Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong tác phẩm “Phép dạy học vĩ đại”, Nhà giáo dục học người Tiệp Khắc J. A. Komenski (1592-1679) viết: “Không có gì trong trí não nếu như trước đó không có gì trong các cảm giác”. Ông nhấn mạnh: “Cái có thể tri giác được hãy để cho học sinh tri giác bằng các giác quan của chúng, cái nhìn được hãy để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe. Đó là quy tắc “vàng” đối với trẻ em, đối với dạy học”.

Nhà giáo dục học người Nga Usinski (1824-1870) viết: “Không có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem một bức tranh và giải thích nó, đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm giác nói chung”.

Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan cũng có những bước tiến mới. Người ta đã nhận thức được rằng vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học không chỉ dừng ở việc giúp học sinh nhận biết hiện tượng mà còn nắm được bản chất của sự vật hiện tượng. Một trong những đại diện của tư tưởng này, có thể kể đến nhà tâm lý học A. N. Leontiev (1903-1979), ông là một đại diện xuất sắc thuộc trường phái tâm lý học Xô-viết hiện đại. Trong hệ thống tư tưởng của mình về hoạt động và hoạt động trí óc (bên trong và bên ngoài), Leontiev đã đưa ra quan điểm về cơ sở tâm lý học của nguyên tắc dạy học trực quan.

Đối với các nghiên cứu trong nước có thể nhắc đến Trần Quốc Đắc với cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy-học ở trường phổ thông Việt Nam”. Tác giả khẳng định “Sử dụng hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho học sinh”.

Trong cuốn “Lý luận dạy học ở trường tiểu học”, tác giả Nguyễn Ngọc Bảo và Trần Kiểm viết: “Phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng phương pháp dạy học. Vì vậy, GV cần nắm được khái niệm phương tiện dạy học, các loại phương tiện dạy học, cách sử dụng, bảo quản từng loại phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện dạy học kỹ thuật”. Trong “Quản lý giáo dục” do Trần Minh Hiển chủ biên đề cập đến vai trò của TBDH trong sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại TBDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc cùng giải pháp quản lý TBDH ở trường học trong giai đoạn hiện nay.

Như vậy, điểm qua sự phát triển của lý thuyết về TBDH trong lịch sử giáo dục thế giới và trong nước, có thể thấy rằng vai trò của TBDH trực quan đã được phát hiện và phát triển từ rất sớm. Các nhà giáo dục học đã chứng minh được rằng việc khuyến khích học sinh nhận thức thế giới thông qua chính những giác quan của mình là phương pháp dạy học phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ và do vậy nó là phương pháp hữu hiệu nhất giúp trẻ em phát triển tư duy, nhận biết hiện tượng và tiến tới nắm được bản chất của sự vật hiện tượng.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển GD&ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát triển GD&ĐT phải gắn với nhu cầu phát triển KT-XH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học, công nghệ; phấn đấu trong những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD&ĐT; phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”. Để thực hiện được mục tiêu đó, ngoài việc thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa của các cấp học, bậc học, đổi mới phương pháp giảng dạy trong các nhà trường thì việc tăng cường cơ sở vật chất (CSVC) các trang thiết bị giảng dạy là một vấn đề không thể thiếu.

TBDH vừa là nguồn tri thức, vừa là phương tiện chứa đựng, truyền tải thông tin nhằm tích cực hoá quá trình nhận thức, kích thích hứng thú học tập, phát triển trí tuệ, kỹ năng thực hành của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. TBDH còn góp phần đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học, mở rộng khả năng tiếp cận với các sự vật và hiện tượng, cho phép học sinh có điều kiện tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo.

Thời gian qua, việc khai thác sử dụng TBDH ở các trường tiểu học ở huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng trong việc giữ vững, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của huyện. Song, thực tế công tác này vẫn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế: TBDH còn thiếu, chất lượng chưa đồng bộ; ở nhiều nơi giáo viên chưa chú ý sử dụng thậm chí có nơi giáo viên không biết sử dụng hoặc sử dụng mà không có hiệu quả. Tình trạng “dạy chay” còn khá phổ biến. TBDH phần lớn được sử dụng trong các trường hợp đặc biệt như: thao giảng, hội giảng. Công tác quản lý TBDH của Hiệu trưởng các trường còn mang tính hành chính, chưa có kế hoạch tổng thể; việc mua sắm TBDH chưa đủ về số lượng, thiếu đồng bộ, chất lượng hạn chế; công tác bảo quản còn nhiều bất cập; phòng thí nghiệm, phòng bộ môn, hệ thống tủ, giá… còn thiếu. Trong khi đó việc bảo quản, sử dụng TBDH của giáo viên lại chịu ảnh hưởng nhiều từ những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng. Do đó vấn đề quản lý TBDH hiện nay đang là vấn đề bức xúc, được nhiều nhà quản lý quan tâm.

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi” nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý TBDH trong các nhà trường tiểu học và qua đó nâng cao chất lượng hoạt động dạy học tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận quản lý giáo dục và thực trạng quản lý TBDH tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi, đề xuất các biện pháp quản lý TBDH ở các trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường.

3. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Hệ thống TBDH ở trường tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý TBDH ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi.

3.3. Phạm vi nghiên cứu

– Đề tài tiến hành nghiên cứu tại địa bàn huyện Tư Nghĩa, cụ thể là các trường tiểu học trực thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo Tư Nghĩa.

– Đề tài nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trường tiểu học đối với TBDH tại nhà trường.

– Thực trạng vấn đề nghiên cứu được khảo sát trong giai đoạn 2019-2021. Các biện pháp quản lý được đề xuất cho giai đoạn 2021-2025.

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý TBDH ở trường tiểu học

5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý TBDH ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý TBDH ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi
Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa lý thuyết. Các phương pháp này được sử dụng để xây dựng cơ sở lý luận về quản lý TBDH ở trường tiểu học.

6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Đề tài sử dụng các phương pháp: điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, nghiên cứu hồ sơ lưu trữ, quan sát và chuyên gia.

– Bảng hỏi dùng phiếu điều tra để khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý mà đề tài đưa ra sau khi nghiên cứu lý luận và thực trạng.

– Phỏng vấn để hiểu sâu thêm những thông tin thu thập được từ các phiếu điều tra, tiến hành phỏng vấn CBQL một số trường tiểu học của huyện và một số giáo viên dạy giỏi, có kinh nghiệm trong sử dụng, bảo quản TBDH.

– Nghiên cứu hồ sơ lưu trữ được thực hiện với các loại hồ sơ dạy học và quản lý nhà trường nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng, bảo quản TBDH, đánh giá hiệu quả khai thác, sử dụng TBDH từ phía GV cũng như việc quản lý, bảo dưỡng, bảo trì trang thiết bị dạy học từ phía nhà trường; tổng hợp số liệu, đưa ra đánh giá định lượng ở mức độ tương đối.

– Quan sát để thu thập những số liệu thực tế trong môi trường tự nhiên, cụ thể là quan sát một số giờ học có sử dụng TBDH theo hướng phát huy tính tích cực của người học và một số giờ học sử dụng TBDH theo phương pháp dạy học truyền thống từ đó so sánh để rút ra những kết luận khoa học.

– Phương pháp chuyên gia: được sử dụng trong xây dựng các biện pháp quản lý và khảo nghiệm các biện pháp quản lý đề xuất.

6.3. Nhóm các phương pháp xử lí thông tin

Dùng phương pháp thống kê toán để xử lý kết quả điều tra, khảo sát.

7. Cấu trúc luận văn

– Phần mở đầu: bao gồm các mục: Tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giả thiết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu và phương pháo nghiên cứu.

– Phần nội dung gồm ba chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý TBDH ở trường tiểu học.

+ Chương 2: Thực trạng quản lý TBDH tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi.

+ Chương 3: Biện pháp quản lý TBDH tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi.

– Kết luận và khuyến nghị

– Phụ lục

– Tài liệu tham khảo

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

      1. 1.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước
      2. 1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.2. Các khái niệm chính của đề tài

      1. 1.2.1. Khái niệm quản lý giáo dục

1.2.1.1. Khái niệm Quản lý

Theo lí luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin về quản lí: “Quản lí xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”.

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người trong hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình. Trong quá trình lao động tập thể càng không thể thiếu được kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động… Như vậy quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại.

Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.

Ở góc độ quản lý với tư cách là một chức năng xã hội dưới dạng chung nhất thì quản lý được xác định là cơ chế để thực hiện sự tác động có mục đích nhằm đạt được những kết quả nhất định. Đề cập đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K.Marx: “Một nghệ sĩ vỹ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”

K.Marx coi việc xuất hiện của quản lý như một dạng hoạt động đặc thù của con người được gắn liền với sự phân công và hợp tác lao động; quản lý là kết quả tất yếu của sự chuyển những quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình lao động xã hội được tổ chức lại: “Trong tất cả những công việc mà có nhiều người hợp tác với nhau thì mối liên hệ chung và sự thống nhất của quá trình tất phải biểu hiện ra ở trong một ý chí điều khiển và trong những chức năng không có quan hệ với những công việc bộ phận, mà quan hệ với toàn bộ hoạt động của công xưởng, cũng giống như trường hợp nhạc trưởng của một dàn nhạc vậy. Đó là một thứ lao động sản xuất cần phải được tiến hành trong một phương thức sản xuất có tính chất kết hợp”.

Theo F.W.Taylo (1856-1915) người Mỹ được coi là “Cha đẻ của Thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ”. Ông cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất”

Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống, quản lý là “Phương thức tác động có chủ đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ thống các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt được những mục tiêu dự kiến”.[17]

Theo Harold Koontz – Cyric Odonnell – Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lí” cho rằng “Quản lí là hoạt động đảm bảo sự nỗ lực của cá nhân để đạt được mục tiêu quan trọng điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài liệu, vật liệu, ít nhất và đạt được kết quả cao nhất” [27].

Còn ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý cũng bàn nhiều về khái niệm quản lý.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lí gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lí” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển”… Trong “quản” phải có “lí”, trong “lí” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)” [1].

Theo tác giả Trần Kiểm thì: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [26].

Tuy có nhiều cách diễn đạt khái niệm về quản lí khác nhau nhưng chúng đều có một điểm chung thống nhất như sau: Quản lí là một quá trình tác động có định hướng phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí nhằm khai thác và tận dụng hiệu quả những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lí để đạt được mục tiêu quản lí trong một môi trường luôn biến động, chủ thể quản lí tác động bằng các chế định xã hội, tổ chức về nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất và uy tín, chế độ chính sách đường lối chủ chương trong các phương pháp quản lí và công vụ quản lí để đạt mục tiêu quản lí.

Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau, nhưng có thể nhận thấy chúng đều bao hàm một nghĩa chung, đó là:

– Quản lý là các hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân, đảm bảo hoàn thành các công việc và là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của tập thể.

– Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.

Tóm lại, quản lý là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, những hành vi hoạt động của con người, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích theo ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.

Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm:

– Chủ thể quản lý (Người quản lý, tổ chức quản lý): Đề ra mục tiêu dẫn dắt điều khiển các đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu định sẵn.

– Khách thể quản lý (đối tượng quản lý): Con người (được tổ chức thành một tập thể, một xã hội…), thế giới vô sinh (các trang thiết bị kỹ thuật…), thế giới hữu sinh (vật nuôi, cây trồng…).

– Cơ chế quản lý: Những phương thức mà nhờ đó hoạt động quản lý được thực hiện và quan hệ tương tác qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được vận hành điều chỉnh.

– Mục tiêu chung: Cho cả đối tượng quản lý và chủ thể quản lý, đây là căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các hoạt động quản lý.

Nghiên cứu về bản chất của hoạt động quản lý người ta nhận thấy nó có tính tất yếu khách quan đồng thời có tính tất yếu chủ quan vì được thực hiện bởi người quản lý. Mặt khác nó vừa có tính giai cấp lại vừa có tính kỹ thuật, vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật lại vừa có tính xã hội rộng rãi… chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất, đó là biện chứng, là bản chất của hoạt động quản lý.

Trong quá trình quản lý cần phải đáp ứng ba yêu cầu cơ bản là tính quy hoạch, tính khả thi và tính định lượng, đồng thời phải thực hiện theo các chức năng: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra.

* Về chức năng quản lý: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý, thông qua đó, chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhất định”. [39]

Quản lý gồm 4 chức năng cơ bản:

Lập kế hoạch: là quá trình xác định ra các mục tiêu, những nội dung hoạt động và quyết định phương thức đạt được các mục tiêu đó, trên cơ sở những điều kiện, nguồn lực hiện có. Có 3 loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược nhằm giải quyết mục tiêu chiến lược, kế hoạch chiến thuật để giải quyết mục tiêu chiến thuật và kế hoạch tác nghiệp để giải quyết mục tiêu tác nghiệp. Khi lập kế hoạch, người quản lý phải xác định mình đang cần loại kế hoạch nào, phải biết mình đang ở đâu, có gì, đi tới đâu, bằng cách nào? Nghĩa là phải cân đối giữa hệ thống mục tiêu với nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng; cân đối giữa yêu cầu và khả năng, để chọn ra những phương án tối ưu cho từng mục tiêu một.

Tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả, ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có. Thành công của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và phong cách của chủ thể quản lý, vào việc huy động và sử dụng các nguồn lực, cũng như tạo ra động lực, đặc biệt là năng lực nội sinh của tổ chức. Lập kế hoạch tốt mà tổ chức không tốt, không phân công, phân nhiệm và tạo điều kiện cụ thể thích hợp thì khó đạt đến mục tiêu chung.

Chỉ đạo: là điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ, tạo điều kiện cho những cán bộ dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công. Mỗi người đều có mục tiêu riêng, người quản lý phải biết điều khiển tác động để hướng mục tiêu cá nhân sao cho hoà hợp với mục tiêu chung của tập thể.

Kiểm tra: là quá trình thiết lập và thực hiện các cơ chế thích hợp, theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành sửa chữa, uốn nắn khi cần thiết để đảm bảo được mục tiêu của tổ chức. Để việc kiểm tra có hiệu quả, trước tiên phải xây dựng tiêu chuẩn phù hợp với từng mục tiêu, sau đó xác định, so sánh việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đó và điều chỉnh kịp thời những sai lệch để tất cả các bộ phận, người thực hiện đều hướng về mục tiêu chung của kế hoạch.

Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng qua lại, làm tiền đề cho nhau khi thực hiện hoạt động quản lý. Trong quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa ra các quyết định quản lý.

1.2.1.2. Khái niệm Quản lý giáo dục

Mỗi xã hội, mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể bao giờ cũng có một nền giáo dục tương ứng, trong đó mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phản ánh quy định của hoàn cảnh lịch sử, của toàn xã hội đối với giáo dục. Những tinh hoa văn hóa của loài người, của dân tộc đều được giáo dục chuyển tải tới thế hệ trẻ nhằm giúp họ khả năng tham gia mọi hoạt động xã hội, góp phần cải tiến và phát triển xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về giáo dục đã chỉ rõ: “Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hóa” [29]. Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn, có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế xã hội, là động lực phát triển và là nhân tố quyết định tương lai của mỗi quốc gia. Giáo dục có thể được xem như một hệ thống có tính xã hội khi xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau. Các nhà giáo dục học quan niệm giáo dục như một hệ thống bao gồm các thành tố: Mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp, phương tiện, kết quả giáo dục.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [1].

Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em” [26].

Do mỗi phương thức xã hội đều có một cách quản lý khác nhau, cho nên khái niệm QLGD đã ra đời và hình thành nên từ nhiều quan niệm khác nhau. Ở các nước TBCN, do vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trường học) nên QLGD được coi như một loại “xí nghiệp đặc biệt”. Ở các nước XHCN, do vận dụng quản lý xã hội vào QLGD, nên QLGD thường được xếp trong lĩnh vực quản lý văn hoá tư tưởng như A.Faraxep đã phân chia trong cuốn sách kinh điển nổi tiếng của mình “Con người trong quản lý xã hội”. Như vậy, QLGD được coi là bộ phận nằm trong lĩnh vực quản lý văn hoá tinh thần.

Ở Việt Nam, QLGD cũng là một lĩnh vực được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm: Tác giả Đỗ Hoàng Toàn quan niệm: “QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất lượng”. Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em”.

Những định nghĩa nêu trên về QLGD tuy có những cách diễn đạt khác nhau nhưng đều thể hiện một quan điểm chung, đó là:

– QLGD là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý.

– QLGD là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục tiêu đã đề ra.

Từ những vấn đề trên có thể khái quát như sau: QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD trong việc vận dụng nguyên lí, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học có kế hoạch QTDH theo mục tiêu đào tạo. QLGD có thể xem là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình giáo dục, những hoạt động của cán bộ, GV và HS, sinh viên, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích của nhà QLGD và phù hợp với quy luật khách quan.

1.2.1.3. Khái niệm Quản lý nhà trường

Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác GD&ĐT. Nó chịu sự quản lý trực tiếp của cấp QLGD đồng thời nhà trường cũng là một hệ thống độc lập, tự quản. Việc quản lý nhà trường phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển nhà trường.

Nhà trường là một tổ chức giáo dục mang tính Nhà nước, xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, nó là tế bào cơ sở, là chủ chốt của bất cứ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương. Vì vậy, nhà trường nói chung vẫn là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý, lại vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó quản lý trường học nhất thiết phải vừa có tính chất Nhà nước, vừa có tính chất xã hội.

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhà trường.

Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học QLGD”, tác giả M.I.Kônđacốp đã viết “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội – sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về mặt kinh tế xã hội, tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên”. [24, tr. 316]

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là việc QLGD nói chung) là quản lý hoạt động dạy, học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục”. Cũng theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”. [36]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. [26]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”

Giáo trình QLGD và đào tạo của Trường Cán bộ QLGD Trung ương 2 nêu rằng, quản lý nhà trường bao gồm hai loại tác động: Tác động của những chủ thể quản lý bên trong và bên ngoài nhà trường (là những tác động quản lý của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường, hoặc những chỉ dẫn những quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức hội đồng giáo dục nhằm định hướng phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó); tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường (bao gồm các hoạt động: Quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học – giáo dục, quản lý CSVC trang thiết bị trường học, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng).

Như vậy, quản lý nhà trường chính là QLGD trong phạm vi xác định, đó là nhà trường – đơn vị giáo dục cơ sở. Quản lý nhà trường là quản lý có tính chất chung đó là quản lý quá trình hoạt động được thực hiện trên những nguyên lý, những cơ sở chung của quy luật quản lý, đồng thời quản lý nhà trường có nét riêng mang tính đặc thù của QLGD. Do vậy, quản lý nhà trường cần phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý, QLGD để đẩy mạnh mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng tới mục tiêu đào tạo chung.

Tóm lại: Quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD. Thực chất của quản lý nhà trường, suy cho cùng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ. Là một thiết chế đặc biệt của xã hội nên nhà trường cùng công tác quản lý trường học là vô cùng quan trọng bao gồm sự quản lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường. Người làm công tác quản lý nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành liên hệ chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn.

      1. 1.2.2. Khái niệm TBDH

Theo Lotx.Klinbơ (Đức) thì TBDH là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết cho giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học, cấp học.

Theo các chuyên gia thiết bị giáo dục của Việt Nam, TBDH là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, còn đối với học sinh thì đó là các nguồn tri thức, là các phương tiện giúp học sinh lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa học… hình thành ở các em các kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo phục vụ mục đích dạy học.

TBDH là một bộ phận trong hệ thống CSVC sư phạm, TBDH là tất cả những phương tiện cần thiết được giáo viên và học sinh sử dụng trong hoạt động dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạt động, khám phá và lĩnh hội tri thức của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra.

TBDH bao gồm máy móc, dụng cụ thí nghiệm, mô hình mẫu vật, hoá chất, tranh ảnh, đồ dùng dụng cụ giáo dục thể chất, âm nhạc, mỹ thuật, thiết bị nghe nhìn và các thiết bị trực quan khác. TBDH góp phần giúp học sinh hiểu rõ hơn về bản chất của mọi khái niệm trừu tượng, là cơ sở khoa học minh chứng có sức thuyết phục, là sự vật trực quan sinh động nhất, giúp việc học trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả….

Điều 1 Quy chế thiết bị giáo dục trong trường Mầm non, phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 19/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định: Thiết bị giáo dục bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc, hoạ và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống, nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.

Thiết bị dạy học trong PHBM được chia ra làm 3 phần cơ bản:

– Thiết bị dạy học theo danh mục tốt thiểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

– Thiết bị dạy học hiện đại được trang bị theo yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu của trường.

– Thiết bị dạy học tự làm do giáo viên và học sinh tự sưu tầm và thiết kế trong quá trình dạy và học.

      1. 1.2.3. Quản lý TBDH ở trường tiểu học

1.2.3.1. Khái niệm quản lý thiết bị dạy học

Quản lý TBDH là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống TBDH phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và dạy học. Nội dung TBDH mở rộng đến đâu thì tầm quản lý cũng phải rộng và sâu tương ứng. Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ ra rằng TBDH chỉ phát huy được tác dụng tốt trong việc giáo dục, dạy học khi được quản lý tốt. Do đó, đi đôi với việc đầu tư trang bị, điều quan trọng hơn là phải chú trọng đến việc quản lý TBDH trong nhà trường. TBDH là một lĩnh vực vừa mang tính kinh tế, giáo dục, vừa mang tính khoa học, giáo dục nên việc quản lý một mặt phải tuân thủ các yêu cầu chung về quản lý kinh tế, khoa học mặt khác cần tuân theo các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục. Như vậy, có thể nói TBDH là một trong những công việc của người cán bộ quản lý, là đối tượng quản lý trong nhà trường.

1.2.3.2. Quản lý TBDH ở trường tiểu học

Quản lý TBDH gồm quản lý khâu đầu tư mua sắm TBDH, quản lý khâu sử dụng TBDH và khâu bảo quản, sửa chữa, thanh lý TBDH.

Quản lý đầu tư mua sắm TBDH là quản lý về vốn đầu tư, cách thức, hiệu quả, kế hoạch đầu tư, mua sắm TBDH của nhà trường. Ở các trường tiểu học, các TBDH thực hành đặc biệt đóng vai trò quan trọng. Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, nhà trường phải được trang bị các TBDH theo công nghệ sản xuất mới mà các nước tiên tiến đã có, đồng thời phải có đầy đủ tài liệu mới, cập nhật về công nghệ sản xuất và sử dụng, vận hành và bảo dưỡng các máy móc hiện đại. Các TBDH càng hiện đại, đầy đủ bao nhiêu thì kết quả dạy học càng lớn. Ngược lại, sự khiếm khuyết lạc hậu về CSVC nói chung và TBDH nói riêng càng làm giảm đi kết quả dạy học bấy nhiêu. Hiện tượng phổ biến hiện nay ở các trường tiểu học là các TBDH đã cũ hoặc thiếu đồng bộ, không đảm bảo an toàn cho học sinh trong quá trình học tập.

Quản lý sử dụng TBDH là quản lý mục đích, hình thức, cách thức tổ chức và sử dụng TBDH của cán bộ giáo viên ở các trường tiểu học. Trong quá trình dạy học, việc vận dụng các phương pháp dạy học không thể tách rời với việc sử dụng chúng. TBDH với tư cách là công cụ phục vụ việc chuyển tải thông tin đến người học. Nếu như sử dụng chúng một cách hợp lí, phù hợp với không gian, thời gian và phù hợp với nội dung của mỗi bài giảng thì sẽ kích thích được tâm lí học tập, tính chủ động, tích cực và lòng say mê khoa học của người học, thúc đẩy nhận thức, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh. Lúc này, TBDH sẽ phát huy được hiệu quả của nó. Ngược lại, nếu sử dụng thiết bị một cách tuỳ tiện, chưa có sự chuẩn bị chu đáo sẽ dẫn đến hiệu quả học tập không cao, có khi giáo viên mất nhiều thời gian trên lớp học sinh học tập căng thẳng, mệt mỏi, gây ra những phản ứng ngược làm hạn chế đến hiệu quả của quá trình dạy học.

Chính vì vậy, việc sử dụng TBDH phải đúng nguyên tắc, đồng thời phải đảm bảo đầy đủ các tính năng, chỉ số kĩ thuật của TBDH. Muốn vậy, công tác quản lý TBDH phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết đến từng bộ môn, từng giáo viên và người sử dụng để tạo ra tính chủ động tích cực của mỗi chủ thể.

Do đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH trong quá trình dạy học cần đảm bảo thực hiện những yêu cầu cơ bản sau đây:

– Sử dụng TBDH đúng mục đích.

– Sử dụng TBDH đúng lúc.

– Sử dụng TBDH đúng chỗ.

– Sử dụng TBDH đúng mức độ và cường độ.

Sử dụng TBDH phù hợp với yêu cầu của mỗi tiết lên lớp và trình độ tiếp thu kiến thức của học sinh. Nếu sử dụng quá nhiều một loại hình TBDH trong một tiết học sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giờ lên lớp, học sinh sẽ chán nản, kém tập trung và như vậy chất lượng dạy học cũng sẽ không đạt kết quả như mong muốn. Giáo viên cần nghiên cứu, cân nhắc kỹ nội dung SGK môn học. Căn cứ vào số TBDH được trang bị và tự làm mà định ra kế hoạch sử dụng cụ thể các loại hình TBDH đã có sao cho mỗi chủng loại đều được phát huy tốt tác dụng của nó và nâng cao hiệu quả sử dụng trong quá trình dạy học.

Theo lý luận dạy học thì chức năng cơ bản của TBDH trong quá trình dạy học thể hiện ở những điểm sau:

– Sử dụng TBDH đảm bảo đầy đủ, chính xác thông tin về các hiện tượng, đối tượng nghiên cứu, do đó nâng cao được chất lượng dạy học.

– Sử dụng TBDH nâng cao được tính trực quan, cơ sở của tư duy trừu tượng, mở rộng khả năng tiếp cận với các đối tượng và hiện tượng.

– Sử dụng TBDH giúp tăng tính hấp dẫn, kích thích ham muốn học tập, phát triển hứng thú nhận thức của học sinh, gắn bài học với đời sống thực tế, học gắn với hành, nhà trường gắn với xã hội.

– Sử dụng TBDH giúp gia tăng cường độ lao động, học tập của học sinh và do đó cho phép nâng cao nhịp độ nghiên cứu tài liệu giáo khoa, cho phép học sinh có điều kiện chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo (tự nghiên cứu tài liệu, tự lắp ráp thí nghiệm, làm thí nghiệm…)

– Sử dụng TBDH giúp hợp lý hoá quá trình dạy học, tiết kiệm được thời gian để mô tả, giúp học sinh hình thành nhân cách, thế giới quan, nhân sinh quan, rèn luyện tác phong làm việc khoa học.

1.3. Những yêu cầu đổi mới TBDH ở trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay

      1. 1.3.1. Những định hướng đổi mới giáo dục TH trong giai đoạn hiện nay

Hiện nay, khoa học công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế – xã hội, mà nền tảng của sự phát triển này là giáo dục – đào tạo. Khi hoạch định phát triển kinh tế, nhiều nước đã đặt giáo dục vào vị trí trung tâm, coi giáo dục là điều kiện phát triển kinh tế. Chính vì thế, các nước này đã có những bước tiến dài trong phát triển kinh tế – xã hội.

Đảng ta cũng đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục – đào tạo. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, đường lối quan điểm của Đảng ta về giáo dục – đào tạo đã có những bước tiến mới. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 7-1996) đã xác định: “Giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu”.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4-2001) Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục – đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Đảng thể hiện sự quyết tâm về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh thế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết có mục tiêu: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”. 

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.

Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”. Đó mới thực sự là cái đích hướng tới vĩnh viễn của quá trình giáo dục.

Đối với Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, theo thứ trưởng Nguyễn Minh Hiển, việc đổi mới giáo dục là chuyển từ coi trọng trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất năng lực trên cơ sở trang bị kiến thức. Trước đây, chương trình cũ chưa đáp ứng tốt yêu cầu về hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; khi thực hiện lại chủ yếu quan tâm định hướng về mặt nội dung; không đặt ra yêu cầu cụ thể cần đạt được về phẩm chất và năng lực trong từng cấp học. Chương trình giáo dục cấp TH nhằm giúp học sinh duy trì và nâng cao các yêu cầu về phẩm chất, năng lực đã hình thành ở cấp tiểu học; tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội; hình thành năng lực tự học, hoàn chỉnh tri thức phổ thông nền tảng để tiếp tục học lên THPT, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động. Chú trọng hơn việc rèn luyện cho học sinh năng động, có tư duy độc lập, có khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề, hợp tác làm việc theo nhóm… Về mặt thiết kế chương trình, ngoài những môn học tiếp tục được phát huy, còn có yêu cầu tăng cường hoạt động xã hội của học sinh. Đó là hoạt động trải nghiệm sáng tạo, được thiết kế một cách khoa học, phong phú hơn về nội dung và hình thức tổ chức hoạt động, phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực hiện. Coi trọng việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, phù hợp với đặc trưng nội dung môn học và điều kiện dạy học. Với chương trình mới, hình thức, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá phong phú hơn, theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học. Học sinh không chỉ ngồi suy nghĩ trong lớp học mà còn ở ngoài lớp, ở gia đình, tại các di tích, danh lam thắng cảnh… Đánh giá học sinh không chỉ dựa trên kiến thức các em học được bao nhiêu mà là việc vận dụng kiến thức đó như thế nào. Từ đó thay đổi cách thức ra đề thi, giúp học sinh thích học, có hứng thú hơn với học tập.

Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học đã trở thành một yêu cầu bắt buộc. Theo đó, người dạy cần căn cứ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.

Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã quy định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

      1. 1.3.2. Những yêu cầu đối với TBDH trường tiểu học

Để thực hiện được mục tiêu trên, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, quyết sách lớn đầu tư cho chiến lược phát triển GD&ĐT nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT, đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Nhà nước đã xây dựng bốn chương trình Quốc gia:

1. Đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa.

2. Đổi mới phương pháp dạy học.

3. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.

4. Nâng cấp CSVC, TBDH.

Đổi mới giáo dục phổ thông là quy luật phát triển tất yếu của dạy học, bắt nguồn từ việc đổi mới quan niệm về dạy học: dạy học không chỉ tập trung vào nội dung (tức là chỉ lo dạy “cái gì”) mà còn tập trung hình thành phương pháp học tập, tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề thuộc phạm vi bài học để tự chiếm lĩnh kiến thức mới; giáo viên đóng vai trò tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện để học sinh chủ động, tự lực, sáng tạo chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng mới, kế thừa có chọn lọc một cách sáng tạo các phương pháp dạy học truyền thống, bổ sung các phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học, đồ dùng dạy học, thiết bị thí nghiệm…

Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện CSVC và phương tiện dạy học ngày càng hiện đại, có tác dụng gây hứng thú học tập cho HS, giúp họ lĩnh hội nhanh và dễ dàng hơn những tri thức và vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, phương tiện dạy học mới, hiện đại sẽ làm giảm cường độ lao động của giáo viên về mặt truyền đạt thông tin để tập trung thời gian suy nghĩ hướng dẫn, tổ chức học sinh lĩnh hội và vận dụng tri thức, tìm tòi các biện pháp mới để dạy cho các em cách học tập có hiệu quả nhất. Việc tăng cường trang bị những phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện kĩ thuật không có nghĩa là hạ thấp trình độ nghiệp vụ của người GV, lại càng không có nghĩa thay thế người GV, trái lại càng đòi hỏi trình độ nghề nghiệp của họ phải cao. Thực tiễn dạy học đã khẳng định, với việc trang bị những phương tiện dạy học hiện đại mà trình độ nghiệp vụ của GV thấp hiệu quả dạy học không những không tăng mà còn giảm nghiêm trọng.

Nhân tố TBDH là điều kiện quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục phổ thông. Các em không chỉ được rèn luyện kĩ năng thực hành mà còn được quan sát, nhận xét, tranh luận những vấn đề nảy sinh trong thực tế. Chính nhờ đó, khắc phục được những thói quen xấu cho học sinh trong học tập như: thụ động, ỉ lại, tiếp thu một chiều… Hoạt động dạy học gắn với TBDH không chỉ tác động tích cực đến học sinh về khả năng tư duy, sáng tạo mà ngay cả giáo viên trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cũng được nâng cao. Khi tiếp xúc với công nghệ thông tin và sử dụng thiết bị dạy học nhiều lần, chính bản thân giáo viên sẽ gắn bó với bài giảng, hứng thú với việc thiết kế bài giảng điện tử, không ngại làm thí nghiệm. Đối với thí nghiệm khó, giáo viên còn có thể dùng công nghệ thông tin để mô phỏng lại… qua đó tự bồi dưỡng được chuyên môn.

Hiện nay, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 38/2021/TT-BGD&ĐT ngày 30/12/2021 về danh mục dạy học tối thiểu cấp TH. Theo đó, danh mục TBDH tối thiểu dành cho cấp TH bao gồm TBDH các môn học, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và thiết bị dùng chung. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14 tháng 02 năm 2022, thay thế Thông tư số 44/2020/TT-BGDĐT ngày 03 tháng 11 năm 2020 và Thông tư số 19/2009/TT-BGDĐT ngày 11 tháng 8 năm 2009 theo lộ trình như sau:

– Thay thế Danh mục thiết bị dạy học lớp 7 từ năm học 2022 – 2023;

– Thay thế Danh mục thiết bị dạy học lớp 8 từ năm học 2023 – 2024;

– Thay thế Danh mục thiết bị dạy học lớp 9 từ năm học 2024 – 2025.

1.4. Quản lý TBDH ở trường tiểu học

      1. 1.4.1. Quản lý khâu lựa chọn, mua sắm, trang bị, tự trang bị TBDH

Xuất phát từ nội dung, chương trình và kế hoạch giảng dạy đối với từng môn học, lớp học và đồng thời dựa trên cơ sở các danh mục về TBDH do Bộ Giáo dục ban hành; Công tác quản lý nhà trường cần kiểm kê và lập kế hoạch mua sắm các TBDH (cái gì đã có, cái gì thiếu, cái gì đã lạc hậu cần thanh lý, phải mua cái gì và với số lượng như thế nào, nguồn tài chính ở đâu, thời gian thực hiện và các biện pháp quản lý cần thiết).

Cập nhật thông tin về nội dung, chương trình và kế hoạch dạy học; đồng thời cập nhật các thông tin về TBDH mới để thường xuyên có kế hoạch bổ sung theo hướng chuẩn hoá và hiện đại hoá.

Quản lý đầu tư mua sắm TBDH là quản lý về vốn đầu tư, cách thức, hiệu quả, kế hoạch đầu tư, mua sắm TBDH của nhà trường. Ở các trường tiểu học, các TBDH thực hành đặc biệt đóng vai trò quan trọng. Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, nhà trường phải được trang bị các TBDH theo công nghệ sản xuất mới mà các nước tiên tiến đã có, đồng thời phải có đầy đủ tài liệu mới, cập nhật về công nghệ sản xuất và sử dụng, vận hành và bảo dưỡng các máy móc hiện đại. Các TBDH càng hiện đại, đầy đủ bao nhiêu thì kết quả dạy học càng lớn. Ngược lại, sự khiếm khuyết lạc hậu về CSVC nói chung và TBDH nói riêng càng làm giảm đi kết quả dạy học bấy nhiêu. Hiện tượng phổ biến hiện nay ở các trường tiểu học là các TBDH đã cũ hoặc thiếu đồng bộ, không đảm bảo an toàn cho học sinh trong quá trình học tập.

Vì vậy, để quản lý tốt việc mua sắm TBDH, ngay từ đầu năm học Hiệu trưởng phải xây dựng kế hoạch trang bị CSVC nói chung và thiết bị dạy học nói riêng trước mắt cũng như lâu dài cho nhà trường bằng các nguồn khác nhau: ngân sách nhà nước, nhân dân đóng góp, giáo viên và học sinh tự làm… Cần thành lập ban CSVC và TBDH, ban này gồm một Hiệu phó hoặc trực tiếp Hiệu trưởng phụ trách, cùng với cán bộ thư viện, thiết bị và các tổ trưởng chuyên môn. Cán bộ phụ trách thiết bị, thư viện giúp Hiệu trưởng hệ thống lại thực trạng TBDH hiện có của nhà trường; số lượng, chủng loại thiết bị được đầu tư, số cần mua sắm bổ sung, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên: rất cần thiết, cần thiết, chưa cần thiết; từ đó lập dự toán kinh phí cần có để mua sắm bổ sung TBDH. Hiệu trưởng xem xét khả năng kinh phí của nhà trường có thể đầu tư, kinh phí hỗ trợ từ các nguồn để quyết định mua sắm trang bị bổ sung TBDH phù hợp.

Khi mua sắm cần để ý đến giá trị sử dụng của TBDH, TBDH có thể đơn giản hay hiện đại nhưng qua sử dụng nó phải cho kết quả khoa học, đảm bảo yêu cầu về mặt mỹ quan sư phạm, an toàn và có giá cả hợp lý, tương xứng với hiệu quả mà nó mang lại.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\SỬA SAU BẢO VỆ LV SƯ PHẠM\Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học

Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *