Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố ĐN

Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Đấu tranh phòng, chống tội phạm, ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị luôn là nhiệm vụ tất yếu khách quan của bất kỳ một nhà nước nào trong bất kỳ xã hội nào. Một trong những công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện nhiệm vụ tất yếu khách quan đó chính là hình phạt.

Hình phạt theo quy định của Luật hình sự Việt Nam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước đoạt hoặc hạn chế ở họ những quyền và lợi ích nhất định theo quy định của Luật; hình phạt có mục đích không chỉ nhằm mục đích trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Với tính cách là một hệ thống, hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam gồm nhiều hình phạt cụ thể, liên kết với nhau với lý do tồn tại và giới hạn được áp dụng, do mục đích chung cũng như các chức năng, nhiệm vụ của chúng. Tuy vậy, mỗi hình phạt lại khác nhau về nhiều điểm như nội dung và tính chất của các hạn chế pháp lý, thời hạn, điều kiện áp dụng, chế độ thi hành v.v… Chính sự khác biệt của các hình phạt cụ thể tạo nên tính đa dạng của hình phạt, bảo đảm khả năng phân hóa và cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự của nước ta; và suy cho cùng là đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển.

Kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm phụ thuộc một phần rất quan trọng vào hiệu quả của hình phạt, tức là mức độ đạt được trên thực tế mục đích của hình phạt. Hiệu quả của hình phạt lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, kể từ yếu tố xây dựng pháp luật đến vận dụng pháp luật trong thực tiễn và thi hành hình phạt trong thực tế [55, tr.152].

Hình phạt tiền là một trong những hình phạt trong hệ thống hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Với nội dung pháp lý là tước bỏ một phần quyền lợi vật chất của người bị kết án, hình phạt tiền có khả năng tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến lợi ích kinh tế của người bị kết án nhằm mục đích cải tạo giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung. Hình phạt tiền giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong hệ thống hình phạt của BLHS Việt Nam, đặc biệt có hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống đối với các tội có tính chất vụ lợi, các tội dùng tiền làm phương tiện hoạt động, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính, các tội phạm về môi trường…mà chưa đến mức áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn làm hạn chế đến quyền tự do của con người mà vẫn đạt được mục đích của hình phạt.

Trải qua một chặng đường lập pháp, hình phạt tiền ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, qua nghiên cứu về mặt lý luận cũng như đúc kết từ thực tiễn áp dụng nhận thấy các quy định về hình phạt tiền trong BLHS hiện hành ở các mức độ khác nhau vẫn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định; tỷ lệ áp dụng hình phạt tiền đối với người bị kết án vẫn còn thấp; quy định về trình tự, thủ tục và thực tiễn áp dụng, thi hành hình phạt tiền vẫn còn có những tồn tại, bất cập cần được sửa đổi, giải thích và hướng dẫn nhằm nâng cao vai trò, hiệu quả của hình phạt tiền trong hệ thống các hình phạt.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với nội dung “ … sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật…, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm…” [14], việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về hình phạt tiền và thực tiễn áp dụng hình phạt này; đặc biệt trong bối cảnh Bộ luật hình sự năm 2015 ra đời qua đó làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng và đưa ra những đề xuất, giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt tiền là lý do luận chứng để tôi lựa chọn đề tài “Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng ” làm luận văn thạc sĩ luật học.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về hình phạt tiền; các quy định của pháp luật thực định về hình phạt tiền, đối chiếu với thực tiễn áp dụng hình phạt này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để đánh giá hiệu quả của việc áp dụng hình phạt này trong thực tế, từ đó luận văn hướng đến mục đích đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả của hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt và trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

– Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về hình phạt tiền theo quy định của BLHS hiện hành.

– Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về hình phạt tiền từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2011 – 2015, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân của nó;

– Đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định về hình phạt tiền trong BLHS hiện hành và nâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt này trong thực tiễn xét xử tại thành phố Đà Nẵng nói riêng và của cả nước nói chung.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về lý luận và thực tiễn áp dụng hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận về hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam với tư cách vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung, kết hợp với việc đánh giá tình hình áp dụng hình phạt tiền trong thực tiễn xét xử tại thành phố Đà Nẵng, chỉ ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó, đồng thời đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tiền trong thực tiễn.

Luận văn cũng có tham khảo những quy định về hình phạt tiền của một số nước trên thế giới.

Về thời gian và không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tiền trên phạm vi thành phố Đà Nẵng trong 05 năm (2011 – 2015).

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: Tổng kết thực tiễn, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, chuyên gia, lịch sử cụ thể… để làm rõ đối tượng nghiên cứu của đề tài. Cụ thể:

+ Phương pháp chuyên gia, so sánh để thấy được các quan điểm khác nhau về một số đề lý luận về hình phạt tiền; thấy được quá trình, lịch sử lập pháp về hình phạt tiền ở nước ta và so sánh với quy định về hình phạt tiền của một số nước trên thế giới.

+ Tổng kết thực tiễn áp dụng hình phạt tiền trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015.

+ Thống kê, so sánh, phân tích số liệu liên quan đến vấn đề áp dụng hình phạt tiền trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015.

+ Nghiên cứu điển hình các bản án có áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung, để từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế từ pháp luật thực định và từ công tác áp dụng pháp luật; đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về hình phạt tiền và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt này trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1. Ý nghĩa lý luận

Mặc dù giới hạn, phạm vi của đề tài chỉ nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tiền trên một địa bàn hẹp là một nội dung khó khăn bởi mức độ khái quát sẽ không cao. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể tác giả cũng đã cố gắng phát hiện những vấn đề lý luận chung, cốt lõi mang tính đặc trưng cơ bản của hình phạt tiền, những tồn tại, hạn chế có tính phổ biến không chỉ riêng của địa bàn thành phố Đà Nẵng, qua đó kiến nghị, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt này không chỉ trên phạm vi thành phố Đà Nẵng mà trên cả nước nói chung.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

– Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam.

– Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy và học tập ở các trường đào tạo ngành Luật.

– Những kiến nghị, giải pháp được đề xuất trong luận văn nếu được áp dụng sẽ mang lại hiệu quả tích cực, góp phần hoàn thiện pháp luật thực định, nâng cao hiệu quả của hình phạt tiền trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự, điều tra viên, kiểm sát viên, Thẩm phán và chấp hành viên…

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hình phạt tiền theo pháp luật hình sự Việt Nam.

Chương 2: Hình phạt tiền theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt tiền tại thành phố Đà Nẵng và một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tiền ở nước ta.

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT TIỀN

    1. 1.1. Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hình phạt tiền

1.1.1. Khái niệm hình phạt tiền

Trong lịch sử luật hình sự Việt Nam, chế định hình phạt cùng chế định tội phạm là những chế định quan trọng nhất của luật hình sự Việt Nam. Để làm rõ khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hình phạt tiền, trước hết cần phải làm rõ khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hình phạt nói chung.

BLHS năm 1985 cũng như trong các văn bản pháp luật hình sự trước đó chưa có khái niệm pháp lý về hình phạt, song trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ sở đào tạo có rất nhiều quan điểm về khái niệm của hình phạt.

Mặc dù có nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về hình phạt nhưng có thể chỉ ra một số đặc điểm, đặc trưng cơ bản của hình phạt.

Qua nghiên cứu các quan điểm về hình phạt tiền trên có thể đưa ra một định nghĩa ngắn gọn như sau: “Phạt tiền là hình phạt tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước”. Đây là khái niệm ngắn gọn phản ánh tương đối đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cũng như nội dung pháp lý của hình phạt tiền.

1.1.2. Mục đích của hình phạt tiền

Mục đích của hình phạt là những mong muốn đạt được khi áp dụng hình phạt trong thực tế.

Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì mục đích của hình phạt bao gồm:

– Trừng trị người phạm tội, nhưng đây không phải là mục đích duy nhất, cao nhất và cuối cùng của hình phạt.

– Cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, tuân theo pháp luật và các quy tắc xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới.

– Giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

1.1.3. Vai trò, vị trí và ý nghĩa của hình phạt tiền

Với vai trò là một hình phạt thuộc hệ thống hình phạt được luật hình sự quy định, hình phạt tiền cũng như các hình phạt khác có ý nghĩa quan trọng trong việc cải tạo, giáo dục người phạm tội, răn đe và phòng, chống tội phạm. Phạt tiền tước đi quyền lợi vật chất của người phạm tội, tác động trực tiếp vào tình hình tài sản của họ, qua đó tác động vào ý thức của người phạm tội, làm cho họ nhận ra sai lầm của mình, sửa chữa và không tái phạm. Đối với những người khác, việc người phạm tội bị áp dụng hình phạt tiền không chỉ có ý nghĩa như một sự răn đe mà còn bổ sung cho họ những kiến thức pháp luật nhất định.

Ngoài ra, hình phạt tiền còn là loại hình phạt vừa được áp dụng là hình phạt chính, vừa được áp dụng là hình phạt bổ sung. Thế nhưng hình phạt tiền không thể được áp dụng đồng thời vừa là hình phạt chính lại vừa là hình phạt bổ sung đối với một trường hợp phạm tội cụ thể với một loại tội cụ thể. Tính chất “lưỡng tính” của hình phạt tiền làm tăng sự linh hoạt trong việc áp dụng hình phạt tiền đối với các loại tội trong những trường hợp cụ thể khác nhau.

Bên cạnh đó, với tư cách là hình phạt bổ sung, phạt tiền cùng với các hình phạt bổ sung khác làm phong phú các biện pháp hình sự có thể được áp dụng để hoàn thành chức năng xã hội của hình phạt, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả những khả năng vốn có của các biện pháp này trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    1. 1.2. Sơ lược lịch sử lập pháp về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam trước khi Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực

1.2.1. Quy định về hình phạt tiền giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến ngày 30/04/1975

1.2.2. Quy định về hình phạt tiền giai đoạn từ sau ngày 30/04/1975 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực

1.2.3. Hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự năm 1985

    1. 1.3. Hình phạt tiền của một số nước trên thế giới

1.3.1. Hình phạt tiền trong luật hình sự Cộng hòa Liên bang Nga

1.3.2. Hình phạt tiền trong luật hình sự Nhật Bản

1.3.3. Hình phạt tiền trong luật hình sự Cộng hòa liên bang Đức

Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ HÌNH PHẠT TIỀN

    1. 2.1. Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính

Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau:

– Trường hợp thứ nhất: Áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự cộng cộng, trật tự quản lý hành chính…do Bộ luật này quy định.

– Trường hợp thứ hai: Áp dụng đối với các tội phạm khác do BLHS năm 1999 quy định. Đây là các tội phạm không xâm phạm đến các khách thể là trật tự quản lý kinh tế, trật tự quản lý hành chính và trật tự an toàn công cộng nhưng nhà làm luật cho rằng áp dụng hình phạt tiền là phù hợp và vẫn đạt được mục đích của hình phạt như:

– Các tội phạm về môi trường như: Tội gây ô nhiễm không khí…

– Các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân như: Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác…

– Các tội phạm về ma tuý như: Tội vi phạm các quy định về quản lí sử dụng, thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác.

    1. 2.2. Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung

Khoản 3 điều 28 BLHS hiện hành quy định: Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Hình phạt bổ sung là hình phạt được áp dụng kèm với hình phạt chính. Nếu người bị kết án không bị áp dụng hình phạt chính thì Tòa án không được áp dụng hình phạt bổ sung đối với họ. Đối với mỗi một tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính nhưng có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hoặc không bị áp dụng hình phạt bổ sung nào.

Hình phạt tiền chỉ có thể được áp dụng là hình phạt bổ sung nếu hình phạt chính không phải là phạt tiền và điều luật có quy định phạt tiền là hình phạt bổ sung.

Có 03 trường hợp phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung, đó là:

* Trường hợp thứ nhất: Áp dụng với người phạm các tội về tham nhũng.

* Trường hợp thứ hai: Áp dụng với người phạm các tội về ma tuý.

* Trường hợp thứ ba: Áp dụng với những trường hợp khác do Bộ luật này quy định.

    1. 2.3. Mức phạt tiền và cách thức nộp tiền phạt

2.3.1. Mức phạt tiền

Mức phạt tiền tức là định lượng tiền phạt cụ thể trong từng trường hợp phạm tội cụ thể áp dụng đối với người bị kết án.

Mức phạt tiền được BLHS năm 1999 quy định tối thiểu là một triệu đồng. Quy định này đã: “Khắc phục đựơc hạn chế của BLHS 1985 tạo cơ sở pháp lí cho việc quy định và áp dụng Điều 47 BLHS năm 1999. Đồng thời làm căn cứ cho việc quy định mức hình phạt tối thiểu và tối đa tại các điều luật cụ thể. Thể hiện rõ tính nghiêm khắc của chế tài hình sự với các chế tài khác (hành chính, kinh tế…)” [61, tr.63].

* Nghiên cứu toàn bộ các chế tài phạt tiền cụ thể được quy định trong Phần các tội phạm của BLHS chúng ta có thể thấy mức phạt tiền được quy định theo 2 cách sau:

  • Cách thứ nhất: Quy định phạt tiền từ mức tối thiểu đến mức tối đa.

– Cách thứ hai: Quy định mức phạt tiền theo bội số tiền phạm pháp, thu lợi bất chính với mức thấp nhất là một lần và mức cao nhất là mười lần đối với hình phạt chính, năm lần đối với hình phạt bổ sung.

2.3.2. Cách thức nộp tiền phạt

BLHS năm 1985 không có quy định về cách thức nộp tiền phạt. BLHS năm 1999 quy định: Tiền phạt có thể nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định trong bản án.

Như vậy, khi quyết định hình phạt tiền và mức phạt tiền cụ thể cho dù đó là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung, Tòa án đều phải quyết định cách thức nộp tiền phạt, có thể nộp một lần hoặc có thể nộp nhiều lần, thời hạn nộp tiền tùy vào từng trường hợp cụ thể và phải được Tòa án nhận định và quyết định trong bản án.

    1. 2.4. Một số quy định trong Phần chung của BLHS có liên quan đến hình phạt tiền

2.4.1. Tổng hợp hình phạt tiền

Tổng hợp hình phạt là việc tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án thành hình phạt chung buộc người kết án phải chấp hành. Tổng hợp hình phạt tiền gồm tổng hợp hình phạt tiền của nhiều tội hoặc nhiều bản án đối với người bị kết án thành hình phạt chung.

2.4.2. Miễn hình phạt tiền

Miễn hình phạt là không buộc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt về tội mà người đó đã thực hiện.

2.4.3. Giảm mức hình phạt tiền đã tuyên

Giảm mức hình phạt tiền đã tuyên là trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ nộp một khoản tiền để thu nộp ngân sách nhà nước theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng mới thực hiện được một phần mà có đủ các điều kiện do pháp luật quy định thì được Tòa án có thẩm quyền miễn giảm thi hành phần hình phạt tiền còn lại.

2.4.4. Thời hiệu thi hành bản án phạt tiền

Thời hiệu thi hành bản án phạt tiền là thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án phạt tiền đã tuyên. Điều 55 BLHS năm 1999 quy định:

– Người bị kết án không phải thi hành bản án phạt tiền sau 5 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực.

– Thời hiệu thi hành bản án được tính kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn đó, người bị kết án cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính vào thời hiệu, mà thời hiệu được tính lại kể từ khi người bị kết án ra trình diện hoặc bị bắt giữ. Nếu trong 5 năm mà phạm tội mới thì thời gian đã qua không được tính, thời hiệu được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

2.4.5. Xoá án tích đối với người bị kết án phạt tiền

Án tích là hậu quả pháp lí đối với người bị kết án và bị áp dụng hình phạt. Án tích được ghi lại trong lí lịch tư pháp của người phạm tội cho đến khi được xoá án tích.

Xoá án tích là xoá bỏ án tích hình sự đối với người bị kết án bị áp dụng hình phạt, người được xoá án tích coi như chưa bị kết án, được Tòa án cấp giấy chứng nhận xóa án tích.

2.4.6. Hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội

Về nguyên tắc người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến 15 năm tù hoặc những tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Như vậy, riêng đối tượng phạm tội là người đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi thì trong mọi trường hợp không được áp dụng hình phạt tiền dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung.

Trong mọi trường hợp không được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, cho dù đó là tội gì, có quy định hình phạt tiền hay không.

CHƯƠNG 3

THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TIỀN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG HÌNH PHẠT TIỀN

    1. 3.1. Thực tiễn áp dụng hình phạt của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng

Trong những năm qua, số bị cáo bị Toà án áp dụng hình phạt tiền trên cả nước tuy có tăng nhưng chiếm tỉ lệ không lớn. Thực trạng áp dụng hình phạt tiền trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng không nằm ngoài thực trạng chung của cả nước. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng có 08 đơn vị, gồm Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và 07 Tòa án quận huyện, bao gồm: Tòa án nhân dân quận Hải Châu, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang và Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, hình phạt tiền được nghiên cứu với vai trò là là hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Chính vì vậy việc khảo sát thực tiễn áp dụng hình phạt tiền trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng được chúng tôi tiến hành dưới hai nội dung đó.

3.1.1. Kết quả đạt được với tư cách là hình phạt chính

Như ở trên đã phân tích, trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 có tổng cộng 66/6108 bị cáo bị xét xử sơ thẩm được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, chiếm tỷ lệ trung bình là 1.08%. Trong đó, năm 2011 là 0 có bị cáo nào bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính trên 1129 bị cáo được đưa ra xét xử (chiếm tỷ lệ 0%); năm 2012 là 1/1278 bị cáo (chiếm tỷ lệ 0,7%); năm 2013 là 20/1272 bị cáo (chiếm tỷ lệ 1,6%); năm 2014 là 16/1254 bị cáo (chiếm tỷ lệ 1,28%) và năm 2015 là 29/1175 bị cáo (chiếm tỷ lệ 2,46%) bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính. Nhìn chung, tỷ lệ áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính có chiều hướng tăng qua từng năm, nhưng tỷ lệ tăng không lớn.

3.1.2. Kết quả đạt được với tư cách là hình phạt bổ sung

Như ở trên đã phân tích, trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 có tổng cộng 298 bị cáo trên tổng số 6108 bị cáo bị xét xử sơ thẩm được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung, chiếm tỷ lệ trung bình là 4.87%. Trong đó, năm 2011 có 39 bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung trên 1129 bị cáo bị đưa ra xét xử (chiếm tỷ lệ 3,45%); năm 2012 là 56/1278 bị cáo (chiếm tỷ lệ 4.38%); năm 2013 là 72/1272 bị cáo (chiếm tỷ lệ 5,66%); năm 2014 là 71/1254 bị cáo (chiếm tỷ lệ 5,66%); năm 2015 là 60/1175 bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung (chiếm tỷ lệ 5,1%). Nhìn chung, tỷ lệ áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung là cao hơn so với áp dụng là hình phạt chính, tỷ lệ áp dụng cũng theo chiều hướng tăng lên qua từng năm, nhưng tỷ lệ tăng không lớn.

3.1.3. Những tồn tại, hạn chế khi áp dụng hình phạt tiền

Tác giả luận văn nhận thấy việc áp dụng hình phạt tiền từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng còn có những tồn tại, hạn chế như sau:

– Tỷ lệ áp dụng hình phạt tiền trong tổng số hình phạt còn khá thấp

– Nhận thức về phạm vi áp dụng hình phạt tiền không đúng

– Nhiều bản án không đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa hình phạt khi quyết định hình phạt

– Nhiều bản án không đảm bảo được nguyên tắc công bằng khi quyết định hình phạt tiền

– Tình trạng vi phạm điều 69 và 72 BLHS khi quyết định hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội.

– Một số trường hợp quyết định hình phạt tiền chưa vận dụng chính xác điều 30 BLHS

– Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung trong những trường hợp cần thiết phải phạt tiền bổ sung

– Khi quyết định hình phạt tiền không ghi rõ căn cứ điều 30 BLHS trong phần quyết định của bản án

– Tình trạng cố tình không thi hành án phạt tiền

    1. 3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế tác động đến hiệu quả áp dụng của hình phạt tiền

3.2.1. Nguyên nhân từ pháp luật thực định

Thứ nhất, việc áp dụng hình phạt tiền đảm bảo mục đích của hình phạt mà không nhất thiết phải áp dụng các chế tài nghiêm khắc hơn làm hạn chế quyền tự do của con người nhưng lại chưa được các nhà lập pháp quan tâm quy định trong Phần các tội phạm. Điều này cũng khiến cho phạm vi, đối tượng áp dụng của hình phạt tiền bị thu hẹp.

Thứ hai, quy định giữa Phần chung và Phần các tội phạm trong BLHS về hình phạt tiền còn chưa thống nhất.

Thứ ba, BLHS hiện hành không có quy định về điều kiện để áp dụng hình phạt tiền giống như quy định của hình phạt cảnh cáo và hình phạt cải tạo không giam giữ.

Thứ tư, phạt tiền khi quy định là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung đều được quy định là chế tài tùy nghi, lựa chọn cùng các hình phạt chính khác như: tù có thời hạn, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, hoặc các hình phạt bổ sung khác như: tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, quyền hạn.

Thứ năm, có một số điều luật trong BLHS khi quy định hình phạt bổ sung áp dụng với các tội chưa phù hợp với nguyên tắc đó.

Thứ sáu, khoảng cách giữa mức tiền phạt tối thiểu và mức tiền phạt tối đa trong một số điều luật của BLHS hiện hành còn chưa hợp lý.

Thứ bảy, mức phạt tiền là hình phạt chính và hình phạt bổ sung ở một số tội còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống với các tội phạm này, nhất là trong tình hình kinh tế – xã hội ngày nay.

Thứ tám, cách thức thi hành hình phạt tiền cho phép nộp thành nhiều lần nhưng không quy định số lần tối đa và trong thời hạn bao lâu; điều này cũng gây khó khăn cho các Tòa án khi quyết định cách thức nộp tiền phạt. Đồng thời, BLHS hiện hành cũng không có quy định hay các chế tài gì đối với các trường hợp cố tình không thi hành án phạt tiền hay dây dưa, chây ỳ thi hành án phạt tiền.

Thứ chín, BLHS hiện hành không có quy định về việc quy đổi, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam đối với các trường hợp đã bị tạm giữ, tạm giam nhưng khi xét xử được áp dụng hình phạt tiền, trong khi đối với hình phạt cải tạo không giam giữ có quy định là không đảm bảo nguyên tắc công bằng .

Thứ mười, BLHS năm 1999 quy định rất chung chung và mơ hồ rất khó vận dụng trong thực tiễn xét xử; mặt khác pháp luật tố tụng không có quy định cụ thể về các biện pháp để chứng minh tài sản của người phạm tội. Điều này cũng phần nào hạn chế khả năng áp dụng hình phạt tiền của Tòa án, do không được chứng minh đầy đủ nên nhiều trường hợp Tòa án đã quyết định không phạt tiền.

3.2.2. Nguyên nhân từ công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật; thanh tra, kiểm tra hoạt động áp dụng hình phạt

– Kể từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành đến nay vẫn chưa có một Nghị quyết nào hướng dẫn về việc áp dụng hình phạt tiền; chỉ có một vài thông tư, công văn, chỉ thị của Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn về hình phạt tiền.

– Từ sau khi BLHS năm 1999 cho đến nay thì vẫn chưa có một thông tư liên tịch nào giữa Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp về việc hướng dẫn thống nhất áp dụng và thi hành án phạt tiền.

– Trong các báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao cũng như các Tòa án địa phương hàng năm thường chỉ nêu ra các số liệu về hình phạt tiền đạt được, đánh giá về sự tăng giảm so với năm trước mà không có những nhận xét, đánh giá, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và đưa ra giải pháp khắc phục hay có những chỉ đạo về việc tăng cường áp dụng hình phạt tiền trong công tác xét xử.

– Ngoài ra, công tác chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra của cấp trên đối với cấp dưới chưa được liên tục, thường xuyên. Công tác quản lý cán bộ, quản lý nghiệp vụ, giáo dục, nâng cao ý thức chính trị và trách nhiệm công vụ ở một số Tòa án chưa tốt, không kịp thời kiểm tra, uốn nắn những sai phạm trong nghiệp vụ hoặc những biểu hiện không khách quan, vô tư trong công tác của Thẩm phán và cán bộ Tòa án.

3.2.3. Nguyên nhân từ chủ thể áp dụng pháp luật

Thứ nhất, Năng lực và kinh nghiệm xét xử của đội ngũ Thẩm phán ở nước ta hiện nay chưa đồng đều.

Thứ hai, sự thiếu hụt đội ngũ Thẩm phán xét xử trong tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, có chiều hướng tăng mạnh, trong khi thẩm quyền, công việc của Tòa án ngày càng tăng cả về số lượng cũng như yêu cầu.

Thứ ba, tinh thần trách nhiệm và bản lĩnh nghề nghiệp của một số Thẩm phán chưa cao.

Thứ tư, cơ chế bảo vệ nguyên tắc “độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật” ở nước ta còn chưa cao, cơ chế bổ nhiệm và tái bổ nhiệm với thời gian nhiệm kỳ ngắn.

Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Hình phạt tiền theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

3.2.4. Nguyên nhân từ chủ thể bị kết án phạt tiền và dư luận xã hội

Trên thực tế có không ít trường hợp người bị kết án phạt tiền đã cố tình lợi dụng vào sự chưa hoàn thiện của pháp luật thực định về cơ chế và biện pháp thi hành án phạt tiền cố tình dây dưa, chây ỳ, không chịu thi hành hình phạt tiền mặc dù có điều kiện thi thi hành án, thậm chí tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án trong khi pháp luật lại chưa có quy định hay chế tài gì về việc xử lý với các trường hợp trên. Điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tâm lý chủ quan của cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng và quyết định hình phạt khi lựa chọn áp dụng hình phạt tiền.

    1. 3.3. Một số giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng đúng hình phạt tiền

3.3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật thực định về hình phạt tiền

Thứ nhất, để tránh tình trạng có nhiều cách hiểu khác nhau về hình phạt tiền, các nhà làm luật nên bổ sung định nghĩa pháp lý về hình phạt tiền vào BLHS như sau: “Phạt tiền là hình phạt buộc người bị kết án nộp một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước theo quy định của Bộ luật này “.

Thứ hai, cần sửa đổi quy định chung của hình phạt tiền theo hướng xác định rõ nội dung, phạm vi điều kiện áp dụng hình phạt tiền theo hướng vừa đảm bảo được tính khái quát, tính thống nhất, hiểu một nghĩa và dễ áp dụng của quy phạm pháp luật trong thực tiễn vận dụng.

Thứ ba, cần mở rộng hơn phạm vi các tội phạm được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung, nhằm đáp ứng kịp thời tình hình diễn biến của nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và tăng cường tính răn đe của hình phạt trong một số trường hợp phạm tội cụ thể.

Thứ tư, cần phải quy định cụ thể về điều kiện áp dụng hình phạt tiền giống như đối với hình phạt cảnh cáo và hình phạt cải tạo không giam giữ để làm cơ sở, căn cứ pháp lý cho Tòa án khi lựa chọn loại hình phạt.

Thứ năm, cần phải quy định rõ mức tối thiểu và mức tối đa của phạt tiền trong Phần chung của Bộ luật.

Thứ sáu, việc nâng cao hơn mức tiền phạt tối thiểu và mức tối đa là cần thiết và phù hợp hơn với tình hình phát triển của nền kinh tế thị trường ngày nay và để tăng cường tính răn đe của hình phạt tiền.

Thứ bảy, khoảng cách giữa mức phạt tiền tối thiểu và mức phạt tiền tối đa trong một điều luật cần được thu hẹp lại hoặc phân hóa chúng trong các khung hình phạt khác nhau như đối với hình phạt tù có thời hạn, tạo điều kiện cho việc cá thể hóa và quyết định một hình phạt một cách dễ dàng, công bằng hơn.

Thứ tám, về cách thức thi hành hình phạt tiền mặc dù BLHS năm 2015 đã bỏ quy định: Tiền phạt có thể nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định trong bản án vì cho rằng đây là quy định mang tính thủ tục thi hành án đã được Luật thi hành án dân sự điều chỉnh nên không cần thiết phải quy định trong BLHS.

Thứ chín, cần nghiên cứu về việc chuyển đổi, khấu trừ thời hạn tạm giam, tạm giữ đối với người bị kết án phạt tiền mà trước đó có bị tạm giữ, tạm giam đảm bảo nguyên tắc công bằng của Luật hình sự.

Thứ mười, hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án dân sự liên quan đến hình phạt tiền, đặc biệt là việc quy định các biện pháp chứng minh tài sản, thu nhập của người bị kết án, khả năng điều kiện thi hành án của người bị kết án, kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án.

3.3.2. Nâng cao công tác tổng kết thực tiễn xét xử; giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật; thanh tra, kiểm tra hoạt động áp dụng hình phạt

– Các cấp ngành trung ương, đặc biệt là Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ tư pháp cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác ban hành các văn bản dưới luật để hướng dẫn áp dụng và thực thi hình phạt tiền như thông tư liên tịch hướng dẫn về việc áp dụng hình phạt tiền và thi hành hình phạt này nhằm thống nhất từ nhận thức đến thực tiễn xét xử và thi hành án.

– Tòa án nhân dân tối cao cần phải nâng cao hơn nữa công tác tổng kết thực tiễn xét xử và ban hành các văn bản hướng dẫn đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

– Tăng cường công tác ban hành án lệ về những vụ án có áp dụng hình phạt tiền để cho các Tòa án địa phương, các Thẩm phán tham khảo và học tập nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và vận dụng trong thực tiễn xét xử.

– Tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới để kịp thời chỉ đạo, uốn nắn những sai sót, sai lầm trong xét xử và quyết định hình phạt hoặc những biểu hiện tiêu cực trong công tác xét xử.

– Hàng năm cần phải tổng kết đánh giá một cách khách quan, toàn diện về thực tiễn công tác xét xử… từ đó có những kiến nghị, giải pháp kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt tiền.

3.3.3. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng, đặc biệt là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân

– Xây dựng một đội ngũ cán bộ tư pháp chuyên sâu về nghiệp vụ chuyên môn, am hiểu những quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn có liên quan; đồng thời phải thường xuyên có biện pháp nâng cao tinh thần, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tư pháp theo đúng phương châm “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”. Từ đó tạo cơ sở cho việc áp dụng pháp luật chính xác, đảm bảo thực hiện đúng chính sách hình sự của Nhà nước ta.

3.3.4. Tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật của người phạm tội và ý thức pháp luật của quần chúng nhân dân, dư luận xã hội về hình phạt tiền

Hiệu quả của hình phạt trong thực tế cũng phụ thuộc một phần vào ý thức chấp hành của người bị kết án và dư luận xã hội, hình phạt tiền có được thi hành và thi hành như thế nào bên cạnh yếu tố quy định của pháp luật thực định, việc áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền thì ý thức chấp hành pháp luật của người bị kết án và dư luận xã hội nói chung cũng ảnh hưởng rất lớn.

Ngoài ra, trong xu thế mở rộng hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay thì hợp tác, trao đổi kinh nghiệm về lĩnh vực lập pháp và tư pháp là rất cần thiết.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu các quy định về hình phạt tiền trong BLHS Việt Nam luôn đem lại một giá trị to lớn về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng. Trong luận văn của mình, thông qua việc nghiên cứu luật thực định và thực tiễn áp dụng hình phạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, tác giả đã cố gắng làm rõ những vấn đề cơ bản về hình phạt tiền trong BLHS Việt Nam hiện hành, so sánh với các quy định của BLHS năm 1985 và của luật hình sự một số nước trên thế giới, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế cơ bản, phổ biến của áp dụng hình phạt tiền trong thực tiễn xét xử; trên cơ sở phân tích những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế đó tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của BLHS về hình phạt tiền và nâng cao hiệu quả của hình phạt tiền trên thực tế không chỉ riêng thành phố Đà Nẵng mà trên cả nước nói chung.

Trong bối cảnh BLHS năm 2015 ra đời, các quy định chung về hình phạt tiền cũng như các quy định về hình phạt tiền trong các tội danh cụ thể đã có những thay đổi, bổ sung căn bản; phạm vi áp dụng hình phạt tiền được mở rộng hơn với nhiều tội danh có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, để hình phạt tiền thực sự phát huy được vai trò, vị trí của nó trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam thì ngoài các quy định của pháp luật thực định về hình phạt tiền thì việc nâng cao chất lượng của hoạt động áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng hình phạt tiền nói riêng và nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân về chính sách hình sự và chính sách hình phạt của Đảng và nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay là hết sức quan trọng. Có như vậy, hình phạt tiền mới có thể phát huy được hết vai trò, vị trí, ý nghĩa và chức năng xã hội của nó, góp phần tạo được niềm tin trong nhân dân, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, ổn định xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay.

Hy vọng rằng luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam, hoàn thiện các quy định của pháp luật thực định về hình phạt tiền và góp phần nâng cao hiệu quả của hình phạt tiền trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự, điều tra viên, kiểm sát viên, Thẩm phán và chấp hành viên…

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\TRAN MINH LONG\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *