Quyền của người bị tạm giữ tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam

Quyền của người bị tạm giữ tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam

Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và là khát vọng của toàn thể nhân loại. Quyền con người được sinh ra và được bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên, nó không chỉ là vấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế định pháp lý cơ bản trong pháp luật Quốc tế mà còn là chế định pháp lý cơ bản trong pháp luật của các quốc gia.

Các cơ quan bảo vệ pháp luật không ngừng được củng cố, phát triển, xã hội ngày càng công bằng, văn minh, tạo cho mọi người có môi trường tự do, bình đẳng để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, đồng thời bảo vệ con người khỏi các hành vi xâm hại. Song quyền con người luôn là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp nên bảo đảm thực hiện nó không phải chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền con người mà còn phải thực thi nhiều biện pháp đồng bộ, được mọi cấp, mọi ngành, mọi người tham gia. Trong đó, các CQTHTT có vai trò vị trí đặc biệt quan trọng. Trong nhiều năm qua các CQTHTT đã có nhiều đóng góp trong việc phát hiện, đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Song trong quá trình tiến hành tố tụng có lúc, có nơi quyền con người đặc biệt là đối với nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự chưa được tôn trọng còn bị vi phạm, chưa có biện pháp bảo đảm hữu hiệu dẫn đến tình trạng oan sai, bức cung, dùng nhục hình, đặt biệt là đối với người bị tạm giữ, tạm giam. Điều đó, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, song sự hạn chế thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật có tác động đáng kể. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam và qua đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự. Nhận thức như vậy, tác giả đã chọn đề tài “Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra tội giết người trên địa bàn TP Đà Nẵng, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong hoạt động này và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra tội phạm nói chung và tội phạm giết người nói riêng trên địa bàn TP Đà Nẵng trong thời gian đến.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được những mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là: Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam; các biện pháp bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự; hệ thống hóa các biện pháp bảo đảm; làm rõ những điểm chung và những đòi hỏi đặc thù về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong các giai đoạn tố tụng khác nhau; Phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự; Đánh giá thực trạng đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong quá trình tố tụng hình sự, tìm ra những ưu, khuyết điểm của vấn đề này; Làm rõ các yêu cầu và đề xuất các giải pháp đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quan điểm lý luận về quyền quyền của người bị tam giữ, tạm giam. Pháp luật thực định về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam. Các phương thức bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong quá trình tố tụng hình sự.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những quy định của pháp luật thực định về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam; Những tài liệu, công trình đã được nghiên cứu về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam. Phần thực tiến đề tại nghiên cứu bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam tại thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, quan điểm và đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về chính sách hình sự.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã có sự kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, như khảo sát thực tiễn, thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, phương pháp điều tra xã hội học.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ thêm nhiều vấn đề lý luận về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự; Các biện pháp bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam; Làm rõ những điểm chung và những đòi hỏi đặc thù trong bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong các giai đoạn tố tụng khác nhau; Phân tích có hệ thống các quy định của Bộ luật TTHS và đánh giá đầy đủ, toàn diện thực tiến bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong pháp luật TTHS Việt Nam, từ đó tìm ra được những hạn chế, bất cập về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam trong TTHS và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập; Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam trong hoạt động TTHS.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn:

Là một công trình nghiên cứu độc lập và chuyên sâu về người bị tạm giữ trong pháp luật TTHS Việt Nam, luận văn làm rõ những khái niệm, địa vị pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ để giúp cho việc áp dụng các quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ được đúng người, đúng tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội. Từ đó mở đầu cho một giai đoạn TTHS được chính xác, kịp thời, nghiêm minh và đúng pháp luật. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp khắc phục những vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật hiện hành đối với người bị tạm giữ, tạm giam trong TTHS Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận văn, góp phần giải đáp về mặt lý luận và thực tiễn những vấn đề liên quan đến người bị tạm giữ, tạm giam trong TTHS Việt Nam. Đồng thời, giúp cho người bị tạm giữ, tạm giam, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, tạm giam và các cơ quan THTT hình sự áp dụng các quy định pháp luật về người bị tạm giữ, tạm giam một cách đúng đắn, hiệu quả và chính xác. Luận văn có thể dùng làm tài liệu cho việc nghiên cứu, tham khảo và hoàn thiện pháp luật đối với những ai quan tâm đến vấn đề này. 

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cơ cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật Việt Nam về quyền của người bị tam giữ, tạm giam

Chương 2: Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về quyền của người bị tam giữ, tạm giam tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp đảm bảo quyền của người bị tam giữ, tạm giam

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM

    1. 1.1. Những vấn đề lý luận về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam
      1. 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, tạm giam

1.1.1.1. Khái niệm người bị tạm giữ, tạm giam

Trong tố tụng hình sự, người bị tạm giữ, tạm giam là những người tham gia tố tụng có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết VAHS. Họ là người bị cơ quan THTT coi là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm, bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự, hạn chế, tước bỏ quyền tự do trong khoảng thời gian nhất định; tùy theo giai đoạn tố tụng khác nhau mà tên gọi cũng như địa vị pháp lý của họ cũng khác nhau.

Khái niệm người bị tạm giữ: Theo điều 48 BLTTHS năm 2003: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo lệnh truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”. Như vậy, theo quy định này người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố về hình sự, đó là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, trường hợp tội phạm tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. Để trở thành người bị tạm giữ, cần có đủ các điều kiện sau:

+ Điều kiện về nội dung: Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn; người mà thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc nơi ở nên cần ngăn chăn ngay việc người đó có thể bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; người bị phát hiện đang thực hiện tội phạm, người có lệnh truy nã hoặc người tự thú, đầu thú sau khi thực hiện tội phạm.

+ Điều kiện về hình thức: Đối với người đó đã có quyết định tạm giữ của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS. Theo điều 59 BLTTHS năm 2015 (đang được sửa đổi bổ sung) quy định “Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”. Quy định này cũng tương tự như quy định tại điều 48 BLHS năm 2003, chỉ có sự khác biết đó là điều 59 BLTTH năm 2015 thay đối tượng “người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp” thành đối tượng “người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”. Về điều kiện trở thành người bị tạm giữ BLTTHS năm 2015 cũng tương tự như BLTTHS năm 2003, tuy nhiên về trình tự, thủ tục, thời hạn về tạm giữ của thì BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể, chặt chẽ hơn.

Khái niệm người bị tạm giam: Cũng như tạm giữ, tạm giam cũng là biện pháp ngăn chặn trong hoạt động tố tụng hình sự liên quan trực tiếp đến lợi ích của công dân, quyền tự do thân thể, đây là chế tài hạn chế một số quyền cơ bản của con người. Pháp luật tố tụng hình sự không có điều luật cụ thể nào quy định về khái niệm người bị tạm giam, theo Điều 88 BLTTHS năm 2003.

Tác giả có thể đưa ra khái niệm về người bị tạm giam như sau: “Người bị tạm giam là bị can, bị cáo bị các CQTHTT có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, bị tước quyền tự do trong một khoảng thời gian nhất định do phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm tội khác mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội”.

1.1.1.2. Đặc điểm của người bị tạm giữ, tạm giam

Đặc điểm địa vị pháp lý của người bị tạm giữ: Người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự, tùy những trường hợp cụ thể, ở mỗi thời điểm, mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau mà đặc điểm về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ khác nhau.

Đặc điểm địa vị pháp lý của người bị tạm giam: Trong tố tụng hình sự thì người bị tạm giam là người tham gia tố tụng, tùy thuộc vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội và từng giai đoạn tố tụng khác nhau mà đặc điểm địa vị pháp lý của người bị tạm giam cũng khác nhau.

Tóm lại, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đặc điểm địa vị pháp lý khác nhau nhưng họ đều là một trong những người tham gia tố tụng, chiếm vị trí trung tâm trong TTHS, họ bị người tiến hành tố tụng, cơ quan THTT áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự hạn chế quyền tự do quyền lợi ích hợp pháp khác trong một khoảng thời gian nhất định.

      1. 1.1.2. Khái niệm và ý nghĩa quyền của người bị tạm giữ, tạm giam

1.1.2.1. Khái niệm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam

Tác giả có thể đưa ra khái niệm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam như sau: “Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam là những điều mà pháp luật tố tụng hình sự quy định và bảo đảm thực hiện đối với người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, theo đó họ được hưởng, được làm, được đòi hỏi khi tham gia vào các hoạt động tố tụng hình sự mà không ai được ngăn cản, hạn chế”.

1.1.2.2. Ý nghĩa của việc quy định và bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam

Việc quy định về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam cũng như những bảo đảm để thực thi các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là: Thể chế hóa được các chủ trương đường lỗi của đảng trong công tác cải cách tư pháp, đảm bảo quyền con người; Việc nhà nước quy định các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam sẽ đảm bảo tính công bằng trong quá trình THTT; Đảm bảo không ai bị phân biệt đối xử; Tạo hành lang pháp lý cho quá trình THTT; Chống oan sai, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội; Là đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN. Điều 14 Hiến pháp 2013: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của TAND, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Điều 20 Hiến pháp 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Có thể thấy Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc phát triển, hoàn thiện và đảm bảo quyền con người đặc biệt là quyền con người trong tố tụng hình sự. Việc quy định và đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, tạm giam là thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước trong tiến trình cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế.

    1. 1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam
      1. 1.2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền của người bị tạm giữ

Theo điều 48 BLTTHS năm 2003 quy định: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ; 2. Người bị tạm giữ có quyền: a) được biết lý do mình bị tạm giữ; b) được giải thích về quyền và nghĩa vụ; c)Trình bày lời khai; d) Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; đ) Khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; 3. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ theo quy định của pháp luật”.

      1. 1.2.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về quyền của người bị tạm giam

Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 BLTTHS năm 2003 thì “bị can là người đã bị khởi tố về hình sự”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 BLTTHS năm 2003 thì: “bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”.

Các quyền chung của người bị tạm giam là bị can, bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 49 và khoản 2 Điều 50 của BLTTHS năm 2003.

Kết luận Chương 1

Trong Chương 1, luận văn đã nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích các quy định của pháp luật và các quan điểm của tác giả để đưa ra một số khái niệm khoa học cơ bản về người bị tạm giữ, tạm giam; quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Luận văn đã phân tích làm rõ các đặc điểm địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, tạm giam trong trong pháp luật tố tụng hình sự. Nêu lên được những ý nghĩa tầm quan trọng và sự cần thiết của việc quy định và bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong tiến trình hội nhập và cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Luận văn đã đi sâu phân tích và hệ thống hóa được các quy định của pháp luật về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, làm rõ được những vấn đề lý luận về các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta.

Ngoài ra tại Chương 1, tác giả còn viện dẫn, phân tích, so sánh những các văn bản pháp luật khác nhau, trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, chỉ ra được những bất cập hạn chế của pháp luật thực định về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam để từ đó làm cơ sở để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong quá trình tố tụng.

Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ,

TẠM GIAM TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về quyền của người bị tạm giữ tại thành phố Đà Nẵng
      1. 2.1.1. Tổng quan tình hình người bị tạm giữ tại thành phố Đà Nẵng

Bảng 2.1. Tình hình về người bị tạm giữ tại TP Đà Nẵng

từ năm 2012 – 2016

Năm20122013201420152016
Số lượng người bị tạm giữ495520456441395

Theo bảng thống kê trên có thể thấy số lượng người bị tạm giữ tại TP Đà Nẵng tương đối lớn và có xu hướng tăng trong năm 2012- 2013, theo tác giả trong gian đoạn này số lượng người tạm giữ tăng có phần do sự tác động của nền kinh tế, thời điểm này nền kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động, lạm phát tăng cao, tỷ lệ doanh nghiệp phá sản lớn, dẫn đến tỷ lệ người thất nghiệp gia tăng kéo theo tình hình tội phạm gia tăng và diễn biến phức tạp. Giai đoạn từ năm 2013 đến nay số lượng người bị tạm giữ giảm dần đều theo các năm. Đây là thành quả của quá trình phục hồi và phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, bên cạnh đó tiến trình cải cách tư pháp, đặc biệt là sự ra đời của Hiếp pháp 2013 và các Nghị quyết của Đảng về đảm bảo quyền con người, đặc biệt là quyền con người trong hoạt động tố tụng ngày càng được quan tâm, bảo đảm thực hiện.

      1. 2.1.2. Kết quả bảo đảm quyền của người bị tạm giữ tại thành phố Đà Nẵng

Trong thực tiễn thực hiện quyền của người bị tạm giữ trong TTHS ở nước ta nói chung, thực tiễn từ thành phố Đà Nẵng nói riêng có thể nói rằng vấn đề bảo đảm quyền của người bị tạm giữ đã được quan tâm, thể hiện được phần nào tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong đó nhấn mạnh “các cơ quan tư pháp phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người”.

Bảng 2.2. Tình hình thực hiện biện pháp tạm giữ tại TP Đà Nẵng

Năm

Thứ tự

20122013201420152016
Số người bị tạm gữ495520456441395
Số người bị tạm giữ chuyển tạm giam4153514857
Số người VKS hủy bỏ biện pháp tạm giữ4251544250
Vks không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ0401050101
Vks không phê chuẩn bắt khẩn cấp01003002
Cơ quan quyết định tạm giữ trả tự do4448514955
    1. 2.2. Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về quyền của người bị tạm giam tại thành phố Đà Nẵng
      1. 2.2.1. Tổng quan tình hình người bị tạm giam tại thành phố Đà Nẵng

Song song với việc áp dụng biện pháp tạm giam, theo yêu cầu của cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế thì quyền con người, quyền của người bị tạm giữ, tạm giam cần được chú trọng hoàn thiện, bảo đảm. Trong những năm qua tình hình tội phạm tại thành phố Đà Nẵng có nhiều diễn biến phức tạp. Các cơ quan tố tụng các cấp tại thành phố Đà Nẵng đã nhận thức được vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa cũng như hậu quả pháp lý của biện pháp ngăn chặn tạm giam, đồng thời cũng thận trọng khi áp dụng biện pháp tạm giam trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng tình trạng vi phạm quyền của người bị tạm giam vẫn còn diễn ra khá phổ biến.

      1. 2.2.2. Kết quả thi hành quyền của người bị tạm giam tại TP Đà Nẵng

Bảng 2.3. Tinh hình thực hiện biện pháp tạm giam tại thành phố Đà Nẵng

Năm

Thứ tự

20122013201420152016
Số người bị tạm giam9222020909874912
VKS không phê chuẩn lệnh tạm giam/lệnh bắt tạm giam1191375
Số bị can được thay đổi biện pháp ngăn chặn145153163157168
Bị can được trả tự do và đình chỉ1217192322

Bảng 2.4. Tình hình Luật sư tham gia các vụ án hình sự từ năm 2012 đến 2016

NămTổng số vụ án hình sự xét xử trong nămSố vụ án hình sự có luật sư tham gia
Theo đề nghị của khách hàngTheo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụngTổng số vụ có luật sư tham gia
2012597177270447
201362690101191
20146168985174
2015655128169297
201676450118168

Kết quả thi hành quyền của người bị tạm giam là bị cáo tại thành phố Đà Nẵng:

Về thực hiện quyền của bị cáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng được nhìn nhận chủ yếu và trọng tâm trong hoạt động xét xử của TAND các cấp. Bị cáo là những người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử, do đó quyền của bị cáo được thực hiện thông qua chủ yếu ở các hoạt động của Tòa án, trung tâm là việc xét xử. Qua báo cáo hoạt động của Tòa án các cấp tại thành phố Đà Nẵng những năm vừa qua cho thấy, số lượng thụ lý và giải quyết các VAHS sơ thẩm từ năm 2012 đến năm 2016 là tương đối, không có nhiều sự biến động lớn về số vụ việc, số lượng bị cáo hàng năm có lúc tăng, có lúc giảm nhưng tỷ lê tăng giảm cũng không đáng kể, tỉ lệ giải quyết của Tòa án qua các năm luôn ở mức cao. Tòa án các cấp tại thành phố Đà Nẵng đã giải quyết với tỉ lệ qua các năm luôn đạt từ 97.7% trở lên.

Bảng 2.5. Tình hình thụ lý và giải quyết án hình sự sơ thẩm tại TP Đà Nẵng

NămThụ lýTỉ lệ tăng, giảm so với năm trướcGiải quyết (Đạt tỉ lệ)
VụBị cáoVụBị cáoVụBị cáo
20126551213Tăng 5,6%Tăng 9,6%655 (100%)1213 (100%)
20137671383Tăng 17,1%Tăng 14%764 (99,61%1380 (99,78%)
20147471435Giảm 2,6%Tăng 3,7%743 (99,46%)1427 (99,44%)
20157681381Tăng 2,8 %Giảm 3,8%767

(99,86%)

1377

(99,71%)

20167231277Giảm 5,8%Giảm 7,5%721

(99,72%)

1267

(99,21%)

Bảng 2.6. Tổng hợp các vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung từ năm 2012 – 2016

NămTổng số án giải quyếtXét xửTrả hồ sơ điều tra bổ sung
Tổng sốĐược VKS chấp nhận (Vụ)Tỉ lệ vụ án

VKS chấp nhận

VụBị cáoVụBị cáoVụBị cáo
20126551213614114941642868,29%
201376413807181277461033984,78%
201474714357431427391213384,61%
201576813817141223521484688,46%
201672312776841100711626490,14%
Tổng cộng365766863473617624959821088,33%

Bảng 2.7. Tổng hợp các vụ án có kháng cáo kháng nghị từ năm 2012 – 2016

NămSố án giải quyếtSố án có KC/KNKết quả phúc thẩm
VụBị cáoVụBị cáoĐình chỉY ánSửa ánHủy án
VụBị

cáo

VụBị cáoVụBị cáoTỉ lệ

(Vụ)

VụBị

cáo

Tỉ lệ (Vụ)
201265512133354711141491442097110521,19%06081,79%
20137641380325470901201672326511520%03030,92%
2014644115429940292122147174549818,1%060802%
201566411402794058295151228427827,95%04062,1%
201667211432804118692145223447515,71%05071,7%
Tổng cộng3.3996.0301.5182.1594645787541.06627647118,18%24321,5%
    1. 2.3. Những vi phạm trong thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam tại thành phố Đà Nẵng và nguyên nhân
      1. 2.3.1. Những vi phạm trong thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam tại thành phố Đà Nẵng

2.3.1.1. Trong nhà tạm giữ thuộc cơ quan Công an

2.3.1.2. Trong trại tạm giam

2.3.1.3. Trong trại giam

      1. 2.3.2. Nguyên nhân của những vi phạm

Kết luận Chương 2

Tại Chương 2, tác giả luận văn đề cập đến thực tiễn thực hiện quyền của những chủ thể bị tạm giữ, tạm giam trong TTHS từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng. Qua thực tiễn, việc thực hiện quyền của người bị tạm giữ, tạm giam tại thành phố Đà Nẵng đã có những ưu điểm đáng ghi nhận như công tác điều tra, truy tố, xét xử hầu như đảm bảo được sự đúng đắn của pháp luật. Các CQTHTT đã quán triệt tinh thần cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng, có những biểu hiện thể hiện rõ nỗ lực đảm bảo quyền của người bị buộc tội được thực thi. Việc kiểm sát điều tra, xét xử đã có nhiều vụ việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, có những vụ việc Viện kiểm sát có các quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, gia hạn tạm giữ người, những hoạt động thực tiễn đó nhằm đảm bào quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Luận văn chia làm ba mục với việc nêu lên thực tiễn thực quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo riêng lẻ. Tuy nhiên, tổng hợp lại thì mỗi một giai đoạn khác nhau trong tiến trình tố tụng khác nhau thì quyền của người bị buộc tội được thể hiện theo các giai đoạn tố tụng nhất định, do vậy tạo nên một diện mạo chung cho việc thực hiện các quyền của người bị buộc tội.

Bên cạnh đó, thực tiễn cũng chỉ ra việc thực hiện quyền của những người bị tạm giữ, tạm giam cũng còn những mặt hạn chế cần khắc phục và điều chỉnh trên thực tiễn cũng như trong công tác lập pháp. Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam về việc được bào chữa, nhờ người khác bào chữa vẫn chưa đạt được hiệu quả cao, rất ít các trường hợp có sự tham gia của luật sư vào hoạt động bào chữa cho bị cáo, việc bào chữa theo sự chỉ định của CQTHTT thì chất lượng chưa cao. Ngoài ra, do những rào cản từ các quy định của pháp luật mà thủ tục liên quan đến cấp giấy chứng nhận bào chữa còn khó thực thi dễ dàng, nhiều trường hợp CQTHTT chưa tạo điều kiện thuận lợi nhất để người bào chữa tham gia vào tiến trình tố tụng. Việc thực hiện quyền tranh luận chưa được đảm bảo, vấn đề áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, tạm giam còn những hạn chế rất cần được khắc phục và cần có giải pháp tháo gỡ trong thời gian tới.

Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO

QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM

    1. 3.1. Các yêu cầu bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam
      1. 3.1.1. Yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa
      2. 3.1.2. Yêu cầu bảo đảm quyền con người
      3. 3.1.3. Yêu cầu của cải cách tư pháp
      4. 3.1.4. Yêu cầu của phòng ngừa tội phạm
    2. 3.2. Các giải pháp bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam
      1. 3.2.1. Hướng dẫn thi hành đầy đủ, đồng bộ các quy định của pháp luật về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam
      2. 3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam

3.2.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật khả thi, công khai, minh bạch bảo vệ quyền con người khi họ bị tạm giữ, tạm giam và có sự kiểm soát của nhà nước chống vi phạm nhân quyền

3.2.2.2. Quy định chính sách ưu tiên phát triển chăm sóc sức khỏe, giáo dục đối với người bị tạm giữ, can phạm nhân thuộc nhóm người dễ bị tổn thương

3.2.2.3. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam

3.2.2.4. Mở rộng hơn các quy định về quyền con người

3.2.2.5. Tạo hành lang pháp lý cho việc thực thi các quyền con người một cách đầy đủ hơn tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam

      1. 3.2.3. Nâng cao năng lực nhận thức của những người có thẩm quyền bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam
      2. 3.2.4. Bảo đảm cơ sở vật chất thi hành quyền của người bị tạm giữ, tạm giam
      3. 3.2.5. Phổ biến giáo dục pháp luật

Kết luận Chương 3

Hiện nay, cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nhằm tiếp tục thực hiện, đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Các Nghị quyết trên đã chỉ rõ nhiều vấn 
đề cụ thể của tố tụng hình sự cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của BLTTHS, tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự. Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân nên quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được luật pháp trong Luật TTHS Việt Nam quy định rõ ràng, nhằm bảo vệ quyền lợi của mọi công dân được công bằng. Để đạt được mục đích đó, trước hết trong công tác xử lý tin báo tố giác tội phạm và phân loại việc tạm giữ, tạm giam người vi phạm pháp luật cần phải được chú trọng và tăng cường, nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm tính trung thực, công minh, đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt kẻ phạm tội. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua đã xảy ra rất nhiều vụ việc cơ quan THTT, người THTT vi phạm nghiêm trọng thủ tục tạm giữ, tạm giam người theo quy định của BLTTHS, gây lên những hậu quả nghiêm trọng đối với người bị tạm giữ, tạm giam. Hệ lụy kéo theo đó là tình trạng bắt oan người vô tội, vi phạm các quyền con người, xâm phạm quyền tự do thân thể…không đảm bảo đúng quyền của người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật. 

Phân tích có hệ thống các quy định của BLTTHS và đánh giá đầy đủ, toàn diện thực tiễn bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong pháp luật TTHS Việt Nam, từ đó tìm ra được những hạn chế, bất cập về bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam trong TTHS và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập. Từ đó, nêu một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và tăng cường bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

KẾT LUẬN

Xác định và bảo đảm địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam là vấn đề thiết thực liên quan đến việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam. Nội dung này, chưa được nghiên cứu nhiều trong khoa học luật tố tụng hình sự nước ta. Việc nghiên cứu làm sáng tỏ nội dung các quy định về người bị tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam cũng như phương hướng hoàn thiện các quy định, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tăng cường pháp chế, tôn trọng quyền tự do, dân chủ của công dân khi tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây là một vấn đề khó nhưng rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, nên tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Quyền của người bị tạm giữ, tạm giam theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”. Với khả năng có hạn, tác giả đã cố gắng nghiên cứu và đạt được một số kết quả khiêm tốn sau đây:

Luận văn đã góp phần làm rõ thêm vấn đề lý luận chung, quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Đã đưa ra được những khái niệm quan trọng như: địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, tạm giam; khái niệm khoa học về người bị tạm giữ, tạm giam. Xác định được tư cách tố tụng, những đặc điểm chung nhất của người bị tạm giữ, tạm giam nói chung và người bị tạm giữ, tạm giam trong một số trường hợp đặc biệt. Từ đó, giúp cho việc áp dụng các quy định về người bị tạm giữ, tạm giam trong từng trường hợp cụ thể được chính xác, không để người bị tạm giữ, tạm giam oan sai, không để lọt tội phạm. Trên cơ sở, tìm hiểu và so sánh địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam với một số nước trên thế giới, cho thấy những quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam đối với người bị tạm giữ, tạm giam.

Luận văn đã phân tích có hệ thống và làm rõ các quy định của BLTTHS hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam trong TTHS Việt Nam. Đồng thời, nêu lên được các quy định pháp luật cụ thể liên quan đến người bị tạm giữ, tạm giam. Góp phần đưa ra những quan điểm nhằm bảo đảm cho các quy định đối với người bị tạm giữ, tạm giam được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đúng pháp luật. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn việc áp dụng các quy định pháp luật và bảo đảm các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam đã đưa ra được những kết quả đáng khích lệ trong quá trình người bị tạm giữ, tạm giam tham gia vào quá trình tố tụng. Đồng thời, nêu lên được những hạn chế còn tồn tại cũng như những nguyên nhân khách quan và chủ quan đối với những hạn chế đã nêu ra. Từ đó, có phương hướng hoàn thiện và những giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập.

Luận văn đã đưa ra được một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và tăng cường bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam trong hoạt động TTHS. Trên cơ sở những nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng về người bị tạm giữ, tạm giam trong năm năm gần đây, tác giả đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định còn có nhiều vướng mắc, mâu thuẫn, những quy định chưa hợp lý, bổ sung một số quyền, lợi ích hợp pháp mà người bị tạm giữ, tạm giam cần phải có, nhất là trong TTHS giai đoạn hiện nay. Đồng thời, với việc hoàn thiện pháp luật TTHS, cũng cần thực hiện các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam.

Luận văn được nghiên cứu với sự giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo Cơ quan cảnh sát điều tra, Trại tạm giam Hòa Sơn tại TP Đà Nẵng, TAND hai cấp TP Đà Nẵng, các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và đặc biệt là sự tận tình của thầy hướng dẫn khoa học. Tuy nhiên, là người làm công tác thực tiễn, hoạt động nghiên cứu khoa học của tác giả còn mới mẽ, ít kinh nghiệm nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, hạn chế nhất định, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các nhà khoa học để luận văn được hoàn thiện hơn.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\PHAM TON\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *