Quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

“Quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về vấn đề quyết định hình phạt, cụ thể là quyết định hình phạt tù có thời hạn, tôi thấy còn có những bất cập trong pháp luật hình sự cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp để thể hiện rõ tính công minh, công bằng và khách quan của Tòa án khi quyết định một hình phạt tù có thời hạn cụ thể đối người phạm tội.

Trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp Thẩm phán quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với một tội phạm cụ thể có cùng tính chất hành vi và các điều kiện nhân thân tương tự nhau nhưng có trường hợp Thẩm phán quyết định hình phạt tù nhẹ hoặc có trường hợp Thẩm phán quyết định một mức hình phạt tù nặng so với khung hình phạt cụ thể của tội phạm đó. Điều đó thể hiện tính chủ quan và định tính trong vấn đề quyết định hình phạt tù có thời hạn dẫn đến việc quyết định hình phạt tù không chính xác đối với người phạm tội, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người phạm tội cũng như các lợi ích chung của xã hội. Mặt khác, các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về vấn đề quyết định hình phạt tù có thời hạn còn chung chung, các dấu hiệu chủ yếu mang tính định tính, chưa có quy định cụ thể nào mang tính định lượng. Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn thực thi pháp luật còn ít. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống về mặt lý luận chế định quyết định hình phạt tù có thời hạn, trên cơ sở đó giải quyết những vướng mắc mà thực tiễn đặt ra, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề quyết định hình phạt tù có thời hạn, đảm bảo sự nhận thức thống nhất trong thực thi pháp luật là vấn đề mang tính cấp bách, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay và đây cũng là lý do mà tôi chọn đề tài “Quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn Thạc sĩ Luật học.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định Quyết định hình phạt tù có thời hạn, từ đó xác định những bất cập, hạn chế trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Phân tích có hệ thống những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt tù có thời hạn bao gồm: khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc và căn cứ quyết định hình phạt tù có thời hạn;

Thứ hai: Thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt tù có thời hạn và một số tồn tại hạn chế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

Thứ ba: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về quyết định hình phạt tù có thời hạn và một số giải pháp mang tính định lượng khi quyết định hình phạt tù có thời hạn.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt tù có thời hạn theo Luật hình sự Việt Nam, trên cơ sở số liệu thực tiễn của địa bàn thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề pháp lý có liên quan tới chế định quyết định hình phạt tù có thời hạn dưới góc độ luật hình sự, cả về lý luận và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, về tính nhân đạo của pháp luật, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ vấn đề từ đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê. Đồng thời dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thực tiễn xét xử thuộc lĩnh vực pháp luật hình sự do Tòa án nhân dân tối cao và của các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương ban hành có liên quan đến nội dung của đề tài, những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng để phân tích, tổng hợp các luận chứng, các vấn đề được nghiên cứu trong luận văn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện pháp luật cũng như hoàn thiện lý luận về quyết định hình phạt tù có thời hạn trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Đồng thời luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo luật.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng trong thực tiễn chỉ đạo và tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt là nâng cao hiệu quả của công tác xét xử của Tòa án khi giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

7. Cơ cấu của luận văn

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt tù có thời hạn

Chương 2: Thực tiễn quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng đối với loại hình phạt tù có thời hạn

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN

    1. 1.1. Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt tù có thời hạn

1.1.1. Khái niệm “quyết định hình phạt tù có thời hạn”

Trong lịch sử lập pháp hình sự từ trước tới nay ở nước ta, khái niệm hình phạt lần đầu tiên được quy định tại Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999 như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định”. Hình phạt tù có thời hạn nằm trong hình phạt chính, được sắp xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng, có mức độ nghiêm khắc phù hợp với mức độ nghiêm trọng, nguy hiểm khác nhau của các loại tội phạm.

Theo quy định tại điều 33 BLHS hiện hành “Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm”.

Từ bản chất pháp lý nêu trên có thể định nghĩa: Quyết định hình phạt tù có thời hạn là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự, do Toà án có thẩm quyền quyết định, nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, mức hình phạt tù giam cụ thể áp dụng cho người phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự.

1.1.2. Ý nghĩa của quyết định hình phạt tù có thời hạn

Quyết định hình phạt tù có có ý nghĩa về mặt xã hội và pháp lý rất lớn. Về mặt pháp lý, việc Quyết định hình phạt tù có thời hạn đúng đắn chính là sự thực hiện các yêu cầu của nguyên tắc của luật hình sự trong việc áp dụng pháp luật hình sự . Về mặt xã hội Quyết định hình phạt tù có thời hạn đúng là cơ sở quan trọng để có thể nâng cao hiệu quả của hình phạt, góp phần vào công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm.

1.1.3. Các nguyên tắc và căn cứ quyết định hình phạt tù có thời hạn

1.1.3.1. Các nguyên tắc quyết định hình phạt tù có thời hạn

Quyết định hình phạt là một khâu quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự. Do vậy, trong khi quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt tù có thời hạn nói riêng đòi hỏi phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc của Luật hình sự. Mặc dù Bộ luật hình sự Việt Nam không ghi nhận cụ thể những nguyên tắc phải tuân thủ khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, nhưng qua nội dung các điều luật có thể rút ra được những nguyên tắc phải tuân thủ khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, cụ thể là: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt; Nguyên tắc công bằng.

1.1.3.2. Các căn cứ Quyết định hình phạt tù có thời hạn

Khi quyết định hình phạt tù có thời hạn Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự

Bộ luật hình sự là căn cứ quan trọng nhất khi quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt tù có thời hạn nói riêng. Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự là căn cứ vào nội dung các quy định của phần chung và phần các tội phạm cụ thể. Ngoài việc căn cứ vào phần chung, Tòa án còn phải căn cứ vào các chế tài của Điều luật quy định đối với tội phạm mà người phạm tội thực hiện.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, Tòa án phải phân tích được tính chất nguy hiểm, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cụ thể hóa tính chất nguy hiểm nguy hiểm, mức độ nguy hiểm của hành vi đối với khách thể trực tiếp, khách thể chung để làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt tù có thời hạn với mức phạt chính xác, tránh mức phạt quá nặng hoặc quá nhẹ.

Căn cứ vào nhân thân của người phạm tội

Nhân thân của người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu, các đặc tính thể hiện bản chất tự nhiên và xã hội của người phạm tội, khi các yếu tố đó đã kết hợp với điều kiện bên ngoài đã cấu thành việc thực hiện hành vi phạm tội của người đó.. Bao gồm các yếu tố về tuổi đời, trình độ văn hóa, lịch sử bản thân, hoàn cảnh gia đình…Để quyết định hình phạt tù có thời hạn đúng, một trong những đòi hỏi quan trọng phải làm rõ những đặc điểm nhân thân của người phạm tội để đưa ra mức phạt phù hợp, đáp ứng được mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội.

Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS với tính chất là một căn cứ quyết định hình phạt là những tình tiết được quy định trong Phần chung của BLHS, có giá trị làm giảm hoặc tăng mức độ TNHS của người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt để tạo tiền đề cho việc cá thể hoá hình phạt đối với người phạm tội được chính xác. Vì vậy, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS có ý nghĩa pháp lý hết sức quan trọng trong quyết định hình phạt nhằm đảm bảo cho hình phạt được tuyên một cách công bằng, thể hiện sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội với mức độ TNHS được áp dụng.

    1. 1.2. Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt tù có thời hạn

1.2.1. Giai đoạn trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, pháp luật về hình phạt và quyết định hình phạt gắn liền với pháp luật hình sự. Để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, các Nhà nước phong kiến Việt Nam đã xây dựng nhiều Bộ luật như Bộ luật hình thư thời Lý, Bộ luật hình thư thời Trần, Bộ luật Hồng Đức thời Hậu Lê và Bộ luật Gia Long thời Nguyễn (Quốc Triều hình luật)… Trong các Bộ luật này đều quy định về hình phạt tù và các nguyên tắc quyết định hình phạt.

1.2.2. Giai đoạn có Bộ luật hình sự năm 1985

Ngày 27/6/1985, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật hình sự năm 1985 thì 100% các điều, khoản quy định về tội phạm đều có chế tài là hình phạt tù, trong đó có 55% các điều, khoản có chế tài là hình phạt tù có thời hạn, gần 13% các điều, khoản có chế tài là hình phạt khác nặng hơn hình phạt tù có thời hạn, chỉ có khoảng 32% điều, khoản có chế tài là các hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù. Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt của Toà án các cấp trong thực tiễn xét xử, dẫn đến số người bị kết án tù có thời hạn chiếm đa số trong tổng số người bị kết án và có chiều hướng năm sau cao hơn năm trước.

Với sự ra đời của BLHS năm 1985, lần đầu tiên, các căn cứ quyết định hình phạt đã được chính thức quy định tại Điều 37 bao gồm: “Các quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự”.

1.2.3. Giai đoạn có Bộ luật hình sự năm 1999

Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua vào 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000. Kể từ năm 2000 đến nay, Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009) đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực, một loạt các văn bản hướng dẫn về các vấn đề thuộc Phần chung và Phần các tội phạm cụ thể được ban hành, mà điển hình là các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các Thông tư liên tịch hướng dẫn về một số nhóm tội phạm cụ thể.

    1. 1.3. Pháp luật hình sự hiện hành về quyết định hình phạt tù có thời hạn

Để đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động quyết định hình phạt, Điều 45 BLHS năm 1999 (được sửa đổi và bổ sung năm 2009) quy định các căn cứ quyết định hình phạt mà Toà án bắt buộc phải dựa vào khi quyết định hình phạt, đó là: “quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [22, tr.58]. Quy định của BLHS là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Toà án định tội danh và xác định khung hình phạt, yêu cầu đầu tiên của việc lựa chọn đúng loại và mức hình phạt cụ thể. Việc quy định căn cứ “quy định của bộ luật hình sự” nhằm đảm bảo tính thống nhất, đúng pháp luật khi áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự vào quyết định hình phạt. Nếu không dựa vào quy định của BLHS sẽ dẫn đến việc tuỳ tiện hoặc lạm dụng các quy phạm pháp luật hình sự khi quyết định hình phạt, đồng thời hình phạt được quyết định cũng khó có thể tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Theo đó, những quy định của BLHS hiện hành về quyết định hình phạt bao gồm các quy định có tính định hướng chung cho việc quyết định hình phạt. Nguyên tắc xử lý: Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra [22, tr.40]. Quy định tại Điều 3 BLHS ; Miễn trách nhiệm hình sự trong quy định Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: “ Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này” [22, tr.47]; tại Điều 19 BLHS và Điều 25 BLHS quy định ba trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo luật định [22, tr.50]; Mục đích của hình phạt: Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [22, tr.50], quy định tại Điều 27 BLHS; Các hình phạt quy định tại Điều 28 BLHS [22, tr.51]; những quy định về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng của từng hình phạt (từ Điều 29 đến Điều 40 của Bộ luật hình sự); Căn cứ quyết định hình phạt : “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xă hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [22, tr.58] quy định tại Điều 45 BLHS; Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 69 BLHS [22, tr.72]; Các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 71 BLHS [22, tr.74]. Các quy định cụ thể về quyết định hình phạt: Các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 46 BLHS [22, tr.58]; Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật quy định tại Điều 47 BLHS [22, tr.59]; Các tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điều 48 BLHS [22, tr.60]; Tái phạm, tái phạm nguy hiểm quy định tại Điều 49 BLHS [22, tr.61]; Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội quy định tại Điều 50 BLHS [22, tr.61]; Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án quy định tại Điều 51 BLHS [22, tr.62]; Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 52 BLHS [22, tr.63]; Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm quy định tại Điều 53 BLHS và Miễn hình phạt quy định tại Điều 54 BLHS [22, tr.64].

Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong một số trường hợp đặc biệt

Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp đặc biệt bao gồm một số trường hợp sau đây: Quyết định hình phạt tù có thời hạn nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự; Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp phạm nhiều tội; Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp đồng phạm; Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội.

“Quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
“Quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Khái quát về thực tiễn tình hình Quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012-2016

Theo số liệu thống kê từ Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng, trong 5 năm từ năm 2012 đến 2016, trong tổng số 6.913 bị cáo bị đưa ra xét xử thì có 5.769 bị cáo bị xử phạt hình phạt tù có thời hạn, chiếm tỷ lệ: 83,45%/tổng số bị cáo phạm tội. Hình phạt tù có thời hạn được áp dụng cao nhất vào năm 2013 với 1.254 bị cáo và thấp nhất vào năm 2015 với 1.038 bị cáo, giảm 216 bị cáo. Như vậy, có thể thấy rằng hình phạt tù có thời hạn là hình phạt chính được áp dụng nhiều nhất trong các loại hình phạt chính trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Nhìn chung từ thực tiễn cho thấy công tác xét xử các vụ án hình sự tại thành phố Đà Nẵng trong các năm trở lại đây đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.

2.2. Đánh giá kết quả đạt được về tình hình Quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

    1. 2.2.1. Thực tiễn Quyết định hình phạt tù có thời hạn theo đúng khung hình phạt của Điều luật và những khó khăn, vướng mắc

2.2.1.1. Thực tiễn Quyết định hình phạt tù có thời hạn theo đúng khung hình phạt của điều luật

Tình hình áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS trong Quyết định hình phạt tù có thời hạn.

Qua nghiên cứu các bản án của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng, tác giả nhận thấy rằng, HĐXX sau khi cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ TNHS thường tuyên bị cáo ở mức hình phạt giữa khung hình phạt của điều luật nếu có 1 tình tiết giảm nhẹ. Đối với những bị cáo được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ thường được HĐXX áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt. Đối với những bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, còn được xem xét áp dụng Điều 60 BLHS để cho hưởng án treo. Theo thống kê tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng, trong 5 năm từ 2012 đến 2016, có 963 bị cáo bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho hưởng án treo, chiếm tỷ lệ: 16,69%/tổng số bị cáo bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn.

Thực trạng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trong việc QĐHP tù có thời hạn

 Khi xét xử, có Hội đồng xét xử đã mở rộng “chủ thể” được tặng danh hiệu cao quý có quan hệ với người phạm tội ngoài “vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột” với người phạm tội là “ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu ruột kêu người phạm tội là ông, bà nội, ngoại”, việc áp dụng xem các danh hiệu này là “danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước” để áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 46 cho bị cáo là phù hợp với đạo lý, chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.

Đối với tình tiết thứ sáu quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 có nội dung: “Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo”, việc mở rộng chủ thể bồi thường trong trường hợp này không nên giới hạn để nhanh chóng khắc phục, hạn chế hậu quả mà hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Đối với tình tiết thứ ba quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 có nội  “Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên.”, quy định trường hợp này là chủ thể là chưa phù hợp, tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người bị tàn tật với nhau, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo bị tàn tật không phải là dấu hiệu để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mà mấu chốt vấn đề là khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người tàn tật.

Tình hình áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS trong QĐHP tù có thời hạn.

Trong tổng số 2.376 bị cáo đã nghiên cứu tại 1.115 bản án của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng thì có 415 bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng và bị xử phạt ở khung cơ bản. Tình tiết tăng nặng TNHS được áp dụng để xem xét mức hình phạt cho bị cáo tại khung cơ bản mà bị cáo đã bị truy tố. Trừ các tình tiết tăng nặng là dấu hiệu định khung thì tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng áp dụng tình tiết tăng nặng chủ yếu đối với các bị cáo phạm tội“Cố ý gây thương tích”, “cướp tài sản” hoặc “giết người”, tình tiết tăng nặng được áp dụng chủ yếu để QĐHP tại thành phố Đà Nẵng là tình tiết: “Phạm tội có tính chất côn đồ” hoặc “Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm” đối với các tội xâm phạm về quyền sở hữu như tội“Trộm cắp tài sản”.

Qua phân tích, nghiên cứu các bản án tác giả thấy rằng, những bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng thường có mức hình phạt nằm trên 2/3 khung hình phạt cơ bản.

2.2.1.2. Những khó khăn, vướng mắc trong Quyết định hình phạt tù có thời hạn

Vướng mắc trong việc phân biệt các thuật ngữ pháp lý trong BLHS hiện hành

Thứ nhất, trong Bộ luật hình sự còn thiếu một số định nghĩa pháp lý: như thế nào là tình tiết định tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng (và tình tiết giảm nhẹ) trách nhiệm hình sự để làm cơ sở pháp lý giúp cho các cơ quan tư pháp hình sự & Tòa án phân biệt cũng như áp dụng chính xác chúng trong thực tiễn xét xử.

Thứ hai, cũng trong Bộ luật hình sự, việc sử dụng các thuật ngữ trong các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự còn chưa thống nhất với nhau.

Vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự

Thứ nhất, Điều 33 của Bộ luật hình sự quy định thời hạn tối thiểu của hình phạt tù là 03 tháng. Có thể thấy rằng, việc quy định thời hạn tối thiểu của hình phạt tù là 03 tháng như hiện nay dựa trên cơ sở cho rằng phạt tù là hình phạt nghiêm khắc, nên việc tước tự do thân thể của một người ở mức độ đó là đủ nghiêm khắc để người phạm tội “trả giá” cho hành vi của mình. Tuy nhiên, từ góc độ tổ chức thi hành án và mục đích hình phạt thì thời hạn đó là khó hợp lý, vì hai lý do sau: 

Một là, từ góc độ mục đích hình phạt, nếu cho rằng hình phạt chỉ nhằm mục đích trừng trị người phạm tội thì mức hình phạt tối thiểu ngắn cũng là phù hợp. Tuy nhiên, nếu cho rằng mục đích quan trọng hơn của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa chung, thì với thời hạn chấp hành hình phạt tù ngắn ngủi như vậy sẽ rất khó đạt được.

Hai là, từ góc độ tổ chức thi hành án, việc tổ chức thi hành hình phạt tù đòi hỏi phải có thời gian vì thủ tục rất phức tạp, vì vậy, sẽ là thiếu hợp lý khi cơ quan tiến hành tố tụng bỏ ra một thời gian tương đối dài chỉ để thi hành một quyết định mà hiệu quả không cao. 

Thứ hai, Điều 33 của Bộ luật hình sự chỉ quy định thời hạn tối thiểu và thời hạn tối đa của hình phạt tù có thời hạn mà không quy định đối tượng được áp dụng, loại tội được áp dụng, điều kiện áp dụng như đối với một số loại hình phạt khác. Đặc biệt, điều luật cũng không quy định điều kiện chung của việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Điều này đã dẫn đến nhiều khó khăn trong phân hóa trách nhiệm hình sự trong quy định các chế tài, trong cá thể hóa hình phạt của Tòa án đối với người phạm tội.

Thứ ba, liên quan đến những quy định của Bộ luật hình sự về hình phạt tù có thời hạn với người chưa thành niên phạm tội còn có một số bất cập.

Thứ tư, khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa của hình phạt tù trong các khung hình phạt của một số điều luật tại phần các tội phạm là quá rộng.

Vướng mắc trong việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS để QĐHP tù có thời hạn

Thứ nhất, trong Bộ luật hình sự còn thiếu một số định nghĩa pháp lý: như thế nào là tình tiết định tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng (và tình tiết giảm nhẹ) trách nhiệm hình sự để làm cơ sở pháp lý giúp cho các cơ quan tư pháp hình sự & Tòa án phân biệt cũng như áp dụng chính xác chúng trong thực tiễn xét xử.

Thứ hai, cũng trong Bộ luật hình sự, việc sử dụng các thuật ngữ trong các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự còn chưa thống nhất với nhau.

 Thứ ba, quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đang có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng đây là một tình tiết giảm nhẹ, quan điểm khác lại cho rằng đây là hai tình tiết giảm nhẹ. Qua thực tiễn xét xử, tác giả cũng gặp nhiều bản án cùng một hành vi, cùng tính chất phạm tội nhưng sử dụng các tình tiết giảm nhẹ khác nhau dẫn đến việc QĐHP tù có thời hạn khác nhau.

Thứ tư, một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự còn nhiều cách hiểu chưa thống nhất trong việc quy định và áp dụng chúng trong thực tiễn hoặc đang được thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đặt ra.

    1. 2.2.2. Thực tiễn Quyết định hình phạt tù có thời hạn dưới khung hình phạt của điều luật và những khó khăn, vướng mắc

2.2.2.1. Thực tiễn QĐHP tù có thời hạn dưới khung hình phạt của điều luật

Từ năm 2012 đến năm 2016, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng đã đưa ra xét xử 3.771 vụ án hình sự. Trong phạm vi nghiên cứu cho phép trong số 1.115 bản án hình sự với 2.376 bị cáo thì có 435 trường hợp Hội đồng xét xử đã áp dụng Điều 47, để QĐHP dưới khung hình phạt bị truy tố cho các bị cáo, tập trung chủ yếu vào các loại tội như: Vi phạm các qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Trộm cắp tài sản, Cố ý gây thương tích …

Khi áp dụng Điều 47 để chuyển khung hình phạt, phần lớn các bản án của Tòa án nhân dân hai cấp đã đánh giá, phân tích, xác định rõ các tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại khoản 1 Điều 46; nhận định điều kiện chấp nhận hay không chấp nhận áp dụng Điều 47 để chuyển khung hình phạt; tính toán cẩn trọng để lượng hình cho các bị cáo sao cho phù hợp với tính chất vụ án, vai trò và nhân thân của người phạm tội, nhất là việc vừa chuyển khung hình phạt (Điều 47), sử dụng nguyên tắc ấn định mức hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (Điều 69, 74), vừa xem xét trường hợp phạm tội chưa đạt hay chuẩn bị phạm tội (Điều 52).

Tuy nhiên, các sai sót liên quan đến vấn đề này còn tương đối nhiều. Khi có kháng cáo, kháng nghị, các sai sót này chủ yếu là cơ sở để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm. Điều quan trọng là hậu quả của những sai sót liên quan có tác động trực tiếp, cụ thể đến từng bị cáo và ảnh hưởng đến nhận thức, đánh giá của nhân dân về kết quả xét xử của Tòa án.

2.2.2.2. Những khó khăn, vướng mắc trong Quyết định hình phạt tù có thời hạn

Vướng mắc, khó khăn trong đánh giá tính chất, mức độ và áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự:

Theo qui định tại Điều 47 và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hiện hành, điều kiện cần và đủ để Hội đồng xét xử có thể chuyển khung hình phạt, xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố là bị cáo phải được Hội đồng xét xử chấp nhận cho hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Từ yêu cầu cứng này, trong thực tiễn xét xử, khi Hội đồng xét xử nghị án, để quyết định mức hình phạt, việc phân tích cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ nào là việc làm đầu tiên, trước khi nghĩ đến áp dụng hay không áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự được qui định từ điểm a đến điểm s. Mỗi điểm, mỗi tình tiết giảm nhẹ đòi hỏi bị cáo phải thỏa mãn một hoặc nhiều điều kiện nhất định. Trong thực tiễn xét xử, có những tình tiết giảm nhẹ khi phát sinh điều kiện cần thiết thì dễ nhận biết và dễ áp dụng như: tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại (điểm b), người phạm tội là phụ nữ có thai, là người già (điểm l, m), người phạm tội tự thú (điểm o)…Nhưng cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ phải qua phân tích, đánh giá, so sánh, đối chiếu, tổng hợp các điều kiện, các biểu hiện, thái độ của bị cáo và khi hội đủ các yêu cầu cơ bản này thì Hội đồng xét xử mới áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, như: Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (điểm c), phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra (điểm đ)…Theo đó, tình tiết giảm nhẹ càng khó nhận diện, khó xác định bao nhiêu thì thực tiễn xét xử càng phát sinh sai sót bấy nhiêu.

Vướng mắc trong việc xác định điều kiện áp dụng Điều 47 để quyết định dưới khung hình phạt:

Tòa án chỉ có thể QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài khi bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Ðiều 46 BLHS (hay còn gọi là các tình tiết giảm nhẹ luật định). Tuy nhiên, trong 435 trường hợp được QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt nêu trên thì có 32 trường hợp áp dụng sai về điều kiện này, tức là chỉ có một tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS (chiếm 7,35%), tỉ lệ này là tương đối cao so với số lượng các bản án được QĐHP dưới mức thấp nhất của chế tài.

Nghiên cứu các bản án áp dụng sai về điều kiện phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS cho thấy có một số vụ án bị cáo không có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng Tòa án vẫn QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài là do nhận thức không đúng quy định của pháp luật hình sự về điều kiện để QĐHP nhẹ hơn. Tuy nhiên, cũng có nhiều vụ án người phạm tội không có đủ các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của khoản 1 nhưng lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46 BLHS và xét trong mối quan hệ với các tình tiết khác trong trường hợp phạm tội cụ thể Tòa án vẫn QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài.

Ngoài ra, thực tế còn có trường hợp đánh giá sai về tình tiết giảm nhẹ dẫn đến áp dụng sai điều kiện về số lượng tình tiết nhẹ và áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt không đúng.

Việc áp dụng sai điều kiện số lượng các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định của BLHS còn do nhận thức sai về các tình tiết giảm nhẹ nên dẫn đến áp dụng sai quy định về điều kiện các tình tiết giảm nhẹ, những tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án thường áp dụng sai là tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tình tiết người phạm tội tự thú. Trong 182 bản án được quyết định mức hình phạt dưới mức tối thiểu của khung hình phạt thì có 03 bản án xác định sai tình tiết giảm nhẹ này (chiếm 1,65%), tuy tỷ lệ này không đáng kể so với số lượng bản án khảo sát nhưng nó cũng nói lên việc áp dụng sai điều kiện về tình tiết giảm nhẹ để QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Quan điểm thứ nhất, QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài là trường hợp đặc biệt của QĐHP, do tính chất đặc biệt nên chỉ cần bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 là Tòa án có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài trong trường hợp này nếu bị cáo có tình tiết tăng nặng thì cũng không hề vi phạm quy định về QĐHP nhẹ hơn quy định của Bộ luật.

Quan điểm thứ hai, mặc dù bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS và đáp ứng các điều kiện khác của quy định về QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt, nhưng khi QĐHP Tòa án không những căn cứ vào các quy định của quyết định dưới mức tối thiểu của chế tài mà còn căn cứ vào các quy định của QĐHP chung. Do vậy, nếu bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại Điều 46 BLHS mà lại có thêm tình tiết tăng nặng thì không thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của chế tài đối với bị cáo.

Trong 435 trường hợp được QĐHP dưới mức thấp nhất của chế tài thì có 63 trường hợp được QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài khi bị cáo có tình tiết tăng nặng TNHS (chiếm 14,5%)

Theo quan điểm của tác giả, các tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tăng lên so với các tình tiết này, khi QĐHP dưới mức tối thiểu của khung hình phạt thì ngoài những quy định của pháp luật hình sự về QĐHP nhẹ hơn thì Tòa án còn phải căn cứ vào các quy định chung của QĐHP. Hiện nay chưa có hướng dẫn nào về vấn đề này, tuy nhiên, căn cứ vào thực tiễn tác giả nhận thấy cần thiết phải quy định điều kiện áp dụng hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt là có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 46 BLHS và không có tình tiết tăng nặng tại Điều 48 BLHS thì phù hợp.

    1. 2.2.3. Thực tiễn Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong những trường hợp đặc biệt

2.2.3.1. Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

Thực tiễn xét xử tại Tòa án hai cấp thành phố Đà Nẵng, do luật không quy định về việc vận dụng hai quy tắc tiết giảm đặc biệt này nên Tòa án khi quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chỉ áp dụng quy tắc giảm nhẹ của trường hợp phạm tội này mà không chú ý đến áp dụng quyết định nhẹ hơn, tuy nhiên cũng có một số trường hợp Tòa án quận huyện tại thành phố Đà Nẵng cho rằng nếu bị cáo có điều kiện luật định thì áp dụng QĐHP nhẹ hơn trước, nhưng cũng có Tòa cho rằng áp dụng quyết định trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt trước.

Trong 1.115 bản án tác giả nghiên cứu tại thành phố Đà Nẵng thì chỉ có 17 bản án xét xử đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt. Hình phạt chính áp dụng đối với các bản án này là hình phạt tù có thời hạn. Đa số các bản án đều nhận định bị cáo thực hiện hành vi trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nên chưa gây ra hậu quả và cần áp dụng hình phạt nhẹ hơn để áp dụng cho bị cáo và quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà không sử dụng quy tắc áp dụng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt.

Theo quan điểm của tác giả, khi quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thì phải áp dụng QĐHP nhẹ hơn trước vì nó quy định chung sau đó mới áp dụng QĐHP trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt. Mức hình phạt tiết giảm khi áp dụng hai quy tắc tiết giảm đặc biệt này cao hơn khi chỉ áp dụng một quy tắc tiết giảm, điều đó là phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm công bằng cho bị cáo khi họ đủ điều kiện áp dụng hai quy tắc tiết giảm này.

“Quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
“Quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

2.2.3.2. Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội

Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ năm 2012 đến 2016 có 227 bị cáo chưa thành niên phạm tội, chiếm tỷ lệ: 3,93% số bị cáo bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Nhìn chung, mức hình phạt tù có thời hạn cho bị cáo chưa thành niên chủ yếu từ 3 năm trở xuống có 122 bị cáo, chiếm tỷ lệ: 53,74% hình phạt tù áp dụng cho người chưa thành niên; từ 3 năm đến 7 năm có 86 bị cáo, chiếm tỷ lệ: 37,8%; từ trên 7 năm đến 15 năm có 21 bị cáo, chiếm tỷ lệ: 9,25%.

Thực tiễn QĐHP tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng luôn chú trọng đến việc QĐHP đối với người chưa thành niên, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của người chưa thành niên phạm tội để tuyên một mức hình phạt thích ứng với hành vi phạm tội của người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, việc áp dụng cũng có nhiều sai sót do Tòa án không xác định QĐHP nhẹ hơn đối với người chưa thành niên phạm tội có sự liên quan chặt chẽ nên khi áp dụng Tòa án sơ thẩm vận dụng hai quy tắc giảm nhẹ để QĐHP, mức hình phạt đó là đúng với quy tắc tiết giảm nhưng Tòa án cấp phúc thẩm không cho là vậy.

CHƯƠNG 3

CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐÚNG ĐỐI VỚI LOẠI HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN

    1. 3.1. Các yêu cầu của Quyết định hình phạt đúng đối với hình phạt tù có thời hạn

Trong việc quyết định phạt tù có thời hạn cũng như khi quyết định các loại hình phạt khác, Toà án phải tuân thủ các nguyên tắc QĐHP và các căn cứ QĐHP. Những nguyên tắc này không được quy định cụ thể trong BLHS. BLHS chỉ đề cập các căn cứ QĐHP tại Điều 45 BLHS là; 1) Các quy định của BLHS; 2) Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; 3) Nhân thân người phạm tội; 4) Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Để đưa ra được QĐHP đúng đối với hình phạt tù có thời hạn thì cần phải đảm bảo tính chính xác từ khâu định tội danh. Vì định tội danh là một trong những giai đoạn cơ bản, một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật. Định tội danh còn là tiền đề, cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự khác và pháp luật tố tụng hình sự. Do đó việc định tội danh phải đảm bảo qua 03 quá trình: Một là, xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện trên thực tế; Hai là, nhận thức đúng đắn quy định của BLHS về cấu thành tội phạm tương ứng bao gồm cả các yếu tố khách quan và chủ quan của tội phạm; Ba là, xác định sự phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể được thực hiện và cấu thành tội phạm tương ứng.

    1. 3.2. Các giải pháp bảo đảm Quyết định hình phạt đúng đối với hình phạt tù có thời hạn

3.2.1. Giải pháp về hoàn thiện pháp luật hình sự

BLHS cần phải có quy định về khái niệm QĐHP; cần có hướng dẫn cụ thể quy định về những tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội khi đã được xem là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS hoặc định khung hình phạt thì không được áp dụng để đánh giá về nhân thân người phạm tội nhằm tránh việc một tình tiết được cân nhắc đến hai lần khi QĐHP đối với người phạm tội; Quy định mục đích của hình phạt là một trong những căn cứ để QĐHP tù có thời hạn; Quy định giới hạn khung hình phạt tù có thời hạn ngắn hơn so với BLHS hiện nay.

3.2.2. Giải pháp về áp dụng pháp luật hình sự

Tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật

Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn để Tòa án cấp dưới xem xét, đánh giá, áp dụng các căn cứ QĐHP được quy định trong BLHS cụ thể: Hướng dẫn việc xem xét, đánh giá, cân nhắc các căn cứ QĐHP quy định tại Điều 45 BLHS; Hướng dẫn việc áp dụng Điều 47 BLHS trong trường hợp bị cáo có đủ điều kiện áp dụng theo căn cứ quy định tại Điều 45 BLHS để QĐHP cụ thể cho bị cáo; Hướng dẫn việc áp dụng các Điều 52, Điều 53, Điều 74 BLHS trong các trường hợp bị cáo có đủ điều kiện áp dụng căn cứ quy định tại Điều 45 BLHS để QĐHP cụ thể cho bị cáo; Hướng dẫn việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; Hướng dẫn cụ thể về việc đánh giá căn cứ nhân thân người phạm tội khi những đặc điểm, tình tiết thuộc về căn cứ nhân thân người phạm tội đã được Tòa án xem xét, cân nhắc tại các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc các tình tiết định khung hình phạt thì có được cân nhắc một lần nữa khi đánh giá nhân thân người phạm tội không; Hướng dẫn cụ thể việc áp dụng Điều 60 BLHS khi cho bị cáo được hướng án treo vì có trường hợp Tòa án xác định chưa chính xác khi xem xét đánh giá căn cứ nhân thân người phạm tội dẫn tới việc áp dụng không đúng chế định án treo khi nêu căn cứ nhân thân người phạm tội làm điều kiện hưởng án treo theo Điều 60 BLHS.

3.2.3. Các giải pháp khác

3.2.3.1. Nâng cao năng lực đội ngũ thẩm phán và tính độc lập trong công tác xét xử của Thẩm phán

3.2.3.2. Nâng cao năng lực của Hội thẩm nhân dân

3.2.3.3. Nâng cao năng lực của Kiểm sát viên

3.2.3.4. Xây dựng án lệ

KẾT LUẬN

Luận văn đã đề cập tương đối cơ bản một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt nói chung, quyết định hình phạt tù có thời hạn nói riêng; Các nguyên tắc quyết định hình phạt tù có thời hạn; Các căn cứ quyết định hình phạt tù có thời hạn và quyết định hình phạt tù có thời hạn trong một số trường hợp đặc biệt; Thực tiễn áp dụng quy định quyết định hình phạt tù có thời hạn và thực trạng xét xử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Từ đó kiến nghị và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc quyết định hình phạt tù có thời hạn, để các quy định của pháp luật được áp dụng một cách chính xác nhất, hiệu quả nhất, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\THAI THI PHI YEN\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *