Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Điện Bàn
Thế kỷ XXI, cần những chủ nhân tương lai: năng động, sáng tạo, tự tin, tự làm chủ kiến thức và vận dụng một cách linh hoạt trong cuộc sống – học phải đi đôi với hành. Ngành giáo dục đổi mới trên mọi phương diện: từ cách học, cách dạy, cách kiểm tra đánh giá, đổi mới quản lý giáo dục.
Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng” [2].
Trong lịch sử nước ta, “tôn sư trọng đạo” là truyền thống quý báu của dân tộc, nhà giáo bao giờ cũng được nhân dân yêu mến, kính trọng. Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Tuy nhiên, “trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có những hạn chế, bất cập. Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…Cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học, các vùng, miền. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu và truyền đạt lý thuyết, ít chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành của người học; một bộ phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo dức, lối sống, nhân cách, chưa làm gương tốt cho học sinh, sinh viên. Năng lực của sự nghiệp giáo dục. Chế độ, chính sách còn bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng của đội ngũ này”. [2]
Đổi mới quản lý giáo dục nhằm phát triển nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực là một nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo theo định hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [3].
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người” [10]. Trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2010- 2020, Đảng, Nhà nước và Ngành giáo dục đã xác định: “Đẩy nhanh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng GDĐT, trọng tâm là hiện đại hoá và thay đổi phương thức GDĐT, nhất là giáo dục đại học; phát triển nguồn nhân lực, GDĐT đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [23]. Việc nghiên cứu công tác QL, xây dựng và phát triển các hoạt động dạy học – giáo dục trong nhà trường nói chung, hoạt động TCM nói riêng ở các trường THCS là nhiệm vụ quan trọng và là điều kiện cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Trong công tác QL nhà trường, nếu QL có hiệu quả đội ngũ tổ trưởng TCM, cùng với việc đề ra được các biện pháp QL hoạt động của TCM có cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện thực tiễn sẽ là hướng đi tốt nhất để đạt được chất lượng GD theo mục tiêu đề ra.
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết của Đảng, các trường THCS tập trung đổi mới toàn diện hoạt động giáo dục, trong đó có đổi mới khâu quản lý hoạt động tổ chuyên môn giữ vai trò quan trọng. Bởi vì, tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, quản lí của trường THCS. Tổ chuyên môn là nơi trực tiếp triển khai những yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, đổi mới giáo dục phổ thông 2018 ở các trường một cách đồng bộ nhất, có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp các bộ phận, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện chiến lược phát triển của nhà trường, chương trình giáo dục và các hoạt động giáo dục khác hướng tới mục tiêu giáo dục. Tổ chuyên môn được quản lý chặt chẽ, khoa học góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục của nhà trường, quyết định sự thành bại của nhà trường.
Trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, công tác quản lí hoạt động tổ chuyên môn của các trường THCS hiện nay còn bộc lộ những hạn chế bất cập. Hoạt động của các tổ chuyên môn còn nặng về quản lí hành chính, giải quyết sự vụ hơn là sinh hoạt chuyên môn, chưa tập trung vào việc giúp nhau nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực xử lý tình huống chuyên môn trong việc dạy và việc học, chất lượng các buổi sinh hoạt chuyên môn chưa cao. Phần lớn tổ trưởng chưa được bồi dưỡng, tập huấn bài bản mà quản lý dựa trên kinh nghiệm nên còn rập khuôn máy móc. Tổ sinh hoạt chuyên môn chưa được thường xuyên, sinh hoạt mới tập trung vào các đợt hội giảng, thao giảng hay các đợt thi giáo viên giỏi mà chưa tạo thành một hoạt động thường xuyên, liên tục. Xuất phát từ những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn trên, là cán bộ quản lý về lĩnh vực chuyên môn tôi có nhiều trăn trở về chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn và hiệu quả của công tác quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn ở các trường THCS. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Điện Bàn ”

Đề tài nghiên cứu lý luận, xác định được thực tiễn hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Điện Bàn , từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở 05 trường và các trường THCS có cùng điều kiện.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Điện Bàn
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
– Địa bàn nghiên cứu: 5 trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Điện Bàn, (trường THCS Chu Văn An, THCS Nguyễn Tất Thành, THCS Nguyễn Huệ, THCS Hà Mòn, THCS Đăk Hring)
– Nội dung nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu, điều tra, khảo sát hoạt động của các tổ chuyên môn, quản lý hoạt động tổ chuyên môn, chất lượng đội ngũ giáo viên, chất lượng học sinh
– Thời gian nghiên cứu: từ năm học 2018 – 2019 đến năm học 2020 – 2021 của 05 trường THCS thị xã Điện Bàn,
6.1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hoạt động của tổ chuyên môn, quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trường THCS.
6.2. Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Điện Bàn, .
6.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường THCS thị xã Điện Bàn, trong giai đoạn hiện nay.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại… tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù bên trong và trên cơ sở đó tổng hợp tạo ra hệ thống, đồng thời thấy được mối quan hệ, tác động biện chứng của các tài liệu khoa học, các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các văn bản quy định của Ngành có liên quan đến quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THCS.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi để khảo sát thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên trong tổ chuyên môn. Đối tượng điều tra là tổ trưởng, giáo viên, hiệu trưởng, chuyên viên PGD. Kết quả điều tra được xử lý, phân tích, so sánh để tìm thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu đề tài.
– Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: Tiến hành nghiên cứu các báo cáo tổng kết năm học của Phòng GDĐT thị xã Điện Bàn, các trường THCS có liên quan đến công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS.
– Nghiên cứu thực tế và tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp phân tích và tổng kết rút kinh nghiệm nhằm rút ra những thuận lợi và khó khăn trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Điện Bàn, .
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý các số liệu, các kết quả nghiên cứu, trên cơ sở đó có nhận định, đánh giá đúng đắn, chính xác các kết quả nghiên cứu.
* Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục đích, khách thể, đối tượng nghiên cứu, giả thuyết khoa học, phạm vi đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.
* Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS
Chương 2. Thực trạng công tác quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Điện Bàn,
Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THCS thị xã Điện Bàn, trong giai đoạn hiện nay.
* Kết luận và khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2. Các khái niệm chính của đề tài
Quản lý (QL) là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguồn lực tài chính và kĩ thuật…) chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để bảo đảm hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý.
Quản lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình lao động xây dựng, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Xã hội càng phát triển, QL càng có vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động xã hội. Ngày nay thuật ngữ “QL” đã trở lên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Các nhà khoa học đưa ra khái niệm QL theo những cách tiếp cận với những góc độ khác nhau.
Theo Haror Koontz, “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định” [13].
Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tác động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung”.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [21].
Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” [4].
Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [19].
Theo tác giả Bùi Minh Hiền và Trần Kiểm “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong quá trình huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (Nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [14].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị văn hoá, xã hội, kinh tế … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển đối tượng” [11].
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư trong cuốn Quản lý giáo dục Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thì: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [17].
Theo tác giả Bùi Việt Phú, Trần Xuân Bách, Lê Quang Sơn, thì “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý và các yếu tố chịu ảnh hưởng tác động của chủ thể quản lý) về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt đến mục tiêu quản lý” [20].
Theo đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 1999; khái niệm quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức và điều khiển các hoạt động của một số đơn vị cơ quan; trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì” [26].
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích, tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định”. [15]
Mặc dù có những khái niệm khác nhau về quản lý, song những quan điểm trên đều có những nét chung đó là: Quản lý là hoạt động được tiến hành trong các tổ chức xã hội. Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt được các mục tiêu. Quản lý là hoạt động có mục đích tạo nên chất lượng mới cao hơn. Quản lý là những sự tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thành sức mạnh tập thể. Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên những thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển với mục tiêu đã định. Quản lý là các hoạt động để đảm bảo mục đích chung là hoàn thành công việc qua nỗ lực của các cá thể trong tổ chức. Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định, tồn tại trong một thời gian, không gian cụ thể… Quản lý cũng phải tuân theo những quy tắc nhất định hướng tới mục tiêu đó là đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và ăn ý những nỗ lực của cá thể nhằm đạt được mục đích chung của tổ chức hay nói cách khác là nguyên tắc đảm bảo phát huy cao độ năng lực của các cá nhân trong tổ chức để đạt được mục đích chung.
Hệ thống quản lý gồm hai phân hệ là: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Tác động quản lý là tác động có định hướng, có tổ chức mang tính tổng hợp bao gồm nhiều giải pháp khác nhau thông qua cơ chế quản lý để sử dụng có hiệu quả cao nhất nguồn lực sẵn có của tổ chức trong điều kiện nhất định nhằm đảm bảo cho hệ thống ổn định phát triển và đạt được mục tiêu đã định.
Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động. Đó là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Xã hội ngày càng phát triển các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp, tinh vi thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng và quyết định để tổ chức hướng tới đích bằng con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất với bản chất là một khoa học và nghệ thuật trong việc điều khiển và phối hợp sự nỗ lực của con người vì mục tiêu chung. Trong xã hội hiện đại, tính khoa học và nghệ thuật của quản lý được đề cao.
Căn cứ vào những nét chung đó và từ kinh nghiệm thực tiễn quản lý, chúng tôi đồng tình và sử dụng trong đề tài này định nghĩa của tác giả Trần Kiểm và Bùi Minh Hiền: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lý trong quá trình huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.
Khái niệm quản lý có thể khái quát qua sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1. Khái quát sơ đồ hoạt động quản lý
QLGD được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QLGD đến toàn bộ các phần tử và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục, mà tiêu điểm hội tụ là thực hiện quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến.
QLGD theo nghĩa tổng thể là điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng của giáo dục với việc thực hiện triết lý giáo dục thường xuyên và triết lý học suốt đời thì ngoài tiêu điểm là giáo dục thể hệ trẻ còn phải chăm lo giáo dục cho mọi người.
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về QLGD, cụ thể như:
Chuyên gia giáo dục Liên Xô M.I. Kônđacốp đã khẳng định: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lý ở tất cả các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cơ quan quản lý cao nhất là Bộ đến Sở và nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thế hệ và tâm lý trẻ em” [16].
Theo V.G. Afanaxep, trong cuốn sách “Con người trong quản lý xã hội”, ông đã phân chia xã hội thành 3 lĩnh vực, lĩnh vực chính trị xã hội, văn hoá tư tưởng, kinh tế. Từ 3 lĩnh vực đó, ông đưa ra 3 loại quản lý: quản lý chính trị xã hội; quản lý văn hoá tư tưởng và quản lý kinh tế [1]. Như vậy quản lý giáo dục được xem như là một bộ phận nằm trong quản lý văn hoá – tư tưởng.
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định.
Theo Trần Kiểm thì quản lý giáo dục được hiểu theo các cấp độ vĩ mô và vi mô.
Ở cấp độ vĩ mô có thể hiểu quản lý giáo dục trên phương diện quản lý hệ thống giáo dục (theo ngành và lãnh thổ) với những quan niệm chủ yếu:
– Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống, đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động;
– Quản lý giáo dục cũng có thể được định nghĩa: là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, … một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Các quan niệm trên không mâu thuẫn, mà bổ sung cho nhau để thể hiện rõ các nội hàm về tính định hướng, tính đồng bộ, toàn diện đối và tính cụ thể của những tác động của quản lý vào các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý.
Ở cấp vi mô có thể hiểu quản lý giáo dục trên phương diện quản lý một cơ sở giáo dục.
Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục.
Ở cấp độ này, quản lý giáo dục là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện học sinh theo mục tiêu đào tạo.
Còn tác giả Đặng Quốc Bảo thì cho rằng “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phân phối các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội” [5].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch. Hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [22].
Từ những quan điểm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của người quản lý làm cho đối tượng quản lý là quá trình giáo dục như một hệ thống được vận hành phù hợp với quy luật, nguyên lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đã được xác định.
Có thể khái quát khái niệm quản lý giáo dục như sơ đồ 1.2.

Sơ đồ 1.2. Sơ đồ khái quát khái niệm quản lý giáo dục
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục- đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [24].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý nhà trường phổ thông là quản lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, để dần tới mục tiêu giáo dục” [11].
QL nhà trường là những hoạt động của chủ thể QL nhà trường (Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Trường học là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục và để tiến hành quá trình giáo dục đào tạo nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội. Thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai. Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương. Như vậy “Quản lý nhà trường” chính là bộ phận của “Quản lý giáo dục”. Có thể thấy công tác quản lý trường học bao gồm xử lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường.
Tại Điều 14, Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 32/2020/TT- BGDĐT ngày 15/09/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định tổ chuyên môn như sau:
Tổ chuyên môn bao gồm Cán bộ quản lý, giáo viên, viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, cán bộ làm công tác tư vấn cho học sinh của nhà trường được tổ chức thành các tổ chuyên môn. Tổ chuyên môn có tổ trưởng, nếu có từ 07 thành viên trở lên thì có tổ phó. Tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn do hiệu trưởng bổ nhiệm, chịu sự quản lý, chỉ đạo của hiệu trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm trên cơ sở giới thiệu của tổ chuyên môn và giao nhiệm vụ vào đầu năm học [9].
Như vậy, TCM ở trường THCS có rất nhiều thành phần, có nhiều đối tượng chuyên môn khác nhau, phối kết hợp với nhau để phấn đấu hoàn thành đạt mục tiêu giáo dục của cấp học.
Căn cứ vào kế hoạch đã xây dựng, TCM tổ chức các hoạt động thường xuyên theo định kì nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên trong tổ theo chuẩn nghề nghiệp thông qua việc dự giờ thăm lớp, nhận xét góp ý đánh giá tiết dạy, tập huấn, thông qua các buổi hội thảo chuyên đề…. Hoạt động TCM không chỉ giúp mỗi GV nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn gắn kết tình đồng nghiệp, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động sư phạm.
Hoạt động TCM hiện nay thường diễn ra theo nhiều hình thức, tổ chức theo các chuyên đề, dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học, kiểm tra hoạt động sư phạm nhà giáo, triển khai các văn bản chỉ đạo về chuyên môn của cấp thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, tập huấn phương pháp dạy học. Ngoài ra, còn trao đổi, thảo luận, học tập các nội dung cụ thể gắn với kế hoạch nhiệm vụ năm học và cũng như điều kiện thực tế của mỗi nhà trường như: phụ đạo học sinh (HS) yếu kém, kinh nghiệm bồi dưỡng HS Giỏi, nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp, kinh nghiệm dạy học một dạng bài, kiểu bài nào đó,… Tất cả các nội dung này thường được giao cho các GV nhiều kinh nghiệm và năng lực chuyên môn tốt xây dựng thành các báo cáo chuyên đề (tham luận) hay sáng kiến kinh nghiệm (SKKN).
Căn cứ vào sự chỉ đạo của Ban giám hiệu, TCM thực hiện mọi quá trình chỉ đạo về đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học. Hoạt động của TCM trong nhà trường THCS gồm có:
+ Chủ động xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo chương trình môn học, hoạt động giáo dục thuộc chuyên môn phụ trách theo tuần, tháng, học kỳ, năm học; phối hợp với các tổ chuyên môn khác xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường.
+ Đề xuất lựa chọn sách giáo khoa, xuất bản phẩm tham khảo để sử dụng trong nhà trường theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Thực hiện kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn theo kế hoạch giáo dục của nhà trường đã được hội đồng trường phê duyệt.
+ Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo kế hoạch của tổ chuyên môn và của nhà trường.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do hiệu trưởng phân công.
+ Tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn ít nhất 01 lần trong 02 tuần và có thể họp đột xuất theo yêu cầu công việc hoặc khi hiệu trưởng yêu cầu. Tổ chuyên môn hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, tôn trọng, chia sẻ, học tập, giúp đỡ lan nhau giữa các thành viên để phát triển năng lực chuyên môn.
TCM cũng là nơi thực hiện các hoạt động chia sẻ của đồng nghiệp về chuyên môn, nghiệp vụ, từ đó phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn của từng giáo viên trong việc thực hiện các mục tiêu đổi mới nội dung hoạt động TCM. Hiệu trưởng nhà trường cần xác định TCM là đơn vị cơ sở trực tiếp tổ chức quản lí hoạt động dạy học của GV. Vì vậy chỉ đạo hoạt động TCM của hiệu trưởng cần luôn luôn gắn chặt chỉ đạo hoạt động chuyên môn. Hiệu trưởng cần quan tâm các vấn đề sau đây khi chỉ đạo hoạt động của TCM:
+ Ngay đầu năm học BGH chỉ đạo cho tổ chuyên môn tổ chức hội nghị chuyên môn đầu năm để thảo luận kế hoạch hoạt động chuyên môn đặc biệt hoạt động giảng dạy và học tập. Chỉ đạo TCM xây dựng kế hoạch hoạt động TCM
+ Chỉ đạo tổ chuyên môn thảo luận các nội dung trọng tâm, các chỉ tiêu cần phấn đấu phù hợp với chỉ tiêu trường đăng ký thi đua trong năm học, bàn biện pháp để thực hiện thông qua hội nghị cán bộ công chức để thảo luận thống nhất.
+ Tổ chuyên môn thảo luận các nội dung thi đua, các danh hiệu thi đua, vận động các thành viên trong tổ đăng ký các danh hiệu thi đua cá nhân và đăng ký tên các đề tài sáng kiến kinh nghiệm đối giáo viên đăng ký danh hiệu Chiến sĩ thi đua (CSTĐ), giáo viên dạy giỏi các cấp, đồng thời thảo luận đăng ký danh hiệu thi đua của tổ.
+ Cán bộ quản lý phát huy vai trò của đội ngũ GV đầu đàn trong hoạt động TCM; Chỉ đạo TCM chú trọng nâng cao chất lượng từng bài dạy, việc thực hiện nề nếp ra vào lớp theo quy định; chỉ đạo TCM sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học; chỉ đạo các TCM xây dựng và thực hiện kế hoạch tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; chỉ đạo việc dạy chuyên đề trao đổi kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học, bồi dưỡng học sinh… Giám sát việc thực hiện đúng kế hoạch hoạt động TCM.
1.3. Lý luận về hoạt động tổ chuyên môn trường THCS
Theo Điều lệ THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành tại thông tư 32/2020/TT- BGDĐT ngày 15/09/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi rõ điều 2: Trường THCS là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Trường THCS chủ yếu là loại hình công lập do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập và Nhà nước trực tiếp QL. Nguồn đầu tư xây dựng CSVC và kinh phí cho chi tiêu thường xuyên chủ yếu do ngân sách Nhà nước bảo đảm.
Mỗi trường THCS có HT và một số PHT (1 hoặc 2 PHT tùy theo hạng trường). Nhiệm kỳ của HT là 5 năm, thời gian đảm nhiệm chức vụ HT không quá 2 nhiệm kì tại một trường học.
Đội ngũ GV trong trường chia thành các TCM, có tổ trưởng, tổ phó, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của HT.
Trong trường THCS, TCM là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, QL của trường. Các TCM có mối quan hệ hợp tác với nhau và với các bộ phận khác trong nhà trường nhằm thực hiện chương trình GD và các hoạt động GD nhằm hướng tới mục tiêu GD. Muốn TCM hoạt động có hiệu quả thì HT phải đổi mới cách quản lý và phải xác định được công việc, chỉ tiêu, chất lượng và đặc biệt sự đôn đốc, giám sát chặt chẽ kết quả hoạt động của TCM. Hiệu trưởng cũng phải thành lập tổ chức TCM phù hợp, xác định được chiến lược phát triển của TCM cũng như tạo điều kiện môi trường hoạt động, xây dựng môi trường văn hóa, chế độ thi đua khen thưởng và tổ chức các nhóm chuyên môn trong TCM.
Tổ chuyên môn có chức năng giúp Hiệu trưởng điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên quan đến dạy và học;
Trực tiếp quản lý giáo viên trong tổ theo nhiệm vụ quy định. TCM là đầu mối để Hiệu trưởng quản lý nhiều mặt, nhưng chủ yếu vẫn là hoạt động chuyên môn, tức là hoạt động dạy học trong nhà trường.
Do đó, tổ trưởng TCM phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch; điều hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của Bộ GD&ĐT và kế hoạch năm học của nhà trường; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho GV trong tổ; đánh giá, xếp loại và đề xuất khen thưởng, kỉ luật giáo viên thuộc tổ mình quản lý. Tổ trưởng TCM phải là người có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực, trình độ, kinh nghiệm chuyên môn; có uy tín đối với đồng nghiệp, HS. Tổ trưởng TCM phải là người có khả năng tập hợp giáo viên trong tổ, biết lắng nghe, tạo sự đoàn kết trong tổ, gương mẫu, công bằng, kiên trì, khéo léo trong giao tiếp, ứng xử.
Theo quy định của Điều lệ trường THCS, THPT ban hành tại Thông tư số: 32/2020/TT- BGDĐT ngày 15/09/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì Tổ chuyên môn có những nhiệm vụ sau:
+ Chủ động xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo chương trình môn học, hoạt động giáo dục thuộc chuyên môn phụ trách theo tuần, tháng, học kỳ, năm học; phối hợp với các tổ chuyên môn khác xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường.
+ Đề xuất lựa chọn sách giáo khoa, xuất bản phẩm tham khảo để sử dụng trong nhà trường theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Thực hiện kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn theo kế hoạch giáo dục của nhà trường đã được hội đồng trường phê duyệt.
+ Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo kế hoạch của tổ chuyên môn và của nhà trường.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do hiệu trưởng phân công
+ Tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn ít nhất 01 lần trong 02 tuần và có thể họp đột xuất theo yêu cầu công việc hoặc khi Hiệu trưởng yêu cầu. Tổ chuyên môn hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, tôn trọng, chia sẻ, học tập, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên để phát triển năng lực chuyên môn.
Trong lời nói đầu của Thông tư 32/2018/TT-BGD ĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018 đã nêu “Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, những thành tựu về kinh tế của nước ta chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi trường văn hoá còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa hội đủ các nhân tố để phát triển nhanh và bền vững
Cũng trong khoảng thời gian trước và sau khi nước ta tiến hành đổi mới, thế giới chứng kiến những biến đổi sâu sắc về mọi mặt. Các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư nối tiếp nhau ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đem lại cơ hội phát triển vượt bậc, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển. Mặt khác, những biến đổi về khí hậu, tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái và những biến động về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thách thức có tính toàn cầu.
Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hoá vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội. Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.” [7].
Bối cảnh giáo dục đã có rất nhiều thay đổi, các cơ sở giáo dục phổ thông đã thực hiện CT GDPT 2018 từ năm học 2020-2021 đối với lớp 1. Từ năm học 2021-2022, các trường triểu học thực hiện CT GDPT 2018 đối với lớp 1, lớp 2; các trường THCS đã thực hiện đối với lớp 6. Bối cảnh đó, đòi hỏi các nhà trường phải thay đổi trong quản lý và các tổ chuyên môn là đơn vị đỏi mới nội dung sinh hoạt.
Quan điểm, nội dung, cách thức thực hiện CT GDPT 2018 đã thay đổi, thì các hoạt động của tổ chuyên môn phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực người học.
Hoạt động tổ chuyên môn phải đổi mới để đáp ứng theo quan điểm nêu ra trong Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT “Chương trình giáo dục phổ thông là văn bản thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lí chất lượng giáo dục phổ thông; đồng thời là cam kết của Nhà nước nhằm bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ thông” [7].
Nội dung giáo dục cũng đã xuất hiện một số môn học mới trên cơ sở tích hợp các môn học với nhau, gồm 12 môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc là Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục công dân; Lịch sử và Địa lý; Khoa học tự nhiên; Công nghệ; Tin học; Giáo dục thể chất; Nghệ thuật (Âm nhạc, Mỹ thuật); Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; Nội dung giáo dục của địa phương. Hai môn tự chọn là Tiếng dân tộc thiểu số và Ngoại ngữ 2. Do đó, các tổ chuyên môn phải đổi mới xây dựng kế hoạch giáo dục để đáp ứng CT GDPT 2018.
Tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá học sinh tiếp cận theo chương trình giáo dục phổ thông mới
Việc quản lí dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh được thực hiện một các thường xuyên bằng nhiều hình thức khác nhau theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại các Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT, ngày 20 tháng 7 năm 2021; Thông tư 26/2020 TT-BGDĐT, ngày 26 tháng 8 năm 2020.
Các tổ chuyên môn thực hiện đổi mới tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ cho các thành viên của tổ và thực hiện các chuyên đề theo định hướng đổi mới giáo dục.
Trong mỗi nhà trường, tổ chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải các ý tưởng đổi mới các hoạt động chuyên môn, giúp các thành viên trong tổ có điều kiện trau dồi, học hỏi, giúp nhau cùng tiến bộ về chuyên môn cũng như tạo sự gắn kết vì mục tiêu chung của nhà trường.
Các tổ chuyên môn cũng đổi mới trong việc đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học
Trong yêu cầu đổi mới về công tác thanh tra, kiểm tra và đánh giá giáo viên, việc đánh giá xếp loại giáo viên có những đổi mới căn bản. Thay bằng các hình thức dự giờ, đánh giá trực diện giáo viên về khả năng tổ chức, sự phối hợp các phương pháp, kĩ thuật dạy học và kiến thức chuyên môn thuần túy như trước đây.
Ngoài việc đổi mới nội dung, hoạt động của tổ chuyên môn cũng đổi mới để tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong giáo dục để thích ứng an toàn với đại dịch COVID-19.
1.4. Quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THCS
* Kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn thể hiện tầm nhìn của Tổ trưởng về phương hướng phát triển các mặt hoạt động của tổ chuyên môn trong năm học mới, thể hiện qua các mục tiêu, yêu cầu, các biện pháp để thực hiện mục tiêu đó; giúp tổ trưởng chủ động, tự tin trong công tác quản lý, chỉ đạo các hoạt động của tổ. Nó thể hiện thống nhất ý chí, nguyện vọng và khả năng phấn đấu vươn lên để phát triển của tập thể giáo viên trong tổ; là cơ sở cho mỗi thành viên trong tổ xác định kế hoạch hoạt động trong năm học. Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống về những công việc dự định làm trong một thời hạn nhất định, với mục tiêu, cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành, nó thể hiện ý đồ của người quản lý trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Do đó, việc xây dựng kế hoạch cần phải xác định được các mục tiêu của các hoạt động và các biện pháp thực hiện nó một cách phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra. Do đó, kế hoạch giáo dục năm học của tổ chuyên môn có những đặc điểm là công cụ để tổ trưởng quản lý, chỉ đạo các hoạt động của tổ; nó là cơ sở để xây dựng các kế hoạch khác của tổ, là định hướng chung cho các hoạt động của các thành viên trong tổ và đồng thời cũng là phương tiện để thực thi kế hoạch giáo dục năm học của nhà trường;
Xây dựng kế hoạch giáo dục là việc làm quan trọng nhất, có vai trò quyết định thành công hoạt động của TCM. Hoạt động này nhằm xác định được thực trạng, mục tiêu, nội dung, chỉ tiêu, các biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu của TCM. Quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục là việc làm thường xuyên của nhà quản lí, thông qua quản lý này còn đôn đốc, tạo điều kiện vật chất, tinh thần, nhân lực để đạt được chỉ tiêu cao nhất. So sánh đối chiếu kì, năm trước và tìm biện pháp khắc phục hạn chế.
* Thông tư 32/2018/TT BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018. Thông tư ban hành chương trình giáo dục phổ thông 2018. Ban Giám hiệu cần quản lý về xây dựng kế hoạch dạy học (giáo án). Kế hoạch đảm bảo nội dung giáo dục của các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc: Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục công dân; Lịch sử và Địa lí; Khoa học tự nhiên; Công nghệ; Tin học; Giáo dục thể chất; Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật); Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; Nội dung giáo dục của địa phương. Các môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2.
Kế hoạch đảm bảo thời lượng giáo dục 35 tuần / 01 năm học: mỗi ngày học 1 buổi, mỗi buổi không bố trí quá 5 tiết học; mỗi tiết học 45 phút. Khuyến khích các trường trung học cơ sở đủ điều kiện thực hiện dạy học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Theo công văn 5512 của BGDĐT ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường.
Căn cứ vào Kế hoạch dạy học các môn học của tổ chuyên môn, giáo viên được
phân công dạy học môn học ở các khối lớp xây dựng Kế hoạch giáo dục của giáo
viên trong năm học (theo Khung kế hoạch giáo dục của giáo viên tại Phụ lục 3); trên
cơ sở đó xây dựng các Kế hoạch bài dạy (theo Khung kế hoạch bài dạy tại Phụ lục
4) để tổ chức dạy học.
Căn cứ vào nhiệm vụ năm học và kế hoạch đã xây dựng Hiệu trưởng ủy quyền cho các tổ trưởng TCM tổ chức, phân công các thành viên trong bộ môn thực hiện kế hoạch hoạt động TCM đã xây dựng, việc tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động TCM bao gồm các công việc sau:
+ Triển khai kế hoạch hoạt động TCM đã xây dựng.
+ Xác định các lực lượng tham gia QL và thực hiện hoạt động TCM.
+ Chỉ đạo tổ trưởng TCM phân công nhiệm vụ cho GV trong tổ, đảm bảo tính công bằng hợp lý, khoa học và sư phạm.
+ Bồi dưỡng năng lực xây dựng kế hoạch, tổ chức điều hành TCM cho tổ trưởng tổ chuyên môn (CM).
+ Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho GV theo kế hoạch
+ Quản lý sinh hoạt tổ/ nhóm chuyên môn trong nhà trường
+ Hiệu trưởng duyệt kế hoạch TCM
Việc đánh giá GV theo chuẩn nghề nghiệp được bộ GDĐT cụ thể bằng thông tư 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018, trong đó quy định:
“(1) Việc đánh giá, xếp loại giáo viên trung học theo Chuẩn phải đảm bảo tính trung thực, khách quan, toàn diện, khoa học, dân chủ và công bằng; phản ánh đúng phẩm chất, năng lực dạy học và giáo dục của giáo viên trong điều kiện cụ thể của nhà trường, địa phương.
(2) Việc đánh giá, xếp loại giáo viên theo Chuẩn phải căn cứ vào kết quả đạt được thông qua các minh chứng phù hợp với các tiêu chuẩn, tiêu chí” (Điều 10) “Quy trình đánh giá, xếp loại giáo viên theo Chuẩn được tiến hành trình tự theo các bước:
Bước 1: Giáo viên tự đánh giá, xếp loại (theo mẫu phiếu taị Phụ lục 1);
Bước 2: Tổ chuyên môn đánh giá, xếp loại (theo mẫu phiếu taị Phụ lục 2 và 3);
Bước 3: Hiệu trưởng đánh giá, xếp loại giáo viên (theo mẫu phiếu taị Phụ lục 4); kết quả được thông báo cho giáo viên, tổ chuyên môn và báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp” [6].
Như vậy TCM đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định các minh chứng cụ thể, chính xác của từng tổ viên để đánh giá GV theo chuẩn, trên cơ sở đó tham mưu với HT đánh giá GV một cách chính xác, công bằng. Từ đó xác định những mặt còn thiếu, yếu kém của từng GV để có kế hoạch bổ sung, bồi dưỡng, tập huấn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho tổ viên.
Quản lý việc bồi dưỡng giáo viên cốt cán, bồi dưỡng đại trà qua các mô- đun triển khai Chương trình GDPT 2018 và các mô đun bồi dưỡng thường xuyên tại thông tư số 17/BGD ngày 01 tháng 11 năm 2019 về thông tư ban hành chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông; thông tư số 19/BGD ngày 12 tháng 11 năm 2019 về thông tư ban hành quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông và giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên; bồi dưỡng trực tiếp, qua mạng, thường xuyên, liên tục gắn nội dung bồi dưỡng thường xuyên với nội dung sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn trong trường và cụm trường [8].
Quản lý kế hoạch đăng kí tự bồi dưỡng thường xuyên của mỗi cá nhân. Kiểm tra tiến độ tự bồi dưỡng của mỗi giáo viên thông qua bài viết thu hoạch sau mỗi đợt. Học tập kinh nghiệm các thành viên trong trường, cụm trường thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo, dự giờ …
Khuyến khích giáo viên bồi dưỡng văn bằng 2 đối với các môn học: Lịch sử- Địa lý, KHTN để đáp ứng nhu cầu giáo dục và các lớp chuyên môn nghiệp vụ khác.
Sinh hoạt TCM được thực hiện theo định kỳ được quy định trong Điều lệ trường trung học (2 tuần/lần). Thời gian do Hiệu trưởng quy định và tùy yêu cầu về tính chất, nội dung công việc.
Nội dung sinh hoạt TCM thực hiện theo nhiệm vụ quy định, bao gồm việc triển khai kế hoạch tổ; nhận xét đánh giá, xếp loại giờ dạy, thảo luận phương pháp giảng dạy bài khó trong chương trình, bàn bạc kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém; nhận xét đánh giá, xếp loại GV; đề xuất khen thưởng, kỉ luật GV….
Trong công tác quản lý kiểm tra, đánh giá là chức năng quan trọng và cũng là điểm khởi đầu làm tiền đề cho việc ra quyết định, lập kế hoạch… Đó là công việc kiểm tra và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, là việc đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, những mặt hạn chế để điều chỉnh kế hoạch, tổ chức lãnh đạo sao cho phù hợp.
Trong hoạt động kiểm tra, đánh giá hoạt động TCM trong trường trung học cơ sở cần thực hiện các công việc sau:
+ Kiểm tra việc thực hiện các hoạt động của GV theo kế hoạch đặt ra.
+ Điều chỉnh những sai lệch trong quá trình thực hiện kế hoạch hoạt động tổ chuyên môn (HĐ TCM)
+ Đánh giá việc thực hiện mục tiêu ở TCM, tổng kết, rút kinh nghiệm HĐ TCM.
+ Đánh giá việc chia sẻ kiến thức chuyên môn, đổi mới PPDH của giáo viên trong TCM.
+ Đánh giá việc hỗ trợ và trợ giúp nhau để hoàn thiện các kĩ năng hiện có, bổ sung những kĩ năng mới và giải quyết các vấn đề liên quan tới lớp học của GV trong TCM
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\ĐẠI HỌC SƯ PHẠM\SỬA SAU BẢO VỆ LV SƯ PHẠM\Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trường THCS\THAM KHẢO/ Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường trung học cơ sở thị xã Điện Bàn


