Giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, là nhiệm vụ trọng tâm của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) nhằm bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngặn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Đây là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược cải cách tư pháp đã được Đảng và Nhà nước quán triệt tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49-NQ/TW). Để thực hiện mục tiêu này một cách có hiệu quả thì trước hết cần phải tiến hành các nhiệm vụ cải cách tư pháp, trong đó cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp, mà trọng tâm xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Do đó việc quy định rõ giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một chế định pháp lý quan trọng ảnh hưởng đến việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền bộ máy cơ quan tư pháp, giữa cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân.

Tòa án là cơ quan thực hiện quyền Tư pháp, nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chức năng xét xử các vụ án: Hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Việc xét xử của Tòa án nói chung được thực hiện theo chế độ hai cấp xét xử. Đó là chế độ xét xử sơ thẩm và chế độ xét xử phúc thẩm đối với các vụ án hình sự, vì vậy chế độ hai cấp xét xử không phải là ngoại lệ. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 20 Chương III của BLTTHS năm 2003 và Điều 27 Chương II của BLTTHS năm 2015.

Giới hạn xét xử sơ thẩm là một trong những phạm vi thực hiện chế độ hai cấp xét xử, trong đó xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án hình sự (sau khi có cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát hoặc sau khi Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại). Do vậy xét xử sơ thẩm có một vị trí rất quan trọng, thông qua việc xét xử sơ thẩm Tòa án ra bản án, quyết định áp dụng các biện pháp chế tài đối với người phạm tội theo điểm, khoản, điều luật được quy định trong BLHS mà Viện kiểm sát truy tố nhằm bảo đảm xử lý công minh, chính xác, kịp thời có căn cứ và hợp pháp đối với mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người.

Tuy nhiên thực tiễn áp dụng và nghiên cứu lý luận trong thời gian qua cho thấy, xoay quanh vấn đề về quy định giới hạn xét xử vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau và cố nhiên còn nhiều điểm chưa hợp lý gắn với nguyên tắc “không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo”. Bàn về vấn đề này tác giả Đinh Văn Quế đã nhận định “Đây là vấn đề nhiều năm nay còn có ý kiến khác nhau và cũng là vấn đề bức xúc mà thực tiễn xét xử đặt ra cần giải quyết“. Sau gần 13 năm áp dụng và thi hành BLTTHS năm 2003 đã xuất hiện nhiều điểm bất hợp lý cả về lý luận và thực tiễn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, làm giảm hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm ở nước ta.

Vì lẽ trên và trong bối cảnh Việt Nam thực hiện cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/5/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về “Xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các hoạt động tư pháp”. Việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam về giới hạn xét xử sơ thẩm và thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân (TAND) hai cấp thành phố Đà Nẵng, để làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn, tìm ra những hạn chế trong các quy định của pháp luật TTHS và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định giới hạn xét xử sơ thẩm, từ đó đưa ra những kiến nghị, những giải pháp, những yêu cầu hoàn thiện hơn nữa về quy định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là vấn đề cấp bách đặt ra về mặt ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Tất cả những vấn đề trên đây là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ Luật học.

  1. Tình hình nghiên cứu đề tài
  2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận, pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự, Luận văn đề xuất hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng pháp luật về giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự nước ta.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giới hạn xét xử sơ thẩm, xây dựng khái niệm khoa học về giới hạn xét xử sơ thẩm, đánh giá khái quát quá trình hình thành và phát triển của chế định giới hạn xét xử sơ thẩm trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam.

+ Phân tích, làm rõ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm của Tòa án.

+ Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của BLTTHS về giới hạn xét xử sơ thẩm của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng trong 5 (năm) năm gần đây, chỉ ra những mặt tích cực cũng như hạn chế, vướng mắt, thiếu sót và nguyên nhân của nó.

+ Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về giới hạn xét xử sơ thẩm trong TTHS và các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng trong xét xử của Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp trong thời gian tới.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn lấy các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự.

  • Phạm vi về thời gian: từ ngày 01/10/2011 đến ngày 30/09/2016.
  • Phạm vi về không gian: việc áp dụng pháp luật TTHS về giới hạn xét xử sơ thẩm tại Tòa án hai cấp của thành phố Đà Nẵng.
  1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

– Đề tài luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, về cải cách tư pháp; những tri thức khoa học của triết học, xã hội học, luật học, các học thuyết chính trị pháp lý…

5.2. Phương pháp nghiên cứu

– Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng trong một tổng thể các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, diễn giải, điều tra xã hội học, suy luận logic… Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo ý kiến chuyên gia, tọa đàm và phương pháp nghiên cứu các bản án và hồ sơ vụ án của Tòa án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, để kết hợp giữa lý luận và thực tiển rút ra các kết luận khoa học của mình.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn áp dụng của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng. Những kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng như sau.

6.1. Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện lý luận khoa học về giới hạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án cấp sơ thẩm.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài có thể được vận dụng trong thực tiễn xét xử, áp dụng trong phạm vi giới hạn xét xử sơ thẩm để giải quyết các vụ án hình sự của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng, giúp cho các Thẩm phán có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về phạm vi giới hạn xét xử của cấp sơ thẩm, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Đây là đề tài nghiên cứu một cách toàn diện về phạm vi giới hạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, do vậy luận văn có thể là cơ sở cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tham khảo trong việc sửa đổi, chỉnh sửa bổ sung BLTTHS năm 2015 khi đã lùi thời gian thi hành đối với bộ luật, và có thể làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, học tập tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành luật ở nước ta.

  1. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự.

Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN

XÉT XỬ SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

    1. 1.1. Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, nội dung và ý nghĩa của giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự
      1. 1.1.1. Khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của Nhà nước, đụng chạm đến nhiều quyền cơ bản của quyền con người, quyền công dân, đặt biệt là đối với người bị buộc tội. Xét xử là một trong ba chức năng cơ bản của TTHS đó là: Buộc tội, gỡ tội (bào chữa), xét xử và chỉ được thực hiện bởi một chủ thể duy nhất là Tòa án. Tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sau đây gọi là Hiến pháp năm 2013) xác định: “Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt nam, thực hiện quyền tư pháp” [40].

“Xét xử”được hiểu“Là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” [7, tr. 869].

Theo từ điển Tiếng Việt: “Giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định không thể hoặc không được phép vượt qua” [66, tr.405] còn “Phạm vi là khoảng được giới hạn của một hoạt động hay một cái gì” [66, tr.764]. Như vậy, phạm vi thực chất chính là giới hạn. Hai khái niệm này có nội hàm tương đương nhau.

Những phân tích và lý giải khái quát cho thấy nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử và các quy định của pháp luật TTHS, đồng thời cho thấy rõ bản chất của giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, vì vậy chúng tôi đưa ra một khái niệm khoa học về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau:

“Giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một chế định trong tố tụng hình sự quy định về phạm vi mà Tòa án cấp có thẩm quyền xét xử lần đầu, tiến hành theo một trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, sau khi nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá toàn bộ chứng cứ của kết quả hoạt động điều tra mà Viện kiểm sát truy tố đối với người phạm tội theo điểm, khoản, Điều luật mà BLHS quy định, trên cơ sở đó quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra bản án, quyết định với việc định tội danh và quyết định hình phạt (nếu có) phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi người phạm tội. Bản án, quyết định của Tòa án sau khi tuyên có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm trong hạn luật định của pháp luật TTHS”.

      1. 1.1.2. Đặc điểm của giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự

Thứ nhất: Chủ thể mà Tòa án đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự phải là bị cáo bị Tòa án sơ thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử trên cơ sở quyết định truy tố của VKS.

Thứ hai: Mặt dù VKS đã có cáo trạng quyết định truy tố bị can ra Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền để xét xử về hành vi phạm tội do bị can đó gây ra theo điểm, khoản, điều được quy định trong BLHS, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa, sau khi nghiên cứu hồ sơ nếu xét thấy có căn cứ cho rằng bị can phạm một tội khác, hoặc có đồng phạm khác, và trong trường hợp tài liệu, chứng cứ đã thu được trong giai đoạn điều tra cho thấy bị can phạm một tội khác nặng hơn tội mà VKS đã truy tố, thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung, hoặc truy tố về một tội nặng hơn, trong trường hợp tội đó nhẹ hơn hoặc bằng tội VKS truy tố thì Thẩm phán không nhất thiết phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung…

Thứ ba: Việc quy định về giới hạn xét xử trong TTHS là thể hiện tính chế ước giữa VKS và Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền, nghĩa là hoạt động xét xử của Tòa chỉ xuất hiện khi có quyết định truy tố của VKS đối với những bị can về những hành vi phạm tội do những bị can đó gây ra được thể hiện trong nội dung của bản cáo trạng, và Tòa án chỉ xét xử những bị cáo, những hành vi của bị cáo trong phạm vi quyết định truy tố của VKS.

Tóm lại, phạm vi Tòa án được xét xử không phải là vô hạn, bởi nó bị hạn chế về những người và những hành vi mà VKS truy tố trong bản cáo trạng, và Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Do vậy, việc VKS truy tố những bị can ra trước Tòa án để xét xử về những hành vi phạm tội do những bị can đó gây ra đúng với tội danh là yếu tố cốt lõi có tác động rất lớn trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, trên cơ sở đó Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa, HĐXX dễ dàng trong việc xét xử đúng người, đúng tội, không xét xử oan sai người vô tội, đồng thời cũng không bỏ lọt tội phạm, tạo ra một lẽ phải công bằng trong xã hội…, đảm bảo vụ án được đưa ra xét xử khách quan, công bằng, đúng pháp luật. Ngược lại nếu VKS truy tố những bị can ra trước Tòa án không đúng tội danh, thì một là Tòa án buộc phải xem xét lại tội danh cho đúng với hành vi phạm tội của những bị can đó, hai là Tòa án tiến hành xét xử theo tội danh không đúng đó và chịu sự chi phối của tội danh đó trong giới hạn xét xử, dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng với thực tế mà bị cáo phải gánh chịu. Do vậy, quyết định truy tố của VKS sẽ làm căn cứ để Tòa án khi tiến hành xét xử để quyết định tính đúng đắn, khách quan sự thật của vụ án nhằm bảo vệ quyền con người, quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân.

Giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
      1. 1.1.3. Cơ sở quy định giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự

1.1.3.1. Cơ sở lý luận

Việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận về một loạt vấn đề của tố tụng hình sự, trong đó có khái niệm tố tụng hình sự, đặc điểm của tố tụng hình sự, mục đích, nhiệm vụ của tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và những người tiến hành tố tụng hình sự, những người tham gia tố tụng hình sự, các mối quan hệ tố tụng hình sự …

Giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự được qui định còn được dựa trên nền tảng lý luận về quyền con người, phạm vi, phương thức bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự. Ở đâu có buộc tội, ở đâu có xét xử thì ở đó cần có sự bảo vệ (bào chữa) cần được tiến hành trong phạm vi, giới hạn của sự buộc tội cũng như sự xét xử. Mặt khác, bên bảo vệ (bào chữa) cần biết giới hạn xét xử (trên cơ sở giới hạn buộc tội) để có thể chuẩn bị tốt các điều kiện để bảo vệ (bào chữa). Do vậy nhu cầu bảo vệ quyền con người (bào chữa) đặt ra nhu cầu phải có giới hạn xét xử sơ thẩm trong vụ án hình sự.

Từ sự phân tích khái quát trên đây có thể thấy rằng, giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự không chỉ xuất phát từ nhu cầu, tính chất, đặc điểm của tố tụng hình sự, của việc buộc tội, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội mà còn xuất phát từ nhu cầu bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.

1.1.3.2. Cơ sở pháp lý

Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm được qui định trên nền tảng các chế định pháp lý quan trọng có liên quan chặt chẽ với nhau trong BLTTHS. Vì vậy, giới hạn xét xử sơ thẩm xuất phát từ nhiều qui phạm pháp luật tố tụng hình sự có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống quan điểm cho một nền tảng định hướng trong tất cả các hoạt động TTHS, góp phần nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng được diễn ra thống nhất, bảo vệ được quyền con người, lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng. Trong số những qui phạm như vậy có các qui định về các nguyên tắc của tố tụng hình sự:

– Một là, nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 3 BLTTHS năm 2003, Điều 7 BLTTHS 2015)

– Hai là, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10 BLTTHS 2003, Điều 15 BLTTHS 2015)

– Ba là, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11 BLTTHS 2003)

– Bốn là, nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 BLTTHS 2003)

– Năm là, nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16 BLTTHS 2003, Điều 23 BLTTHS 2015)

– Sáu là, căn cứ vào sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát và Tòa án trong Tố tụng hình sự

– Bảy là, căn cứ vào vai trò của Tòa án trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

1.1.3.3. Cơ sở thực tiễn

– Một là, quyền, lợi ích của bị can, bị cáo được bảo đảm nhờ có qui định về giới hạn xét xử sơ thẩm

– Hai là, nhờ có giới hạn xét xử sơ thẩm mối quan hệ tố tụng giữa VKS và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được giải quyết trên thực tế

      1. 1.1.4. Nội dung và ý nghĩa của giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự

1.1.4.1. Nội dung của giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự

Trước hết cần nhất mạnh rằng, nội dung của giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự nước ta có thay đổi theo tiến trình phát triển của pháp luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào cách hành văn của điều luật, thì nội dung của điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự bao gồm:

– Toà án chỉ xét xử những bị cáo mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử;

– Toà án chỉ xét xử những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án quyết định đưa ra xét xử. Toà án có thể xét xử bị cáo theo điều khoản khác với điều khoản mà VKS truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.

1.1.4.2. Ý nghĩa của giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự

Hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật TTHS nói riêng, trong đó có quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm là góp phần vào việc thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

Quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thể hiện rõ sự phân định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước đối với VKS và Tòa án đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, đồng thời nó cũng thể hiện mối quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau giữa hai cơ quan này.

    1. 1.2. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự

Trước hết là yếu tố pháp luật. Chiến lược cải cách tư pháp đã được định hướng trong các Nghị quyết, văn kiện của Đảng, đã được quán triệt thành các kế hoạch hành động thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc cải cách tư pháp theo Hiến pháp năm 2013.

Trình độ của các cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử ngày càng được chuẩn hóa. Việc bổ nhiệm vào các chức danh Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán ít nhất phải có bằng cử nhân luật, có kinh nghiệm trong công tác và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ của các Học viện tư pháp, học viện Tòa án.

Bên cạnh những yếu tố tác động tích cực nêu trên thì trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS vẫn còn có những yếu tố tác động không tích cực đó là:

Nhiều thủ tục chưa được pháp luật tố tụng điều chỉnh hoặc các quy định của pháp luật tố tụng mang tính chung chung, chồng chéo, và có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau trong thực tiễn áp dụng một thời gian dài.

Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp chưa đầy đủ, kịp thời, cơ quan bảo trợ tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay do thiếu về số lượng, kém về chất lượng. Đội ngũ Luật sư, Giám định viên tư pháp trong một thời gian dài chưa chuyên nghiệp hóa, chưa được đào tạo bài bản về chuyên môn.

Ngoài ra còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến hoạt động TTHS là chế độ đãi ngộ đối với người công tác trong các cơ quan tiến hành tố tụng chưa được hợp lý, qui định nhiệm kỳ của Kiểm sát viên, Thẩm phán cũng chưa phù hợp, việc trang bị cơ sở vật chất tuy có cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế.

    1. 1.3. Khái quát lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam về giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Năm 1964, giới hạn xét xử lần đầu tiên được TANDTC qui định tại đề án về trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Đến năm 1974 căn cứ vào những qui định của pháp luật và tổng kết thực tiễn công tác xét xử, TANDTC đã ban hành thông tư số 16-TATC ngày 27/9/1974 hướng dẫn về trình tự sơ thẩm vụ án hình sự.

Việc đưa vụ án ra xét xử mà giữa Tòa án và VKS chưa thống nhất về tội danh thì giao cho HĐXX căn cứ vào tình hình thực tế tại phiên tòa để quyết định. Tại phiên tòa HĐXX căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai và tranh tụng để định tội danh đối với bị cáo. Như vậy, thông tư này đã xác định được quyền độc lập của HĐXX trong việc xem xét, đánh giá và quyết định tội danh của bị cáo mà không phụ thuộc vào quyết định truy tố của VKS. Có thể thấy rằng đây là một qui định phù hợp vì nó đã tôn trọng nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập trên cơ sở xem xét đánh giá các tình tiết khách quan của vụ án tại phiên tòa.

Qua một thời gian dài áp dụng thông tư trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn trong công tác xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự lần đầu tiên được pháp điển hóa tại BLTTHS năm 1988 được qui định tại điều 170 BLTTHS đó là: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử”.

Như vậy theo qui định của điều luật thì Tòa án chỉ được xét xử những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Sau một thời gian dài thực hiện về giới hạn xét xử sơ thẩm theo Điều 170 BLTTHS năm 1988, cho đến khi BLTTHS năm 2003 được ban hành tiếp tục được khẳng định lại về giới hạn xét xử sơ thẩm tại Điều 196 BLTTHS. Như vậy, việc bổ sung qui định này cho phép Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS truy tố. Việc bổ sung này chỉ là luật hóa kết luận trong tổng kết công tác xét xử của Tòa án năm 1989. Với qui định này, tại phiên tòa, qua xét hỏi tranh tụng mà HĐXX xét thấy bị cáo phạm một tội khác nặng hơn và Kiểm sát viên cũng thừa nhận điều đó thì HĐXX cũng không thể kết tội bị cáo theo tội danh nặng hơn tội đã được VKS truy tố trong bản cáo trạng là điều bất hợp lý. Do qui định của điều luật mà trong quá trình thực tiễn áp dụng đã làm phát sinh nhiều vướng mắc cả về lý luận và thực tiễn; do vậy, ngày 27/11/2015, Quốc hội nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam đã thông qua BLTTHS trong đó có qui định về giới hạn xét xử tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS năm 2015. Mặc dù BLTTHS năm 2015 tuy đã được Quốc hội thông qua nhưng chưa có hiệu lực thi hành, song cũng cho thấy rằng việc qui định về giới hạn xét xử sơ thẩm này sẻ góp phần vào việc xét xử của Tòa án thật sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003

VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VÀ THỰC TIỂN ÁP DỤNG

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự
      1. 2.1.1. Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi đã bị Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử
      2. 2.1.2. Tòa án xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát truy tố trong cùng một điều luật về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố
      3. 2.1.3. Trường hợp Viện kiểm sát rút quyết định truy tố tại phiên tòa

Trường hợp trước khi mở phiên tòa nếu VKS rút Quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án thì Tòa án ra Quyết định đình chỉ vụ án theo qui định tại (Điều 180, Điều 181 BLTTHS). Đây là vấn đề phù hợp cả lý luận và thực tiễn nên không có gì vướng mắc. Nhưng điều cần quan tâm ở đây là việc rút quyết định truy tố tại phiên tòa.

Một là, Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án và ra bản án theo thủ tục chung là hoàn toàn phù hợp.

Hai là, Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án HĐXX yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó.

    1. 2.2. Thực tiễn áp dụng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
      1. 2.2.1. Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên, xã hội và công tác tổ chức của Tòa án nhân dân tại thành phố Đà Nẵng
      2. 2.2.2. Kết quả áp dụng qui định về giới hạn xét xử trong việc giải quyết sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án hai cấp thành phố Đà Nẵng

Bảng 2.1. Tình hình thụ lý và giải quyết án hình sự 5 năm từ 2012 đến 2016 của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng

NĂMTHỤ LÝ (Vụ)GIẢI QUYẾT (Vụ)Tỉ lệ %
CẤP THÀNH PHỐCẤP QUẬN, HUYỆNTỔNG CẤP THÀNH PHỐCẤP QUẬN, HUYỆNTỔNG
STPTSTPT
201251298726107549297717106398,88
201366299681104666299673103899,23
201463279705104762279704104599,80
2015522736719965227266699099,39
201652281704103752278679100997,29
TỔNG28414303487520128114253479514598,92

(Nguồn: theo báo cáo của văn phòng TANDTP Đà Nẵng cung cấp)

Trên đây là bảng thống kê tình hình thụ lý giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án hai cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Kết quả đạt được: nhìn chung trong công tác xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng 2 cấp đã được thực hiện theo đúng qui định của pháp luật, chất lượng xét xử ngày càng nâng cao có sự tiến bộ rõ nét luôn đạt được các chỉ tiêu công tác giải quyết các vụ án hình sự đề ra của các năm.

      1. 2.2.3. Nguyên nhân và những hạn chế vướng mắc khi áp dụng qui định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng

* Về nguyên nhân khách quan:

Thứ nhất, giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp, chưa đảm bảo về mặt pháp lý để việc xét xử của Tòa án được khách quan và toàn diện.

Thứ hai, về mô hình tổ chức của VKS và Tòa án còn nhiều bất cập chưa phù hợp với cải cách tư pháp.

Thứ ba, về số lượng Thẩm phán và đội ngũ cán bộ chuyên trách còn thiếu và yếu tố về trình độ năng lực, kỹ năng điều khiển phiên tòa của một số Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa chưa nâng cao.

* Về nguyên nhân chủ quan:

Một là, do nhận thức pháp luật của đội ngũ cán bộ tư pháp chưa theo kịp chuyển biến tình hình phát triển kinh tế xã hội và phẩm chất của một số bộ phận cán bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng bị chi phối bởi cơ chế thị trường cho nên thiếu đi sự công tâm và khách quan trong khi xem xét giải quyết vụ án.

Hai là, Đảng và Nhà nước ta tuy đã có sự quan tâm đến đời sống, phương tiện làm việc trong các cơ quan tư pháp nhưng trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay thì chưa đáp ứng được tính chất phức tạp của công việc.

Ba là, về cải cách tiền lương và các chế độ đãi ngộ khác còn thấp so với nhu cầu cuộc sống sinh hoạt của đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp đồng thời điều kiện và phương tiện làm việc của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng chưa theo kịp yêu cầu.

CHƯƠNG 3

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM

ÁP DỤNG ĐÚNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM

    1. 3.1. Yêu cầu đối với áp dụng đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm
      1. 3.1.1. Yêu cầu của công tác cải cách tư pháp

Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp đòi hỏi trước hết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng trong đó có qui định về giới hạn xét xử sơ thẩm tạo khuôn khổ pháp lý khoa học phù hợp với thực tiễn của đất nước. Chủ trương cải cách đó phải đảm bảo các yếu tố sau đây:

Một là, cải cách tư pháp phải được tiến hành tổng thể trong cải cách bộ máy Nhà nước, trong sự liên hệ mật thiết với cải cách hành chính và không thể tách rời việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Hai là, phải hướng tới việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động tư pháp.

Ba là, thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp phải tiến hành từng bước, nhanh chóng nhưng phải thận trọng và hiệu quả, những vấn đề nào cấp bách cần được triển khai trước và phải nghiên cứu tiến hành cải cách theo tinh thần mới trên tinh thần phê và tự phê bình, những mặt hạn chế và tồn tại, những bất cập của hệ thống tư pháp hiện nay để có bước đi phù hợp có trọng tâm, trọng điểm.

Bốn là, khi thực hiện cải cách tư pháp cần có sự tham khảo kinh nghiệm của Quốc tế nhưng có chọn lọc và thận trọng bám sát thực tế của đất nước.

Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật tố tụng hình sự nói riêng, trong đó có qui định giới hạn xét xử sơ thẩm là cần thiết để góp phần vào việc xây dựng thành công nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.

      1. 3.1.2. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về giới hạn xét xử sơ thẩm phù hợp với Hiến pháp 2013

Sự ra đời của Hiến pháp năm 2013 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử lập hiến nước nhà. Việc ban hành Hiến pháp 2013 thể hiện một cách tập trung nhất ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta trong công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, đây không chỉ là sản phẩm của hoạt động lập hiến đơn thuần mà còn là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, kế thừa kết quả, tổng kết thực tiễn về đổi mới đất nước và thực tiễn trên 20 năm thi hành hiến pháp năm 1992. Vì vậy, những định hướng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử theo tinh thần hiến pháp năm 2013 cũng phải đặt ra trên nền tảng đó.

Bộ luật TTHS là bộ luật liên quan đến những quyền thiết thân nhất của quyền con người. Bộ luật TTHS hiện hành đã có những quy định bảo đảm cho những quyền cơ bản của con người, nhưng trong quá trình áp dụng đã bộc lộ những bất cập làm hạn chế việc bảo đảm quyền con người mà trong đó có qui định về giới hạn xét xử sơ thẩm và những qui định liên quan. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung bộ luật TTHS hiện hành trong đó có qui định về giới hạn xét xử sơ thẩm là nhu cầu cấp thiết để khắc phục những hạn chế, những bất cập nhằm đảm bảo tốt hơn quyền con người theo tinh thần của hiến pháp năm 2013.

Giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
    1. 3.2. Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng qui định của pháp luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự
      1. 3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, Phải bảo đảm sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án và VKS trong TTHS thật rạch ròi.

Thứ hai, Phải thật sự đảm bảo đúng các nguyên tắc đặc trưng cơ bản của pháp luật TTHS đó là nguyên tắc pháp chế XHCN.

Thứ ba, Bảo đảm vai trò của Tòa án thật sự là trung tâm của hoạt động tố tụng, là trọng tài trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, là chủ thể nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét xử nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo về quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật chính xác, khách quan và công bằng.

      1. 3.2.2. Nâng cao năng lực cán bộ áp dụng pháp luật

Một là, Tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo nghiệp vụ chuyên môn về Kiểm sát viên và Thẩm phán. Phải thường xuyên tập huấn chuyên sâu, trao đổi nghiệp vụ và củng cố kiến thức thực tiễn và phẩm chất đạo đức trong sạch cho đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn trong hoạt động tư pháp.

Hai là, Phải có cơ chế thu hút, tuyển chọn những người có đức, có tài, có tâm huyết vào làm việc ở cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án.

Ba là, Nhà nước phải bảo đảm về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn trong các cơ quan tư pháp để họ yên tâm công tác hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

      1. 3.2.3. Các giải pháp khác

Giải pháp 1: Đổi mới cơ cấu tổ chức và hoạt động Tòa án nhân dân

Giải pháp 2: Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát

KẾT LUẬN

Vấn đề giới hạn xét xử nói chung đã được nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra bàn luận rất nhiều, nhưng những hạn chế và vướng mắc vẫn còn tồn tại chưa được giải quyết triệt để. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi đã cố gắng làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản nhất về tình hình thực tiễn áp dụng về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Đà Nẵng về những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc trong thực tế áp dụng để tìm ra những giải pháp hoàn thiện. Sau một thời gian dài nghiên cứu chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Có thể nói đây là một trong những vấn đề của TTHS được quan tâm, bàn luận, tranh luận khá nhiều trong một thời gian dài (Từ khi BLTTHS năm 1988 ra đời cho đến thời điểm hiện nay khi BLTTHS năm 2015 đã được Quốc Hội thông qua vào ngày 27/11/2015 nhưng chưa có hiệu lực pháp luật thi hành), nhưng nó vẫn còn thu hút nhiều sự chú ý không chỉ của những nhà hoạt động thực tiễn mà cả những nhà nghiên cứu pháp luật và kể cả những người làm công tác giảng dạy tham gia tranh luận. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội thảo khoa học, nhiều ý kiến về vấn đề này nhưng vẫn chưa có sự thống nhất; thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn tại những vướng mắc và hạn chế. Do đó, đã đến lúc cần phải có sự nỗ lực chung tay của giới khoa học trong và ngoài nước về khoa học TTHS Việt Nam, các học giả và các cơ chức năng đặc biệt là những cán bộ làm nhiệm vụ thực thi pháp luật trong việc nghiên cứu, xem xét vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau để đi đến một ý kiến thống nhất.

2. Giới hạn xét xử sơ thẩm được qui định phù hợp trong thực tiễn áp dụng là một yếu tố rất quan trọng để bảo đảm cho việc thực hiện mục đích chung của TTHS là xét xử khách quan, công bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Để đạt được yêu cầu đó đòi hỏi việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTHS về về giới hạn xét xử sơ thẩm phải luôn tôn trọng và căn cứ vào những nguyên nhân cơ bản của TTHS đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và phần đầu của Bộ luật TTHS. Cần có sự phân định rạch ròi đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng trong mối quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau. Đồng thời phải luôn chú trọng đến vai trò của Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tuân thủ các nguyên tắc bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của công dân, quyền bào chữa của bị can bị cáo. Khi những yếu tố cần và đủ đó được bảo đảm thì vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sẽ được xác định một cách khoa học và hợp lý.

3. Qua nghiên cứu giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số vấn đề lý luận chung pháp luật TTHS Việt Nam, từ thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, luận văn đã làm rõ hơn và đưa ra được khái niệm về “Giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”. Qua phân tích và so sánh qui định về giới hạn xét xử sơ thẩm trong bộ luật TTHS năm 2003 được qui định tại Điều 196 và trong Bộ luật TTHS năm 2015 qui định tại Điều 298 chuẩn bị có hiệu lực pháp luật thi hành đã cho thấy được những điểm hợp lý cũng như những mặt còn hạn chế của điều luật khi áp dụng vào thực tiễn. Trên cơ sở đó luận văn phần nào đồng tình với việc sửa đổi, bổ sung qui định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong Bộ luật TTHS năm 2015 theo hướng mở rộng phạm vi giới hạn xét xử sơ thẩm cho Tòa án được xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố khi có đủ căn cứ với điều kiện bảo đảm được quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa. Bên cạnh đó luận văn đề xuất thêm một số giải pháp nhằm hoàn thiện các qui định pháp luật về giới hạn xét xử sơ thẩm, tổ chức cán bộ và một số giải pháp khác nhằm góp phần hoàn thiện bộ luật TTHS góp phân nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án cũng như thực hiện công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đề ra.

4. Với khả năng và nhận thức qua một thời gian nghiên cứu có hạn, quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những sai sót nhất định. Với tinh thần học hỏi cầu tiến tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của quí thầy cô, của các nhà khoa học, của các cán bộ làm công tác thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS và đồng nghiệp để tôi tiếp tục hoàn thiện hơn đối với việc áp dụng giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong công tác của mình. Qua đây tôi thành thật biết ơn đến thầy hướng dẫn khoa học PGS.TS Hồ Sỹ Sơn đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\PHAN VINH CHUYEN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *