Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. Để thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của thế giới đòi hỏi mỗi công dân phải có trình độ học vấn, có khả năng xử lý, tiếp cận, nắm bắt thông tin và phải biết ít nhất một ngoại ngữ-một trong những phương tiện giao tiếp có hiệu quả trong nền văn minh kỹ thuật số.

Trong bối cảnh đó, để Việt Nam phát triển một cách kịp thời, bền vững theo xu thế chung của thế giới. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI ( Nghị quyết số 29-NQ/TW) Đảng và Nhà nước đã xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng , hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc có hiệu quả”.

Quán triệt những quan điểm chỉ đạo và định hướng đổi mới được thể hiện trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước, nhận thức được tầm quan trọng của ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh- điều kiện tiên quyết của quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. Vì vậy ngày 30 tháng 8 năm 2008 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án ” Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020″ theo đó đề án đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa, biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chính vì thế việc dạy và học ngoại ngữ ở các trường trung học cơ sở là vô cùng quan trọng, trong đó tiếng Anh đang là ngoại ngữ được dạy nhiều nhất trong các trường THCS hiện nay. Việc dạy tiếng Anh trong các trường trung học cơ sở giúp cho các em củng cố, phát triển kiến thức được trang bị ở tiểu học, làm nền tảng cho các cấp học cao hơn, và đặc biệt giúp các em có kiến thức, khả năng tiếp cận với các môn khoa học khác như Toán, Lý, Hóa, Tin học …… bằng tiếng Anh.

Tuy nhiên hiện nay việc quản lý dạy học tiếng Anh tại các trường THCS ở huyện Gia Lâm trong quá trình thực hiện còn bộc lộ nhiều thiếu sót, hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay.

Xuất phát từ việc nhận thức được vai trò của quản lý dạy học trong việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh, đòi hỏi mỗi nhà quản lý cần có những biện pháp quản lý hiệu quả. Vì vậy việc đề ra những biện pháp quản lý phù hợp, mang tính khả thi đối với hoạt động dạy học tiếng Anh trong trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là cần thiết và cấp thiết.

Với những lý do trên, đề tài: ” Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đáp ứng chương trình GDPT 2018″ được chọn nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng dạy học tiếng Anh ở các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, đề xuất một số biện pháp quản lý dạy học tiếng Anh ở trường THCS nhằm đáp ứng tốt hơn chương trình GDPT 2018 góp phần nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Anh ở các trường THCS của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường THCS

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đáp ứng chương trình GDPT năm 2018

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường THCS đáp ứng chương trình GDPT 2018.

5.2. Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đáp ứng chương trình GDPT 2018.

5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đáp ứng chương trình GDPT 2018..

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

6.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu việc quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS.

6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Các trường THCS trong huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

6.3. Giới hạn khách thể khảo sát

250 khách thể bao gồm:

– 20 hiệu trưởng của 20 trường THCS

– 20 hiệu phó phụ trách chuyên môn

– 20 trưởng bộ môn ngoại ngữ của các trường

– 40 giáo viên dạy ngoại ngữ của các trường.

– 150 học sinh THCS

7. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS đáp ứng chương trình GDPT 2018.

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm
Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1. Điều tra

Thiết kế các phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin về vấn đề được nghiên cứu.

7.2.2. Quan sát

Dự giờ các giờ dạy tiếng Anh để nắm bắt thực trạng dạy học tiếng Anh hiện nay

7.2.3. Phỏng vấn

Trao đổi, hỏi trực tiếp giáo viên, học sinh và những người có liên quan đến hoạt động dạy học môn tiếng Anh

7.2.4. Tổng kết kinh nghiệm

Tiến hành xem xét, phân tích thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS huyện Gia Lâm để tổng kết kinh nghiệm nhằm rút ra những mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS.

7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng các công thức toán thống kê như số trung bình cộng, hệ số tương quan để xử lý kết quả nghiên cứu, trên cơ cở đó rút ra các nhận xét khoa học.

8. Cấu trúc luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS đáp ứng chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đáp ứng chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Chương 3: Biện pháp quản lý dạy hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đáp ứng chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

    1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2.Những vấn đề lý luận về hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường Trung học cơ sở đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.2.1. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và môn tiếng Anh trong chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.2.1.1. Chương trình giáo dục phổ thông

Chương trình giáo dục phổ thông 2018, ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đánh dấu một bước chuyển đổi quan trọng trong việc định hướng giáo dục Việt Nam theo hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực cho học sinh. Chương trình mới này chú trọng phát triển các kỹ năng thiết yếu và phẩm chất tốt đẹp cho học sinh, nhằm chuẩn bị cho họ trở thành những công dân toàn cầu có trách nhiệm và khả năng hội nhập.

Theo Điều 3 của Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, chương trình giáo dục phổ thông được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (lớp 1-9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (lớp 10-12). Giai đoạn giáo dục cơ bản giúp học sinh hình thành nền tảng tri thức và kỹ năng cơ bản, tập trung phát triển ba phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, cũng như các năng lực tự chủ, hợp tác, giao tiếp, sáng tạo và sử dụng công nghệ thông tin. Trong khi đó, giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng lực chuyên sâu theo hướng nghề nghiệp mà các em lựa chọn, từ đó tạo nền tảng tốt cho tương lai học tập và làm việc.

Chương trình này đặt ra yêu cầu cao đối với giáo viên trong việc chuyển đổi phương pháp giảng dạy. Theo Điều 16 của Thông tư, các phương pháp dạy học cần phải được đổi mới để hướng tới việc phát triển năng lực cho học sinh, thay vì chỉ truyền đạt kiến thức đơn thuần. Giáo viên phải tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự chủ động và sáng tạo của học sinh trong học tập, từ đó giúp các em phát triển khả năng tư duy độc lập và có thái độ tích cực đối với học tập.

Điều này được hỗ trợ bởi các nội dung giảng dạy có tính tích hợp và liên môn cao, giúp học sinh không chỉ hiểu sâu hơn về từng môn học riêng lẻ mà còn biết cách kết nối kiến thức từ các môn học khác nhau. Bằng cách đó, học sinh sẽ dần xây dựng được một hệ thống kiến thức toàn diện và có khả năng vận dụng linh hoạt vào đời sống.

        1. Môn Ngoại ngữ (Tiếng Anh) ở trường THCS trong chương trình giáo dục phổ thông 2018

Môn Ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, được quy định trong Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT. Từ bậc trung học cơ sở (THCS), môn tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và phát triển năng lực giao tiếp của học sinh. Mục tiêu chính của môn tiếng Anh trong chương trình giáo dục phổ thông mới là giúp học sinh có khả năng giao tiếp cơ bản, tăng cường hiểu biết về các nền văn hóa khác và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ nghe, nói, đọc và viết.

Theo mục 2.2 phần chương trình giáo dục phổ thông chương trình môn tiếng anh của Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, việc giảng dạy tiếng Anh tại các trường học nhằm trang bị cho học sinh một công cụ giao tiếp quốc tế, giúp họ mở rộng tầm nhìn và hiểu biết văn hóa. Tiếng Anh không chỉ là một môn học ngôn ngữ mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện của học sinh. Môn học này được thiết kế để khuyến khích học sinh rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ một cách tích cực và chủ động thông qua các hoạt động học tập như thảo luận nhóm, làm việc dự án và trình bày ý tưởng trước lớp.

Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn tiếng Anh được chia làm ba cấp độ từ cơ bản đến nâng cao, phù hợp với trình độ và năng lực học tập của từng nhóm đối tượng học sinh. Đối với học sinh có năng lực ngôn ngữ tốt hơn, chương trình còn khuyến khích việc học tiếng Anh ở mức độ cao hơn, giúp các em phát triển các kỹ năng ngôn ngữ chuyên sâu để chuẩn bị cho việc học tập hoặc làm việc trong môi trường quốc tế sau này. Điều này không chỉ giúp học sinh có nền tảng ngôn ngữ vững chắc mà còn thúc đẩy họ phát triển tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và kỹ năng tự học, một trong những yêu cầu quan trọng đối với dạy học tiếng Anh trong chương trình mới là đổi mới phương pháp dạy học. Giáo viên được khuyến khích sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, bao gồm việc áp dụng công nghệ thông tin, sử dụng các công cụ học tập trực tuyến, và các tài nguyên đa phương tiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiếp cận ngôn ngữ một cách tự nhiên. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả dạy và học mà còn giúp học sinh có thêm động lực học tập.

Bên cạnh đó, việc đánh giá học sinh trong môn tiếng Anh cũng được cải tiến. Không chỉ đánh giá qua các bài kiểm tra định kỳ mà còn chú trọng đánh giá qua các hoạt động học tập thường xuyên, bài tập nhóm và các sản phẩm học tập như dự án và bài thuyết trình. Điều này giúp giáo viên có thể đánh giá toàn diện hơn về năng lực ngôn ngữ của học sinh, bao gồm cả các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, giao tiếp và tư duy sáng tạo.

Ngoài ra, môn tiếng Anh còn được kết nối với các môn học khác và các hoạt động ngoại khóa để tạo điều kiện cho học sinh có thêm cơ hội thực hành ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế. Ví dụ, tiếng Anh có thể được tích hợp trong các hoạt động khoa học, văn hóa hoặc thể thao, giúp học sinh phát triển khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên và linh hoạt.

Tóm lại, chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã đưa môn tiếng Anh trở thành một công cụ học tập và giao tiếp quan trọng, góp phần phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện của học sinh. Việc học tiếng Anh từ sớm không chỉ giúp học sinh nâng cao kỹ năng giao tiếp, mà còn trang bị cho các em khả năng tư duy và mở rộng kiến thức văn hóa quốc tế, giúp họ sẵn sàng hòa nhập với thế giới. Chương trình này khuyến khích một phương pháp dạy học đổi mới, chú trọng phát triển kỹ năng ngôn ngữ toàn diện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội và góp phần vào mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

1.2.2. Hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường Trung học cơ sở đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.2.2.1. Hoạt động dạy học

Chương trình giáo dục phổ thông 2018, ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đánh dấu một bước chuyển đổi quan trọng trong việc định hướng giáo dục Việt Nam theo hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực cho học sinh. Chương trình mới này chú trọng phát triển các kỹ năng thiết yếu và phẩm chất tốt đẹp cho học sinh, nhằm chuẩn bị cho họ trở thành những công dân toàn cầu có trách nhiệm và khả năng hội nhập.

Giai đoạn giáo dục cơ bản giúp học sinh hình thành nền tảng tri thức và kỹ năng cơ bản, tập trung phát triển ba phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, cũng như các năng lực tự chủ, hợp tác, giao tiếp, sáng tạo và sử dụng công nghệ thông tin. Trong khi đó, giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng lực chuyên sâu theo hướng nghề nghiệp mà các em lựa chọn, từ đó tạo nền tảng tốt cho tương lai học tập và làm việc.

Chương trình này đặt ra yêu cầu cao đối với giáo viên trong việc chuyển đổi phương pháp giảng dạy, các phương pháp dạy học cần phải được đổi mới để hướng tới việc phát triển năng lực cho học sinh, thay vì chỉ truyền đạt kiến thức đơn thuần. Giáo viên phải tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự chủ động và sáng tạo của học sinh trong học tập, từ đó giúp các em phát triển khả năng tư duy độc lập và có thái độ tích cực đối với học tập.

Điều này được hỗ trợ bởi các nội dung giảng dạy có tính tích hợp và liên môn cao, giúp học sinh không chỉ hiểu sâu hơn về từng môn học riêng lẻ mà còn biết cách kết nối kiến thức từ các môn học khác nhau. Bằng cách đó, học sinh sẽ dần xây dựng được một hệ thống kiến thức toàn diện và có khả năng vận dụng linh hoạt vào đời sống.

1.2.2.2. Hoạt động dạy học môn tiếng Anh đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Môn Ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, được quy định trong Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT. Từ bậc trung học cơ sở (THCS), môn tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và phát triển năng lực giao tiếp của học sinh. Mục tiêu chính của môn tiếng Anh trong chương trình giáo dục phổ thông mới là giúp học sinh có khả năng giao tiếp cơ bản, tăng cường hiểu biết về các nền văn hóa khác và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ nghe, nói, đọc và viết.

Theo mục 2.2 phần chương trình giáo dục phổ thông chương trình môn tiếng anh của Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, việc giảng dạy tiếng Anh tại các trường học nhằm trang bị cho học sinh một công cụ giao tiếp quốc tế, giúp họ mở rộng tầm nhìn và hiểu biết văn hóa. Tiếng Anh không chỉ là một môn học ngôn ngữ mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện của học sinh. Môn học này được thiết kế để khuyến khích học sinh rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ một cách tích cực và chủ động thông qua các hoạt động học tập như thảo luận nhóm, làm việc dự án và trình bày ý tưởng trước lớp.

Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn tiếng Anh được chia làm ba cấp độ từ cơ bản đến nâng cao, phù hợp với trình độ và năng lực học tập của từng nhóm đối tượng học sinh. Đối với học sinh có năng lực ngôn ngữ tốt hơn, chương trình còn khuyến khích việc học tiếng Anh ở mức độ cao hơn, giúp các em phát triển các kỹ năng ngôn ngữ chuyên sâu để chuẩn bị cho việc học tập hoặc làm việc trong môi trường quốc tế sau này. Điều này không chỉ giúp học sinh có nền tảng ngôn ngữ vững chắc mà còn thúc đẩy họ phát triển tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và kỹ năng tự học.

Theo mục 2.2 phần chương trình giáo dục phổ thông chương trình môn tiếng anh của Thông tư 32/2018/TT-BGDĐTcủa Thông tư, một trong những yêu cầu quan trọng đối với dạy học tiếng Anh trong chương trình mới là đổi mới phương pháp dạy học. Giáo viên được khuyến khích sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, bao gồm việc áp dụng công nghệ thông tin, sử dụng các công cụ học tập trực tuyến, và các tài nguyên đa phương tiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiếp cận ngôn ngữ một cách tự nhiên. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả dạy và học mà còn giúp học sinh có thêm động lực học tập.

Bên cạnh đó, việc đánh giá học sinh trong môn tiếng Anh cũng được cải tiến. Không chỉ đánh giá qua các bài kiểm tra định kỳ mà còn chú trọng đánh giá qua các hoạt động học tập thường xuyên, bài tập nhóm và các sản phẩm học tập như dự án và bài thuyết trình. Điều này giúp giáo viên có thể đánh giá toàn diện hơn về năng lực ngôn ngữ của học sinh, bao gồm cả các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, giao tiếp và tư duy sáng tạo.

Ngoài ra, môn tiếng Anh còn được kết nối với các môn học khác và các hoạt động ngoại khóa để tạo điều kiện cho học sinh có thêm cơ hội thực hành ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế. Ví dụ, tiếng Anh có thể được tích hợp trong các hoạt động khoa học, văn hóa hoặc thể thao, giúp học sinh phát triển khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên và linh hoạt.

Tóm lại, chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã đưa môn tiếng Anh trở thành một công cụ học tập và giao tiếp quan trọng, góp phần phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện của học sinh. Việc học tiếng Anh từ sớm không chỉ giúp học sinh nâng cao kỹ năng giao tiếp, mà còn trang bị cho các em khả năng tư duy và mở rộng kiến thức văn hóa quốc tế, giúp họ sẵn sàng hòa nhập với thế giới. Chương trình này khuyến khích một phương pháp dạy học đổi mới, chú trọng phát triển kỹ năng ngôn ngữ toàn diện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội và góp phần vào mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

1.3. Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường THCS đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.3.1 Khái niệm về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường Trung học cơ sở đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.3.1.1. Quản lý

Khái niệm quản lý (management) là một thuật ngữ rộng và mang tính tổng quát, được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào góc nhìn và phạm vi nghiên cứu. Trong lĩnh vực lý luận khoa học quản lý, quản lý thường được coi là một quá trình có hệ thống nhằm tổ chức và điều hành các nguồn lực để đạt được mục tiêu của tổ chức hoặc nhóm. Điều này được thể hiện qua các quan điểm đa dạng của các nhà lý luận và chuyên gia, phản ánh sự phát triển của quản lý từ những nền tảng ban đầu đến các lý thuyết hiện đại và ứng dụng thực tiễn.

Harold Koontz, Cyril O’Donnell, và Heinz Weihrich là những nhà lý luận có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực quản lý. Họ định nghĩa quản lý là “một hoạt động thiết yếu, nhằm bảo đảm sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất, và sự bất mãn cá nhân ít nhất” (Koontz, O’Donnell, & Weihrich, 1984, p. 33). Theo định nghĩa này, quản lý không chỉ là hành động điều khiển mà còn là quá trình tạo lập môi trường phù hợp để tối ưu hóa hiệu quả các nguồn lực, giảm thiểu lãng phí và bất mãn cá nhân, qua đó đạt được các mục tiêu chung của tổ chức.

Frederick Taylor, một trong những người tiên phong của khoa học quản lý hiện đại, được biết đến với việc hình thành các nguyên tắc quản lý khoa học, đặt nền móng cho việc tiếp cận quản lý như một môn học độc lập. Taylor cho rằng “quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất” (Taylor, 1911, p. 14). Cách tiếp cận của Taylor nhấn mạnh vào việc xác định mục tiêu rõ ràng và hướng dẫn nhân viên thực hiện nhiệm vụ một cách tối ưu, từ đó gia tăng hiệu suất và giảm thiểu chi phí. Taylor đã góp phần định hình mô hình quản lý tập trung vào hiệu suất và hiệu quả, tạo cơ sở cho các phương pháp quản lý hiện đại trong sản xuất và công nghiệp.

Mary Parker Follett, một nhà lý luận quản lý khác, lại có một góc nhìn độc đáo khi cho rằng “quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác.” Follett nhấn mạnh khía cạnh nghệ thuật trong quản lý, coi trọng sự tương tác và mối quan hệ giữa người quản lý và nhân viên. Bà cho rằng quản lý không chỉ là việc ra lệnh mà còn là quá trình tạo dựng mối quan hệ và động lực để các cá nhân hoàn thành công việc hiệu quả. Quan điểm của Follett góp phần khơi dậy cách nhìn nhận nhân bản trong quản lý, khuyến khích sự tham gia và đồng thuận trong quá trình làm việc.

Karl Marx, trong phân tích của mình về quản lý, nhìn nhận nó từ góc độ của lao động xã hội và sự điều phối các hoạt động trong tổ chức. Marx cho rằng “chức năng chủ yếu của quản lý là liên hợp, tháp hợp tất cả các mặt hoạt động của tổ chức và của những người tham gia tổ chức đó thành một chỉnh thể”. Ông phân tích rằng trong các hoạt động lao động xã hội quy mô lớn, cần có sự chỉ đạo và điều phối để đạt được sự thống nhất và hiệu quả. Marx ví von rằng “một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (Marx, 1867, p. 17), qua đó nhấn mạnh sự cần thiết của quản lý như một yếu tố không thể thiếu trong việc điều hành và tổ chức các hoạt động phức tạp của tập thể.

Trong lĩnh vực nghiên cứu về quản lý tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các định nghĩa và quan điểm mang tính đặc thù phù hợp với bối cảnh văn hóa và tổ chức tại Việt Nam. Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng “hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Lộc & Chí, 2007, p. 1). Quan điểm này nhấn mạnh mối quan hệ giữa người quản lý và người được quản lý trong tổ chức, đồng thời xem quản lý là quá trình có tính định hướng và chủ đích rõ ràng.

Tác giả Đặng Quốc Bảo đã phân tích sâu sắc hơn về bản chất của quản lý trong bối cảnh Việt Nam, khi cho rằng quản lý gồm hai quá trình tích hợp là “quản” và “lý”. Theo Đặng Quốc Bảo, quá trình “quản” bao gồm sự duy trì và giữ gìn hệ thống ở trạng thái ổn định, còn quá trình “lý” bao hàm sự đổi mới và sắp xếp lại để đưa hệ thống vào thế phát triển. Trong đó, “trong quản phải có lý, trong lý phải có quản” để hệ thống đạt được trạng thái cân bằng động, thích ứng với các yếu tố bên trong và bên ngoài (Bảo, 2010, p. 14). Quan điểm này phản ánh một cách tiếp cận linh hoạt và toàn diện, phù hợp với môi trường xã hội và kinh tế biến động không ngừng.

Từ các quan điểm trên, có thể thấy quản lý là một khái niệm phức tạp, bao gồm các chức năng từ việc định hướng, tổ chức, điều hành đến duy trì sự cân bằng và phát triển hệ thống. Các lý thuyết và định nghĩa của quản lý dù khác nhau nhưng đều nhấn mạnh vai trò của quản lý trong việc tối ưu hóa các nguồn lực và tạo ra giá trị cho tổ chức và xã hội.

1.3.1.2. Quản lý giáo dục

GS.TS Phạm Minh Hạc đã nhấn mạnh rằng QLGD hay còn gọi là quản lý trường học (QLTH), quản lý nhà trường (QLNT) chính là việc thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình. Ông cho rằng, đây là quá trình đưa nhà trường vận hành theo các nguyên lý giáo dục để đạt tới các mục tiêu giáo dục đã đề ra, bao gồm mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, cũng như mục tiêu phát triển đối với từng thế hệ trẻ và từng học sinh cụ thể. Theo ông, “QLNT, QLGD là tổ chức hoạt động dạy học… có tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam XHCN… cần cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” (Phạm Minh Hạc, [12]). Từ quan điểm này, có thể thấy rằng QLGD không chỉ là việc quản lý các hoạt động học thuật mà còn là quá trình cụ thể hóa và hiện thực hóa các chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước, từ đó đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và nguyện vọng của nhân dân.

Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam như Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân cũng có cách tiếp cận tương tự. Hai tác giả cho rằng “quản lí giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là các Nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” (Nguyễn Kỳ & Bùi Trọng Tuân, [22]). Định nghĩa này nhấn mạnh vào tính chất liên kết, tính hệ thống và sự nhất quán trong quản lý, khi mọi cấp độ quản lý phải cùng hướng tới một mục tiêu chung và thực hiện các biện pháp nhất quán nhằm đạt được mục tiêu đó.

Tác giả Trần Kiểm bổ sung thêm rằng “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của QLGD, sự phát triển tâm lý, thể lực của trẻ em” (Trần Kiểm, [25]). Theo quan điểm của Trần Kiểm, QLGD không chỉ tập trung vào các mục tiêu hàn lâm mà còn quan tâm đến sự phát triển toàn diện của học sinh về thể chất, trí tuệ và tâm lý, từ đó hình thành nên nhân cách tốt cho thế hệ trẻ.

Nhìn chung, từ các quan điểm trên, có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục là quá trình vận dụng các nguyên lý, khái niệm và phương pháp của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục, nhằm đảm bảo rằng các hoạt động giáo dục và đào tạo được tiến hành hiệu quả và đạt được các mục tiêu đã đề ra. QLGD là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý (những người lãnh đạo giáo dục) lên đối tượng quản lý (các cơ sở giáo dục, học sinh, sinh viên, v.v.), với mục tiêu đảm bảo hệ thống giáo dục hoạt động ổn định, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và đào tạo những thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của quốc gia.

1.3.1.3. Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý HĐDH chính là sự tác động lên đội ngũ GV, HS qua việc thực thi các chức năng quản lý kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, điều chỉnh nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường theo yêu cầu trong năm học.

Như vậy, nội hàm khái niệm quản lý HĐDH có thể hiểu như sau:

– Chủ thể quản lý là Ban giám hiệu nhà trường;

– Đối tượng quản lý là GV, HS với những đặc điểm về tâm sinh lý, năng lực khác nhau;

– Khách thể quản lý là các hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS;

– Nội dung quản lý là lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, điều chỉnh,…

– Mục đích quản lý là thúc đẩy quá trình dạy học nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục của nhà trường theo năm học.

Quản lý HĐDH đảm bảo việc người thầy đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt HS đi tìm chân lý; người học chủ động tiếp cận chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu. Đặc biệt vai trò người học trên cơ sở hướng dẫn của người GV biết tự xây dựng kế hoạch, tự kiểm tra đánh giá để đạt chuẩn với yêu cầu trong giáo dục.

1.3.1.4.Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường THCS đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường trung học cơ sở (THCS) là quá trình điều hành và tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông năm 2018. Theo chương trình này, môn Tiếng Anh không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức ngôn ngữ cơ bản, mà còn chú trọng phát triển năng lực giao tiếp, tư duy và kỹ năng mềm cho học sinh. Vì vậy, quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh cần chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch giảng dạy chi tiết, tổ chức các hoạt động học tập phù hợp với đối tượng học sinh và đánh giá hiệu quả học tập thông qua các phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực. Trong đó, xây dựng kế hoạch giảng dạy phải đảm bảo phù hợp với chương trình mới, nhấn mạnh vào phát triển năng lực giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm và khả năng tự học của học sinh. Tổ chức các hoạt động dạy học cần sử dụng phương pháp dạy học tích cực, tạo động lực cho học sinh thông qua các hoạt động phong phú như thảo luận nhóm, trò chơi học tập và các dự án nhỏ. Đồng thời, giám sát và đánh giá kết quả học tập của học sinh phải được thực hiện thông qua các phương pháp đa dạng, không chỉ giới hạn ở bài kiểm tra viết mà còn thông qua quá trình tham gia học tập, sản phẩm học tập và các hoạt động thực hành ngôn ngữ. Bên cạnh đó, cần chú trọng nâng cao chất lượng giáo viên bằng cách tổ chức các buổi tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nhằm cập nhật các phương pháp giảng dạy mới và kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của chương trình mới. Quản lý hiệu quả hoạt động dạy học môn Tiếng Anh theo hướng đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018 không chỉ góp phần nâng cao chất lượng học tập môn học mà còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh.

1.3.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường Trung học cơ sở đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.3.2.1. Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình dạy học môn Tiếng Anh ở các trường Trung học cơ sở đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

Quản lý thực hiện mục tiêu và nội dung chương trình dạy học môn Tiếng Anh ở các trường Trung học cơ sở theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 đòi hỏi phải xây dựng và triển khai kế hoạch giảng dạy chi tiết và hiệu quả. Xây dựng kế hoạch dạy học là quá trình thiết kế một lộ trình giảng dạy cho từng bài học, từng giai đoạn trong năm học, dựa vào chương trình học và chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học, năng lực giảng dạy của giáo viên, khả năng tiếp thu của học sinh, và điều kiện dạy học cụ thể của trường. Hiệu trưởng đóng vai trò quản lý và chỉ đạo giáo viên trong việc xây dựng kế hoạch giảng dạy dựa trên kế hoạch tổng thể của nhà trường, hướng dẫn giáo viên xác định rõ mục tiêu giảng dạy và chọn các biện pháp phù hợp để thực hiện được mục tiêu này. Để kế hoạch dạy học không trở nên hình thức, hiệu trưởng cần đưa ra nhiều biện pháp hỗ trợ giáo viên hoàn thiện kế hoạch giảng dạy và bảo đảm nó được thực hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả.

Trong các trường THCS, tổ trưởng bộ môn và ban giám hiệu, đặc biệt là hiệu trưởng, trực tiếp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh theo nội dung, chương trình, phương pháp và lập kế hoạch giảng dạy cho từng học kỳ và năm học. Việc quản lý này bao gồm cả việc phối hợp và hướng dẫn giáo viên phân bổ chương trình hợp lý, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết để bảo đảm hoàn thành mục tiêu giảng dạy môn Tiếng Anh theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Một trong những công cụ quan trọng trong quản lý dạy học là hồ sơ chuyên môn, bao gồm giáo án và các tài liệu giảng dạy liên quan. Đây là bước chuẩn bị đầu tiên, phản ánh quá trình thiết kế bài giảng của giáo viên, ảnh hưởng trực tiếp đến nề nếp dạy học, thái độ giảng dạy và chất lượng của từng giờ dạy trên lớp. Hồ sơ chuyên môn còn là công cụ để giáo viên và tổ chuyên môn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ vướng mắc về phương pháp giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng giờ dạy và giúp học sinh tiếp thu tốt hơn.

Việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên chủ yếu được thực hiện tại nhà, nên hiệu trưởng chỉ có thể quản lý gián tiếp thông qua việc chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch soạn giảng và theo dõi quá trình chuẩn bị qua hồ sơ chuyên môn. Hiệu trưởng phối hợp với phó hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn kiểm tra định kỳ hồ sơ, giáo án để đảm bảo giáo viên có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho mỗi giờ dạy. Việc kiểm tra giáo án có thể thực hiện định kỳ hoặc đột xuất để đánh giá toàn diện khả năng lên lớp của giáo viên theo các tiêu chí kỹ năng như nghe, nói, đọc, viết, đặc biệt chú trọng đến mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh. Quá trình kiểm tra, nhận xét và góp ý trong các buổi thao giảng cũng như biểu dương những giáo án điển hình giúp giáo viên hoàn thiện phương pháp và tăng cường chất lượng giảng dạy. Đồng thời, hiệu trưởng cũng hỗ trợ giáo viên trong việc chuẩn bị đồ dùng và thiết bị dạy học nhằm đảm bảo chất lượng giờ dạy.

Quản lý nề nếp dạy học của giáo viên có thể thực hiện thông qua sổ đầu bài và bảng chấm công để đảm bảo giáo viên tuân thủ kỷ luật lao động, đồng thời lấy ý kiến học sinh về chất lượng giờ dạy để kịp thời khắc phục những hạn chế ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh. Sinh hoạt tổ chuyên môn cũng là một hoạt động quản lý quan trọng, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy qua việc xây dựng nội dung sinh hoạt phù hợp với đặc thù môn Tiếng Anh. Sinh hoạt tổ giúp giáo viên trao đổi chuyên môn, hoàn thiện kỹ năng sư phạm và cập nhật phương pháp giảng dạy mới, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đảm bảo học sinh tiếp thu hiệu quả và đạt được các yêu cầu về năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông 2018.

1.3.2.2 Quản lý nội dạy học môn Tiếng Anh của giáo viên đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

Quản lý nội dung dạy học môn Tiếng Anh của giáo viên nhằm đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018 là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo tính thống nhất, phù hợp và hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, nội dung dạy học không chỉ tập trung vào kiến thức ngữ pháp và từ vựng mà còn mở rộng đến các kỹ năng giao tiếp, tư duy phản biện và phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Vì vậy, quản lý nội dung giảng dạy môn Tiếng Anh đòi hỏi nhà trường và các cán bộ quản lý cần có sự định hướng rõ ràng và cụ thể cho giáo viên trong việc xây dựng bài giảng và triển khai kế hoạch dạy học.

Trong quá trình quản lý, hiệu trưởng và tổ chuyên môn cần thường xuyên rà soát, hướng dẫn giáo viên xây dựng nội dung bài giảng sao cho đáp ứng được các mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới, chú trọng phát triển các năng lực ngôn ngữ như nghe, nói, đọc, viết và khả năng vận dụng ngôn ngữ vào thực tiễn. Các nội dung dạy học cần được điều chỉnh phù hợp với trình độ của học sinh, đảm bảo sự tiến bộ và tạo hứng thú học tập cho các em. Bên cạnh đó, giáo viên cần phải kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại, tích cực ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả giảng dạy, giúp học sinh phát triển kỹ năng ngôn ngữ một cách toàn diện.

Hiệu trưởng và tổ chuyên môn có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, đánh giá và hỗ trợ giáo viên trong quá trình thực hiện nội dung dạy học. Điều này bao gồm việc đánh giá chất lượng giáo án, tư vấn về phương pháp giảng dạy phù hợp và định kỳ kiểm tra hồ sơ chuyên môn của giáo viên để đảm bảo nội dung giảng dạy được chuẩn bị kỹ lưỡng và có tính ứng dụng cao. Ngoài ra, các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn còn là cơ hội để giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi về những khó khăn gặp phải trong quá trình giảng dạy, từ đó tìm ra những phương pháp tối ưu giúp nâng cao chất lượng giờ học.

1.3.2.3. Quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Anh của học sinh đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

Quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Anh của học sinh nhằm đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018 là một quá trình quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học, hướng tới việc phát triển năng lực ngôn ngữ và các kỹ năng cần thiết cho học sinh. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 không chỉ đặt mục tiêu truyền thụ kiến thức ngôn ngữ mà còn khuyến khích học sinh sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp, phát triển kỹ năng tự học, tư duy phản biện và năng lực làm việc nhóm. Do đó, quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Anh đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục và giáo viên cần có sự hỗ trợ, theo dõi và định hướng phù hợp để học sinh đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Trong quá trình quản lý hoạt động học tập, hiệu trưởng và các tổ trưởng bộ môn cần phối hợp cùng giáo viên để tổ chức các hoạt động học tập đa dạng, bao gồm thảo luận nhóm, thực hành giao tiếp, đóng vai và các dự án nhỏ giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tế. Bên cạnh đó, nhà trường cần khuyến khích học sinh tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa như câu lạc bộ tiếng Anh, các cuộc thi và các buổi giao lưu văn hóa nhằm tạo cơ hội cho các em rèn luyện và phát triển kỹ năng ngôn ngữ. Các hoạt động này không chỉ giúp học sinh nâng cao khả năng tiếng Anh mà còn tăng cường tính chủ động, sáng tạo và tự tin trong giao tiếp.

Để đánh giá hiệu quả học tập môn Tiếng Anh, nhà trường và giáo viên cần áp dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá đa dạng, không chỉ giới hạn ở các bài kiểm tra viết mà còn đánh giá qua quá trình học tập và các sản phẩm học tập của học sinh. Việc đánh giá cần chú trọng đến kỹ năng thực hành ngôn ngữ như nghe, nói, đọc, viết, từ đó nhận diện điểm mạnh và điểm cần cải thiện của từng học sinh. Nhà trường cũng có thể tiến hành các đợt kiểm tra định kỳ và đột xuất để đánh giá quá trình học tập của học sinh một cách toàn diện, đồng thời khuyến khích học sinh tự đánh giá và phản hồi về hoạt động học tập của mình.

Cuối cùng, quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Anh theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 cần đảm bảo học sinh nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ giáo viên. Giáo viên có thể thường xuyên trao đổi với học sinh, lắng nghe ý kiến của các em về bài học và phương pháp học tập để điều chỉnh và nâng cao hiệu quả giảng dạy. Nhà trường cũng nên tổ chức các buổi trao đổi giữa phụ huynh và giáo viên để phụ huynh có thể hiểu rõ tình hình học tập của con em mình và phối hợp hỗ trợ các em đạt được mục tiêu học tập.

1.3.2.4. Quản lý đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp và kỹ thuật dạy học môn Tiếng Anh đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

Quản lý đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp và kỹ thuật dạy học môn Tiếng Anh để đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018 là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, giúp học sinh phát triển toàn diện các kỹ năng ngôn ngữ và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 không chỉ yêu cầu sự đổi mới trong nội dung giảng dạy mà còn khuyến khích việc áp dụng các hình thức và phương pháp dạy học đa dạng, linh hoạt và phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Quản lý đổi mới hình thức tổ chức dạy học đòi hỏi nhà trường và tổ chuyên môn phải linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động dạy học, không chỉ giới hạn trong hình thức dạy học truyền thống mà còn mở rộng đến các hoạt động học tập theo nhóm, học tập dựa trên dự án, học qua trải nghiệm và các hoạt động ngoại khóa. Việc tổ chức các hoạt động như câu lạc bộ tiếng Anh, buổi giao lưu văn hóa và các cuộc thi giúp học sinh có cơ hội thực hành và vận dụng tiếng Anh trong môi trường thực tế, đồng thời tăng cường hứng thú và động lực học tập cho các em. Nhà trường cũng cần xây dựng môi trường học tập thân thiện, sáng tạo và có tính tương tác cao để học sinh cảm thấy thoải mái, tích cực tham gia vào quá trình học tập.

Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh theo chương trình 2018 tập trung vào việc phát triển các phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên cần áp dụng các phương pháp như dạy học theo dự án, phương pháp thảo luận, phương pháp học tập qua trò chơi, học qua các tình huống thực tế, và phương pháp học qua trải nghiệm. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng làm việc nhóm. Bên cạnh đó, giáo viên cần khuyến khích học sinh tự nghiên cứu, tự đánh giá để trở thành người học tự chủ và có khả năng tự học cao. Việc chuyển từ phương pháp truyền đạt một chiều sang phương pháp dạy học tương tác cũng là một trong những yếu tố quan trọng để học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp và tư duy ngôn ngữ.

Kỹ thuật dạy học cũng cần được đổi mới để nâng cao tính hiệu quả và tính ứng dụng của bài học. Quản lý kỹ thuật dạy học bao gồm việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giảng dạy, sử dụng các công cụ như máy chiếu, bảng thông minh, phần mềm học tập và tài liệu số hóa để tạo ra các bài giảng sinh động, phong phú và dễ tiếp cận. Việc sử dụng kỹ thuật dạy học hiện đại giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, tăng cường khả năng tư duy sáng tạo và chủ động trong học tập. Đồng thời, giáo viên cần được đào tạo, hỗ trợ để có kỹ năng sử dụng công nghệ trong giảng dạy, từ đó đảm bảo hiệu quả trong việc đổi mới phương pháp và kỹ thuật dạy học.

Quản lý đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp và kỹ thuật dạy học môn Tiếng Anh đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018 đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, tổ chuyên môn và giáo viên. Hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch, định hướng và hỗ trợ giáo viên trong quá trình đổi mới, đồng thời tổ chức các buổi tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm để giáo viên có thể tiếp cận và thực hành các phương pháp, kỹ thuật dạy học mới. Như vậy, việc đổi mới không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy học mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực, đáp ứng nhu cầu và khả năng của học sinh, hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện mà chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra.

1.3.2.5. Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh nhằm đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018 là một yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, đảm bảo học sinh đạt được các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và năng lực ngôn ngữ. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chú trọng đến việc phát triển năng lực giao tiếp, tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề của học sinh. Vì vậy, quá trình kiểm tra, đánh giá không chỉ tập trung vào việc kiểm tra kiến thức mà còn chú trọng đến việc đánh giá các kỹ năng ngôn ngữ, khả năng vận dụng và tự học của học sinh.

Trong quá trình quản lý kiểm tra, đánh giá, nhà trường cần xây dựng các tiêu chí và hình thức đánh giá phù hợp với yêu cầu của chương trình mới. Các hình thức đánh giá cần đa dạng, bao gồm cả đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về tiến bộ học tập của học sinh. Các hình thức đánh giá cần bao gồm các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, với trọng tâm là khả năng sử dụng tiếng Anh trong các tình huống thực tế. Ngoài ra, việc đánh giá dựa trên các hoạt động học tập như thuyết trình, đóng vai, làm dự án và phản hồi của học sinh trong giờ học cũng rất quan trọng để đo lường sự tiến bộ về mặt năng lực ngôn ngữ.

Nhà trường và tổ chuyên môn cần thiết lập các quy trình kiểm tra, đánh giá rõ ràng và công khai nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Để đạt được điều này, hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn có thể cùng giáo viên xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá theo từng học kỳ, bao gồm các bài kiểm tra viết, bài kiểm tra nghe, nói và các bài tập ứng dụng thực tế. Giáo viên cần được hướng dẫn để thiết kế các bài kiểm tra, đánh giá đảm bảo tính khoa học, phù hợp với trình độ của học sinh và bám sát mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Điều này giúp đảm bảo rằng các bài kiểm tra không chỉ kiểm tra kiến thức ngữ pháp mà còn đánh giá được khả năng giao tiếp và sự phát triển năng lực của học sinh.

Bên cạnh các bài kiểm tra truyền thống, việc đánh giá thường xuyên thông qua quan sát, nhận xét và các hình thức đánh giá quá trình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp phản hồi kịp thời cho học sinh. Nhà trường có thể khuyến khích giáo viên áp dụng các phương pháp đánh giá linh hoạt như tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng và các phiếu khảo sát ý kiến của học sinh để học sinh có cơ hội tự nhận thức về tiến bộ của bản thân và điều chỉnh quá trình học tập. Việc này không chỉ giúp học sinh phát huy tính chủ động mà còn rèn luyện kỹ năng tự học và trách nhiệm đối với việc học của mình.

Cuối cùng, công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh cần có sự phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh để cung cấp hỗ trợ tối ưu cho học sinh. Nhà trường có thể tổ chức các buổi họp phụ huynh, báo cáo kết quả học tập của học sinh để phụ huynh có thể theo dõi và cùng nhà trường hỗ trợ các em đạt được các mục tiêu học tập. Bằng cách quản lý chặt chẽ và khoa học, công tác kiểm tra, đánh giá sẽ giúp phát huy tối đa năng lực của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục môn Tiếng Anh và đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018.

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường Trung học cơ sở đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.4.1. Các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý

Chủ thể quản lý bao gồm hiệu trưởng, các tổ trưởng bộ môn và cán bộ quản lý giáo dục, những người đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều hành hoạt động dạy học môn Tiếng Anh. Trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm và sự nhiệt tình của các nhà quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình quản lý. Cụ thể, hiệu trưởng và tổ trưởng bộ môn cần có hiểu biết sâu về chương trình giáo dục phổ thông 2018, năng lực quản lý khoa học, khả năng lập kế hoạch, chỉ đạo và giám sát hoạt động giảng dạy một cách linh hoạt. Khả năng lãnh đạo, năng lực tạo động lực cho giáo viên, kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống cũng là những yếu tố quan trọng giúp các nhà quản lý hỗ trợ và định hướng giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy.

1.4.2. Các yếu tố thuộc về đối tượng quản lý

1.4.2.1. Giáo viên

Giáo viên là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018. Năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm, khả năng ứng dụng công nghệ và sự nhiệt tình trong công việc của giáo viên ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học. Ngoài ra, khả năng đổi mới phương pháp giảng dạy, khả năng tổ chức các hoạt động học tập linh hoạt và sáng tạo, cũng như khả năng tạo động lực cho học sinh cũng đóng vai trò quan trọng. Để đáp ứng các yêu cầu của chương trình mới, giáo viên cần thường xuyên tham gia các khóa bồi dưỡng, tập huấn, cập nhật các phương pháp giảng dạy hiện đại và nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin.

1.4.2.2. Học sinh

Học sinh là đối tượng trung tâm của hoạt động dạy học, và mức độ hứng thú, năng lực tiếp thu, và thái độ học tập của các em có tác động lớn đến hiệu quả giảng dạy. Mỗi học sinh có năng lực, sở thích và cách tiếp thu kiến thức khác nhau, đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt trong phương pháp và kỹ thuật dạy học để phù hợp với nhu cầu của từng cá nhân. Sự tự giác, tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập sẽ giúp các em đạt được hiệu quả cao trong việc tiếp thu kiến thức. Ngoài ra, các yếu tố như khả năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, và mức độ tự học của học sinh cũng ảnh hưởng đến quá trình quản lý hoạt động dạy học, đặc biệt là trong việc triển khai các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực.

1.4.2.3. Cơ sở vật chất và trang thiết bị

Cơ sở vật chất và trang thiết bị là những yếu tố không thể thiếu trong việc hỗ trợ giảng dạy và học tập môn Tiếng Anh. Để đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018, các trường học cần được trang bị đầy đủ các thiết bị dạy học hiện đại như máy chiếu, bảng tương tác, phòng học đa phương tiện, và tài liệu học tập phù hợp. Các trang thiết bị công nghệ như máy tính, phần mềm hỗ trợ học tiếng Anh và internet cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường học tập hiện đại, phong phú. Nếu cơ sở vật chất không đảm bảo, giáo viên và học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai các hoạt động học tập và thực hành. Vì vậy, nhà trường cần đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp, đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

1.4.3. Các yếu tố thuộc về môi trường quản lý

Môi trường quản lý là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý dạy học môn Tiếng Anh ở các trường Trung học cơ sở trong bối cảnh thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018. Môi trường quản lý bao gồm các yếu tố về chính sách giáo dục, văn hóa nhà trường, sự hỗ trợ từ cộng đồng và gia đình học sinh, cũng như các điều kiện xã hội và xu hướng phát triển giáo dục hiện đại. Các yếu tố này tác động đến định hướng, phương pháp và hiệu quả của công tác quản lý giáo dục trong nhà trường.

Chính sách giáo dục và quy định từ cấp trên là những yếu tố có tác động lớn đến công tác quản lý dạy học Tiếng Anh. Các quy định và chỉ đạo từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, sở và phòng giáo dục địa phương về chương trình, nội dung, và phương pháp dạy học sẽ định hình hướng đi cho công tác quản lý ở các trường học. Chính sách giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá học sinh, và tiêu chuẩn chất lượng sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra những chỉ đạo sát sao, đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018. Ngoài ra, sự hỗ trợ từ các chính sách liên quan đến cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, cũng như đào tạo bồi dưỡng giáo viên cũng đóng vai trò không thể thiếu.

Văn hóa nhà trường là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tinh thần và phong cách làm việc của giáo viên và học sinh. Một môi trường học tập thân thiện, cởi mở, khuyến khích sự sáng tạo và nỗ lực cá nhân sẽ thúc đẩy giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, học sinh chủ động trong học tập. Văn hóa này tạo ra sự gắn kết giữa giáo viên và học sinh, giúp các em cảm thấy thoải mái và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động học tập. Đồng thời, một văn hóa nhà trường hỗ trợ sự hợp tác và phát triển chuyên môn giữa giáo viên cũng góp phần tăng cường hiệu quả giảng dạy môn Tiếng Anh.

Sự hỗ trợ từ cộng đồng và gia đình học sinh cũng là một yếu tố quan trọng trong môi trường quản lý. Khi cộng đồng và gia đình quan tâm, hỗ trợ tích cực đối với việc học Tiếng Anh, học sinh sẽ có thêm động lực và điều kiện để đạt kết quả cao. Các hoạt động hỗ trợ học tập từ gia đình như động viên, tạo điều kiện cho học sinh tham gia các lớp học ngoại ngữ hoặc các chương trình giao lưu văn hóa sẽ giúp học sinh rèn luyện và nâng cao kỹ năng ngôn ngữ. Sự tham gia của phụ huynh trong các hoạt động của nhà trường cũng tạo ra một mối liên kết chặt chẽ, góp phần hỗ trợ công tác quản lý dạy học Tiếng Anh hiệu quả hơn.

Các điều kiện xã hội và xu hướng phát triển giáo dục hiện đại như toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của công nghệ thông tin cũng tác động lớn đến việc quản lý dạy học môn Tiếng Anh. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu về trình độ tiếng Anh ngày càng cao, tạo ra nhu cầu cấp thiết cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ trong nhà trường. Xu hướng áp dụng công nghệ trong giáo dục giúp mở ra nhiều cơ hội đổi mới phương pháp dạy học, mang đến những công cụ hữu ích như ứng dụng học tập trực tuyến, phần mềm hỗ trợ giảng dạy và các nền tảng học tập kỹ thuật số. Các nhà quản lý cần nắm bắt và ứng dụng những công nghệ này vào quá trình dạy học để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, đồng thời khuyến khích giáo viên tích cực cập nhật các phương pháp giảng dạy hiện đại, phù hợp với xu thế mới.

Như vậy, các yếu tố thuộc về môi trường quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và hỗ trợ công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh. Hiểu rõ và tận dụng tốt các yếu tố môi trường sẽ giúp các nhà quản lý xây dựng chiến lược và các biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng các mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Kết luận chương 1

Chương 1 đã trình bày các nội dung lý luận quan trọng liên quan đến công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường Trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 2018. Trước hết, chương này đã nêu rõ khái niệm quản lý hoạt động dạy học, đặc điểm và yêu cầu của chương trình giáo dục mới. Qua đó, những điểm mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong môn Tiếng Anh đã được phân tích, giúp làm rõ những yêu cầu đặt ra cho người quản lý và giáo viên.

Chương cũng đã xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học, bao gồm các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý, đối tượng quản lý (như giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất và trang thiết bị) và môi trường quản lý. Những yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động quản lý dạy học và đòi hỏi các nhà quản lý phải có sự linh hoạt, sáng tạo trong quá trình điều hành, chỉ đạo.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đáp ứng chương trình GDPT 2018\ĐỀ ÁN

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở huyện Gia Lâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *