Quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai
1. Lý do chọn đề tài
Cách mạng khoa học công nghệ diễn ra từ những năm 50 của thế kỷ XX, cho đến nay được đánh dấu bởi một loạt các cuộc cách mạng kế tiếp nhau như cách mạng công nghệ mới, cách mạng thông tin, cách mạng công nghệ sinh học, cách mạng công nghiệp 4.0 ngày nay đang diễn ra tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội của chúng ta nói chung và quá trình giáo dục nói riêng. Các cuộc cách mạng này đang tạo ra những cơ hội, khả năng to lớn của việc tạo ra sản phẩm cho toàn xã hội, của việc ứng dụng công nghệ- thông tin và truyền thông vào quá trình dạy học, những ứng dụng đã và đang làm thay đổi vị trí của thiết bị dạy học (TBDH). TBDH vừa là công cụ giúp giáo viên chuyển tải thông tin, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, vừa là nguồn tri thức đa dạng và phong phú.
Thiết bị dạy học là một trong những điều kiện cần thiết để giáo viên thực hiện được các nội dung giáo dục, giáo dưỡng và phát triển trí tuệ, khơi dậy tố chất thông minh của học sinh.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai.” để nghiên cứu làm luận văn Thạc sĩ quản lí giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý TBDH ở các trường THCS, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả TBDH tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý TBDH ở trường THCS.
– Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
– Đề xuất các biện pháp quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Phạm vi về đối tượng nghiên cứu
Quản lý TBDH của Hiệu trưởng trường THCS.
5.2. Địa bàn khảo sát
Thành phố Pleiku có 19 trường THCS, trong phạm vi của Đề tài, tác giả chọn xác suất 03 Trường THCS ở trung tâm thành phố Pleiku để nghiên cứu. Cụ thể như sau:
Trường THCS Phạm Hồng Thái, Trường THCS Trần Phú, Trường THCS Nguyễn Huệ (thành phố Pleiku).
5.3. Khách thể khảo sát
| Thành phần | Các trường THCS | Tổng số | ||
| Phạm Hồng Thái | Trần Phú | Nguyễn Huệ | ||
| CBQL | 02 | 02 | 02 | 06 |
| GV | 25 | 23 | 22 | 70 |
| HS | 120 | 80 | 60 | 260 |
5.4. Thời gian khảo sát
Chia làm 03 đợt, cụ thể: Tháng 5, tháng 9 và tháng 11 năm 2018.
6. Giả thuyết khoa học
Quản lý TBDH tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai còn thiếu sự đồng bộ, chưa có được nhiều sự quan tâm và định hướng chỉ đạo của đội ngũ những nhà quản lý.
Nếu sử dụng các biện pháp quản lý tác động đồng bộ đến các khâu trang bị, sử dụng và bảo quản TBDH thì sẽ phát huy được lợi ích của TBDH, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy học.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa các luận điểm lý thuyết về quản lý TBDH ở trường THCS.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất được các biện pháp quản lý TBDH ở trường THCS cho Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
– Để có cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp tăng cường công tác quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá. Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu.
– Tìm hiểu các khái niệm thuật ngữ có liên quan.
– Nghiên cứu các văn bản, Nghị quyết của Đảng, các văn bản của Nhà nước, của ngành giáo dục và đào tạo về công tác quản lý TBDH.
– Nghiên cứu cơ sở lý luận về trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH.
– Các tài liệu khác có liên quan đến đề tài.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp quan sát
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát để thu nhập những số liệu thực tế hiện có của các nhà trường, cụ thể là quan sát một số giờ học có sử dụng TBDH theo hướng phát huy tính tích cực của người dạy và người học; một số giờ học sử dụng TBDH theo phương pháp dạy học truyền thống từ đó so sánh để rút ra những kết luận khoa học.
8.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Để điều tra thực trạng việc quản lý TBDH trong nhà trường THCS, đề tài có một số mẫu phiếu hỏi dành cho các CBQL, giáo viên, nhân viên và học sinh thuộc các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
8.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý mà đề tài đưa ra sau khi nghiên cứu lý luận và thực trạng.
8.2.4. Phương pháp phỏng vấn
Để hiểu thêm những thông tin thu thập được từ các phiếu điều tra, tác giả tiến hành phỏng vấn CBQL một số trường THCS của thành phố Pleiku và một số giáo viên dạy giỏi, có kinh nghiệm trong sử dụng, bảo quản TBDH.
8.2.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Từ nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm quản lý TBDH ở trường THCS Phạm Hồng Thái để nhân rộng ra các trường trên địa bàn thành phố Pleiku thông qua các giải pháp mà đề tài đề xuất.
8.2.6. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:
Nghiên cứu hồ sơ lưu trữ tại các trường về quản lý và sử dụng TBDH.
8.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ
Đề tài sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu: sử dụng các công thức tính số trung bình cộng,… để so sánh, đối chiếu các kết quả nghiên cứu nhằm rút ra những kết luận khoa học cho đề tài.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học ở trường Trung học cơ sở.
Chương 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Pleiku.
Chương 3: Biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên Thế giới
1.1.2. Trong nước
1.2. Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1. Quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.
Ở góc độ quản lý với tư cách là một chức năng xã hội dưới dạng chung nhất thì quản lý được xác định là cơ chế để thực hiện sự tác động có mục đích nhằm đạt được những kết quả nhất định.
Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Nói về sự quản lý K.Marx đã viết: “Tất cả hoạt động lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
1.2.2. Quản lí giáo dục
Theo tác giả Trần Kiểm, ở cấp độ quản lí vi mô: “Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể sinh viên, cha mẹ sinh viên và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”[23].
Từ các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của QLGD, đó là: chủ thể quản lí, đối tượng quản lí, khách thể quản lí và mục tiêu quản lí. Ta có thể biểu diễn bốn yếu tố này bằng sơ đồ sau:
1.2.3. Quản lý nhà trường
Quản lí nhà trường đồng nghĩa với quản lí giáo dục ở cấp độ vi mô, là những tác động quản lí diễn ra trong phạm vi nhà trường.Quản lý nhà trường ở cấp vĩ mô là quản lý của các cơ quan cấp trên, bên ngoài nhà trường đến nhà trường. Quản lý nhà trường ở cấp vi mô là của các nhà quản lý trong trường như: Ban giám hiệu, các tổ trưởng…đến các thành viên trong tổ chức của mình.
Quản lí nhà trường là quản lí hệ thống sư phạm chuyên biệt, tác động có ý thức, có khoa học và có hướng đích của chủ thể quản lí trên tất cả các mặt của đời sống của nhà trường. Quản lí nhà trường thực chất là quản lí lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập, tự giáo dục của trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học; là quản lí tập thể giáo viên và học sinh để chính họ lại quản lí (đối với giáo viên) và tự quản lí (đối với học sinh) trong quá trình dạy – học. Đồng thời, quản lí nhà trường còn bao gồm quản lí các công việc khác như: đội ngũ, tổ chức hoạt động của các đoàn thể trong trường, CSVC, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
TBDH dạy học đóng vai trò là một phương tiện truyền tải nội dung đến cho người học, giúp cho việc truyền thụ kiến thức của người dạy đến cho người học trực quan hơn, nhanh chóng và dễ hiểu hơn.
Là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp các đối tượng vật chất mà GV sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS, đối với HS đó là nguồn cung cấp tri thức, phương tiện giúp lĩnh hội các khái niệm, định luật …
Như vậy TBDH là tất cả những thiết bị máy móc, đồ dùng, phương tiện mà GV và HS sử dụng trong giảng dạy, học tập, thực tập môn học kể cả lý thuyết lẫn thực hành nhằm mục đích hoàn thành nội dung, chương trình đào tạo đề ra.
1.2.5. Quản lý Thiết bị dạy học
Quản lý TBDH là tác động có định hướng của chủ thể quản lý dựa trên đặc điểm TBDH của từng Nhà trường nhằm đảm bảo cho công tác đầu tư mua sắm, bảo quản, khai thác sử dụng TBDH theo .
Áp dụng chức năng quản lý vào công tác quản lý TBDH, ta có thể hiểu quá trình quản lý TBDH là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo việc đầu tư mua sắm, bảo quản, khai thác sử dụng, kiểm tra việc sử dụng TBDH nhằm nâng cao hiệu quả của TBDH phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập đúng mục tiêu đào tạo.
1.3. Thiết bị dạy học trong hoạt động của nhà trường THCS
1.3.1. Vị trí của TBDH trong quá trình dạy học
Trong công tác dạy học, bên cạnh sách giáo khoa, trường lớp, sân bãi…thầy trò còn phải dùng đến loại phương tiện được gọi học cụ, giáo cụ trực quan, đồ dùng dạy học, thiết bị giáo dục. Ngày nay thuật ngữ thiết bị dạy học được coi là đại diện cho các tên gọi trên. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thiết bị dạy học:
Như vậy, có thể hiểu: thiết bị dạy học là hệ thống đối tượng vật chất và tất cả những phương tiện kỹ thuật được giáo viên, sinh viên sử dụng trong quá trình dạy học, nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu dạy học.
1.3.2. Phân loại thiết bị dạy học
TBDH được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
Phân loại theo loại hình: Căn cứ hình thức tồn tại của đối tượng gồm: Mô hình; Mẫu vật; Vật thật; Ấn phẩm; Tài liệu Nghe-Nhìn; Dụng cụ thí nghiệm; Phương tiện kỹ thuật, phương tiện Nghe-Nhìn, máy tính; Phương tiện cơ sở hạ tầng; Hóa chất.
Phân loại theo chức năng: TBDH truyền tải thông tin (chứng minh),TBDH luyện tập (thực hành), TBDH kiểm tra (đối chứng), TBDH hỗ trợ (phương tiện dùng chung), Phân loại theo nguồn gốc xuất xứ hay giá trị:
– Phải đảm bảo các tính chất sau:
+ Tính khoa học: + Tính sư phạm: + Tính thẩm mỹ, khả thi và an toàn: + Tính kinh tế:
* Phân loại theo tính chất
Những phương tiện truyền tin
Những phương tiện mang tin
* Phân loại theo cấu tạo
1.3.3. Yêu cầu đối với TBDH ở trường THCS
a. Thay đổi cách thức tổ chức dạy và cách thức tổ chức học để có được hiệu quả tốt nhất.
b. Thay đổi các điều kiện để phát huy hiệu quả của các phương pháp dạy học hiện hành.
c. Sử dụng công nghệ – kỹ thuật tiên tiến vào dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông.
1.4. Quản lý thiết bị dạy học ở trường THCS
Như phần trên đã trình bày, TBDH có vai trò rất lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở các nhà trường, đặc biệt là đối với các trường THCS. Thêm vào đó hiện nay những tiến bộ khoa học công nghệ thâm nhập ngày càng sâu rộng vào công nghệ dạy học, xuất hiện những phương pháp dạy học mới, những phương tiện kỹ thuật hiện đại được đưa vào giảng dạy đã hỗ trợ cho giáo viên và học sinh giảm được cường độ lao động. Bởi vậy, vấn đề quản lý TBDH như thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng khai thác TBDH luôn là một vấn đề được đặt ra với cấp quản lý giáo dục của các cơ sở đào tạo.
1.4.1. Vai trò của quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở
Công tác quản lý TBDH có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác TBDH ở mỗi nhà trường.
– Công tác quản lý TBDH sẽ giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về trình độ, tốc độ phát triển của TBDH và mức độ ảnh hưởng của nó tới công nghệ dạy học ở trong nước, khu vực và trên Thế giới. Đưa ra các lý thuyết làm cơ sở khoa học cho giáo viên và học sinh khai thác và sử dụng thiết bị một cách hiệu quả.
1.4.2. Quản lý của Hiệu trưởng trường THCS đối với TBDH
1.4.2.1. Quản lý việc mua sắm mới và tự làm thiết bị dạy học
Quản lý việc mua sắm TBDH là quản lý về vốn, cách thức, hiệu quả kế hoạch đầu tư, mua sắm TBDH của nhà trường
1.4.2.2. Quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học
Quản lý sử dụng TBDH là quản lý mục đích, hình thức, cách thức tổ chức và sử dụng TBDH của cán bộ giáo viên ở các trường THCS. Trong quá trình dạy học, việc vận dụng các phương pháp dạy học không thể tách rời với việc sử dụng chúng.
1.4.2.3. Quản lý công tác bảo quản TBDH
Bảo quản TBDH là một việc làm cần thiết, quan trọng trong mỗi nhà trường, nếu không thực hiện tốt công tác bảo quản thì thiết bị dễ bị hư hỏng, mất mát, làm lãng phí tiền của, công sức, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả sử dụng. TBDH phải được sắp đặt khoa học để tiện sử dụng và có các phương tiện bảo quản (tủ, giá, hòm, kệ…), vật che phủ, phương tiện chống ẩm, chống mối mọt, dụng cụ phòng chữa cháy.
1.4.2.4. Quản lý việc kiểm kê, thanh lý tài sản
Theo định kỳ, trong một năm học, Hiệu trưởng nhà trường quyết định thành lập Ban kiểm kê và thanh lý tài sản (thời điểm vào cuối tháng 12 và cuối năm học (tháng 5). Mục đích của việc kiểm kê và thanh lý giúp cho Hiệu trưởng nhà trường nắm bắt kịp thời số thiết bị hiện có (đã, đang hay hư hỏng cần thay thế, sữa chữa) để thanh lý hoặc bổ sung vào sổ tài sản của trường.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thiết bị dạy học trong trường THCS
1.5.1. Yếu tố khách quan
1.5.2. Yếu tố chủ quan
Tiểu kết Chương 1
Trên cơ sở lí luận về quản lý nói chung và quản lý giáo dục, quản lý nhà trường; đồng thời từ việc tổng quan nghiên cứu vấn đề trong và ngoài nước, có thể rút ra nội dung cụ thể của công tác quản lý TBDH ở trường THCS như sau:
Một là, quản lý việc mua sắm TBDH: Phải có kế hoạch trước mắt cũng như lâu dài; tiếp theo là lập dự toán kinh phí cần có để mua sắm TBDH. Khi mua sắm cần để ý đến giá trị sử dụng của thiết bị có đảm bảo yêu cầu sư phạm hay không và có tương xứng với hiệu quả mà nó mang lại hay không.
Hai là, quản lý việc sử dụng TBDH: Phải đúng nguyên tắc, đảm bảo đầy đủ các tính năng, chỉ số kỹ thuật của TBDH; đồng thời phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết đến từng bộ môn, từng giáo viên để tạo tính chủ động tích cực.
Ba là, quản lý công tác bảo quản TBDH: Phải được thực hiện theo quy chế quản lý tài sản của Nhà nước; đồng thời bảo quản theo hướng dẫn của nhà sản xuất và tuân thủ những quy trình chung về bảo quản.
Bốn là, quản lý việc kiểm kê, thanh lý tài sản: Phải được thực hiện theo định kỳ trong một năm học.
Từ kết quả nghiên cứu về lí luận quản lý, quản lý TBDH ở trường THCS, giúp tác giả có thêm cơ sở và phương pháp luận đúng đắn để đề xuất các biện pháp quản lý sử dụng TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
2.1. Khái quát quá trình khảo sát
2.1.1. Mục tiêu khảo sát
Tìm hiểu, phân tích thực trạng trang bị, bảo quản và quả sử dụng TBDH ở các trường THCS trên địa bàn.
Tìm hiểu nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế trong công tác quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn,từ đó xác lập cơ sở thực tiễn cho việc đề ra những biện pháp quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku.
2.1.2. Đối tượng khảo sát
Điều tra thực trạng QL TBDH ở các trường THCS, trên 3 nhóm đối tượng khảo sát, bao gồm: CBQL, GV, nhân viên và học sinh thuộc 03 trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku.
Mẫu khảo sát gồm: 6 CBQL (gồm: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng), 70 giáo viên (gồm: Tổ trưởng và Tổ phó trong các trường, giáo viên, nhân viên) và 260 học sinh tại 03 trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku.
2.1.3. Nội dung khảo sát
Nội dung khảo sát tập trung vào các nội dung sau:
Tiến hành xây dựng 3 loại phiếu hỏi dành cho các đối tượng là học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý (mẫu phiếu hỏi nằm ở phần phụ lục)
– Đánh giá thực trạng TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku.
– Thực trạng công tác quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku.
2.1.4. Phương pháp và công cụ khảo sát
Phương pháp điều tra qua các bộ phiếu khảo sát (cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh) và qua các cuộc phỏng vấn sâu.
Phương pháp điều tra đã được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học.
Xử lý các phiếu điều tra và ý kiến của lãnh đạo, giáo viên, nhân viên phụ trách thiết bị, thư viện và học sinh.
Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn các đối tượng khảo sát về quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku và những ý kiến đề xuất của họ để hiểu sâu hơn những thông tin thu thập được từ các phiếu điều tra.
Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: Hồ sơ mua sắm, sử dụng….thiết bị dạy học.
Các số liệu thu được, tác giả sử dụng phương pháp thống kê để đánh giá, rút ra thực trạng và nguyên nhân của thực trạng quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku.
2.2. Khái quát về đặc điểm Tự nhiên – Xã hội và Giáo dục thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
2.2.1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Gia Lai
2.2.2. Điều kiện Kinh tế- Xã hội thành phố Pleiku
2.2.3.Tổng quan về các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku
2.2.3.1. Khái quát chung về các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku
Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Pleiku có 19 trường THCS (trong đó có 14 trường độc lập, 5 trường có 2 cấp học gồm THCS và Tiểu học) với 387 lớp, có 17.329 học sinh. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên có 866 người gồm có: Cán bộ quản lý 55 người, giáo viên có 732 người (tỷ lệ giáo viên trên lớp là 1,89 người), nhân viên 79 người.
2.2.3.2. Khái quát về khách thể khảo sát
Khách thể khảo sát gồm các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku.
2.3.Thực trạng TBDH ở 3 trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku
2.3.1. Thực trạng cơ sở vật chất ở 3 trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku
2.3.2. Đánh giá mức độ trang bị TBDH
Kết quả điều tra ở 3 trường trên địa bàn thành phố Pleiku trong những năm qua cho thấy TBDH không ngừng được tăng lên. Đảm bảo được ở mức tối thiểu cho dạy và học. Đầu tư thiết bị âm thanh, máy quay và máy ảnh nhằm thực hiện tốt công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp. Thư viện được xem là trung tâm thông tin của trường chứ không thuần tuý là chỗ mượn và đọc sách. Do vậy, ngoài không gian giành cho kho sách, báo chí, không gian cho người đọc còn có máy vi tính kết nối Internet và máy in là nguồn tra cứu thông tin, dữ liệu có hiệu quả cao. Sách và tài liệu đáp ứng nhu cầu dạy và học. Đầu tư máy scanner chấm thi góp phần vào việc đổi mới công tác đánh giá trong thi cử. Tóm lại, Cơ sở vật chất của 3 trường đã được Nhà nước quan tâm đầu tư. Đến nay về cơ bản trường học, phòng học đã được kiên cố hóa, khang trang, không còn phòng học nhờ, học tạm. Đầu tư cơ sở vật chất trường lớp đã tạo điều kiện có thêm nhiều học sinh được học 2 buổi/ngày, thực hiện tốt yêu cầu giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Các điều kiện phục vụ cho dạy học tập gồm cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị dạy học v.v. không ngừng được củng cố, tăng cường và có nhiều chuyển biến tích cực.
2.4. Thực trạng quản lý TBDH ở 3 trường THCS thành phố Pleiku
2.4.1. Thực trạng quản lí việc lập kế hoạch mua sắm, thanh lí trang thiết bị dạy học
Để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng quản lí thiết bị dạy học ở 3 trường Trung học cơ sở bao gồm việc lập kế hoạch mua sắm, thanh lí trang thiết bị dạy học, tôi đã tiếp cận nghiên cứu vấn đề dưới góc độ phân cấp các nội dung trong quản lí thiết bị dạy học của người Hiệu trưởng.
Kết quả khảo sát thực trạng quản lí thiết bị dạy học ở 3 trường Trung học cơ sở được trình bày theo các nội dung sau:Quản lí việc mua sắm trang bị thiết bị dạy học là một phần không thể thiếu trong công tác quản lí thiết bị dạy học. Nếu quản lí việc mua sắm, trang bị thiết bị dạy học được quan tâm đúng mức thì các tổ chuyên môn sẽ chủ động hơn trong việc hoạch định chính sách của mình. Kết quả thực trạng quản lí việc mua sắm trang bị thiết bị dạy học ở 3 trường Trung học cơ sở sẽ được phản ánh cụ thể ở bảng 2.17 dưới đây:
2.4.2. Thực trạng quản lí khai thác sử dụng trang thiết bị dạy học
a. Phân cấp quản lí khai thác TBDH ở 3 trường Trung học cơ sở.
Hàng năm thiết bị dạy học sẽ được kiểm kê tổng quát lại số lượng TBDH một lần. Trong quá trình sử dụng thiết bị dạy học khi xảy ra sự cố, hư hỏng, mất mát các khoa sẽ báo cáo lên. Tổ thiết bị kết hợp với Tổ văn phòng sẽ kiểm tra và đề xuất với Ban giám hiệu cụ thể là Phó hiệu trưởng phụ trách để thống nhất đưa ra phương án xử lí phù hợp.
b. Khảo sát thực trạng quản lí khai thác sử dụng trang thiết bị dạy học
Thiết bị dạy học được đầu tư để đem lại hiệu quả trong công tác giáo dục, nếu không khai thác sử dụng hết chức năng, khai thác sử dụng không hiệu quả thì sẽ đi ngược lại lợi ích mà thiết bị dạy học đem lại, gây ra lãng phí.
Để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng quản lí khai thác sử dụng thiết bị dạy học ở 3 trường Trung học cơ sở, tôi tiến hành khảo sát bằng bảng câu hỏi gửi đến 9 cán bộ quản lí, 20 giáo viên và 120 học sinh các lớp. Kết quả khảo sát thực trạng quản lí khai thác sử dụng thiết bị dạy học ở trường Trung cơ sở được trình bày theo các nội dung bảng 2.19.
2.4.3. Thực trạng quản lí việc bảo quản, duy tu, bảo dưỡng TBDH
Quản lí việc bảo quản, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa TBDH là rất cần thiết để đảm bảo cho các TBDH được làm việc ổn định, lâu dài phục vụ tốt nhất cho công tác Giáo dục và đào tạo của nhà trường, đây là cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch thanh lí các TBDH đã hết hạn sử dụng để mua sắm, trang bị TBDH mới.
2.5. Đánh giá chung
2.5.1. Những ưu điểm
Trong những năm qua, sự nghiệp GD&ĐT thành phố Pleiku nói chung và giáo dục bậc THCS nói riêng đã đạt được những thành tích đáng kể trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Công tác trang bị TBDH đã được các cấp lãnh đạo ngành giáo dục- Đào tạo tỉnh, lãnh đạo UBND thành phố, phòng Giáo dục –Đào tạo thành phố và các trường THCS trên địa bàn quan tâm, đã phát huy được các ưu điểm sau:
– Quy mô, mạng lưới hệ thống trường, lớp ở các cấp học, đặc biệt là bậc THCS cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của con em các dân tộc trên địa bàn thành phố và phù hợp với điều kiện thực tế của từng xã, phường.
– Việc đầu tư xây dựng, trang bị CSVC nói chung và thiết bị dạy học nói riêng phục vụ cho dạy học đã được chú trọng, chương trình kiên cố hoá, hiện đại hoá trường học được chú trọng, số trường đạt chuẩn quốc gia có chiều hướng gia tăng; năm 2017 có 12/19 trường đạt chuẩn quốc gia so với 6/19 trường năm 2012.
– Đội ngũ CBQL, GV các trường có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức lối sống lành mạng, trong sáng, yêu ngành, yêu nghề, gắn bó lâu dài với nghề mình đã chọn; số lượng cơ bản đẩm bảo theo quy định, chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, hiện nay số cán bộ, giáo viên trực tiếp đứng lớp có 100% đạt chuẩn và trên chuẩn, trong đó trên chuẩn đạt 94,1% .
2.5.2. Những hạn chế
– Đội ngũ CBQL, GV còn nhiều bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu (đa số cán bộ, giáo viên vẫn còn tư tưởng dạy vùng trung tâm, các trường thuận lợi, ngại khó ngại công tác ở vùng ven, vùng người dân tộc thiểu số..). Quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát còn lúng túng, hiệu quả thấp. Vẫn còn những hiện tượng tiêu cực trong tuyển sinh, thi, kiểm tra, dạy thêm, học thêm không đúng quy định vẫn còn xảy ra.
– Cơ sở vật chất của nhiều trường còn thiếu và lạc hậu; phòng học, thư viện, nhà vệ sinh chưa đạt chuẩn quy định. Mạng lưới trường học còn nhiều bất cập, chưa hợp lý, một số trường học khu vực trung tâm có số học sinh/lớp, số lớp/trường cao hơn nhiều so với quy định.
– Nguồn kinh phí hằng năm chi cho đầu tư cơ sở vật chất nói chung, thiết bị dạy học nói riêng còn nhiều hạn chế so với nhu cầu của các trường, của ngành đề ra nên việc trang bị TBHD cho các trường THCS còn mang tính bình quân, chưa đi vào trọng tâm, trong điểm, nhu cầu của các trường phục vụ thiết thực cho việc dạy và học.
– Công tác tham mưu của Hiệu trưởng trang bị TBDH đôi lúc chưa kịp thời đối với cấp có thẩm quyền. Mặt khác, cán bộ được phân công trực tiếp làm công tác TBDH chưa thật sự nhạy bén đề xuất mua sắm, sửa chữa, trang bị mới TBDH hàng năm một cách kịp thời
2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên
a. Nguyên nhân khách quan
– Thành phố Pleiku đang trên đà phát triển kinh tế- xã hội, có nhiều thành phần dân tộc sinh sống, trình độ dân trí không đồng đều nên dẫn đến chất lượng công tác giáo dục chưa đồng đều giữa các trường THCS trên địa bàn.
– Cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước đối với các trường THCS trên địa bàn thành phố còn nhiều bất cập. Bên cạnh đó, công tác xã hội hóa GD&ĐT đối với các trường THCS thành phố chưa được quan tâm, cơ chế thực hiện công tác xã hội hóa chưa rõ ràng, còn mang tính ràng buộc về mặt thủ tục giữa tổ chức, cá nhân có lòng hảo tâm với các cơ sở trường học được hưởng lợi từ công tác xã hội hóa.
b. Nguyên nhân chủ quan
– Nhận thức của một bộ phận CBQL, GV về mục đích, ý nghĩa của công tác sử dụng TBDH còn hạn chế nên khi sử dụng không phát huy được hiệu quả trong công tác dạy và học. Bên cạnh đó, Ban giám hiệu một số trường THCS trên địa bàn thành phố chưa quan tâm quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát huy hiệu quả TBDH trong nhà trường.
– Các CBQL, GV chưa tích cực nghiên cứu lý luận để đổi mới quy trình sử dụng TBDH. Chưa tích cực học tập kinh nghiệm, các mô hình hay khi triển khai đến cán bộ, giáo viên, nhân viên. Từ đó dẫn đến nội dung, hình thức tổ chức các phong trào quản lý, sử dụng và làm mới TBDH chưa đạt hiệu quả.
Tiểu kết chương 2
Về thực trạng TBDH: Số lượng TBDH được đa số CBQL, GV và nhân viên đánh giá ở mức “Tạm đủ”. Tuy nhiên, chất lượng TBDH được đánh giá ở mức “Khá”. Đa số CBQL, GV và nhân viên cho rằng tần suất sử dụng TBDH ở mức “Tương đối thường xuyên” và kỹ năng sử dụng TBDH của GV được đánh giá ở mức “Khá”, và hiệu quả sử dụng TBDH cũng được đánh giá ở mức “Khá”. Công tác bảo quản, duy tu, sửa chữa, và bảo trì TBDH khá tốt, được đánh giá ở mức “Khá”.
Qua điều tra thực trạng cho thấy việc trang bị TBDH của các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleikiu chủ yếu dựa vào nguồn Ngân sách nhà nước cấp phát, số lượng còn thiếu. Có TBDH hiện đại nhưng số lượng chưa nhiều. Những biện pháp quản lí TBDH của 3 trường THCS vẫn còn có phần hạn chế, chưa quan tâm thường xuyên, chưa chú ý nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên, chưa tăng cường quản lí việc bảo quản, sử dụng TBDH, chưa chú trọng kiểm tra đánh giá số lượng, chất lượng và sử dụng TBDH.
CHƯƠNG 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ PLEIKU,
TỈNH GIA LAI
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp
3.1.1. Đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp
3.1.3. Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo kết hợp hài hoà các lợi ích
3.1.6. Nguyên tắc đảm bảo tính chuyên môn hoá
3.1.7. Nguyên tắc sử dụng phối hợp các phương pháp quản lý
3.2. Các biện pháp quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku
3.2.1. Nhóm các biện pháp nâng cao nhận thức, thái độ cho GV, NV và HS về ý nghĩa, tầm quan trọng của TBDH trong quá trình dạy học.
Muốn thực hiện tốt công tác quản lý TBDH nhiệm vụ đầu tiên, quan trọng của người Hiệu trưởng là phải làm cho CB, GV, nhân viên và HS trong toàn trường có nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của TBDH và quản lý TBDH; tạo điệu kiện thuận lợi để CB, GV, NV tiếp xúc với hệ thống các văn bản quản lý, chỉ đạo về TBDH của các cấp để phối hợp, thực hiện tốt việc quản lý, sử dụng TBDH trong việc đổi mới PPDH, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
* Biện pháp thứ nhất: Tuyên truyền nhằm nâng cao thái độ, nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên
* Biện pháp thứ hai: Gắn việc sử dụng TBDH với công tác đánh giá giờ dạy, xếp loại thi đua
3.2.2. Nhóm các biện pháp quản lý đầu tư TBDH
Trong quản lý thiết bị dạy học ở các trường phổ thông nói chung, các trường THCS nói riêng, việc quản lý đầu tư, trang bị đóng vai trò rất quan trọng; vấn đề trang bị TBDH là khâu then chốt trong quá trình dạy học, là điều kiện cần để thực hiện việc quản lý TBDH; trong điều kiện hiện nay, khi khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng thì việc sử dụng TBDH cũng phải đầu tư, trang bị mới không ngừng, kéo theo đó là các vấn đề liên quan như nguồn kinh phí, nâng cao vấn đề quản lý…
* Biện pháp thứ nhất: Kiểm kê, khảo sát thực trạng các TBDH đã có để có kế hoạch đầu tư trang bị kịp thời và hiệu quả.
* Biện pháp thứ hai: Thực hiện xã hội hóa các nguồn lực đầu tư cho việc mua sắm trang bị các loại TBDH.
3.2.3. Nhóm biện pháp quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả TBDH tại các trường THCS trên địa bàn thành phố
V ới một nguồn kinh phí được phân bổ hàng năm cho việc trang bị TBDH, thì vấn đề quan trọng đặt ra làm sao phải khai thác, sử dụng tối đa hiệu quả TBDH. Muốn vậy, Hiệu trưởng phải có những biện pháp quản lý việc sử dụng TBDH với phương châm: sử dụng đúng cách, giao trách nhiệm quản lý và sử dụng đúng người; bởi vì TBDH cho dù có được đầu tư mua sắm đầy đủ, hiện đại đến bao nhiêu cũng không thể phát huy hiệu quả, nếu không được sử dụng trong quá trình sư phạm, không thể phát huy được tác dụng như mong muốn, thậm chí có tác dụng ngược lại nếu sử dụng không đúng với mục tiêu, nội dung, PPDH trong nhà trường hiện đại.
* Biện pháp thứ nhất: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc xây dựng kế hoạch sử dụng của các tổ chuyên môn và từng GV.
* Biện pháp thứ hai: Thực hiện sự phân công, phân nhiệm quản lý TBDH.
* Biện pháp thứ ba: Phát động phong trào sử dụng TBDH trong các tổ chuyên môn, GV và HS.
* Biện pháp thứ tư: Tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho CB, GV trong việc sử dụng TBDH, nhất là TBDH hiện đại.
* Biện pháp thứ năm: Thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá việc sử dụng TBDH của GV, NV và HS.
– Biện pháp thứ sáu: Sử dụng tốt TBDH trong công tác giảng dạy, học tập và thi, kiểm tra đánh giá.
*Biện pháp thứ bảy: Khuyến khích CBQL, GV nghiên cứu các tính năng mới của TBDH áp dụng vào công tác giảng dạy.
* Biện pháp thứ tám: Đẩy mạnh việc ứng dụng TBDH vào đổi mới phương pháp giảng dạy.
Cách thức thực hiện biện pháp:
a. Kiểm tra việc sử dụng TBDH của giáo viên.
b. Kiểm tra việc quản lý của nhân viên thiết bị
c. Thực hiện công tác kiểm kê, thanh lý tài sản: Cuối mỗi năm học, Hiệu trưởng ra Quyết định thành lập Hội đồng kiểm kê, thanh lý số TBDH nhà trường có. Qua đó đánh giá được tình trạng và tần suất sử dụng của thiết bị.
d. Kiểm tra việc mua sắm trang bị, việc phát động phong trào tự làm, sưu tầm TBDH.
– Thời gian tổ chức kiểm tra: Định kỳ vào cuối tháng 12, cuối năm học và kiểm tra đột xuất, kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra sử dụng TBDH gắn với kiểm tra nội bộ trường học.
– Thời gian tổ chức kiểm kê, thanh lý: Định kỳ vào cuối năm học và ra thông báo thanh lý tài sản trước khi bắt đầu năm học mới.
– Lực lượng kiểm tra: lãnh đạo trường, các tổ trưởng nhóm trưởng và những giáo viên có kinh nghiệm trong quản lý sử dụng TBDH.
3.2.4. Nhóm các biện pháp tổ chức các điều kiện hỗ trợ
Muốn nâng cao công tác quản lý TBDH đạt hiệu quả, Hiệu Trưởng có những biện pháp tổ chức chỉ đạo, phối hợp hỗ trợ cho công tác quản lý nhằm đạt mục đích cuối cùng TBDH là công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho việc đổi mới nội dung chương trình và PPDH.
* Biện pháp thứ nhất: Xây dựng và ban hành quy chế, quy định quản lý và sử dụng TBDH.
* Biện pháp thứ hai: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý TBDH nhà trường.
* Biện pháp thứ ba: Xây dựng chính sách hỗ trợ và khen thưởng, xử phạt phù hợp trong việc quản lý TBDH.
3.2.5. Nhóm biện pháp thực hiện tốt việc đầu tư mua sắm, trang bị TBDH tại các trường THCS trên địa bàn thành phố
Đầu tư mua sắm, trang bị TBDH là khâu quan trọng trong quá trình khẳng định tầm vóc của Nhà trường. TBDH cũ kỷ lạc hậu, trong khi đó khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng thì việc đầu tư mua mới, trang bị những thiết bị hiện đại để bắt kịp với trình độ sản xuất xã hội là điều cấp thiết phải làm.
Việc đầu tư mua sắm, trang bị TBDH phải có tầm nhìn chiến lược, kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn của các cấp lãnh đạo quản lý, đảm bảo đúng quy trình, quy định của Nhà nước. TBDH được đầu tư mua mới phải đảm bảo tính đồng bộ, hiện đại phù hợp nghề đào tạo, phù hợp với thực tiễn và định hướng phát triển của Nhà trường.
– Biện pháp thứ nhất: Tăng cường thu hút đầu tư, cải thiện chất lượng kế hoạch hoá việc trang bị, mua sắm TBDH.
– Biện pháp thứ hai: Tăng cường quản lý công tác đầu thầu mua sắm TBDH.
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
Kết quả nghiên cứu bước đầu khẳng định tầm quan trọng của các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong việc trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Các biện pháp này có tác động mạnh mẽ đến các nhân tố của quá trình dạy học (giáo viên, học sinh), đặc biệt là tác động đến người giáo viên để hoạt động cung cấp tri thức và học sinh trong hoạt động lĩnh hội tri thức đạt hiệu quả cao nhất. Đồng thời, các bộ phận quản lý hoạt động dạy có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục đích giáo dục đề ra.
3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Để đánh giá sự cấp thiết của các biện pháp đề xuất trên đây, tác giả đã tiến hành khảo nghiệm bằng phương pháp phỏng vấn, điều tra thông qua phiếu xin ý kiến của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy ở 3 trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku.
3.4.1. Quy mô tiến hành
Tổng số người được xin ý kiến: 76 người, trong đó:
Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng: 6 người, giáo viên: 70 người
3.4.2. Nội dung và kỹ thuật tiến hành
Nội dung khảo sát gồm các biện pháp đã đề xuất.
Kỹ thuật tiến hành là sử dụng phiếu hỏi để trưng cầu ý kiến của giáo viên và cán bộ quản lý về mức độ cấp thiết và khả thi của các biện
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm
Tiểu kết Chương 3
Trên cơ sở lý luận về quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH ở trường THCS đã trình bày ở chương 1; Qua khảo sát đánh giá thực trạng công tác quản lý trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai ở chương 2; Từ các căn cứ để đề xuất các biện pháp quản lý TBDH trên cơ sở đảm bảo tính đồng bộ, tính thực tiễn và tính khả thi của các biện pháp, cho phép đề xuất các biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Dựa vào kết quả tổng hợp, phân tích các tài liệu, văn bản có liên quan đến quản lí cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường THCS, có thể xác định: Biện pháp quản lí sử dụng TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku là những cách thức tiến hành của Hiệu trưởng như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc sử dụng, bảo quản TBDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
1.2. Qua nghiên cứu thực tế về các biện pháp quản lý, việc trang bị bảo quản và sử dụng TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, đã khái quát được những ưu điểm, mặt hạn chế trong quá trình quản lý của Hiệu trưởng. Qua điều tra thực trạng cho thấy việc trang bị TBDH của các trường chủ yếu dựa vào nguồn Ngân sách nhà nước cấp phát, số lượng còn thiếu, có TBDH hiện đại nhưng số lượng chưa nhiều.
Những biện pháp quản lí TBDH của các trường trung học cơ sở vẫn còn có phần hạn chế, chưa quan tâm thường xuyên, chưa chú ý nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên, chưa tăng cường quản lí việc bảo quản, sử dụng TBDH, chưa chú trọng kiểm tra đánh giá số lượng chất lượng và sử dụng TBDH hàng năm của nhà trường.
Quản lý việc trang bị, sử dụng và bảo quản TBDH là nhiệm vụ quan trọng trong việc quản lý nhà trường của Hiệu trưởng. Để đào tạo được đội ngũ giáo viên và học sinh sử dụng tốt TBDH trong việc đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học, là yêu cầu cần thiết của ngành giáo dục, đòi hỏi Hiệu trưởng nhà trường phải xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình trong đó có nhiệm vụ quản lý TBDH một cách hiệu quả.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở cụ thể hoá các nội dung trong định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước và mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố. Quản lý, quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học, quản lý cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng dạy học. Kết quả nghiên cứu của đề tài này đóng góp một phần nhỏ vào công tác ứng dụng các lý luận khoa học quản lý giáo dục vào quản lý TBDH trong trường THCS, giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo viên, nhân viên mà trước hết là người Hiệu trưởng có thêm cơ sở lý luận về biện pháp quản lý việc trang bị, sử dụng và bảo quản TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku nhằm đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học.
Qua nghiên cứu, so sánh đối chiếu lý luận và thực tiễn của vấn đề, qua tìm hiểu thực trạng ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Pleiku và đã khẳng định qua kết quả khảo nghiệm về các biện pháp đã được đề xuất thấy rằng các biện pháp trên đều có tính cần thiết và khả thi cao.
2. Khuyến nghị
* Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo,
* Đối với Sở Giáo dục- Đào tạo tỉnh,
* Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố,
* Đối với HT các trường THCS trên địa bàn thành phố,
* Đối với giáo viên,
* Đối với nhân viên thiết bị.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\GIAO DUC HOC\K34 KON TUM\K34 Kon Tum Sau BV\R.Nguyễn Đình Thức


