Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam

Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

1. Hòa bình và công lý luôn được nhìn nhận như là hai mặt của một vấn đề, hòa bình là điềukiện cho công lýđược thực thi và công lýsẽgóp phần đảm bảo một nền hòa bình bền vững. Từ bao đời nay, cộng đồng quốc tế luôn khao khátmộtnềnhòa bình, tránh cho nhân loại phảiđốimặtvớicác cuộc chiến tranh tàn khốc, nhưng xungđộtvũ trangvẫndiễn ra ởnhiều mức độkhác nhau,vớiquy mô ngày càng gia tăng, đe dọa đếnhòa bình vàổnđịnh trên toàn thế giới. Trong bối cảnh này, công lý càng cần được đẩy mạnh nhằm trừngtrịthích đáng những hành vi có tính chấttộiphạm quốc tếnghiêm trọng, góp phần ngăn chặn, hạnchếcác cuộc xungđột, xây dựngmộtnền pháp quyền cho cộng đồng quốc tế, hướng tới hòa bình, ổn định lâu dài.

2. Cho đến trước khi Tòa án Hình sự quốc tế (TAHSQT) theo Quy chếRômđược thànhlậpnăm 1998, cộngđồngquốc tếđã có nhữngnỗlực xây dựng các thiết chế tài phán hình sự quốc tế để xét xử những tội phạm quốc tếnghiêm trọng nhất. Tuy nhiên, các thiết chế đó được hình thành trong những hoàn cảnh cá biệt, chỉcó thẩm quyền giớihạn vềkhông gian, thời gian nhất định, đồng thời còn chứa đựng nhiều bất cập trong cả tổ chức và hoạt động.

3. Trongbốicảnh đó, TAHSQT theo QuychếRôm ra đờinhằmđápứng kỳ vọng của cộng đồng quốc tế về một thiết chế tài phán hình sự quốc tếđủ mạnh, độc lập, hiệu quả, có sự kế thừa các tòa án trước đó, vừa tôn trọng chủ quyền quốc gia, vừa thực hiện mục tiêu trừng trị tội phạm, mang lại công lý cho nhân loại. Theo quy định của Quy chế Rôm, TAHSQT có thẩm quyền xétxửnhững cá nhânđã thực hiện cáctộiphạm quốctếnghiêm trọng nhất, bao gồm tội diệt chủng, tội phạm chiến tranh, tội phạm chống nhân loại và tội xâm lược.

Sự ra đời của TAHSQT đã đem lại nhiều giá trị mới mẻ, được đánh giálà một trong những bước phát triển quan trọng nhất của luật quốc tế kể từ khi Hiến chương Liên Hiệp Quốc ra đời năm 1945 đến nay. Quy chế Rôm hiện có122 quốc gia thành viên và hàng chục quốc gia khác đã ký kết và đang chuẩn bị các thủ tục gia nhập, điều này chứng tỏ tầm quan trọng, sự ảnh hưởng của Quy chế Rôm ở quy mô toàn cầu.

4. Sựra đờicủa TAHSQT là kếtquảcủa mộtquá trình nghiên cứu,đàmphán, tranh luận lâu dài khôngchỉcủa các quốc gia, mà còn của nhiều thành phần khác nhau như các học giả, chính trị gia, các nhà hoạt động xã hội, nhân quyền. Cho đến nay, ngay cả sau khi Tòa án đã đi vào hoạt động và cómột số lượng lớn các quốc gia tham gia, vẫn còn hàng loạt vấn đề mang tính lý luận, thực tiễn liên quan đến Tòa án tiếp tục được nghiên cứu, tranh luận. Trong đó, vấn đề mang tính sống còn, đồng thời cũng là chủ đề tranh luận gay gắt nhất trong cộng đồng quốc tế là về thẩm quyền của TAHSQT.

Đối với các quốc gia thành viên, vấn đề đặt ra là làm sao để TAHSQT có thể thực hiện một cách hiệu quả thẩm quyền đã được thừa nhận theo Quy chếRôm?, làm sao cóthểvừa tôn trọng các quyđịnhcủa QuychếRômvềthẩm quyền của Tòa án, vừa cóthểbảotoànmộtcáchtốtnhấtchủquyền quốc gia của mình?. Hơn nữa, đối với các quốc gia này, các nghiên cứu, tranh luận cũngđặc biệt sôinổiliên quanđếnkhảnăngmởrộng thẩm quyền của Tòa án, chẳnghạnliên quanđếntrườnghợptộiphạm xâm lược, tộiphạm khủng bố.

Đối với các quốc gia chưa là thành viên của TAHSQT, thẩm quyền của TAHSQT là vấnđềcó tính chấtcốtlõi, quyếtđịnhkhảnăng gia nhập Quy chế Rôm của các quốc gia này. Có hàng loạt các câu hỏi liên quanđến thẩm quyền của Tòa án mà quốc gia cần phải cân nhắc khi xem xét gia nhập Quy chếRôm: Liệuvớinộidung, nguyên tắc và điềukiện thực hiện thẩm quyền của Tòa án như hiện nay, việc trở thành thành viên của Tòa án có đe dọa, làmảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia?. Liệu việc đứng ngoài Quy chế Rôm cótránh cho quốc gia khỏi mọi ảnhhưởngcủa việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án?. Đâu là những cơ hội và thách thức của việc gia nhập Quy chế Rôm xét trêncảphương diện chính trị, ngoại giao, kinhtếvà pháp lý?. Xét trên phương diện pháp lý, đâulà những thayđổicầnthiếtvềthểchế, quyđịnh pháp luật trong nước mà quốc gia cần phải tiến hành để có thể vừa đồng thời tuân thủ Quy chế Rôm, góp phần vào việc giữ gìn hòa bình và công lý quốc tế, nhưng đồng thời vẫn đảm bảo được sự toàn vẹn của chủ quyền quốc gia vàsự hoạt động ổn định của nền tư pháp trong nước?.

Nghiên cứu tất cả những vấn đề trên thực sự là hoạt động cần thiết, cóýnghĩa quan trọng cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.

5. Từng phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài và tàn khốc, hơn ai hết Việt Nam là quốc gia luôn hiểu được giá trị của hòa bình và công lý quốc tế. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa, Việt Nam đã khẳng định chính sách nhất quán muốn làmbạnvớitấtcảcác quốc gia, muốn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Thực hiện chính sách này, Việt Namđã tham gia vào hàng loạt các điềuướcquốc tếvềchống chiến tranh, đảm bảo an ninh quốc tế, bảo vệ quyền con người và nhânđạo quốc tế. Gần đâynhất, tạidiễnđànToànthểcủa LiênHợpquốc, ThủtướngChínhphủchính thức tuyên bố Việt Nam đã sẵn sàng tham gia vào các hoạt động có mục đích nhânđạo, dânsựtrongsứmệnh gìngiữhòa bình của LiênHợpquốc. Tiếp đó, vào ngày 28/11/2013, Việt Namđã chính thứctrởthành thành viên của Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc.

6. Tích cực tham gia vào tiến trình thảo luận, đàm phán Quy chế Rôm, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa ký Quy chế, và do vậy chưa là thành viên của TAHSQT. Việc gia nhập Quy chế Rôm, trở thành thành viên của TAHSQT sẽlà mộthoạt độngnhằm tăngcườnghìnhảnhvềmộtđất nước ViệtNam yêu chuộng hòa bình, công lý, khẳngđịnhrõ hơn camkếtcủa Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộngđồngquốc tế. Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ một quốc gia nào khác, sự gia nhập nàycần phải được cânnhắc, tính toán kỹ lưỡng trên mọi phương diện chính trị, ngoại giao, kinh tế và pháp lý.

Trên phương diện pháp lý, việc nghiên cứu làm sáng tỏ tính chất, phạm vi, nguyên tắc, điều kiện cũng như thực tế thực hiện thẩm quyền của TAHSQT, nhữnghệquảpháp lý trongnước cóthểmanglạitừviệc chấp nhận thẩm quyền của TAHSQT có ý nghĩa tiên quyết đối với quyết định gia nhập QuychếRôm của Việt Nam. Trên phương diện lý luận, những nghiên cứunày cũng là những đóng góp quan trọng trong việc phát triển khoa học luật quốc tếcủa Việt Nam nói chung và khoa học luật hìnhsựquốctếcủa Việt Nam nói riêng.

Xuất phát từ bối cảnh nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam” làmđề tàicho luận án Tiến sĩ chuyên ngành luật quốc tế của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của thẩm quyền của các thiết chế tài phán hình sự quốc tế nói chung và thẩm quyền của TAHSQT nói riêng. Quađó, nêubậtcác đặc trưngvềthẩm quyền của TAHSQT và những khảnăng ràng buộc của việc thực hiện thẩm quyền của Tòa ánđốivớicác quốc gia không thành viên. Đồng thời, luận án cũng phân tích bối cảnh của Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm của mộtsốquốc gia đểđánh giá nhữnglợiích,thách thức đốivớiViệt Nam trong việc xem xét gia nhập QuychếRômvềTAHSQT.

Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận án cónhững nhiệm vụ cụ thể sau:

– Tóm tắt, phân tích tổng quan tình hình nghiêncứutrong và ngoài nước về thẩm quyền của TAHSQT, xác định các vấn đề nghiên cứu chính của luận án.

– Nghiêncứunhữngvấnđềlý luận, thực tiễnvềthẩm quyền của các thiết chế tài phán hình sự quốc tế, từ đó có những khái quát hóa, đánh giá vềsự phát triển về thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế qua các giai đoạn lịchsử.

– Nghiên cứu, phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn vềthẩm quyền của TAHSQT bao gồm tính chất, nguyên tắc, nội dung, điều kiện và thực tiễn thực hiện thẩm quyền của Tòa án.

– Nghiên cứu, đánh giá những cơhộivà thách thức củaviệc gia nhập QuychếRôm, trởthành thành viêncủaTAHSQT của Việt Nam, đặc biệt trongmốiliênhệvớiviệc chấp nhận và thực hiện thẩm quyền của Tòa án. Trên cơsởđó, luận án đưa ra những nhận định, kiến nghị, giải pháp về thời điểm thích hợp và một số bước chuẩn bị cần thiết của việc gia nhập Quy chếRôm của Việt Nam.

3. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu Quy chế Rôm về TAHSQT là một một đề rất rộng bao gồm nhiều lực lĩnh khác nhau, dưới góc độ địa chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý. Tuy nhiên, với mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu dưới góc độ pháp lý, giới hạn ở những vấn đề sau:

– Cơ sởlý luận và phạm vi thẩm quyền, đặc biệt là thẩm quyền

xét xử của Tòa án Hình sự quốc tế;

Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam
Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam

– Thực tiễn các quyđịnhvà việc thực hiện trên thực tếthẩm

quyền của Tòa án Hình sự quốc tế;

– Xem xét các khía cạnh tác động, các điềukiện liên quanđến

quá trình gia nhập Quy chế Rôm của Việt Nam.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Cơ sởphương pháp luận của luận án là triết học

Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đồng thời vận dụng các quanđiểmcủa Đảngvà Nhà nước ta vềxây dựng Nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và xu thế hội nhập quốc tế.

Phương pháp cụ thể: Luận án sử dụng phương pháp đi từ những vấn đềchung, tổng quát đến các vấn đề riêng, cụ thể. Các phương pháp cụ thể khác cũngđược ưu tiênsửdụng trong luận án như: phân tích, so sánh, tổng hợp, văn bản học, thống kê để giải quyết những vấn đề mà luận án đặt ra.

Tác giả sử dụng một số lượng lớn các thông tin, báo cáo, thống kê cập nhật trên trang điện tử chính thức của Tòa án Hình sự quốc tế làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá và đưa ra những luận chứng khoa học của cá nhân.

Luận án cósựkếthừa mộtcách có chọn lọc những thànhtựucủa những công trình nghiên cứu có liên quan của các học giả trong nước và quốc tế, thông qua đó có sự bình luận, nhận định và đưa ra quan điểm khoa học cánhân của tác giả.

5. Tính mới và những đóng góp của luận án

– Góp phần làm sâu sắc hơn những khía cạnh lý luận và thực tiễnvềthẩm quyền của các thiết chế tài phán hình sự quốc tế, đặc biệt là thẩm quyền của TAHSQT.

– Góp phần làm sángtỏthêm quanđiểmTAHSQT mặc dù chia sẻ

13

những đặc thù chung về thẩm quyền với các thiết chế tài phán hình sự quốc tếtrước đây, nhưng Tòa án vẫn chứa đựng nhữngđặc điểmriêng biệt như tính chấtđộc lập, hình thành trên cơ sởđiềuước quốc tếvà mang tính chấtbổsung. Với nhữngđặc điểmnổibậtnày, TAHSQTđã trởthànhmộtthiếtchếtài phán có sự ủng hộ và tham gia đông đảo của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế.

– Góp phần làm sâu sắc thêm luận chứng thẩm quyền TAHSQT không chỉ ràng buộc đối với công dân của các quốc gia thành viên, mà trong một sốtrường hợp, còn ảnh hưởng hay ràng buộc ngay cả với công dân của các quốc gia không thành viên của Quy chế Rôm.

– Góp phần làm sáng tỏ thêm những cơ hội và thách thức của việc gia nhập Quy chế Rôm của Việt Nam, từ đó đề xuất việc thay vì có thể phải thụđộng chịu sự ràng buộc thẩm quyền của Quy chế Rôm, để khẳng định chính sách hòa bình, hội nhập và trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế, Việt Nam nên sớm chủ động gia nhập Quy chế Rôm.

– Luận án phân tích và làm rõ những lợi ích, thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi gia nhập QuychếRôm, từđókiến nghịmộtsốgiải pháp cần thiết cho sự gia nhập này.

6. Kết cấu của Luận án

Ngoài phầnMởđầu, Kếtluận, Danh mục tài liệu tham khảo,Phụlục, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền xét xử hình sự quốc tếChương 3: Thực trạng quyđịnhvà thực thi thẩm quyềncủaTòa án

Hình sự quốc tế

Chương 4: Vấn đề gia nhập Tòa án Hình sự quốc tế của Việt Nam.

14

CHƢƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

1.2 Tình hình nghiên cứu ở việt nam

1.3 Những vấn đề nghiên cứu của luận án

Trên thực tế, thẩm quyền của các thiếtchếxétxửhìnhsựquốc tếnói chung cũng như thẩm quyền của TAHSQT nói riêng là một vấn đề phức tạp, việc hiểu khái niệm,bảnchất của thẩm quyền chưa hoàn toàn thống nhất. Ngay cả các văn kiện pháp lý quốc tế quy định về thẩm quyền như Quy chếRôm hay Quy chế của các tòa án hình sự quốc tế Ad hoc và các văn kiện khác có liên quan cũng có những điểm chưa rõ ràng, gây ra nhiều tranh cãi. Chính vì vậy, cả ở góc độ lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu về thẩm quyền xét xửhình sự quốc tế tồn tại nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau.

Đốivớicác công trình nghiên cứu ởnước ngoài, cóthểthấy rõsựphong phú, đa dạng liên quanđếnhầuhếtcác khía cạnhvềthẩm quyền của TAHSQT, tuy nhiên, còn thiếu vắng những công trình liên quanđếnlý luận về thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế nói chung và đặc biệt là trường hợp của Việt Nam. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thẩm quyền xét xử hình sựquốc tếchưa có nhiều. Hơn nữa, chưa có công trình nào nghiêncứumột cách tổng thể và khái quát về thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế nói chung vàthẩm quyền của TAHSQT nói riêng, đặc biệt liên quan đến khía cạnh sự ảnh

24

hưởng của thẩm quyền của TAHSQT đối với các quốc gia không thành viên.

Trên cơ sởtìm hiểu, đánh giá các nghiêncứutrong và ngoàinước cóliên quan, luận án tập trung vào nghiên cứu những vấn đề chính sau:

– Nhữngvấnđềlý luậnvềthẩm quyền xétxửhìnhsựquốctếnói chung.

– Cơsởlý luậnvềthẩm quyền và thực tiễn thực hiện thẩm quyền của TAHSQT, đặc biệt trong mối liên hệ với các quốc gia không là thành viên của Quy chế Rôm.

– Việc trở thành thành viên của TAHSQT có đòi hỏi quốc gia phải tiến hành các sửa đổi, bổ sung pháp luật trong nước nhằm tương thích với Quy chếRôm?, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài và liên hệ trường hợp cụ thể của Việt Nam.

– Phân tích, đánh giá những thuận lợi, thách thức vàđềxuấtlộtrình, giải pháp cho việc gia nhập Quy chế Rôm của Việt Nam.

25

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

1. Ở nước ngoài, có nhiều công trình nghiên cứu về luật hình sự quốc tế nói chung, về TAHSQT nói riêng. Những công trình nghiên cứu nàyđã đềcập đếnnhững vấn đềcơ bản trên cả phương diện lý luận và thực tiễnvề tổchức, hoạtđộngcủaTAHSQT, đồngthời còndựbáosựphát triển trong tương lai của Tòa. Các công trình nàyđãtạora nhữnghệquan điểm, hình thành các học thuyết đóng góp vàosựphát triểnvềlý luận và thực tiễn của TAHSQT. Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một các riêng biệt những vấn đề lý luận về vấn đề thẩm quyền của các thiết chế xét xử Tòaán, từ đó làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự cân nhắc gia nhập của các quốc gia chưa phải là thành viên của Quy chế Rôm.

2. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thẩm quyền của các thiết chếxétxửhìnhsựquốc tếcũng như của TAHSQTmớixuất hiện, do vậy chưa hình thành những trường phái, quanđiểmriêng về lĩnh vực nàyởViệt Nam. Chođếnnay, ởViệt Nam chưa có công trình nào nghiêncứuchuyên sâuvềthẩm quyền của các thiếtchếtài phán quốc tếnói chung cũng nhưthẩm quyền của TAHSQT nói riêng. Đặc biệt cũng chưa có công trình nào nghiêncứumộtcáchhệthống, đầyđủ vềvấnđềthẩm quyền của Tòa án, từđólàm cơ sởlý luận và thực tiễn chosựcân nhắc gia nhập QuychếRôm trong bối cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Do vậy, đểgóp phần thực hiện chính sách, chủtrương của ĐảngvàNhà nước ta về chủ động hội nhập quốc tế, góp phần thiết thực vào các hoạt độnggìngiữhòa bình, an ninh quốc tế,nộidung nghiêncứucủa Luận ánđược triển khai nhằm giải quyết và trả lời cho những câu hỏi cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, những câu hỏi có tính chất lý luận về cơ sở, bản chất,

26

điều kiện thực hiện thẩm quyền của TAHSQT hay vấn đề bản chất, nội dung, hệ quả của nguyên tắc thẩm quyền bổ sung, vấn đề thực hiện thẩm quyền của Tòa án trong mối liên hệ với các quốc gia không là thành viên của Tòa án vẫn chưa được nghiên cứu, giải đáp một cách thấu đáo, hệ thống. Ngoài ra,một sựnghiêncứusâu sắc vềthẩm quyền của TAHSQT cũng cho phéptrảlờicho câu hỏi liệu việc trở thành thành viên của Tòa án có đòi hỏi quốc gia phải tiến hành các sửa đổi, bổ sung pháp luật trong nước nhằm tương thích với Quy chếRôm. Việc nghiêncứuthấuđáocâuhỏinày cũng cóýnghĩađặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam xem xét gia nhập Quy chế Rôm.

27

CHƢƠNG 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ

HÌNH SỰ QUỐC TẾ

2.1. Khái niệm thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế

2.1.1. Định nghĩa thẩm quyền và thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế

ThuậtngữJurisdiction–trong tiếng Anh hay jurisdictio–trong tiếng La Tinh, thườngđược hiểu trong tiếng Việt là thẩm quyền, thẩm quyền xét xử, hay quyền tài phán, là mộttrong những thuậtngữpháp lý khó hiểu do chứa đựng nhiều nghĩa khác nhau [55; 609]. Cho đến nay, việc nghiên cứu lýluận về thẩm quyền vẫn còn nhiều khoảng trống [67].

Theo từ điển Black’s Law, thuật ngữ“thẩm quyền” được hiểu theo hai nghĩa: (i) Quyền lực của chính phủ được thực hiện với tất cả mọi người cũng nhưvớicác đốitượngkhác trong lãnhthổcủa họ;(ii) Quyền của tòa ánđểquyết định một vụ việc hay quyền đưa ra các phán quyết [59;96].

Theo Từ điển Oxford, thuật ngữ“thẩm quyền” được hiểu là quyền lực chính thức của một chủ thể để đưa ra một quyết định pháp lý hoặc một bản án [99].

TheoTừđiểnLuật học của Nhà xuấtbảnTừđiểnBách khoa,“thẩm quyền”là tổnghợpcác quyền hành động, quyền quyếtđịnhđược trao hay thừa nhận cho một chủ thể, cho phép chủ thể đó có thể thực hiện được những chức năng cụ thể mà pháp luật quy định [40].

Như vậy, “thẩm quyền xétxử” của tòa án cũng thuộc nội hàm của khái niệm thẩm quyền nói chung. Trên cơsở đó,“thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế”được hiểu là thẩm quyền của các thiết chế tài phán hình sự quốc tế xét xử

28

các tội phạm quốc tế.

Khái niệm thẩm quyền xét xét hình sự quốc tế cần được phân biệt với các khái niệm thẩm quyền xét xử (tài phán) quốc tế, thẩm quyền xét xử quốc gia đốivớicác tộiphạm có tính chất quốc tế(tội phạm được xác địnhtheođiều ước quốc tế).

Thứ nhất, thẩm quyền xét xử quốc tế được hiểu là thẩm quyền của các thiết chế tài phán quốc tế (tòa án), ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu. Cho đến nay, các thiết chế tài phán quốc tế chủ yếu bao gồm Tòa án công lý quốc tế, Tòa án quốc tế về Luật Biển, Tòa công lý Châu Âu, Tòa quyền con người của

ChâuÂu…Các thiếtchếtài phán có thẩm quyền xétxửquốc tếnàyđược thànhlậptrên cơ sởsựthỏa thuận giữa các quốc gia, nhằm thực hiện chức năng xétxửthông qua việc áp dụng các quyđịnhcủa luật quốc tế[45; 11]. Trong các thiết chế tài phán quốc tế ở quy mô toàn cầu, Tòa án Công lý quốc tế thể hiện rõ nét nhất đặc trưng của loại hình thiết chế này: hình thành trên cơsở thỏa thuận của các quốc gia, có thẩm quyền xét xử các tranh chấp pháp lýgiữa các quốc gia và áp dụng luật quốc tế. Tòa án Công lý quốc tếlà một trong sáu cơ quan chính của Liênhợpquốc1, Tòa chỉcó thẩm quyền giải quyết các tranh chấp pháp lý với một đối tượng chủ thể duy nhất là các quốc gia. Tòa không có thẩm quyền xét xử đương nhiên đối với các quốc gia thành viên, cơ sở đểTòa thực hiện thẩm quyền của mình là sự đồng ýrõ ràng của các quốc gia dựa trên ba phương thức gồm: chấp nhận thẩm quyền của Tòa theo từng vụ việc; chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa trong các điều ước vàTuyên bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa. Bên cạnh thẩm quyền giải quyết các tranh chấp pháp lý quốc tế, cũng giống như Pháp viện

1 Sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc bao gồm: Đại hội đồng; Hội đồng Bảo an; Hội đồng Kinh tế xã hội,Hội đồng

quản thác, Ban thư ký và Tòa án Công lý quốc tế.

29

thường trực quốc tế2, Tòa án Công lý quốc tế còn có thẩm quyền đưa ra các kết luận tư vấn về các vấn đề pháp lý mà Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an vàmột số cơ quan, tổ chức khác của LHQ yêu cầu [33; 61].

Thứ hai, thẩm quyền xét xử quốc gia đối với các tội phạm có tính chất quốc tế (tội phạm theo điều ước quốc tế), là thẩm quyền của các cơ quan tài phán quốc gia xétxửnhững hành vitộiphạmđược quyđịnhtrong các điều ước quốc tế cóliên quan, theo quy trình tố tụng được quy định trong pháp luật luật quốc gia. Bản chất của các hành vi tội phạm này không chỉ vi phạm trật tự pháp luật quốc gia, mà còn xâmhại đến lợi íchchung của cộng đồng quốc tế [34; 103].

Các nguyên tắc phổ biến xác lập thẩm quyền xét xử hình sự của các tòaán quốc gia đối với tội phạm có tính chất quốc tế bao gồm: nguyên tắc quốc tịch chủ động, nguyên tắc quốc tịch thụ động, nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc bảovệvà nguyên tắc thẩm quyền toàncầu[34; 80]. Những nguyên tắc này cũng đã được các tòa án hình sự quốc tế áp dụng để xác định cơ sở thực hiện thẩm quyền xét xử của các tòa án quốc tế đó.

(i) Xác lập thẩm quyền dựa trên nguyên tắc lãnh thổ

Sau thế kỷ 17, với sự kiện Hiệp ước Hòa bình Westphalia3được ký kết năm 1648, xuất hiện các quốc gia hiệnđạicóchủquyền, nguyên tắc thẩm quyền theo lãnhthổđược hình thành và dầntrởthành nguyên tắc cơ bảnđểxác định thẩm quyền cho tòa án của các quốc gia. Theo nguyên tắc này, một cá nhân khi di chuyển đến lãnh thổ quốc gia khác sẽ không phải thực thi pháp luật của quốc gia mà ngườiđólà công dân, nhưnghọsẽphải thực thi pháp luật của quốc gia nơi họ di chuyển đến [35; 65].

Nguyên tắc thẩm quyền lãnh thổ đã được ghi nhận trong pháp luật của

2 Thiết chế tài phán quốc tế tiền thân của Tòa án Công lý quốc tế, là cơ quan giải quyết tranh chấp của Hội quốc liên. 3Hiệp ước rađời là cơsở để chấm dứt Cuộc chiến kéo dài ba mươi năm và đánh dấu sự thành lập Châu Âu hiện đại,

gồm các quốc gia có chủ quyền.

30

nhiều quốc gia cũng như trong các điều ước quốc tế và tập quán pháp quốc tế. Trong vụ Lotus, Tòa án Công lý quốc tế đã xác định rằng: “trong tất cả các hệ thống pháp luật, nguyên tắc lãnh thổ của luật hình sự là cốt lõi” [52; 277].

Nguyên tắc thẩm quyền lãnhthổđược các quốc gia áp dụngphổbiến xuất phát từ những lý do như khi thực hiện nguyên tắc này sẽ giúp tòa ándễdàngtậphợpchứngcứ;các thẩm phán, côngtốviên là thành viêncủacộng đồng nơi tội phạm diễn ra nên họ có điều kiện thuận lợi để tìm hiểu và chia sẻthông tin, bảo vệ những giá trị của cộng đồng, bảo vệ các quyền của nạn nhân cũng như bị cáo, đảm bảo phiên tòa công bằng, hiệu quả. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyêntắclãnhthổđốivớicáctộiphạm quốc tếcủa tòa án quốc gia cũng gặp nhiều khó khăn vì thông thường các tội phạm này thường được thực hiệnbởinhữngngườiđứngđầuquốc gia, dovậycác cơ quan tư pháp quốc gia phải chịu áp lực chính trị khi truy tố và xét xử những người thực hiện các tội phạm này.

(ii) Xác lập thẩm quyền dựa trên nguyên tắc quốc tịch chủ động Nguyên tắc quốc tịchchủ động lần đầutiên được pháp điển hóa trong

pháp luật của mộtsốnước Châu Âulục địa nhưĐức, Thụy Sĩ, vào giữa thếkỷ 19 [68]. Theo nguyên tắc quốc tịch chủ động, tòa án của một quốc gia cóthẩm quyền xétxửhành vi tội phạm do công dân của quốc gia đó thực hiện trên lãnhthổcủa quốc gia nước ngoài. Việc áp dụng nguyên tắc này nhằm đảmbảo rằng nhữngngườiphạmtộisẽphải chịu trách nhiệm hìnhsựtheo pháp luật của quốc gia mà họmang quốc tịch, khôngphụthuộc vào việc họthực hiện các tội phạm ở đâu.

Theo cách giải thích truyền thống, việc áp dụng nguyên tắc quốc tịch chủ động cómục đích bảo vệ uy tín của một quốc gia khỏi bị ảnh hưởng bởi hành vi của công dân của họ ở nước ngoài. Sau này, nguyên tắc quốc tịch chủđộngđược xem như hình thức bảohộngoại giao mà mộtquốc gia trao cho

31

công dân của họ khi ở nước ngoài [69].

(iii) Xác lập thẩm quyền dựa trên nguyên tắc quốc tịch thụ động

Theo nguyêntắcquốc tịchthụđộng,tòa án của mộtquốc gia cóthểthực hiện thẩm quyền của mình đối với các tội phạm thực hiện ở nước ngoài chốnglạicác công dâncủaquốc gia đó.Nguyên tắc nàychủyếuđược hình thành nhằm mục đích bảo vệ các công dân của mình đang sinh sống và cư trúởnước ngoài. Các quốc gia thực hiện thẩm quyền trên cơ sởquốc tịchthụđộng đều phải xem xétđến yếu tố“tội phạm kép”– tội phạm được xácđịnh vi phạm cả pháp luật của quốc gia lãnh thổ và quốc gia mà người phạm tội làcông dân.

Nguyên tắc quốc tịch thụ động khi hình thành và vận dụng đã gặp phải sựchỉtrích mạnhmẽcủa các học giảtrênthếgiới. Theo các học giảnày, nguyên tắc quốc tịch thụ động khi áp dụng sẽ dễ dẫn đến khả năng xung đột thẩm quyền của tòa án các quốc gia. Nhà lý luậnvềthẩm quyềnnổitiếng, Giáo sư MANN cho rằng “Nguyên tắc thẩm quyền quốc tịchthụ độngđược xem như một sự vượt quá thẩm quyền” [67].

Mặc dù đã xuất hiện những yêu cầu kêu gọi từ bỏ nguyên tắc của thẩm quyền theo quốc tịch thụ động, nhưng thực tiễn của các quốc gia gần đây cho thấy, các quốc giavẫnđang thực hiện thẩm quyền dựa trên nguyên tắc này. Các công ước về chống khủng bố quốc tế và tra tấn quy định về việc áp dụng nguyên tắc xác định thẩm quyền trên cơ sở quốc tịch thụ động cho tòa án của các quốc gia thành viên, tuy nhiên quyđịnhnày không mang tính chất bắt buộc4.

(iv) Xác lập thẩm quyền dựa trên nguyên tắc thẩm quyền bảo vệ

Theo nguyên tắc thẩm quyền bảo vệ, thì tòa án của một quốc gia có thể

4 Điều 4 (b) Công ước về các tội phạm thực hiện trên máy bay năm 1963; Điều 6 (2) (b) Công ước về ngăn chặn các hành

vi bất hợp pháp chống lại sự an toàn hàng hải năm 1988; Điều 5 (1) (c) Công ước Chống tra tấn năm 1984 đã quy định về nội dung này.

32

thực hiện thẩm quyền của mình đối với các tội phạm thực hiện ở nước ngoài chốnglạiquốc gia mà ngườithực hiện hành vitộiphạm mang quốc tịch. Nguyên tắc thẩm quyền bảo vệ nhằm mục đích bảo vệ quốc gia trước những

tộiphạm gây nguy hiểm cho nền độc lập chínhtrịcủa các quốc gia, như tội

phản quốc, phản động…Thôngthường, những tội phạm này cóthểkhông bịcoi là tộiphạmtạiquốc gia nơi các hành vi phạmtộidiễn ra, dovậynósẽkhông bị trừng phạt [69]. Nguyên tắc thẩm quyền bảo vệ xuất hiện từ thế kỷthứ13, 14 và sauđóđượcphát triển mạnhmẽtừthếkỷ15, 16. Hiện nay, nguyên tắc thẩm quyền bảo vệ đã được thừa nhận chung thông qua việc quyđịnh và áp dụng trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới [61].

(v) Xác lập thẩm quyền dựa trên nguyên tắc toàn cầu

Nguyên tắc thẩm quyền toàncầuđược ghi nhận trongtậpquán pháp quốc tế, và áp dụngđốivớiloạitộiphạmđầutiên là tộicướpbiển, sauđóđược pháp điển hóa trong một số điều ước quốc tế phổ cập và trong pháp luật của các quốc gia. Điều 19 của Công ước Geneva năm 1958 trên Công hải vàĐiều105 của Côngước LHQvềLuật Biển năm 1982, đã hệthống hóa các quy định tập quán pháp quốc tế này và đã pháp điển hóa như sau:“Trêncác vùng công hải, hoặc ở nơi nào khác ngoài quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, mỗi quốc gia có thể thu giữ một con tàu cướp biển hoặc máy bay, hoặc tàu biển hoặc máy bay được thực hiệnbởivàdướisựkiểm soátcủacướp biển, và bắt giữ người và nắm bắt tài sản trêntàu”.

Thẩm quyền toàn cầu ra đời nhằm mục đích bảo vệ và thực thi hiệu quảcác lợi ích quốc tế một cách rộng rãi nhất, vì một số tội phạmkhó được bảo đảm sẽ bị xét xử bởi một quốc gia đơn lẻ hoặc thông qua một khuôn khổ quan hệsong phương [60]. Trên cơ sởđó, có nhiềuýkiến cho rằng“luậtpháp quốc tế quy định một số tội phạm có thể bị trừng phạt bởi bất kỳ quốc gia nào vì người phạmtộilàkẻthù chungcủacảnhân loại. Vì vậy, tấtcảcác quốc

33

gia có quan tâm đến bình đẳng trong việc trừng phạt các tội phạm đó” [57]. Theolậpluận này, thẩm quyền toàncầuthườngđược áp dụngđốivớicác hành vi rất tàn ác mà các quốc gia đều có chung mối quan ngại. Tinh thần này đã được đềcậptrong phán quyết của Tòa án Công lý quốc tếtrongvụviệc tranh chấp giữa Bỉ và Tây Ban Nha [80]. Tòa án còn đưa ra những ví dụ trong luật pháp quốctếhiện đại đềcậpđếncác tội phạm thuộcđốitượngáp dụng của thẩm quyền này, bao gồm tội xâm lược, diệt chủng, chế độ nô lệ và phân biệt chủng tộc.

Trênđâylà năm nguyên tắc chủyếu đểxác địnhthẩmquyền được cảcác tòa án quốc gia và tòa án quốc tế áp dụng. Sự đa dạng của các nguyên tắc này đã dẫn đến hệ quả tất yếu là nguy cơ xung đột về thẩm quyền giữa các tòaán của các quốc gia hoàn toàn cóthểxảyra. Ví dụ, khimộtcông dân của quốc gia A thực hiện một hành vi tội phạm ở quốc gia B đối với một công dân của quốc gia C, trongvụviệc này, tòa án của cảba quốc giađềucóthểcóthẩm quyền dựa trên cơ sởnguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc quốc tịchchủđộnghay quốc tịchthụđộng. Hơn nữa, nếuđâylà tộiphạm quốc tếđã làm phát sinh cơsởđểthực hiện thẩm quyền toàn cầu, thì tòa án của tấtcảcác quốc gia đều có thể có thẩm quyền, mà không phụ thuộc vào một mối liên hệvới tội phạm. Để giải quyết những xung đột trong việc xác định thẩm quyền của tòa án các quốc gia, trong luật quốc tếtồntạihai hình thức giải quyết những xung đột này. Cách thứ nhất, các quốc gia sẽ ký kết điều ước quốc tếsong phương hoặc đa phương, trongđóquyđịnhrõ các cơ sở, điềukiệnđểthiết lập thẩm quyền cho tòa án các quốc gia. Cách thứ hai, các quốc gia sẽ áp dụng các nguyên tắc để xác định thẩm quyền theo tập quán pháp quốc tế.

2.1.2. Các đặc trưng cơ bản của thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế

2.1.2.1. Thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế được hình thành trên cơsởthỏa thuận giữa các quốc gia

34

Xét về mặt bản chất, các thiết chế xét xử hình sự quốc tế là các tổ chức quốc tế, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia, do vậy thẩm quyền của chúng phải là sảnphẩm của sựthỏa thuận, chấp thuận giữa các quốc gia. Hơn nữa thẩm quyền xétxửhìnhsựvốnđược coi là mộtthẩm quyền mang tính đặc quyền, thuộc chủ quyền riêng có của mỗi quốc gia nên mộtthiếtchếquốc tếchỉcóthểthực hiệnđược thẩm quyền xétxửđốivới công dân của mộtquốc gia khi cósựchấp thuận của quốc gia đó. Sựthỏa thuận của các quốc gia là điềukiện tiên quyết cho việc hình thành và thực hiện thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế, và là sự thể hiện một cách rõ nét nhất việc tôn trọng chủ quyền của các quốc gia trong lĩnh vực xét xử các tội phạm quốc tế.

Sựthỏa thuận này cóthểđược thểhiện trực tiếp hoặc gián tiếp, với những cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào bối cảnh ra đời, chức năng và nhiệm vụ của từng thiết chế xét xử hình sự quốc tế khi chúng được thành lập.

Thực tế, kể từ ngay trước Đại chiến Thế giới Thứ nhất, cộng đồng quốc tế đã cónhững nỗ lực để thiết lập những thiết chế có thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế, tuy nhiên, do các quốc gia không đạt được sự đồng thuận chung, những thiết chế đó đã không thể ra đời.

Thẩm quyền của hai thiết chế xét xử hình sự quốc tế đầu tiên – Tòa án quânsựquốctếNuremberg (Tòa Nuremberg) và Tòa án quânsựquốc tếTokyo (Tòa Tokyo) được hình thành trêncơ sở những điều ước quốc tế được kýkếtgiữa các nướcĐồngminh thắng trận, đểxétxửvà trừng phạt các tội phạm là công dân, tổchức của các nước thua trận. Trong những trường hợp này, sự thỏa thuận của các quốc gia để thành lập nên các thiết chế xét xử hình sựquốc tếđã được thểhiện bằng việc kýkếtcác điềuước quốc tếcó liên quan. Tuy nhiên, nhữngsựthỏa thuận nàychỉlà sựthểhiệnýchí của các quốc gia thắng trận.

35

Thẩm quyền của hai thiết chế xét xử hình sự Ad hoc dành cho Nam tưcũ và Ruanđa (Tòa Nam tư cũ và Tòa án Ruanđa) được thành lập sau đó có cơ sở pháp lý là các Nghị quyết của HĐBA của LHQ, và sự thỏa thuận của các quốc gia không được thể hiện một cách trực tiếp. Tuy nhiên, khi thành lập các tòa Ad hoc này, HĐBA đã thực hiện thẩm quyền của mình trên cơ sở các quyđịnhcủa Chương VII của Hiến chương LHQ. Do vậy, cóthểhiểusựchấp thuận của các quốc gia đối với thẩm quyền của các tòa án xuất pháttừ sự chấp thuận trước đó của họ đối với thẩm quyền của HĐBA trong lĩnh vực gìn giữhòa bình và an ninh quốc tếtheo các quyđịnhcủa Chương VII của Hiến chương LHQ.

Quy chế Rôm về thành lập và hoạt động của TAHSQT là một điều ước quốc tế đa phương, được ký vào năm 1998 và có hiệu lực vào ngày 11/4/2002, sau khi có 60 quốc gia phê chuẩn. Tínhđếnthờiđiểmhiện nay, tháng 12/2013, Quy chế Rôm có 122 quốc gia thành viên, và được đánh giá làmột trong những điều ước quốc tế có số lượng quốc gia thành viên đông nhất, với thời gian tính từ thời điểm ký đến khi có hiệu lực ngắn nhất.

Chính vì được hình thành trên cơ sở một điều ước quốc tế đa phương, nên thẩm quyền của TAHSQT thể hiện rõ ràng sự thỏa hiệp, đồng thuận của các quốc gia. Tính chất thẩm quyền dựa trên điều ước của TAHSQT đã giúp cho Tòa ánhạnchếđược nhữngchỉtrích, tranh luậnvềtínhhợppháp liên quan đến thẩm quyền, vấn đề mà các tòa án quân sự quốc tế cũng như các tòaán Ad hoctrước đây đã phải đối mặt.

TAHSQT dođiềuước quốc tếhình thành, trên cơ sởđó, Tòa cóthểthực hiện thẩm quyền đối với công dân của các quốc gia thành viên của Quy chế Rôm. Cũng bằng sự thỏa thuận của các quốc gia được thể hiện trong Quy chế Rôm, TAHSQT còn có thể có thẩm quyền với công dân của các quốc gia không thành viên trong ba trường hợp sau đây:

36

Trường hợp thứ nhất, TAHSQT sẽ thực hiện thẩm quyền đối với công dân của quốc gia không phải là thành viên của Quy chế Rôm khi tội phạm do công dân của quốc gia đóthực hiện và được HĐBA chuyểnđếnTòa. Hội đồngBảoan thực hiện quyền này trên cơ sởĐiều13, điểmb của Quychế

Rôm [28]: “…Tòa án có thể thực hiện thẩm quyền đối với các tội phạm được quy định trong Quy chế nếu vụ việc do HĐBA thông báo cho Trưởng Công tốtheo thẩm quyền quy định tại Chương VII Hiến chương LHQ”. Quy định trên xuất phát từ quan điểm coi HĐBA là cơ quan quyền lực nhất của LHQ, có vai trò gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế. Vai trò này của HĐBAcũng đã được quy định trong Hiến chương của LHQ – một điều ước quốc tế được hình thành trên cơ sở sự đồng thuận của các quốc gia là thành viên của LHQ.

Trong thực tiễn hoạt động của mình, HĐBA đã không chỉ sử dụng các biện phápđược đềcậprõ ràng trong Hiến chương như các biện pháp đàm phán, ngoại giao, các biện pháp kinhtếđếncác biện pháp cuối cùng là sửdụng vũ lực để đảm bảo hòa bình, an ninh trên toàn thế giới, mà HĐBA còn thiết lập các thiết chế tài phán có thẩm quyền xét xử hình sự quốc tế như Tòa Nam tư cũ và Ruanđa.

Quyền thông báovụviệc của HĐBA cho TAHSQT khôngchỉđặtra đối với các vụ việc diễn ra trong lãnh thổ của các quốc gia thành viên của Quy chếRôm, mà cònmởrộngđốivớicảcác vụviệc xảyra tại các quốc gia không là thành viên của Quy chế.

Do vậy, cảcông dân của quốc gia thành viên và các quốc gia không thành viên QuychếRômđềucókhảnăng phải chấp nhận thẩm quyền của Tòa án trong những vụ việc do HĐBA chuyển đến Tòa. Cho đến nay, trong 8 vụ việc mà Tòa thụ lý, có 2 vụ việc được HĐBA chuyển đến Tòa và đều xảy ra tạicác quốc gia không là thành viên của tòa, là Darfur – Sudan và Lybia. Trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng Bản an chuyển các vụ việc đến Tòa án,

37

Tòa án đã tiến hành thụ lý và các hoạt động điều tra, truy tố, xétxử đã được thực hiện và đạt được những kết quả bước đầu.

Trường hợp thứ hai, các công dân của quốc gia không thành viên là đối tượng thuộc thẩm quyền của TAHSQT khi họ thực hiện hành vi tội phạm trên lãnhthổcủa mộtquốc gia là thành viên của Tòa án, hoặc quốc gia đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa án đối với tội phạm đó. Trường hợp này bao gồm haikhảnăng:Mộtlà, TAHSQT cóthểcó thẩm quyềnđốivớicông dân của các quốc gia không thành viên khi các công dânđóthực hiệntộiphạm trên lãnh thổ các quốc gia thành viên; Hai là, TAHSQT có thể có thẩm quyền đối vớicông dân của các quốc gia không thành viên khi các công dânđóthực hiện hành vi tội phạm trên lãnh thổ của một quốc gia không thành viên nhưng chấp nhận thẩm quyềncủaTòa án. Trongcảhaikhảnăng này, đốitượng thuộc thẩm quyền xétxửcủa TAHSQTđềulà công dâncủacác quốc gia không thành viên và cơ sởđểTAHSQT thực hiện thẩm quyền của mình làdựa trên nguyên tắc lãnh thổ. Trên thực tế, nguyên tắc thẩm quyền lãnh thổ đã được quy định trong pháp luật hình sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới và được coi như một trong nhưng nguyên tắc cơ bản để xác định thẩm quyền xét xử hình sự của các tòa án trong nước.

Ởphạm vi cáctổchức quốc tếkhu vực, nguyên tắc thẩm quyền theo lãnh thổ được đề cập nhiều trong các điều ước quốc tế, tạo cơ sở cho các tòaán quốc gia và tòa án quốctế thựchiện thẩm quyền. TheoHiệp địnhKhung của Hội đồng Châu Âu về Chống khủng bố, đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của các nước Châu Âu không chỉ giới hạn đối với các công dân của ChâuÂu mà cònmởrộngtớicác công dân của các quốc gia ngoài Châu Âu cóhành vi khủng bố thực hiện trên lãnh thổ Châu Âu. Thậm chí, trong Hiệp định giữa các quốc gia của Cộng đồng Châu Âu về chuyển giao quy trình tố tụng các vụ việc hình sự năm 1990 đã thể hiện cụ thể hơn những quy định này. Các

38

điều ước nàycho phép các quốc gia chuyển quá trình tố tụng hình sự đã được bắtđầu ởmộtquốc gia sang quốc gia thành viên khác mà khôngcầncósựđồng thuận của quốc gia mà người bị buộc tội mang quốc tịch.

Ởphạm vi các thiếtchếtài phán quốc tếvà khu vực, cómộtsốvídụcho thấy các tòa án này đã thực hiện thẩm quyền đối với các công dân của các quốc gia không phải là thành viêncủa điều ước cóliên quan trên nguyên tắc thẩm quyền theo lãnh thổ. Vídụđiểnhình cho trườnghợpnày là việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án đặc biệt Sierra Leone. Tòa án đặc biệt nàyđược hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế được ký kết giữa LHQ và Sierra Leoneđểtruytốnhữngngườiđã thực hiện cáctộiphạm quốc tếnghiêm trọng tại Sierra Leone. Tòa án đặc biệt đã truy tố các đối tượng không là công dân của Sierra Leone, điểnhình là việc truytốTổng thống của quốc gia láng giềng Liberia [14]. Các Tòa án công lý Châu Âu và Tòa án Công lý Caribe cũngđược các quốc gia thành viên thỏa thuận trao cho thẩm quyền giải quyết các vụ việc liên quan đến công dân của các quốc gia không là thành viên của các khu vực này [10].

Trường hợp thứ ba, Tòa án cóthểthực hiện thẩm quyềnđối vớicông dân của quốc gia không thành viên của QuychếRôm khi quốc gia đóđãcóthỏa thuậnvềviệc chấp nhận thẩm quyền của Tòa vớivụviệc cụthể[28]. Trong trườnghợpnày, sựthỏa thuận rõ ràng của các quốc gia không thành viên đã tạo điều kiện thuận lợi cho TAHSQT thực hiện thẩm quyền của mình. Việc Tòa án thực hiện thẩm quyềnđốivớicác quốc gia không thành viên nhưng cósựthỏa thuậnvềviệc chấp nhận thẩm quyền của TAHSQT cũng tươngtựnhư việc Tòa án thực hiện thẩm quyềnđốivớicác quốc gia thành viên của Quy chế Rôm.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM

Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam Thẩm quyền của TAHSQT và vấn đề gia nhập của Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *