Quản trị rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam
Quản trị rủi ro về cơ bản là quá trình xác định, phân tích và đánh giá những nguy cơ tiềm ẩn nhằm đưa ra các biện pháp hạn chế hoặc giảm thiệt hại do những nguy cơ đó mang lại. Rủi ro luôn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực, từ những công việc giản đơn của cuộc sống cho đến các hoạt động kinh doanh, thương mại, đầu tư, tài chính, tín dụng, ngân hàng … Vậy nên quản trị rủi ro như một chiếc xương sống chạy qua tất cả các lĩnh vực giúp cho mọi hoạt động trở nên hiệu quả hơn.
Thực tế thấy rằng, áp dụng một chiến lược quản trị rủi ro sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các tổ chức vì điều này sẽ giúp việc sắp xếp, cân đối nguồn nhân lực có hạn trong môi trường nhiều áp lực để đạt được hiệu quả cao trong mọi hoạt động của các tổ chức đó.
Hải quan Quảng Nam được giao nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Đặc biệt trong bối cảnh chính phủ hướng tới tạo thuận lợi cho Doanh nghiệp, Tổng cục hải quan cam kết giảm thiểu sự can thiệp của Hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, rút ngắn thời gian thông quan, đòi hỏi Cục hải quan tỉnh Quảng Nam cần chú trọng hơn vào việc tạo thuận lợi thương mại, đồng thời vẫn đảm bảo kiểm soát việc tuân thủ pháp luật Hải quan thì việc nghiên cứu, làm rõ để có được cách nhìn sát, đúng, khách quan về quản trị rủi ro, đồng thời đề ra được các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro, tạo ra sự “cân bằng giữa tạo thuận lợi và kiểm soát”, nâng cao năng lực quản lý cho Hải quan tỉnh Quảng Nam, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu nhập khẩu tại địa bàn, rút ngắn thời gian thông quan, đảm bảo kiểm soát việc tuân thủ pháp luật là một yêu cầu cấp thiết.
Để tăng cường công tác quản trị rủi ro vào hoạt động nghiệp vụ Hải quan đạt được chất lượng và hiệu quả cao, cần nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về lĩnh vực nhằm đưa ra các giải pháp và kiến nghị để công tác quản trị rủi ro chứng tỏ được vai trò là phương tiện hữu hiệu của cơ quan Hải quan trong thực hiện “mục tiêu kép” vừa tạo thuận lợi cho hàng hóa XNK, hành khách XNC hợp pháp vừa đảm bảo kiểm soát, phát hiện các trường hợp gian lận và vi phạm trong lĩnh vực hải quan, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Xuất phát từ thực tiễn trên, học viên đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam” để thực hiện nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh.
2.1. Mục tiêu tổng quát: Phân tích, đánh giá các thực trạng công tác quản trị rủi ro trong đối với hàng hoá nhập khẩu tại hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện công tác quản trị rủi ro đối với hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
Để đáp ứng được mục tiêu tổng quát, luận văn chia nhỏ thành 3 mục tiêu cụ thể:
– Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro hải quan nói chung quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng.
– Phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
– Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu:
Để đáp ứng mục tiêu tổng quát cũng như 3 mục tiêu cụ thể, luận văn cần trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng.
– Quản trị rủi ro hải quan nói chung quản trị rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu nói riêng gồm những nội dung gì?
– Thực trạng công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu tại hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua là như thế nào?
– Cần phải làm gì để tăng cường công tác quản lý rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu tại hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
Phạm vi nghiên cứu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, số liệu được thu thập trong thời gian 2019-2021 để phân tích đánh giá.
– Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để tổng hợp các lý thuyết và nghiên cứu trước để hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro hàng hóa nhập khẩu nói riêng để hình thành nên cơ sở lý thuyết của đề tài.
– Về phương pháp phân tích, luận văn giới hạn sử dụng một số kỹ thuật phân tích thống kê mô tả để đánh giá sự biến động theo thời gian về quy mô và cấu trúc dữ liệu thứ cấp (các báo cáo, nghiên cứu đã có, liên quan) theo các chỉ tiêu khác nhau để nhận diện thực trạng rủi ro và công tác quản trị rủi ro hàng hóa nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
5.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, quy trình liên quan đến quản trị rủi ro đối với hàng hoá xuất nhập khẩu tại hải quan.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đánh giá được thực trạng và đưa ra những ưu điểm và hạn chế cũng như các yếu tố tác động đến việc triển khai áp dụng quản lý rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam; Đồng thời, đề tài đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho đơn vị, doanh nghiệp và cho xã hội. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu hữu ích cho quá trình nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, là nguồn tư liệu tham khảo của các đơn vị hải quan địa phương và ngành Hải quan, góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động hải quan hiện đại trong thời gian đến.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hóa tại Hải quan.
Chương 2 : Thực trạng công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro đối với hàng hoá nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
Về mặt hình thức, thuật ngữ rủi ro có thể là một khái niệm tương đối đơn giản. Trong giao tiếp thường ngày, khi ai đó nói có rủi ro trong một tình huống cụ thể, chúng ta sẽ dễ dàng hiểu rằng trong hoàn cảnh đó, có một sự không chắc chắn về kết quả và tồn tại xác suất xảy ra kết quả không như mong muốn, kỳ vọng. Mặc dù vậy, tính đến nay vẫn chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Theo những trường phái, lĩnh vực khác nhau, các nhà kinh tế học thống kê, các học giả… đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về rủi ro và đều nhằm mục đích phù hợp với góc nhìn nhận, đánh giá và lĩnh vực nghiên cứu của họ và vì vậy, nó dẫn đến sự chưa thống nhất để có một định nghĩa về rủi ro dễ hiểu và có thể sử dụng trong tất cả các lĩnh vực.
Theo trường phái truyền thống thì “Rủi ro được xem là điều không lành, điều không tốt bất ngờ xảy đến” (Hoàng Khuê, 2021), Theo (Nguyễn Lê Cường & Nguyễn Thị Hoài Lê, 2020) “Rủi ro khả năng có điều gì đó tồi tệ xảy ra vào một thời điểm nào đó trong tương lai, một tình huống có thể nguy hiểm hoặc có kết quả xấu, chúng là những điều không chắc chắn có thể xảy ra hoặc kết quả không thể dự đoán được với sự chắc chắn. Ví dụ: người ta thường mô tả một chuỗi tình huống: “thời tiết và đường trơn hiện rủi ro với người lái xe”. Mặt khác, thuật ngữ rủi ro có thể được sử dụng khi nói tới một người hoặc một loại hành vi như: “một người lái xe cẩu thả được xem như là một rủi ro cho chính anh ta và người khác”.
Theo trường phái trung hòa của nhóm tác giả (Đoàn Thị Hồng Vân, et al., 2013) “rủi ro được coi là sự bất trắc có thể đo lường được; là tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất; là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, nó có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người nhưng không thể dự đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất ổn định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước” Cũng từ các quan điểm nêu trên, người ta chia rủi ro thành các loại rủi ro thuần túy/ rủi ro suy đoán, rủi ro có thể/ không thể suy đoán:
– Rủi ro thuần túy: là những rủi ro chỉ mang lại những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm như: hỏa hoạn, mất cắp, tai nạn giao thông, tai nạn lao động…;
– Rủi ro suy đoán: là những rủi ro mà trong đó có những cơ hội được tạo ra thuận lợi gắn với những nguy cơ gây ra tổn thất;
– Rủi ro có thể phân tán: là những rủi ro có thể giảm bớt bằng cách đóng góp quỹ chung để chia sẻ rủi ro;
– Rủi ro không thể phân tán: là những rủi ro không thể giảm bớt bằng con đường đóng góp quỹ chung và chia sẻ rủi ro.
Dù theo trường phái nào thì cũng đều thấy rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, an toàn… Khi đó, trong mỗi lĩnh vực cụ thể, ngoài những điểm chung như nêu trên trên thì rủi ro còn mang những đặc điểm riêng của từng ngành, từng lĩnh vực đó.
Điển hình trong một số lĩnh vực:, các loại rủi ro hàng hải có thể gồm: rủi ro do thiên tai/ con người gây ra, rủi ro thông thường được/ không được bảo hiểm, rủi ro dặc biệt (do chiến tranh, đình công, bạo loạn, cướp biển…); trong lĩnh vực ngân hàng, các loại rủi ro có thể gồm: rủi ro về lãi suất, tín dụng, thanh khoản, vận hành, hoạt động…
1.1.1.2. Rủi ro trong lĩnh vực hải quan
Trên cơ sở tài liệu nghiên cứu, khuyến nghị của Hải quan thế giới và một số quốc gia, rủi ro có thể được hiểu là khả năng không tương thích với pháp luật hải quan, là một trạng thái không rõ ràng khi có khả năng xảy ra mất mát, nguy hiểm hay kết quả không mong muốn, phải đối mặt với khả năng xảy ra mất mát, thiệt hại hoặc các tình huống không mong muốn. Cụ thể:
– Theo (Hiệp hội Hải quan Quốc tế, 1999) Rủi ro trong lĩnh vực hải quan là nguy cơ tiềm ẩn của việc không tuân thủ pháp luật hải quan. Theo đó, rủi ro trong lĩnh vực hải quan khác với rủi ro theo nghĩa thông thường, đó là sự không tuân thủ pháp luật hải quan, do hành vi của các tổ chức, cá nhân (có thể thực hiện hoặc không thực hiện) gây ra trong lĩnh vực hải quan.
– Rủi ro là những tác động đến mục tiêu một cách không chắc chắn (Vũ Quốc Bảo, 2016); những tác động này có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến mục tiêu được xác định trước đó. Theo đó, để quản lý rủi ro, ngoài việc quản lý tần suất, hậu quả của những tổn thất (thiệt hại) thì nó còn là phương tiện giúp người quản lý nắm bắt được những cơ hội để đạt được mục tiêu, lợi ích trong hoạt động quản lý.
Ở Việt Nam, theo quy định Luật Hải quan (Nguyễn Sinh Hùng, 2014), rủi ro được giải thích là “nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải”. Với quan niệm này, ngành Hải quan đã tiếp cận sát với tài liệu hướng dẫn Phụ lục tổng quát Công ước của (Hiệp hội Hải quan Quốc tế, 1999), rủi ro gắn với những hành vi không tuân thủ pháp luật hải quan, tác động tiêu cực đến mục tiêu, yêu cầu quản lý của cơ quan Hải quan.
1.1.1.3. Rủi ro trong quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hóa
Trong kinh tế chính trị học Mác-Lênin, hàng hóa là một trong những “phạm trù” cơ bản, nó là sản phẩm của lao động, thông qua trao đổi, mua bán có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của con người. Hàng hóa có thể đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất. Với nghĩa hẹp thì hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được; còn theo nghĩa rộng, nó là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được. Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Rủi ro trong quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hóa là một trong những nội dung nghiệp vụ chính của cơ quan Hải quan. Với nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật Hải quan và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Từ đó cho thấy đối tượng xuyên suốt trong các nhiệm vụ nêu trên chính là hàng hóa xuất nhập khẩu, ngay việc kiểm tra đối với phương tiện vận tải cũng là nhằm quản lý hàng hóa: hàng hóa được chuyên trở trên phương tiện, hàng hóa được các đối tượng cất giấu trên phương tiện, và thậm chí chính phương tiện vận tải cũng là hàng hóa trong một số trường hợp trao đổi, mua bán quốc tế đối với phương tiện vận tải.
1.1.1.4. Quản lý rủi ro
Quản lý khi được xét theo nghĩa riêng của từng từ ngữ, đó là việc trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hoặc tổ chức, điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định (Khuê, 2021). Ngoài ra, nó thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó. Còn theo ý nghĩa học thuật, nó có thể là việc xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định; ở góc độ khác, nó cũng có thể được hiểu là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Khi đó, quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát.
Dù được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau nhưng các quan niệm về quản lý có sự thống nhất chung và theo đó, quản lý chính là sự tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các cách thức nhất định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Mục tiêu có thể đã được xác định trước khi hình thành tổ chức hoặc có thể do người đứng đầu tổ chức xây dựng và giao tổ chức thực hiện hoặc cũng có thể là do các thành viên trong tổ chức cùng thống nhất xây dựng
Trong phạm vi, lĩnh vực hẹp hơn, – lĩnh vực hải quan, quản lý rủi ro có thể được hiểu như sau:
– WCO đã định nghĩa quản lý rủi ro là một hệ thống gắn với việc quản lý các quy chuẩn và nguyên tắc làm việc cung cấp cho cán bộ hải quan các thông tin cần thiết về sự di chuyển của hàng hóa có bao gồm yếu tố rủi ro.
– Tại Việt Nam, trong công tác quản lý nhà nước về hải quan, quản lý rủi ro được xác định là việc cơ quan Hải quan áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả (Nguyễn Sinh Hùng, 2014). Theo đó, nó bao gồm việc thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro; tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp
1.1.1.5. Quản trị rủi ro
Quản trị (Administration) và quản lý (Management) là hai khái niệm dễ gây nhầm lẫn, tuy cùng nói đến công việc của người lãnh đạo khi vận hành một tổ chức cụ thể nào đó. Nếu như quản lý chủ yếu là tiếp nhận, kết nối, thi hành, điều phối các hoạt động để hướng tới mục tiêu thì quản trị là hoạt động quản lý cấp cao hơn, là toàn bộ quá trình đưa ra các quyết định về chính sách, quy tắc, mục tiêu. Xét về mức độ ảnh hưởng, các quyết định quản lý chịu sự ảnh hưởng bởi quyết định, quan điểm của nhà quản lý còn quyết định quản trị chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi cộng đồng, chính phủ, phong tục tập quán…
Nếu như trước đây, người ta cho rằng quản trị rủi ro là tổng hợp các hoạt động hoạch định chiến lược và kế hoạch quản lý rủi ro, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của tổ chức liên quan đến quản lý rủi ro sao cho đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất thi ngày nay, khi tiếp cận theo góc nhìn khoa học, hiện đại, người ta thường quan niệm:
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công (Đoàn Thị Hồng Vân, et al., 2013). Hoặc nếu hiểu theo cách ngắn gọn thì quản trị rủi ro là hoạt động nhằm từng bước giảm thiểu đến mức thấp nhất những chi phí về rủi ro và làm tối đa hóa những lợi ích của rủi ro (Nguyễn Lê Cường & Nguyễn Thị Hoài Lê, 2020).
1.1.2.1. Đặc trưng của rủi ro
Giống như rủi ro chung, rủi ro hàng hóa nhập khẩu có thể đo lường được và có những đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, rủi ro luôn gắn với tần suất có thể xảy ra, tức là số lần rủi ro có khả năng xuất hiện trong một thời gian, một phạm vi lĩnh vực nhất định. Nó được thể hiện bằng xác suất hoặc khả năng xuất hiện của biến cố.
Thứ hai, rủi ro luôn gắn với biên độ, mức độ, thể hiện bằng giá trị của các biến cố hoặc tác động của các biến cố, hay nói cách khác, đó là hậu quả rủi ro, là những thiệt hại, tác động, ảnh hưởng tiêu cực có khả năng xảy ra.
1.1.2.2. Nguồn gốc phát sinh rủi ro
Rủi ro hàng hóa nhập khẩu hay rủi ro trong quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hóa có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân nhưng tựu chung lại, rủi ro này có thể bắt nguồn từ một số yếu tố cơ bản gồm: môi trường, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và yếu tố chủ quan của con người. Cụ thể:
a) Nhóm yếu tố về môi trường:
Xu hướng và mức tăng trưởng hoạt động thương mại quốc tế nếu không tính giai đoạn 2020-2021 bị đình trệ, giảm sút do tác động ảnh hưởng của đại dịch toàn cầu Covid19 thì về cơ bản hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam luôn ở mức cao, gây ra áp lực khối lượng lớn công việc cần xử lý trong bối cảnh cơ quan quản lý có giới hạn các nguồn lực thực hiện kiểm tra hải quan, từ đó có thể gây ra những nguy cơ rủi ro nhất định, làm ảnh hưởng đến mục tiêu cân bằng giữa kiểm soát và tạo thuận lợi thương mại hợp pháp.
Trong đời sống kinh tế-chính trị-xã hội, môi trường tự nhiên là một yếu tố cơ bản có thể phát sinh ra rủi ro. Thiên tai, bão lụt, hạn hạn, động đất… có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng hàng hóa, làm gián đoạn, hư hại hàng hóa trong quá trình kiểm tra khi thực hiện các thủ tục để nhập khẩu. Việc xử lý hậu quả của rủi ro trong trường hợp này là khá phức tap, phụ thuộc nhân tố chủ quan, khách quan của các bên có liên quan. Môi trường chính trị cũng có thể là yếu tố phát sinh rủi ro. Nếu các thể chế, quy định minh bạch, chặt chẽ, phù hợp thực tế thì sẽ tạo nền tảng, môi trường kinh doanh lành mạnh và ngược lại, nếu không đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng, chặt chẽ sẽ tạo ra những kẽ hở để đối tượng lợi dụng, gian lận, vi phạm các quy định trong quản lý hoạt động nhập khẩu, từ đó tất yếu kéo theo các nguy cơ rủi ro trên nhiều chủ thể, đối tượng, lĩnh vực khác. Môi trường kinh tế, kinh doanh trên thực tế cũng có thể có những tác động, gây ra những rủi ro đáng kể như những vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, người nhập khẩu; về đầu cơ, trục lợi hoặc gian lận dựa trên tình hình, diễn biến tỷ giá, lãi suất, tính thời vụ…
Hải quan là một trong những cơ quan thực hiện tốt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, minh bạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Trong đó có sự quan tâm xây dựng nền văn hóa công vụ được biểu hiện qua những triết lý, phương châm, chiến lược, chương trình hành động; biểu tượng; quy trình thủ tục, cách thức thực hiện và đánh giá kết quả thực thi công vụ; trang phục, chuẩn mực ứng xử…đặc trưng của ngành. Ý thức chính trị, sự quyết liệt trong sự chỉ đạo, quản lý, điều hành của Lãnh đạo các cấp, đơn vị có vai trò quyết định mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị, thực thi quản lý nhà nước về hải quan của đơn vị. Nguồn rủi ro có thể phát sinh nếu trong khâu tổ chức thực hiện không đảm bảo theo các yêu cầu đặt ra, nếu thiếu sự giám sát, đôn đốc để kịp thời khắc phục, chấn chỉnh trong quá trình quản trị hoạt động chung của đơn vị.
b) Nhóm yếu tố về chủ thể quản lý:
Tại cấp cơ sở, vai trò của người đứng đầu của đơn vị Hải quan cấp Cục và cấp Chi cục nơi quản lý địa bàn cửa khẩu, nơi thực hiện các thủ tục nhập khẩu, thông quan hàng hóa đóng vai trò quyết định hiệu quả quản lý, quản trị rủi ro. Rủi ro phát sinh nếu năng lực quản lý, quản trị, điều hành đơn vị còn có những hạn chế, bố trí, sắp xếp không phù hợp các lực lượng, công chức nghiệp vụ chuyên trách; thực hiện không hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao; phối hợp thiếu tính chặt chẽ trong nội bộ và giữa Hải quan và các lực lượng, cơ quan chức năng có liên quan tại địa bàn trong quá trình phân công và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Khoa học quản lý giúp tạo điều kiện để hình thành nên tính khách quan, chính xác, có hệ thống trong tổ chức thực hiện công việc nhằm đạt hiệu quả mong muốn nhưng nó cũng có thể trở thành yếu tố phát sinh rủi ro vì những hạn chế của các quy định, quy trình thực hiện thủ tục, kiểm tra, giám sát, áp dụng quản lý, quản trị rủi ro, quy tắc ứng xử, quy chế công vụ; tổ chức bộ máy của lực lượng chuyên trách quản lý, quản trị rủi ro ở các cấp đơn vị.
c) Nhóm yếu tố về đối tượng quản lý:
Năng lực hiểu biết của doanh nghiệp, người khai hải quan đối với các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa, thực hiện các thủ tục, khai báo hải quan, nộp thuế theo quy định là tiền đề quan trọng để họ hoặc tự nguyện, tự giác tuân thủ và khai báo theo quy định. Trường hợp họ không khai báo sẽ dẫn tới phát sinh hành vi vi phạm, hoặc cố tình gian lận, né tránh kiểm tra, kiểm soát của các lực lượng chức năng gây ra những rủi ro cho lĩnh vực quản lý hải quan, rủi ro thất thu thuế nộp Ngân sách nhà nước, rủi ro cạnh tranh không bình đẳng trong thương mại nội địa hàng hóa có nguồn gốc, xuất xứ nước ngoài, rủi ro cho người tiêu dùng khi chất lượng hàng hóa chưa qua kiểm duyệt, kiểm tra chất lượng, kiểm tra theo các điều kiện, tiêu chuẩn của các Bộ, ngành, cơ quan quản lý, ban hành các chính sách quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Ngoài các rủi ro hàng hóa khi là nguyên liệu, công cụ, phương tiện của đối tượng nhằm gian lận, lợi dụng, buôn lậu, trốn thuế… bản thân hàng hóa cũng có thể là nguồn gốc phát sinh rủi ro do các đặc tính của nó về giá trị, thời hạn sử dụng, chế độ bảo quản, chất lượng, mức độ an toàn… Điển hình như những trường hợp hàng hóa vì lý do nào đó dẫn đến sau một thời gian dài tồn đọng tại cửa khẩu, kho bãi, cảng, khu vực giám sát hải quan sẽ bị phân hủy, biến chất gây hại cho môi trường, cho người tiếp xúc, sử dụng chúng; hay chẳng hạn như hàng hóa đông lạnh nhập khẩu không được bảo quản đúng quy định trong quá trình làm thủ tục nhập khẩu (thậm chí do nguyên nhân khách quan – mất điện) cũng sẽ là nguồn rủi ro tương tự như nêu trên.
d) Nhóm yếu tố về tính chủ quan của con người:
Tính chủ quan của con người cũng là một trong những nguồn gốc gây ra rủi ro. Với góc độ người khai hải quan, trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, việc doanh nghiệp giao trách nhiệm đến nhân viên thừa hành hoặc ủy quyền qua đại lý, tổ chức cá nhân khác thực hiện khai báo, làm thủ hải quan để nhập khẩu hàng hóa là những giao kết, thỏa thuận dân sự, kinh tế. Đã có nhiều trường hợp, sự chủ quan, thiếu giám sát những tổ chức, cá nhân này thực hiện công việc giao, ủy quyền đã gây ra những hậu quả rủi ro nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp (ví dụ: lợi dụng được giao chữ ký số để khai báo, làm thủ tục nhập khẩu 1 lô hàng nhưng đối tượng đã sử dụng để khai báo nhập khẩu thêm những lô hàng khác trong đó không khai báo, cất giấu hàng hóa cấm nhập khẩu), ảnh hưởng đến thời gian thông quan hàng hóa, gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do việc khai báo thiếu tính chính xác, đây đủ theo quy định.
Với góc độ thực thi quản lý hải quan, quản trị rủi ro đối với hàng hóa nhập khẩu thì năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức tác nghiệp, khả năng ứng dụng và triển khai thực hiện các quy định, hướng dẫn quyết định mức độ thành công của công tác quản lý, quản trị rủi ro. Lực lượng chuyên trách quản lý, quản trị rủi ro không những cần đáp ứng các yêu cầu nghiệp vụ mà còn là các hạt nhân để tham mưu giúp Lãnh đạo hiểu rõ, quan tâm và áp dụng hiệu quả công tác này tại đơn vị cấp cơ sở. Ngoài ra, phẩm chất, bản lĩnh chính trị, thái độ phục vụ nhân dân trong thực thi công vụ của người cán bộ, công chức là cơ sở quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, tránh được những nguy cơ rủi ro làm sai quy định, gây phiền hà, nhũng nhiễu.
1.1.2.3. Phân loại rủi ro
Căn cứ theo những mục đích, phạm vi và tiêu chí nhất định, người ta có thể phân loại rủi ro với những nhóm loại rủi ro. Các tiêu chí phân loại cơ bản có thể dựa trên tính chất, mức độ của rủi ro; theo các góc độ kinh tế, tài chính; theo cơ chế đánh giá rủi ro; theo nguồn gốc, hậu quả rủi ro…
Theo đó, các rủi ro chủ yếu trong quản lý đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung và hàng nhập khẩu nói riêng bao gồm:
– Rủi ro trong khâu vận chuyển hàng hóa qua biên giới: những rủi ro phát sinh do không phát hiện được hành vi vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới trong tổng số các trường hợp đã hoặc có thể đã thực hiện.
– Rủi ro trong khai báo hải quan: những rủi ro liên quan đến việc người khai hải quan không khai báo hoặc khai báo sai về số lượng, chủng loại hàng hóa, phẩm cấp, chất lượng hàng hóa,… nhằm gian lận thương mại, trốn thuế hoặc né tránh việc kiểm tra của cơ quan Hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan.
– Rủi ro trong thực thi thủ tục hải quan: những rủi ro phát sinh do lỗi vô ý hoặc cố ý của công chức thực thi khi không thực hiện đúng quy trình, quy định hoặc phạm sai lầm, sai sót trong quá trình kiểm tra, thực thi công vụ của mình dẫn tới kẽ hở để đối tượng vi phạm lợi dụng, không tuân thủ pháp luật.
– Rủi ro trong tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của đơn vị: những nguy cơ rủi ro nội bộ và bên ngoài làm ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai thực hiện mục tiêu, kế hoạch, nội dung quy định, hướng dẫn, yêu cầu, chỉ đạo từ cấp trên; làm ảnh hưởng đến mục tiêu cân bằng giữa kiểm soát và tạo thuận lợi thương mại hợp pháp…
Một số vai trò chủ đạo của quản trị rủi ro phải được kể đến đó là:
– Giúp nâng cao khả năng ngăn ngừa và phòng tránh rủi ro, từ đó có thể giúp cơ quan Hải quan điều phối, sử dụng các nguồn lực có giới hạn nhưng đem lại hiệu quả trong bối cảnh bùng nổ các hoạt động, giao dịch thương mại quốc tế những năm gần đây;
– Giúp giảm thiểu, hạn chế các tác động bất lợi, các vấn đề, hậu quả rủi ro phát sinh, từ đó góp phần giúp cơ quan Hải quan thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của mình, giúp người quản lý, điều hành, nhân sự cấp cao của đơn vị đưa ra quyết định đúng đắn và có thể chủ động phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn hoặc có những biện pháp xử lý rủi ro phù hợp;
– Góp phần giảm thiểu chi phí hành chính, chi phí vận hành tổ chức bộ máy để có thể duy trì mục tiêu tạo thuận lợi thương mại cùng với mức độ kiểm soát phù hợp.
– Giúp cơ quan, tổ chức đáp ứng, thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, cam kết quốc tế, mục tiêu, yêu cầu thực hiện từ cơ quan chủ quản, quản lý cấp trên;
Nguyên tắc quản trị rủi ro là tôn chỉ cho hoạt động quản trị của mỗi cơ quan, tổ chức. Trong lĩnh vực hải quan, những nguyên tắc quản trị rủi ro bao gồm những nội dung cơ bản như:
Thứ nhất, hệ thống quản trị rủi ro phải được thiết lập và vận hành phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với những điều kiện hoạt động thực tế của công tác quản lý nhà nước về hải quan, phù hợp với môi trường kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thương mại.
Thứ hai, hệ thống quản trị rủi ro có cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, có cơ chế vận hành thống nhất với quy trình quản trị rủi ro có thể xử lý được các rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động;
Thứ ba, hệ thống quản trị rủi ro được xây dựng đảm bảo khả năng xác định rủi ro, đo lường, theo dõi, báo cáo và xử lý rủi ro có hiệu quả;
Thứ tư, công tác quản trị rủi ro phải được thực hiện độc lập, bộ phận quản trị rủi ro phải được tổ chức tách biệt với các bộ phận tác nghệp khác nhằm đảm bảo tính khách quan, trung thực, thống nhất
Một số nội dung quản trị rủi ro phù hợp với mô hình quản lý hải quan bao gồm những vấn đề cơ bản như sau:
Công tác này bao gồm các hoạt động xác định mục tiêu và phương hướng thực hiện quản trị rủi ro; xây dựng các nội dung, chương trình hành động từ lập kế hoạch, lịch trình hoạt động; đề ra các biện pháp kiểm soát rủi ro đến tổ chức thực hiện quản trị rủi ro, kiểm soát rủi ro (xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí nhận diện, phân loại, đánh giá, áp dụng các công cụ, biện pháp kiểm soát, xử lý rủi ro phù hợp, đánh giá hiệu quả, điều chỉnh biện pháp kiểm soát phù hợp với tình hình thực tế…).
Xây dựng chính sách quản trị rủi ro là một trong những vấn đề đâu tiên cần thực hiện, theo đó, các mục tiêu của việc thực hiện quản trị rủi ro được xác định rõ. Những chính sách này có vai trò như những hướng dẫn hành động trên cơ sở những bộ nguyên tắc, khuôn khổ hành động cũng như những vấn đề cần hạn chế trong tổ chức thực hiện (nếu có). Tùy thuộc mục tiêu ban đầu đặt ra, chính sách quản trị rủi ro có thể có phạm vi mở rộng hoặc thu hẹp, ngắn hạn hoặc dài hạn, chính sách chính, cơ bản hay bổ trợ…Các chính sách quản trị rủi ro hướng tới giảm thiểu hậu quả rủi ro, tạo cơ sở để thực hiện các phương án, biện pháp kiểm soát rủi ro, xử lý rủi ro phù hợp.
Để chính sách quản trị rủi ro có tính khả thi, chúng phải được thực hiện và thường xuyên rà soát để đảm bảo phát hiện sớm các rủi ro trọng yếu, từ đó có thể giúp cơ quan, tổ chức thực hiện kiểm soát đầy đủ, hiệu quả và kịp thời.
a) Xác định và nhận diện rủi ro :
Đây được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động quản trị rủi ro và của nhà quản trị rủi ro. Nó góp phần cảnh báo, giúp họ phải nghiên cứu rủi ro tiềm ẩn, phải đưa ra được các nội dung đánh giá, các quyết định về những vấn đề mà trước đó đã không thực sự được quan tâm đúng mức.
Nhận diện rủi ro cũng chính là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động quản lý của cơ quan, tổ chức. Các yếu tố cần nhận diện bao gồm nguồn rủi ro, các mối hiểm họa, nguy hiểm, đối tượng rủi ro và hậu quả rủi ro.
Việc nhận diện rủi ro thường được thực hiện qua theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động để xác định được các rủi ro đã, đang xảy ra cũng như dự báo tương lai dựa trên những rủi ro đã xảy ra trong quá khứ hoặc mô phỏng rủi ro trong môi trường với các yếu tổ giả lập.
Một số kỹ thuật xác định, nhận diện rủi ro cơ bàn gồm: sử dụng các hệ thống chuyên gia; xây dựng và áp dụng Danh mục rủi ro; phân tích các báo cáo; sử dụng lưu đồ, sơ đồ mô tả; sử dụng bản khảo sát rủi ro, checklist rủi ro trên cơ sở trả lời cho các câu hỏi (loại rủi ro? tình trạng? tổn thất nếu có? tần suất rủi ro? biện pháp phòng ngừa rủi ro?..); nghiên cứu tại chỗ, nghiên cứu hiện trường…
b) Đo lường, phân tích, đánh giá rủi ro :
Mục tiêu của hoạt động này nhằm tìm ra các nguyên nhân rủi ro để từ đó có thể tác động đến các nguyên nhân này, thay đổi chúng và như vậy sẽ kiểm soát được các rủi ro. Trên cơ sở rủi ro đã được nhận diện, nó tiếp tục được đo lường quy mô, ước lượng mức độ nghiêm trọng (trầm trọng, quan trọng, không quan trọng), đo lường hậu quả rủi ro thông qua đánh giá thống kê, kết quả phân tích số liệu dựa trên nền tảng các tiêu chí đánh giá. Phương pháp đo lường rủi ro có thể sử dụng độc lập hoặc kết hợp giữa đo lường định tính và đo lường định lượng để phù hợp với bối cảnh và tình hình thực tế.
Thông thường, người ta hay sử dụng ma trận phân tích 2×2, 3×3, 5×5 của các yếu tố về tần suất rủi ro, hậu quả rủi ro với các thang bậc, mức độ đánh giá chi tiết tương ứng với loại ma trận phân tích như đã nêu trên: cao/ thấp; cao/ trung bình/ thấp ; rất cao/ cao/ trung bình/ thấp/ rất thấp.
Để thực hiện kiểm soát, phòng ngừa cũng như để ứng phó đối với các rủi ro có thể xảy ra, người ta thường sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, chương trình, kế hoạch hành động để ngăn ngừa, né tránh hoặc ít nhất cũng giúp giảm thiểu những tổn thất phát sinh, những tác hại của rủi ro có thể gây ra cho cơ quan, tổ chức. Biện pháp kiểm soát thường được sử dụng bao gồm biện pháp đơn hoặc tổ hợp các biện pháp dưới đây tùy thuộc những hoàn cảnh, đối tượng, tình huống cụ thể:
– Biện pháp phòng tránh, ngăn ngừa, né tránh rủi ro: thực hiện thông qua các hoạt động loại bỏ nguyên nhân gây ra rủi ro hoặc né tránh chủ động từ trước khi xảy ra rủi ro hoặc làm giảm tần suất xuất hiện rủi ro, giảm hậu quả rủi ro thông qua phân tán rủi ro, dự phòng, xây dựng các kế hoạch phòng ngừa rủi ro…
– Biện pháp chuyển giao rủi ro: thực hiện thông qua chuyển các hoạt động, vấn đề có rủi ro đến tổ chức khác có thể thực hiện kiểm soát, xử lý rủi ro hiệu quả hơn, đồng thời giúp chính bản thân nhà quản trị rủi ro tập trung nguồn lực để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ trọng tâm và/ hoặc tập trung kiểm soát những rủi ro đáng quan tâm khác. Việc chuyển giao rủi ro có thể giữa các đơn vị trong ngành Hải quan (một rủi ro có thể được chuyển từ bộ phận Giám sát quản lý sang bộ phận Công nghệ thông tin, hoặc từ bộ phận thủ tục sang bộ phận Kiểm tra sau thông quan) hoặc chuyển giao cho đơn vị ngoài ngành Hải quan, theo đó, có thể chuyển giao rủi ro giữa các bộ phận tác nghiệp, giữa các cấp xử lý nghiệp vụ với nhau hoặc chuyển giao giữa các bộ phận nghiệp vụ thì thường phải có quy định rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bộ phận liên quan đến xử lý rủi ro chuyển giao trong đó vấn đề quan trọng là việc chuyển giao rủi ro không nhất thiết phải là chuyển giao trách nhiệm.
– Biện pháp ngăn ngừa tổn thất: thực hiện thông qua việc tập trung để tác động vào chính mối nguy hiểm, môi trường rủi ro, sự tương tác giữa mối nguy cơ và môi trường rủi ro để hạn chế hoặc ngăn ngừa tổn thất xảy ra.
– Biện pháp chấp nhận/ duy trì rủi ro: việc “chấp nhận”, chịu sự rủi ro có thể là cố ý hoặc không chủ định, khi nhà quản trị nhận thức về rủi ro một cách rõ ràng sẽ giúp họ điều chỉnh phương án hành động, và như vậy, nó đã giúp hạn chế tác động của rủi ro, giúp họ có thể lựa chọn, sử dụng các biện pháp khác có hiệu quả hơn. Đặc biệt khi nguồn lực khan hiếm, trong điều kiện và các biện pháp kiểm soát hiện có thì rủi ro đã được nhận định là được quản lý tốt nhất; hoặc trong những điều kiện không rộng rãi về các nguồn lực tài chính, nguồn lực khác, tác động hoặc hậu quả của rủi ro đã giảm được trong giới hạn cho phép. Như vậy, chấp nhận rủi ro không có nghĩa là không kiểm soát và theo dõi các rủi ro đó mà thay vào đó là các công việc giám sát thông qua các thủ tục vận hành tiêu chuẩn.
– Biện pháp xử lý rủi ro: đây cũng chính là biện pháp thường được cơ quan Hải quan lựa chọn và sử dụng. Khi đó, họ tìm cách giảm khả năng hoặc hậu quả của rủi ro bằng cách áp dụng các biện pháp kiểm soát và tác nghiệp nhằm thay đổi các mức độ rủi ro để phù hợp với khả năng chấp nhận của cơ quan Hải quan trong khuôn khổ quy định, hướng dẫn về công tác áp dụng quản lý rủi ro ngành Hải quan. Tùy thuộc loại rủi ro cụ thể mà sẽ áp dụng phương pháp xử lý phù hợp, trong đó bao gồm tìm kiếm, phòng ngừa và áp dụng các biện pháp thực thi pháp luật. Khi xem xét để quyết định sử dụng các biện pháp xử lý, thay vì chỉ tập trung vào xử lý các biểu hiện của rủi ro đó thì điều quan trọng là việc cần hiểu được nguồn gốc phát sinh rủi ro, từ đó giúp đưa ra được những quyết định chính xác hơn, từ đó có được các biện pháp xử lý mang tính chiến lược và hiệu quả, hoặc có thể phối hợp các biện pháp để giảm thiểu những hậu quả của rủi ro.
– Biện pháp chấm dứt rủi ro: đây là biện pháp tránh rủi ro thông qua việc quyết định tiếp tục / không tiếp tục thực hiện công việc – công việc này có thể sẽ gặp rủi ro và đã đã được xác định từ trước.
Sự phát triển của mỗi, cơ quan, tổ chức đều có sự đóng góp to lớn từ vai trò của nguồn nhân lực bởi suy cho cùng, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên, công nghệ, cơ sở vật chất, vị trí địa lý… cũng chỉ là những khách thể và chịu sự khai thác, cải tạo của của nhân lực, thông qua các hoạt động có ý thức của con người để có thể phát huy tác dụng, khai thác, sử dụng, bảo vệ, tái tạo các nguồn lực này. Hiệu quả của quản trị rủi ro phụ thuộc chất lượng của nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao có trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng, tính năng động, sáng tạo,… để tác động vào toàn bộ các nguồn lực hiện có của cơ quan, tổ chức, gắn kết chúng lại với nhau nhằm phục vụ mục tiêu quản trị, điều hành và phát triển. Ngược lại nếu như trong tổ chức, các thành viên chưa/ không đồng lòng vì mục tiêu chung, vì mục tiêu quản trị đối với các rủi ro hiện hữu, tiềm ẩn trong quá trình hoạt động quản lý, điều hành của tổ chức mình thì tất yếu chất lượng triển khai có những hạn chế nhất định từ các công việc theo chức năng, nhiệm vụ đến tổ chức thực hiện các kế hoạch, chương trình cụ thể. Một số yếu tố có ảnh hướng lớn bao gồm:
– Phẩm chất đạo đức, tác phong, dám nghĩ, dám làm trong công việc, mạnh dạn đổi mới, nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, đặc biệt là thực hiện những phương thức lãnh đạo, quản lý mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn: kỹ năng sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý, lập kế hoạch, ủy quyền, định hướng, hoạch định chính sách, ban hành và tổ chức thực hiện quyết định; tổ chức, truyền cảm hứng, kiểm soát sự thay đổi; quản lý nhân sự, tài chính, kiểm soát rủi ro, kiểm tra; xây dựng, phát triển văn hóa công sở; kỹ năng đối thoại, tiếp công dân và quan hệ với truyền thông…
– Chính sách, quy định về sử dụng, phân bổ nguồn nhân lực, về tuyển dụng, thu hút, đãi ngộ, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật; tạo mối quan hệ thông suốt và thống nhất giữa cấp trên, cấp dưới trên cơ sở sắp xếp nhân sự đúng năng lực, sở trường, khích lệ phát huy năng lực của cá nhân trong tổ chức…
– Bồi dưỡng phẩm chất, bản lĩnh chính trị, trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ, nhân viên tác nghiệp trực tiếp thực hiện công tác quản trị rủi ro;
– Việc đánh giá nguồn nhân lực được thực hiện khách quan, có sự điều chỉnh cơ cấu, tổ chức và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo môi trường làm việc đáp ứng đủ các điều kiện về vật chất, cùng với bầu không khí dân chủ, thân thiện, khích lệ và có kiểm soát.
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo luôn được coi là cơ sở quan trọng hàng đầu cho phát triển bền vững, đặc biệt trước những thách thức đặt ra từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Khoa học công nghệ mới bao gồm cả khoa học quản lý và ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong quản lý có thể trở thành động lực và nền tảng cho phát triển của cơ quan, tổ chức, giúp cơ cấu hợp lý các nguồn lực, tăng năng suất lao động, hiệu quả quản lý nói chung và quản trị rủi ro nói riêng, bao gồm các yếu tố như:
– Cơ sở pháp lý, chính sách, quy định, hướng dẫn về ứng dụng kết quả khoa học công nghệ vào quản lý, điều hành của cơ quan quản lý và ứng dụng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động, có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa;
– Nhận thức về vai trò của nguồn lực công nghệ góp phần tạo ra những thay đổi tích cực trong áp dụng thực tiễn nguồn lực này vào công tác quản trị rủi ro, rút ngắn thời gian xử lý thông tin, kịp thời đưa ra biện pháp kiểm soát rủi ro phù hợp, từ đó có thể nhanh chóng tạo lập sự cân bằng giữa tạo thuận lợi và kiểm soát;
– Cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ứng dụng trong quản lý, quản trị rủi ro đến với mỗi cơ quan, tổ chức khi họ chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả nguồn lực công nghệ và các nguồn lực khác có liên quan để đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, xây dựng, phát triển các kỹ thuật, mô hình quản lý mới.
Khối lượng, kim ngạch nhập khẩu khi được đánh giá theo các yếu tố địa bàn, thời vụ cũng là một trong những thước đo so sánh tương quan với các địa bàn, thời điểm khác nhau. Qua đó, chúng không chỉ có thể cho ta thấy được quy mô hoạt động nhập khẩu mà còn cho thấy rủi ro có thể phát sinh, mức độ tác động của hậu quả nếu rủi ro xảy ra, các biện pháp nghiệp vụ và phân bổ hợp lý các nguồn lực để đảm bảo kiểm soát được rủi ro trong quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hóa trong những khoảng thời gian nhất định, sẽ là áp lực nếu khối lượng hàng hóa nhập khẩu phải kiểm tra lớn hơn khả năng xử lý, nguồn lực hiện có của cơ quan chức năng.
Hàng hóa với các đặc điểm riêng của nó về tính chất vật lý, hóa học, công dụng, tác dụng, giá trị, giá trị sử dụng… cũng có thể tạo ra các rủi ro phát sinh tiêu hao trong lưu giữ, vận chuyển, kiểm tra trong quá trình làm thủ tục nhập khẩu, đặc biệt là nguy cơ phát sinh nếu thời gian lưu giữ kéo dài dẫn đến hư hại, thậm chí gây nguy hiểm, độc hại cho môi trường, cho người tiêu dùng, sử dụng hàng hóa; nó còn có thể kéo theo các rủi ro đối với cơ quan quản lý do những sai sót nhất định của công chức tác nghiệp trong quá trình quản lý hoạt động, thực hiện các thủ tục để nhập khẩu hàng hóa.
Hàng hóa ngoài các đặc điểm riêng có thể là nguồn gốc rủi ro như nêu trên, nó có thể bị các đối tượng lợi dụng để cất giấu hàng hóa khác (thường có thể là hàng hóa thuộc chính sách cấm, tạm ngừng, nhập khẩu có điều kiện, thuộc chính sách quản lý chuyên ngành…), không khai báo hoặc khai báo sai với thực tế để gian lận, né tránh nghĩa vụ nộp thuế, trốn thuế, né tránh hoạt động kiểm tra của các cơ quan chức năng. Những vấn đề trên cũng là những nguồn gốc rủi ro chính của hàng hóa nhập khẩu, của hoạt động nhập khẩu hàng hóa.
Trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa, người khai hải quan vừa có vai trò là chủ sở hữu hoặc có liên quan đến hàng hóa nhập khẩu và vừa có vai trò là người thực hiện các thủ tục hải quan để nhập khẩu hàng hóa. Theo quy định của Luật Hải quan năm 2014, người khai hải quan bao gồm chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải, đại lý làm thủ tục hải quan, người khác được chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải ủy quyền thực hiện thủ tục hải quan.
Việc quản lý, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật hải quan, mức độ rủi ro của người khai hải quan trên cơ sở đánh giá của cơ quan Hải quan giúp nhận diện, phát hiện các nguy cơ rủi ro, dấu hiệu rủi ro, dấu hiệu vi phạm của lô hàng nhập khẩu, người khai hải quan và các tổ chức, cá nhân có liên quan, từ đó phân nhóm để quản lý. Ứng với mỗi kết quả về mức độ đánh giá tuân thủ, đánh giá rủi ro nêu trên, cơ quan Hải quan sẽ áp dụng các biện pháp phù hợp như tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại hợp pháp (tăng tỷ lệ được hưởng miễn kiểm tra hàng hóa nhập khẩu, chuyển từ tiền kiểm sang hận kiểm, hoàn thuế trước – kiểm tra sau…), hoặc tăng cường kiểm tra, kiểm soát, hoặc tiếp tục theo dõi, đánh giá trong chu kỳ, thời gian quản lý cụ thể.
Việc chủ động, tích cực tham gia của doanh nghiệp vào các chương trình, kế hoạch khuyến khích tự nguyện tuân thủ của cơ quan Hải quan có 2 chiều tác động. Doanh nghiệp được tiếp cận đến những chính sách thiết thực, cơ hội được tạo thuận lợi khi tự nguyện đáp ứng các điều kiện đặt ra, được cung cấp thông tin, hỗ trợ nhằm giúp hướng tới có thể đạt mức tuân thủ cao hơn, hạn chế rủi ro nội bộ doanh nghiệp… Về phía cơ quan Hải quan, đây cũng là một trong các biện pháp quản lý, quản trị rủi ro hiệu quả, minh bạch hóa hoạt động quản lý, trợ giúp, hỗ trợ doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ và giúp tập trung các nguồn lực để quản lý những trường hợp tuân thủ thấp hoặc không tuân thủ pháp luật hải quan theo quy định hiện hành.
Các quy trình quy định quản trị rủi ro bao gồm các quy định, điều ước của các tổ chức quốc tế Hải quan ; luật và các văn bản dưới luật do các cấp ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động hải quan nói chung và hoạt động quản rủi ro hải quan cung như quản trị rủi ro hàng hoá nhập khẩu.
Các quy trình quy định quản trị có tác động mạnh đến công tác quản trị rủi ro của mỗi đơn vị hải quan hiện hành, là căn cứ để triển khai hoạt động quản trị rủi ro tại đơn vị. Nếu quy định và quy trình quản trị rủi ro hợp lý sẽ giúp cho các đơn vị hải quan thuận lợi trong công tác quản trị rủi ro và doanh nghiệp cũng thuật lợi trong việc tuân thủ quy trị quản lý rủi ro của Hải Quan.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC ĐÔNG Á\Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ di động mạng Vinaphone tại Đắk Lắk”\THAM KHẢO\New folder/ Mẫu đề cương chi tiết


