nên không thểxác định quốc tịch củadoanh nghiệp theo dấu hiệu nơi đăng ký thành lập pháp nhân theo Điều 676 BLDS năm 2015.

Nếu doanh nghiệp đó tham gia vào một vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN thì xác định tư cách chủthểcủa doanh nghiệp này lại theo Điều

56

464 BLTTDS năm 2015 với tư cách là cơ quan, tổ chức. Do đó, điều này cóthể dẫn đến việc xác định thẩm quyền hoặc pháp luật áp dụng cho chủ thể đócó thể khác nhau cho từng tư cách.

Vềsựkiện pháp lí: việc xác lập, thayđổi,thực hiện, chấm dứt quan hệđó xảy ra ở nước ngoài.

Trường hợp này có thể hiểu các bên tham gia có thể là cá nhân, cơ quan tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm dứt quan hệđó xảy ra ở nước ngoài

Về khách thể: đối tượng của quan hệ đó ở nước ngoài

BLTTDS năm 2015 cũng như BLDS năm 2015 đãcó quyđịnh mớivềkhách thể so với quyđịnhcủa BLTTDS năm 2004 và BLDS năm 2005. Nếu như các văn bản trước đâychỉquy định đối tượng của quan hệđó là tài sản liên quan đến quan hệđó ởnước ngoài33 thì trong các văn bản hiện hành lại quy định đối tượng của quan hệ đó ở nước ngoài. Quyđịnhnày là hoàn toàn hợp lý bởi lẽhiện nay các bên tham gia quan hệ dân sự có YTNN hay tham gia vào cácvụviệc dân sựcó YTNN nói chung, kinh doanh, thương mại cóYTNN nói riêng ngoài đối tượng là tài sản còn có thể có đối tượng là các lợi ích khác như các hoạt động đầu tư ra nước ngoài hay các quyền kinh doanh thương mại,…

Trong pháp luật và khoa học TPQT các nước Châu Âu, khái niệm “yếu tố nước ngoài”có thể là những sự kiện xảy ra tại nước ngoài hoặc cũng có thể

là nơi cư trúnước ngoài, nơi thường trú hoặc nơi đặt trụ sở kinh doanh của các bên ở nước ngoài34. BLDS của Nga cũng giống như của Việt Nam có nêu khái niệm về “yếu tố nước ngoài”. Trong Luật xung đột pháp luật năm 2010 của Trung Quốc cũng không đưa ra khái niệm YTNN.

33 Xem Điều 758 BLDS năm 2005 và Điều 405 BLTTDS năm 2004.

34CMV. Clarkson and Jonathan Hill (2002), Jaffey on the Conflict of Laws, second edit, Butter worths Lexis Nexis TM.

57

Vì vậyviệc xác định YTNN trong vụ việc kinh doanh, thương mạicó YTNN là hết sức cần thiết, giúp cho việc giải quyết các vụ việc thuận lợi, dễ dàng hơn rất nhiều bởi đâylà cơsở quan trọng đểxác định thẩm quyền tài phán của TA quốc gia, ngoài ra, còn liên quan đến vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của TA nước ngoài; trong thực tế vẫn có không ít trường hợp xác định không đúng dẫn đến việc giải quyết các vấn đề phát sinh trên thực tiễn là rất phức tạp và khó khăn.

Tóm lại, vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN là những vụ việc liên quan đến các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi giữa các bên đương sựcó quốc tịch khác nhau hoặc cótrụsởthương mại tại các quốc gia khác nhau; hoặc việc xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm dứt quan hệ kinh doanh, thương mại xảy ra ở nước ngoài; hoặc đối tượng của quan hệ kinh doanh, thương mạiở nước ngoài.

2.1.1.3. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh thương mại có YTNN

ỞViệt Nam, thẩm quyền của TA trong tốtụng dân sựđượcxác định dưới các góc độlà thẩm quyền theo loại vụviệc, thẩm quyền theo cấp TA, thẩm quyền theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu. Theo quy định tại Điều 1 BLTTDS năm 2015, TA có thẩm quyền giải quyết các vụ án và các việc tranh chấp/yêu cầu về dân sự, về hôn nhân và gia đình, về kinh doanh, thương mại và lao động (bao gồm cả các vụ án và các việc dân sự có YTNN).

TA nhân dân là cơ quan xét xử của nhà nước Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, gồmbốn cấp: TA nhân dân tối cao; các TA nhân dân cấpcao; các TA nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các TA nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; các TA quân sự.

BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình

tự, thủ tục khởi kiện để TA nhân dân (sau đây gọi là TA) giải quyết các vụ án

58

về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đâygọi chung là vụán dân sự) và trình tự, thủtục yêu cầu đểTA giải quyết cácviệc vềyêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụán dân sự, việc dân sự(sau đâygọi chung làvụviệc dân sự) tại TA; thủ

tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa TAnước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài;

Các ĐUQT mà Việt Nam là thành viên cũng có những quyđịnh cụthểvề thẩm quyền giải quyết các vụ việc kinh doanh, thương mại có YTNN của TA quốc gia thành viên.

Như vậy, thẩm quyền của TAđốivới cácvụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN được quy định trong BLTTDS, các văn pháp luật chuyên ngành và các ĐUQT mà Việt Nam là thành viên.

Từđó, có thểhiểu: Thẩm quyền của TA Việt Namđốivụviệc kinh doanh, thương mại có YTNN là tổng hợp các quyền năng pháp của TA Việt Nam được xác định theo quy định của pháp luật quốc gia hoặc ĐUQT có quyền xem xét thụ lý, giải quyết các vụ việc liên quanđến cáchoạt độngnhằm mục đích sinh lợi giữa các bên đương sựcó quốc tịch khác nhau hoặc có trụsởthương mại tại các quốc gia khác nhau; hoặc việc xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm dứt quan hệkinh doanh, thương mại xảyraởnước ngoài; hoặc đối tượng của quan hệ kinh doanh, thương mại ở nước ngoàivà ra quyết định đối với các vấn đềpháp lý của vụviệc theo thủtụctốtụng dân sựdo pháp luật Việt Nam quy định.

2.1.2. Đặc điểmcủa thẩm quyền đối với cácvụ việc kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài của tòa án Việt Nam

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC VỤ VIỆC KINH DOANH, THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài trong tương quan với pháp luật một số quốc gia trên thế giới Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài trong tương quan với pháp luật một số quốc gia trên thế giới Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài trong tương quan với pháp luật một số quốc gia trên thế giới

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *