Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hoạt động đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng là một trong những vấn đề then chốt, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Hằng năm nhà nước ta dành nguồn lực rất lớn chi cho đầu tư XDCB, điều này không chỉ tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế mà còn có tính định hướng đầu tư, góp phần đắc lực cho việc thực hiện những vấn đề xã hội, phát triển kinh tế, đảm bảo phúc lợi, an sinh xã hội và an ninh quốc phòng. Trong đầu tư xây dựng, vốn là một trong các yếu tố cơ bản, quan trọng để thực hiện hoàn thành một dự án. Hiện nay, trong lĩnh vực đầu tư công, vấn đề quản lý và giải ngân vốn là một trong những vấn đề nóng được Chính phủ, các Bộ, ngành cũng như địa phương đặc biệt quan tâm.
ĐHĐN là một trong những Đại học vùng trọng điểm quốc gia của Việt Nam, đào tạo đa ngành đa lĩnh vực. Để đáp ứng nhiệm vụ được giao, trong thời gian qua ĐHĐN đã triển khai thực hiện nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ bản để hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất. Với điều kiện hiện nay, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước còn hạn chế thì việc quản lý, sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư là một vấn đề quan trọng đặt ra cho ĐHĐN. Các cán bộ, cơ quan quản lý đã có nhiều biện pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB góp phần đưa ĐHĐN đạt được những thành tựu nổi bật trong sự nghiệp phát triển giáo dục và và đóng góp cho cộng đồng, xã hội. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế do những nguyên nhân khác nhau, từ hệ thống các văn bản pháp quy chưa đồng bộ, các nguyên nhân khách quan, việc triển khai ở cơ sở còn lúng túng, lực lượng cán bộ chuyên môn quản lý đầu tư chưa nhiều, dẫn đến tình trạng còn sai sót trong quản lý, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư.
Từ những cơ sở trên, quản lý hiệu quả vốn đầu tư XDCB là vấn đề hết sức quan trọng. Là cán bộ công tác trong ngành tài chính tại đơn vị trực thuộc ĐHĐN, với những kiến thức đã học của chương trình cao học ngành Quản lý kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế – ĐHĐN, các thực tiễn đã nghiên cứu và mong muốn tìm hiểu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận, hoàn thiện việc quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu tư XDCB, học viên lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN trong giai đoạn 2017 – 2021đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN trong thời gian tới.
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Nghiên cứu và hệ thống hoá những vấn đề lý luận về công tác quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB;
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN giai đoạn 2017 – 2021, làm rõ những mặt làm được, chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN trong thời gian đến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
– Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: luận văn nghiên cứu tại ĐHĐN.
+ Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021.
+ Về nội dung: công tác quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu tổng hợp từ các báo cáo Quyết toán nguồn vốn đầu tư XDCB, báo cáo tổng hợp kết quả thanh tra, báo cáo tình hình giải ngân vốn đầu tư và các báo cáo thống kê của ĐHĐN .
4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
– Phương pháp thống kê: Sử dụng để tổng hợp các dữ liệu thu thập được, phân tích những nội dung chủ yếu của đề tài, phân tích số liệu thống kê từ nhiều nguồn để rút ra những đánh giá, nhận xét. Trên cơ sở số liệu thu thập từ năm 2017 đến năm 2021 tại ĐHĐN, luận văn sẽ phân tích và đưa ra những nhận xét, đánh giá về tình hình quản lý vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN.
– Phương pháp so sánh: Sử dụng để phân tích và so sánh thực trạng tình hình quản lý vốn đầu tư XDCB qua các năm, so sánh các chỉ số qua các năm từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm để tăng cường công tác quản lý.
– Phương pháp khái quát hóa: Trên cơ sở các nhận xét, đánh giá qua phân tích các thống kê, so sánh để khái quát hóa thành những nhận định, làm nổi bật những vấn đề chính của luận văn.
5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN giai đoạn 2017-2021.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB tại ĐHĐN.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ XDCB
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
Theo Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 của Việt Nam thì vốn đầu tư là tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Theo Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 thì vốn đầu tư công bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dùng để đầu tư theo quy định của pháp luật.
Vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại. Nó có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính. Theo Khoản 44, Điều 4, Luật Đấu thầu số 17/VBHN-VPQH, các nguồn vốn thuộc vốn nhà nước được liệt kê lần lượt theo từng nhóm nguồn vốn có tính chất tương tự, bao gồm Vốn ngân sách nhà nước; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được đảm bảo bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất.
Vốn đầu tư xây dựng là khoản chi đầu tư XDCB để đầu tư xây dựng công trình bao gồm: chi phí bồi thường HT TĐC; chi phí xây lắp; chi phí thiết bị; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác; chi phí dự phòng (được quy định cụ thể theo Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính Phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng). Như vậy vốn đầu tư xây dựng cơ bản bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế. Như vậy, vốn đầu tư xây dựng gồm 2 bộ phận hợp thành: vốn đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới TSCĐ mà ta gọi là vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ.
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển xã hội trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Quản lý vốn đầu tư xây dựng là một trong những nội dung của quản lý ngân sách nhà nước, đó là quản lý chi phí đầu tư xây dựng, lập kế hoạch bố trí vốn, giải ngân thanh toán, quyết toán vốn hàng năm.
Giải ngân vốn đầu tư công là việc cơ quan kiểm soát thực hiện tạm ứng vốn, thanh toán khối lượng hoàn thành cho nhiệm vụ, dự án trên cơ sở đề nghị của Chủ đầu tư.
Thanh toán khối lượng hoàn thành là việc cơ quan kiểm soát, thanh toán chuyển tiền cho đơn vị, cá nhân thụ hưởng (hoặc thanh toán để thu hồi vốn tạm ứng) theo đề nghị của chủ đầu tư để thanh toán cho phần giá trị khối lượng công việc đã thực hiện, được các bên nghiệm thu, xác định là công việc hoàn thành từng phần hoặc toàn bộ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận, đảm bảo yêu cầu về chất lượng theo quy định hiện hành. Riêng thanh toán khối lượng hoàn thành đối với bảo hiểm công trình là việc thanh toán hợp đồng được ký kết; đối với chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán là việc chủ đầu tư thanh toán cho cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán theo văn bản đề nghị của cơ quan này.
Thứ nhất, đầu tư XDCB phần lớn là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Vì vậy, quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải thiết lập các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện đúng theo kế hoạch và tiến độ đã được xác định.
Thứ hai, đầu tư XDCB có tính chất lâu dài, thời gian để tiến hành đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi thời gian với nhiều biến động xảy ra. Vì vậy, các yếu tố thay đổi theo thời gian sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, chẳng hạn: giá cả, lạm phát, lãi suất…
Thứ ba, sản phẩm đầu tư XDCB là các công trình xây dựng gắn liền với đất xây dựng công trình. Vì vậy, mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi phối bởi điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi trường, khí hậu, thời tiết… của nơi đầu tư xây dựng công trình, nơi đầu tư xây dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác, sử dụng. Sản phẩm xây dựng cơ bản chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng. Chính vì vậy, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình.
Thứ tư, sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục công trình, công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thời tiết… của nơi đầu tư xây dựng công trình. Mục đích của đầu tư và các điều kiện trên quyết định đến qui hoạch, kiến trúc, qui mô và kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công… và dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình. Vì vậy, quản lý vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư.
Thứ năm, đầu tư XDCB được tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực kinh tế xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… nên sản phẩm xây dựng cơ bản có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng. Quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải phù hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Thứ sáu, đầu tư xây dựng cơ bản thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng công trình thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựng công trình. Quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thúc đẩy quá trình tổ chức hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công… nhằm giảm bớt lãng phí, thiệt hại về vật tư và tiền vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình.
Những đặc điểm nêu trên cho thấy tính đa dạng và phức tạp của đầu tư XDCB và đòi hỏi cần phải có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư. Chính vì vậy, quản lý nhà nước về vốn trong đầu tư XDCB cần phải có những nguyên tắc nhất định, biện pháp, trình tự quản lý, cấp phát vốn dựa trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của điểm của đầu tư xây dựng cơ bản.
1.1.3. Đặc điểm quản lý vốn đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước
“Định hướng, đảm bảo điều kiện để thực hiện đầu tư xây dựng. Việc đáp ứng đầy đủ về vốn trong quá trình đầu tư xây dựng góp phần quan trọng đảm bảo về tiến độ, thời gian thi công công trình và đặc biệt là việc quản lý sử dụng vốn sẽ đạt hiệu quả tốt hơn, tránh được những thất thoát lãng phí; đáp ứng được nguồn vốn trong đầu tư cũng đảm bảo cho việc quản lý sử dụng nguồn vốn được diễn ra trong thời gian ngắn nhất, hiệu quả nhất.
Quản lý sử dụng vốn thông qua việc lập kế hoạch sử dụng nguồn vốn giữ vai trò quan trọng vì đây vừa là nội dung, vừa là công cụ để quản lý sử dụng vốn có hiệu quả. Nếu vốn được lập kế hoạch quản lý sử dụng chặt chẽ, khoa học, tuân thủ các quy định chung thì công tác triển khai, thực hiện sẽ đạt được hiệu quả tốt, hạn chế các tiêu cực, thất thoát, lãng phí và ngược lại.
Quản lý sử dụng vốn trong tổ chức thực hiện: Đây là quá
trình thực hiện công tác nghiệp vụ quản lý sử dụng vốn của chủ đầu tư, lựa chọn nhà thầu, làm thủ tục, hồ sơ, thanh toán, tạm ứng với KBNN. Nếu chủ đầu tư có đủ năng lực, trình độ quản lý thì hiệu quản lý sử dụng vốn tốt và ngược lại. Các chủ đầu tư ở đây là những con người trực tiếp tham gia có vai trò quyết định, nó chi phối bao trùm các khâu trong quản lý sử dụng nguồn vốn. Việc phân định trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý sử dụng vốn trong đầu tư xây dựng có rõ ràng hay không và xây dựng các chế tài xử lý trong vi phạm quản lý sử dụng vốn cũng có vai trò quyết định không nhỏ đến kết quả công tác quản lý sử dụng vốn trong đầu tư xây dựng.
Quản lý quyết toán vốn trong đầu tư xây dựng là khâu kiểm tra, đánh giá lại, khóa lại công tác quản lý sử dụng vốn của các cơ quan chức năng của Nhà nước, chủ đầu tư, tư vấn… thông qua quyết toán nguồn vốn giúp cho Nhà nước quy kết được trách nhiệm của các bên liên quan nếu có sai phạm gây thất thoát, lãng phí.
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước, ban giám sát đầu tư cộng đồng có vai trò góp phần giúp nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong công tác quản lý sử dụng vốn trong đầu tư xây dựng.”
1.1.4. Vai trò của quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng
– Quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển KT- XH của mỗi quốc gia. Sự gia tăng nguồn vốn, phân bổ và sử dụng có hiệu quả sẽ tác động rất lớn đến tăng trưởng kinh tế.
– Quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng là công cụ để nhà nước tác động đến tổng cung, tổng cầu và tác động hai mặt đến sự ổn định của nền kinh tế
Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Trong ngắn hạn, khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của quản lý vốn đầu tư xây dựng làm cho tổng cầu tăng, kéo sản lượng cân bằng tăng và giá cả các yếu tố đầu vào tăng. Khi thành quả của quản lý vốn đầu tư xây dựng phát huy tác dụng, năng lực mới đi vào hoạt động làm tăng tổng cung trong dài hạn, sản lượng tiềm năng cũng tăng, giá cả sản phẩm giảm và tiêu dùng tăng lên. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất phát triển hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển KT-XH, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống người dân.
Do tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và tổng cung nên một sự thay đổi của đầu tư đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế.
– Quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng là công cụ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế.
Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới, con đường tất yếu có thể tăng trưởng với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh ở các quốc gia. Ngoài ra, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thóat khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
– Quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ
Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay. Theo đánh giá của các chuyên gia, trình độ công nghệ của Việt Nam lạc hậu nhiều so với thế giới và khu vực. Với thực trạng đó, quá trình CNH – HĐH đất nước sẽ gặp khó khăn nếu không đề ra chiến lược đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững chắc. Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với vốn đầu tư sẽ là những phương án không khả thi.
– Quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng góp phần phát triển con người và giải quyết các vấn đề xã hội.
Theo các nhà kinh tế thì chi đầu tư tạo ra tăng trưởng kinh tế và bản thân tăng trưởng kinh tế tác động trực tiếp đến việc góp phần giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, giảm khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, thực hiện đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt động từ thiện khác… Khi đã giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đến lượt nó lại là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra sự phát triển bền vững trong tương lai.
– Quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng tạo tiền đề và điều kiện để thu hút và sử dụng các nguồn vốn đầu tư khác.
Quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng còn có một tác động rất quan trọng là thúc đẩy đầu tư tư nhân vì việc cải thiện cơ sở hạ tầng cũng như dịch vụ công cộng sẽ tạo ra môi trường thuận lợi, dễ dàng hơn cho đầu tư tư nhân, làm giảm đáng kể chi phí đầu tư…. và do vậy làm cho nhiều dự án đầu tư tư nhân trở nên khả thi hơn.
Quản lý nhà nước vốn đầu tư xây dựng là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước trực tiếp tác động đến các quá trình KT – XH, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Quản lý vốn đầu tư xây dựng từ NSNN được coi là “vốn mồi” để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư phát triển trên tất cả các lĩnh vực, là hạt nhân thúc đẩy xã hội hóa đầu tư, thực hiện CNH – HĐH đất nước.
Tóm lại, Quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB chủ yếu đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH không có khả năng thu hồi vốn. Kết cấu hạ tầng lại đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của một quốc gia. Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ tạo động lực cho sự phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XDCB (QUAN TRỌNG NÊN VIẾT SAU)
1.2.1. Lập, phân bổ kế hoạch vốn đầu tư xây dựng của các cấp ngân sách
1.2.1.1. Lập kế hoạch đầu tư công
Trong việc lập kế hoạch vốn, thường người ta chia thành: kế hoạch trung hạn và kế hoạch hằng năm. Kế hoạch trung hạn, thường là 5 năm sẽ giúp các nhà quản lý và các đơn vị thực hiện biết được nhu cầu vốn là bao nhiêu để tập trung đẩy mạnh thực hiện tiến độ các dự án, tránh tình trạng cứ phê duyệt dự án trước rồi mới lo nguồn sau, khiến nhiều dự án bị dang dở. Có thể nói kế hoạch trung hạn là kế hoạch có thời hạn tốt nhất để giúp cho quản lý vốn đầu tư chủ động và có hiệu quả hơn. Kế hoạch hằng năm để triển khai thực hiện kế hoạch trung hạn, phù hợp với mục tiêu kế hoạch phát triển hằng năm và cân đối vốn đầu tư xây dựng hằng năm.
- Căn cứ lập kế hoạch đầu tư công trung hạn
Lập kế hoạch đầu tư công trung hạn dựa trên những căn cứ chủ yếu sau:
+ Tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm và kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước;
+ Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm của quốc gia, ngành, lĩnh vực, địa phương; kế hoạch tài chính 05 năm; kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm; mục tiêu ưu tiên đầu tư trong kế hoạch 05 năm của quốc gia, ngành, lĩnh vực, địa phương;
+ Quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch;
+ Nhu cầu và dự báo khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, khả năng cân đối vốn ngân sách nhà nước;
+ Dự báo tác động của tình hình thế giới và trong nước đến sự phát triển và khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư;
+ Cơ chế và chính sách thu hút các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội.
- Căn cứ lập kế hoạch đầu tư công hằng năm
Lập kế hoạch đầu tư công hằng năm dựa trên những căn cứ chủ yếu sau:
– Tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, ngành, lĩnh vực, địa phương; kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư công năm trước;
– Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm;
– Kế hoạch đầu tư công trung hạn;
– Nhu cầu và khả năng cân đối các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong năm kế hoạch.
c. Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm
– Phù hợp với các mục tiêu phát triển tại chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm và hằng năm của quốc gia, ngành, lĩnh vực, địa phương và các quy hoạch đã được phê duyệt, kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm.
– Phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư công và thu hút các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác; bảo đảm cân đối vĩ mô, ưu tiên an toàn nợ công.
– Việc phân bổ vốn đầu tư công phải tuân thủ nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư công trong từng giai đoạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
– Ưu tiên bố trí vốn cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ theo mục tiêu và định hướng phát triển của từng thời kỳ.
– Bảo đảm công khai, minh bạch và công bằng.
– Bảo đảm quản lý tập trung, thống nhất về mục tiêu, cơ chế, chính sách; thực hiện phân cấp trong quản lý đầu tư, tạo quyền chủ động cho Bộ, cơ quan trung ương và địa phương theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.
– Kế hoạch đầu tư công hằng năm phải phù hợp với kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được phê duyệt.
d. Nội dung báo cáo kế hoạch đầu tư công trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
* Nội dung báo cáo kế hoạch đầu tư công trung hạn
– Tình hình triển khai và kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước.
– Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội; mục tiêu, định hướng cơ cấu đầu tư theo ngành, lĩnh vực trong trung hạn. Việc phân loại theo ngành, lĩnh vực được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
– Khả năng huy động và cân đối các nguồn vốn; dự kiến tổng số vốn đầu tư để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, ngành, lĩnh vực trong trung hạn, bao gồm vốn thực hiện nhiệm vụ quy hoạch, nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án, hoàn trả các khoản ứng trước, hoàn trả các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư.
– Tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước, bao gồm vốn ngân sách trung ương, vốn ngân sách từng địa phương; tổng mức vốn ngân sách trung ương chi tiết theo từng ngành, lĩnh vực, dự kiến mức phân bổ cho từng Bộ, cơ quan trung ương và mức vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách từng địa phương đối với báo cáo trình Quốc hội. Tổng mức vốn của từng cơ quan, tổ chức được giao kế hoạch vốn đầu tư công sử dụng nguồn ngân sách địa phương chi tiết theo từng ngành, lĩnh vực và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới đối với báo cáo trình Hội đồng nhân dân các cấp.
– Nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn.
– Sắp xếp thứ tự ưu tiên, lựa chọn danh mục dự án và mức vốn bố trí cụ thể cho từng dự án trong trung hạn phù hợp với khả năng cân đối vốn đầu tư công và khả năng huy động các nguồn vốn khác để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ và định hướng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm.
– Giải pháp thực hiện và dự kiến kết quả đạt được.
* Nội dung báo cáo kế hoạch đầu tư công hằng năm
– Tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm trước.
– Định hướng đầu tư công trong năm kế hoạch.
– Khả năng huy động và cân đối các nguồn vốn thực hiện trong năm kế hoạch.
– Lựa chọn danh mục dự án và mức vốn bố trí cụ thể cho từng dự án phù hợp với danh mục dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn và khả năng cân đối nguồn vốn kế hoạch hằng năm.
– Giải pháp điều hành, tổ chức thực hiện và dự kiến kết quả đạt được.
e. Trình tư lập, thẩm định kế hoạch đầu tư công
* Trình tư lập, thẩm định kế hoạch đầu tư công trung hạn
– Trước ngày 30 tháng 6 năm thứ tư của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng, tiêu chí phân bổ mức vốn đầu tư công trung hạn dự kiến cho các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
– Trước ngày 31 tháng 7 năm thứ tư của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị về việc lập kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau với tổng mức vốn đầu tư công dự kiến bằng tổng mức vốn đầu tư công của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, thông báo tổng mức vốn đầu tư công dự kiến của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương để làm căn cứ quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án giai đoạn sau.
– Trước ngày 15 tháng 8 năm thứ tư của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, thời gian, tiến độ lập kế hoạch đầu tư công trung hạn.
– Căn cứ quy định của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan trung ương có trách nhiệm:
+ Giao cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư công hướng dẫn lập kế hoạch đầu tư công trung hạn;
+ Giao cơ quan, đơn vị trực thuộc sử dụng vốn đầu tư công lập kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan cấp trên xem xét theo tiến độ theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
+ Giao cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư công tổ chức thẩm định kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau theo tiến độ theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
+ Giao cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư công lập kế hoạch đầu tư công trung hạn trình cấp có thẩm quyền xem xét, hoàn chỉnh và gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính theo tiến độ theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
– Trước ngày 31 tháng 01 năm thứ năm của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, Chính phủ dự kiến khả năng cân đối ngân sách nhà nước cho chi đầu tư phát triển trong giai đoạn sau.
– Từ ngày 01 tháng 02 đến ngày 30 tháng 4 năm thứ năm của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thẩm định kế hoạch và phương án phân bổ vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương của các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
– Sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan trung ương hoàn thiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trước ngày 30 tháng 6 năm thứ năm của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước.
– Trước ngày 31 tháng 7 năm thứ năm của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch đầu tư công trung hạn của quốc gia báo cáo Chính phủ.
* Trình tự lập, thẩm định kế hoạch đầu tư công hằng năm
– Trước ngày 15 tháng 5 hằng năm, Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về việc lập kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau, bao gồm mục tiêu, định hướng chủ yếu và giao nhiệm vụ triển khai xây dựng kế hoạch đầu tư công năm sau.
– Trước ngày 15 tháng 6 hằng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và mục tiêu, yêu cầu, nội dung, thời gian, tiến độ lập kế hoạch đầu tư công năm sau.
– Trước ngày 30 tháng 6 hằng năm, các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương hướng dẫn cơ quan, đơn vị cấp dưới lập kế hoạch đầu tư công năm sau.
– Trước ngày 31 tháng 7 hằng năm, các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương hoàn chỉnh dự kiến kế hoạch đầu tư công năm sau, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
– Trước ngày 15 tháng 8 hằng năm, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến khả năng thu, chi ngân sách nhà nước và chi đầu tư phát triển vốn ngân sách nhà nước kế hoạch năm sau. Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo số vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách trung ương dự kiến phân bổ cho các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương của kế hoạch năm sau.
– Trước ngày 25 tháng 8 hằng năm, các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương hoàn thiện dự kiến kế hoạch đầu tư công năm sau, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
– Trước ngày 31 tháng 8 hằng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp kế hoạch đầu tư công năm sau của quốc gia báo cáo Chính phủ.
“Đối với các đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm sẽ được báo cáo về để tổng hợp và trình các cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.
1.2.1.2. Lập kế hoạch đầu tư, cải tạo, sửa chữa từ nguồn vốn chi thường xuyên
Hằng năm, căn cứ vào yêu cầu công tác quản lý, Đại học Đà Nẵng hướng dẫn các đơn vị trực thuộc lập kế hoạch đầu tư, cải tạo, sửa chữa từ nguồn vốn chi thường xuyên để phê duyệt làm căn cứ cho các đơn vị triển khai thực, ĐHĐN giám sát và KBNN kiểm soát chi.
1.2.1.3.Tiêu chí đánh giá công tác Lập, phân bổ kế hoạch vốn đầu tư xây dựng của các cấp ngân sách:
– Bố trí vốn hợp lý để hoàn thành và đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án. Bố trí vốn theo kế hoạch tổ chức thi công xây dựng công trình đó là giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị mặt bằng thì bố trí ít; giai đoan đã có đầy đủ mặt bằng thi công, vào phần kết cấu chính của công trình thì bố trí nhiều vốn để đẩy nhanh tiến độ; giai đoạn hoàn thiện công trình thì bố trí ít vốn, chờ quyết toán vốn và thanh lý hợp đồng.
– Bố trí vốn theo thứ tự ưu tiên cho các dự án đã quyết toán; dự án hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng nhằm giảm nợ đầu tư công.
– Bố trí vốn cho các dự án chuyển tiếp theo kế hoạch được duyệt, dự án dự kiến hoàn thành trong năm kế hoạch nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành dự án, vì giai đoạn này đã hoàn thành các thủ tục đầu tư, mặt bằng thi công nên cẩn tập trung vốn để đẩy nhanh tiến độ thi công hoàn thành công trình.
– Dự án khởi công mới: bố trí cho công tác chuẩn bị đầu tư, bồi thường hỗ trợ tái định cư, khởi động dự án. Vì năm đầu của dự án chủ yếu là các thủ tục đầu tư, vốn bồi thường giải phóng mặt bằng, chuẩn bị công trường thi công và một số bộ phận, cấu kiện sản xuất tại bãi tập trung, chuẩn bị cho việc thi công phần chính của dự án.”
1.2.2. Phê duyệt phân bổ dự toán, kiểm soát thanh toán, tạm ứng vốn đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước
– “Việc giao dự toán và phân bổ vốn đầu tư công cho năm hiện tại được thực hiện trước ngày 31/12 của năm ngân sách liền trước hoặc theo thời gian cụ thể trong quyết định giao, bổ sung hoặc điều chỉnh vốn trong năm ngân sách của cấp thẩm quyền. Các quyết định phân bổ, điều chỉnh, bổ sung vốn cho dự án đầu tư của cấp thẩm quyền được gửi đến các Chủ đầu tư, cơ quan tài chính, kho bạc nhà nước để có căn cứ kiểm soát thanh toán. các đơn vị được giao nhiệm vụ Chủ đầu tư hoàn thành thủ tục lập thẩm định dự án/công trình trình cấp thẩm quyền Quyết định phê duyệt Dự án/công trình. Các chủ đầu tư mở tài khoản, đăng ký mã số dự án, nhập vốn cho dự án/công trình theo quy định hiện hành. Công tác quản lý vốn đầu tư bắt đầu từ thời điểm này cho đến khi quyết toán công trình, thanh lý các Hợp đồng tư vấn, Hợp đồng xây dựng. Các bước, công việc thực hiện trong quá trình quản lý vốn được tiến hành theo quy định hiện hành như sau”.
– “Các chủ đầu tư mở tài khoản cho dự án tại KBNN cùng cấp để thực hiện kiểm soát thanh toán vốn. Đăng ký mã dự án tại cơ quan tài chính cấp tỉnh theo thủ tục đăng ký trực tuyến. Đề nghị cơ quan tài chính cùng cấp nhập vốn theo quyết định phân bổ vốn lên hệ thống Tabmis để giao dịch. Hồ sơ mở tài khoản cho dự án bao gồm: Giấy xin mở tài khoản, giấy đăng kí mẫu dấu, chữ ký gửi Bộ phận Kế toán Kho bạc để làm căn cứ mở tài khoản, Quyết định thành lập cơ quan đơn vị (02 Bản), Quyết định bố trí vốn cho dự án của cấp thẩm quyền, Quyết định phê duyệt dự án/Báo cáo kinh tế kỹ thuật và hồ sơ dự án/Báo cáo kinh tế kỹ thuật kèm theo. Thủ tục đăng ký mã số sự án bao gồm Giấy đề nghị đăng ký mã số dự án, Quyết định phê duyệt dự án”.
– “Tổ chức lựa chọn thầu tư vấn, lựa chọn thầu xây lắp và ký kết các Hợp đồng (trong đó có giá hợp đồng, nội dung hợp đồng, thời gian thực hiện hợp đồng, tạm ứng hợp đồng, thanh toán, quyết toán hợp đồng) theo quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng được nhà nước quy định. Đây là khâu vô cùng quan trọng nhằm xác định tổng chi phí đầu tư dự án; hồ sơ pháp lý của dự án, quyền và tránh nhiệm của các bên tham gia thực hiện dự án; chất lượng, khối lượng, tiến độ…của dự án; tổng giá trị chi phí của dự án được quyết toán. Các bước này đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật xây dựng và quản lý dự án (Nội dung của Luận văn là quan lý nhà nước về vốn, vì vậy học viên không trình bày các bước này).
– Tạm ứng Hợp đồng là khoản kinh phí mà bên giao thầu ứng trước không lãi suất cho bên nhận thầu để thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết để triển khai thực hiện các công việc theo hợp đồng”.
““Việc tạm ứng vốn được thực hiện sau khi hợp đồng có hiệu lực và chủ đầu tư đã nhận được bảo lãnh tạm ứng hợp đồng (đối với trường hợp phải có bảo lãnh tạm ứng) với giá trị tương đương của khoản tiền tạm ứng và giấy đề nghị tạm ứng của nhà thầu. Riêng đối với hợp đồng thi công xây dựng, phải có kế hoạch giải phóng mặt bằng hoặc biên bản bàn giao mặt bằng (toàn bộ hoặc một phần) của tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng giao cho chủ đầu tư theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng.
Mức vốn tạm ứng, thời điểm tạm ứng, mức thu hồi tạm ứng từng lần, thời điểm thu hồi tạm ứng từng lần và các nội dung khác đảm bảo việc thu hồi tạm ứng do chủ đầu tư thống nhất với nhà thầu theo đúng quy định phải được ghi cụ thể trong hợp đồng và phải phù hợp với tiến độ đầu tư dự án, tiến độ thực hiện hợp đồng và khối lượng thực hiện theo từng năm. Mức vốn tạm ứng và số lần tạm ứng được phân định cụ thể theo từng năm phù hợp với tiến độ thực hiện hợp đồng trong năm tương ứng.
Căn cứ vào nhu cầu tạm ứng vốn, chủ đầu tư có thể tạm ứng vốn một lần hoặc nhiều lần cho một hợp đồng đảm bảo tổng mức vốn tạm ứng theo quy định (quy định tại khoản 3 Điều 10 Thông tư 99/2021/TT-BTC): Mức tạm ứng vốn xây lắp không vượt quá 30% giá trị Hợp đồng và phải có bão lãnh tạm ứng kèm theo; Mức tạm ứng vốn Bồi thường hỗ trợ tái định cư không vượt quá phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư được cấp thẩm quyền phê duyệt; Mức vốn tạm ứng chi phí quản lý dự án không vượt quá dự toán chi phí quản lý dự án được phê duyệt trong dự án và không vượt dự toán chi phí năm kế hoạch (được cấp thẩm quyền phê duyệt hằng năm);
Chủ đầu tư có trách nhiệm cùng với nhà thầu tính toán mức tạm ứng hợp lý và tuân thủ theo đúng quy định, quản lý việc sử dụng vốn tạm ứng đúng mục đích, đúng đối tượng, có hiệu quả và có trách nhiệm thu hồi đủ số vốn đã tạm ứng.
Bảo lãnh tạm ứng (đối với hợp đồng có giá trị tạm ứng vốn trên 01 tỷ đồng). Bảo lãnh tạm ứng hợp đồng của nhà thầu với giá trị tương đương với khoảng tiền tạm ứng trước và được cơ quản kiểm soát kiểm soát, thanh toán thực hiện việc chuyển tiền tạm ứng hợp đồng cho chủ đầu tư để thực hiện tạm ứng vốn. Giá trị của bảo lãnh tạm ứng hợp đồng sẽ được giảm trừ tương ứng với giá trị tiền tạm ứng đã thu hồi qua mỗi lần thanh toán giữa bên giao thầu và bên nhận thầu. Chủ đầu tư đảm bảo và chịu trách nhiệm về giá trị của bảo lãnh tạm ứng phải tương ứng với số dư tiền tạm ứng còn lại. Thời gian có hiệu lực của bảo lãnh tạm ứng hợp đồng theo thời gian hợp đồng kéo dài cho đến khi chủ đầu tư đã thu hồi hết số tiền tạm ứng và được quy định cụ thể trong hợp đồng và trong văn bản bảo lãnh tạm ứng. Trường hợp bảo lãnh tạm ứng hết thời hạn, chủ đầu tư có trách nhiệm làm thủ tục gia hạn bảo lãnh tạm ứng và gửi cơ quan kiểm soát, thanh toán để làm căn cứ kiểm soát chi theo quy định. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm theo dõi về thời gian hiệu lực của bảo lãnh tạm ứng.
Thu hồi vốn tạm ứng được thực hiện qua các lần thanh toán của hợp đồng. Đối với hợp đồng xây lắp mức thu hồi từng lần do chủ đầu tư thống nhất với nhà thầu, được quy định cụ thể trong hợp đồng và đảm bảo thu hồi hết khi giá trị giải ngân đạt 80% giá trị hợp đồng. Đối với chi phí bồi thường hỗ trợ tái định cư sau khi chi trả cho người dân, chủ đầu tư tập hợp chứng từ, làm thủ tục thanh toán và thu hồi tạm ứng trong thời hạn chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày chi trả cho người thụ hưởng. Đối với chi phí quản lý dự án chủ đầu tư lập bảng kê giá trị khối lượng công việc hoàn thành (có chữ ký và đóng dấu của chủ đầu tư) gửi cơ quan kiểm soát, thanh toán làm thủ tục thu hồi vốn tạm ứng, Chủ đầu tư không phải gửi chứng từ chi, hóa đơn mua sắm đến cơ quan kiểm soát, thanh toán và chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của khối lượng và giá trị đề nghị thanh toán theo dự toán được duyệt. Trường hợp ban quản lý dự án, chủ đầu tư trực tiếp quản lý nhiều dự án, định kỳ hàng quý hoặc 06 tháng và hết năm kế hoạch, chủ đầu tư phân bổ chi phí .quản lý dự án (khối lượng công việc hoàn thành theo dự toán) cho từng dự án gửi cơ quan kiểm soát, thanh toán làm thủ tục thu hồi vốn tạm ứng”.
– “Thanh toán Hợp đồng phù hợp với loại hợp đồng, giá hợp đồng và các điều kiện trong hợp đồng mà các bên đã ký kết. Các bên thỏa thuận trong hợp đồng về số lần thanh toán, giai đoạn thanh toán, thời điểm thanh toán, thời hạn thanh toán, hồ sơ thanh toán và điều kiện thanh toán, mức thanh toán được ký kết dưới 90% giá trị thực hiện qua mỗi lần thanh toán. Chủ đầu tư tuân thủ đúng các điều kiện áp dụng các loại giá hợp đồng theo quy định hiện hành. Hồ sơ thanh toán khối lượng phải đầy đủ hồ sơ khối lượng hoàn thành, hồ sơ kiểm định chất lượng công việc, biên bản nghiệm thu công việc hoàn thành, bản vẽ hoàn công công việc hoặc biên bản nghiệm thu chạy thủ và phải có biên bản thống nhất kiểm tra công tác nghiệm thu của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng cùng cấp đối (với hợp đồng xây lắp.)
Đối với hợp đồng trọn gói được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm giá hợp đồng hoặc giá công trình, hạng mục công trình, khối lượng công việc tương ứng với các giai đoạn thanh toán mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, không yêu cầu có xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết.
Đối với hợp đồng theo đơn giá cố định được thanh toán trên cơ sở khối lượng thực tế hoàn thành được nghiệm thu của từng lần thanh toán và đơn giá trong hợp đồng.
Đối với hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh được thanh toán trên cơ sở khối lượng thực tế hoàn thành được nghiệm thu của từng lần thanh toán và đơn giá trong hợp đồng hoặc đơn giá đã điều chỉnh theo đúng các thỏa thuận trong hợp đồng.
Đối với hợp đồng theo tỷ lệ phần trăm được thanh toán theo tỉ lệ phần trăm giá trị hợp đồng được cấp thẩm quyền phê duyệt và theoe đúng các thỏa thuận trong hợp đồng
Đối với hợp đồng theo thời gian như chi phí cho chuyên gia được xác định trên cơ sở mức lương cho chuyên gia và các chi phí liên quan do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhân với thời gian làm việc thực tế được nghiệm thu (theo tháng, tuần, ngày, giờ).
Đối với hợp đồng theo giá kết hợp thì việc thanh toán được thực hiện tương ứng với các loại hợp đồng theo quy định tương ứng nêu trên.
Đối với khối lượng công việc phát sinh (ngoài hợp đồng) chưa có đơn giá trong hợp đồng, thực hiện theo thỏa thuận bổ sung hợp đồng mà các bên đã thống nhất trước khi thực hiện và phải có đầy đủ hồ sơ phát sinh được cấp thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định, có phụ lục hợp đồng phát sinh, khối lượng công việc phát sinh và hồ sơ nghiệm thu kèm theo.
Chủ đầu tư phải thanh toán đầy đủ (100%) giá trị hợp đồng sau khi quyết toán dự án và thanh lý hợp đồng cho các bên tham gia dự dán..
Hợp đồng xây dựng là việc xác định tổng giá trị cuối cùng của hợp đồng xây dựng mà bên giao thầu có trách nhiệm thanh toán cho bên nhận thầu khi bên nhận thầu hoàn thành tất cả các công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng. Hồ sơ quyết toán hợp đồng do bên nhận thầu lập phù hợp với từng loại hợp đồng và giá hợp đồng. Nội dung của hồ sơ quyết toán hợp đồng xây dựng phải phù hợp với các thỏa thuận trong hợp đồng.”
– “Thanh lý Hợp đồng xây dựng được thực hiện khi các bên đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc Hợp đồng xây dựng bị chấm dứt hoặc hủy bỏ theo quy định của pháp luật. Thời hạn thanh lý hợp đồng xây dựng do các bên hợp đồng thỏa thuận.
– Kiểm soát thu chi vốn đầu tư xây dựng bằng ngân sách nhà nước được thực hiện qua KBNN đúng quy định về hồ sơ, trình tự thủ tục.
Hồ sơ quản lý, gồm: Hợp đồng khảo sát, lập Báo cáo Kinh tế kỹ thuật và Dự toán công trình; Biên bản khảo sát của tư vấn thiết kế hoặc phòng Kinh tế hạ tầng huyện với Chính quyền địa phương hoặc đơn vị sử dụng và cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện; Hồ sơ Thiết kế, Báo cáo Kinh tế kỹ thuật và Dự toán công trình; Biên bản nghiệm thu và các văn bản hướng dẫn kỹ thuật của các cơ quan chuyên môn; Căn cứ hồ sơ Báo cáo kinh tế kỹ thuật, thiết kế thi công và Dự toán công trình được nghiệm thu Chủ đầu tư làm Tờ trình đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, thẩm định, phê duyệt. Tại ĐHĐN, đơn vị tham mưu thẩm định là Ban CSVC&ĐT, sau khi kiểm tra, thẩm định Ban CSVC&ĐT lập Biên bản thẩm định về Báo cáo kinh tế kỹ thuật, thiết kế và tổng dự toán công trình với Chủ đầu tư và gửi kết quả đề nghị ĐHĐN xem xét Quyết định; Căn cứ Quyết định phê duyệt của ĐHĐN, Chủ đầu tư tổ chức thực hiện các bước tiếp theo là tổ chức lựa chọn đơn vị thi công. Quản lý thanh toán, tạm ứng vốn tại KBNN, hồ sơ ban đầu do Chủ đầu tư gửi một lần đến KBNN nơi mở tài khoản thanh toán trong quá trình thực hiện công trình”:
– “Chủ đầu tư phải mở sổ kế toán để ghi chép, hạch toán vốn đầu tư hỗ trợ từ NSNN theo quy định về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản hiện hành. Các loại sổ sách kế toán chủ yếu cần mở để theo dõi hạch toán, bao gồm: Sổ theo dõi đầu tư xây dựng (mẫu S18-X); Số chi tiết vật liệu (mẫu S20-X); Sổ kho (mẫu S21- X) nếu có nhập, xuất kho vật liệu; Giấy báo ngày công lao động (mẫu C62-X); Bảng kê các khoản đóng góp bằng hiện vật (mẫu C63-X)”.”
Tiêu chí đánh giá công tác phê duyệt phân bổ dự toán, kiểm soát thanh toán, tạm ứng vốn đầu tư xây dựng bằng ngân sách nhà nước:
“+ Tính chấp hành các quy định về trình tự thủ tục lập dự toán, phân bổ vốn đầu tư công; đúng danh mục, tổng mức cơ cấu vốn chi tiết. Tiêu chí này thể hiện tính tuân thủ pháp luật về đầu tư.
+ Tính kịp thời, đúng thời gian, đúng nội dung phân bổ dự toán chi tiết và giao kế hoạch vốn của cấp quản lý; thời gian nhập và phê duyệt vốn kế hoạch đầu tư công hàng năm trên hệ thống Tabmis theo quy định hiện hành của cơ quan tái chính các cấp. Tiêu chí này phản ánh năng lực tham mưu, tính đúng nguyên tắc trong lập kế hoạch vốn đầu tư, tính kịp thời tích cực của cơ quan tài chính các cấp.
+ Số dự án có vốn tạm ứng quá hạn thu hồi tạm ứng, tổng số vốn tạm ứng quá hạn thu hồi thể hiện tính tuân thủ quy định hiện hành, năng lực quản lý vốn của các chủ đầu tư.
+ Nợ đầu tư xây dựng cơ bản. Tiêu chí này phản ánh năng lực điều hành, quản lý, tính đúng đắn, khoa học của cơ quan tài chính và cơ quan có thẩm quyền quản lý vốn ĐTXD.
+ Tỉ lệ giải ngân vốn, tỉ lệ chuyển nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Tiêu chí này phản ánh năng lực quản lý tổ chức thực hiện dự án của các chủ đầu tư; Các tác nhân vướng mắc ảnh hưởng đến quá trình thực hiện dự án như thủ tục đầu tư công, phống hợp thực hiện nhiệm vụ của các ngành chuyên môn, công tác giải phóng mặt bằng”…
”1.2.3. Quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản
“Quyết toán vốn đầu tư được thực hiện theo năm ngân sách và dự án hoàn thành. Quyết toán vốn đầu tư theo năm ngân sách được các chủ đầu tự lập báo cáo quyết toán khi kết thúc năm ngân sách. Quyết toán dự án hoàn thành là tính toán toàn bộ chi phí hợp pháp được thực hiện trong quá trình đầu tư đến hoàn thành đưa công trình vào khai thác sử dụng và nằm trong tổng mức được cấp thẩm quyền phê duyệt.
– Quyết toán vốn đầu tư công theo năm ngân sách được lập cho vốn thanh toán khối lượng hoàn thành của các dự án được giao kế hoạch năm quyết toán từ 01/01 năm quyết toán đến hết ngày 31/01 năm sau. Vốn tạm ứng theo quy định chưa thu hồi không đưa vào quyết toán, phần vốn này được chuyển sang năm sau để quản lý thu hồi tạm ứng và quyết toán khối lượng hoàn thành. Các chủ đầu tư, lập báo cáo quyết toán vốn theo năm ngân sách gửi cơ quan tài chính cùng cấp để tổng hợp đối chiếu với KBNN xác nhận số liệu quyết toán của từng dự án trước khi tổng hợp gửi kết quả đến cấp thẩm quyền.
– Quyết toán vốn đầu tư xây dựng hoàn thành, nhằm đánh giá kết quả quá trình đầu tư, xác định năng lực sản xuất, giá trị tài sản mới tăng thêm do đầu tư mang lại; Đánh giá việc thực hiện các quy định của Nhà nước trong quá trình đầu tư thực hiện dự án, xác định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, các nhà thầu, cơ quan cấp vốn, cho vay, kiểm soát thanh toán, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Giá trị quyết toán của công trình, hạng mục công trình bao gồm chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí bồi thường hỗ trợ tái định cư (nếu có) các khoản chi phí tư vấn và chi khác có liên quan trực tiếp đến công trình, hạng mục công trình đó.
Sau khi dự án hoàn thành toàn bộ hoặc dừng thực hiện vĩnh viễn, chủ đầu tư tổng hợp giá trị quyết toán được duyệt của công trình, hạng mục công trình vào báo cáo quyết toán vốn đầu tư công dự án hoàn thành và xác định mức phân bổ chi phí chung cho từng công trình, hạng mục công trình thuộc dự án, trình người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư công dự án hoàn thành. Trong báo cáo quyết toán dự án hoàn thành xác định đầy đủ, chính xác chi tiết vốn đầu tư, tổng chi phí đầu tư đề nghị phê duyệt quyết toán hoàn thành (bao gồm cả chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng), chi phí thiệt hại trong quá trình đầu tư, chi phí được phép không tính vào giá trị tài sản, giá trị tài sản hình thành sau đầu tư.
Hồ sơ quyết toán vốn đầu tư xây dựng hoàn thành bao gồm Báo cáo quyết toán, Hồ sơ dự án từ khi có danh mục đầu tư công, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án, phê duyệt kế hoạch lựa chọn thầu, quyết định lựa chọn thầu tư vấn, xây lắp giám sát, bảo hiểm và bản vẽ thiết kế, dự toán, hồ sơ hoàn công kèm theo; Các văn bản pháp lý có liên quan kể cả báo cáo của Kiểm toán nhà nước, thanh tra nhà nước (nếu có); Hợp đồng và các phụ lục hợp đồng (nếu có); các biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành theo giai đoạn thanh toán, biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành toàn bộ hợp đồng; biên bản nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, biên bản chấp thuận kiểm tra công tác nghiệm thu của cơ quản quản lý nhà nước về xây dựng theo thẩm quyền kèm theo, Báo cáo giám sát cộng đồng của Ban giám sát cộng đồng; bảng tính giá trị quyết toán hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu (quyết toán A – B); biên bản thanh lý hợp đồng đối với trường hợp đã đủ điều kiện thanh lý hợp đồng theo quy định của pháp luật về hợp đồng; các tài liệu khác theo thỏa thuận trong hợp đồng liên quan đến nội dung thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, Biên bản nghiệm thu công trình hoặc hạng mục công trình độc lập hoàn thành đưa vào sử dụng (bản chính), Báo cáo kiểm toán của đơn vị kiểm toán độc lập trong trường hợp thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán (bản chính) và tờ trình đề nghị phê quyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng hoàn thành gửi về cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán theo quy định.
Cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán vốn dự án hoàn thành ĐHĐN là Tổ thẩm tra phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành do Giám đốc ĐHĐN ra quyết định thành lập. Cơ quan chủ trì tổ chức thẩm tra và lập báo cáo thẩm tra quyết toán. Trong trường hợp cần thiết đối với các dự án có tích chất phức tạp, quy mô lớn thì cơ quan chủ trì mời lấy ý kiến góp ý thẩm tra của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành cùng cấp trước khi trình ĐHĐN phê duyệt.
Thời gian lập báo cáo quyết toán từ 4 tháng đối với dự án nhóm C đến 9 tháng đối với nhóm quna trọng quốc gia tùy theo nhóm dự án, thời gian thẩm tra từ 03 tháng đến 08 tháng và thời gian phê duyệt từ 15 ngày đến 01 thánh theo nhóm tương đương. Chậm nhất theo thời gian quy định trên, các chủ đầu tư, các cơ quan chủ trì thẩm tra phải hoàn thành công tác lập báo cáo quyết toán và hoàn thành báo cáo thẩm tra quyết toán trình cấp thẩm quyền phê duyệt.”
Tiêu chí đánh giá công tác quyết toán vốn đầu tư bằng ngân sách nhà nước
“+ Tính chính xác, đầy đủ của báo cáo quyết toán; thời gian lập báo cáo quyết toán. Đánh giá năng lực quản lý dự án, quản lý thanh toán quyết toán vốn của Chủ đầu tư.
+ Thời gian thẩm tra, phê duyệt quyết toán; giá trị giảm trừ khối lượng trong báo cáo quyết toán dự án hoàn thành. Thể hiện tích chấp hành và năng lực quản lý ngân sách của cơ quan tài chính các cấp.
+ Việc chấp hành các quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng của cơ quản quản lý, sử dụng ngân sách.”
”1.2.4. Kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nhà nước, xử lý vi phạm
Công “tác kiểm tra, .thanh tra, kiểm toán nhà nước nhằm đánh giá việc sử dụng vốn đầu tư là chức năng cần thiết và rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước; là cách thức phân tích một cách sâu sắc, đầy đủ các nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ của một hành vi vi phạm.
– Kiểm tra tình hình quản lý, thanh toán sử dụng vốn đầu tư xây dựng là trách nhiệm và công việc thường xuyên của các chủ đầu tư, cơ quan tài chính các cấp, cơ quan kho bạc và các cơ quan có thẩm quyền. Đối với chủ đầu tư, phải thường xuyên tự kiểm tra số liệu tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư; lập báo cáo kết quả tạm ứng vốn, thanh toán, thu hồi vốn đầu tư hàng quý gửi cơ quan tài chính và các cơ quan có liên quan để theo dõi, đồng thời lập báo cáo giám sát dự án của chủ đầu tư để kiểm tra toàn diện quá trình thực hiện dự án trong đó có quản lý vốn đầu tư. Đối với các cơ quan có thẩm quyền định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra các chủ đầu tư, các bên tham gia dự án về tình hình sử dụng vốn tạm ứng vốn, thanh toán khối lượng hoàn thành, quyết toán vốn theo niên độ và theo dự án và việc chấp hành các quy định về đầu tư công, tài chính ngân sách nhà nước; kiểm tra công tác báo cáo định kỳ của các chủ đầu tư và nội dung báo cáo với kết quả thực hiện thực tế; kiểm tra việc kiểm soát vốn đầu tư của cơ quan kho bạc nhà nước cùng cấp. Nếu phát hiện sai sót thì chấn chỉ xử lý kịp thời theo thẩm quyền.
– Thanh tra công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng là hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên ngành nhằm mục đích phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
– Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước về quản lý vốn đầu tư xây dựng bằng ngân sách nhà nước nhằm đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của quá trình thanh toán vốn đầu tư, quyết toán dự án đầu tư xây dựng hoàn thành, kiểm tra toàn diện chi phí đầu tư xây dựng và việc chấp hành pháp luật và đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
Việc kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán luôn luôn là kỷ cương pháp luật. Chỉ riêng sự hiện diện của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát đã là một sự nhắc nhở thường xuyên đối với tất cả các đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát phải tuân thủ pháp luật từ đó hạn chế sự vi phạm pháp luật. Đồng thời qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát giúp đỡ, hướng dẫn các đối tượng thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác quản lý sử dụng nguồn vốn đầu tư XDCB là cách thức mà các cơ quan chức năng phân tích, đánh giá một cách khách quan, sâu sắc, đầy đủ nhất quy trình quản lý sử dụng vốn đầu tư của các đơn vị có liên quan từ đó chỉ ra kết quả đạt được, hạn chế, vi phạm và nguyên nhân… Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB không chỉ hướng vào việc phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật”.
“Việc xử lý vi phạm theo kết luận của thanh tra nhà nước, kiểm toán nhà nước, kết quả thẩm tra quyết toán khi các cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời quyết định xử lý thanh tra của cấp thẩm quyền, kết luận xử lý của kiểm toán nhà nước, kết quả thẩm tra quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Việc kiểm tra thanh tra, kiểm toán, giám sát đối với hoạt động đầu tư xây dựng trong đó có quản lý vốn đầu tư XDCB được thực hiện trong toàn bộ chu trình cấp phát, tạm ứng, giải ngân thanh toán, quyết toán vốn đầu tư, trong từng khâu của trình tự thực hiện các dự án đầu tư, việc chấp hành các quy định của pháp luật về lĩnh vực đầu tư công; Việc lập, thẩm định, phê duyệt, giao kế hoạch đầu tư công; Việc lập, thẩm định, phê duyệt các chương trình, các dự án được bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công, tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công, tình hình nợ đọng XDCB, lãng phí, thất thoát trong quá trình đầu tư… Kiểm tra toàn bộ hoạt động của các bên tham gia vào việc quản lý vốn ĐTXD như chi phí quản lý dự án của Chủ đầu tư, kiểm tra việc thi công đúng với mục tiêu và thiết kế được duyệt, kiểm tra các bước tạm ứng, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư, đồng thời kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cán bộ, công chức, viên chức liên quan đến quản lý vốn ĐTXD và trách nhiệm của người đứng đầu của các cơ quan có thẩm quyền quyết định trong từng khâu của dự án.
Do kết quả thanh tra, kiểm toán, giám sát sẽ ảnh hưởng tới nhiều cơ quan quản lý đầu tư trong đó có cơ quan quản lý nhà nước về vốn đầu tư XDCB, đây là các cơ quan nhà nước. Vì vậy, các cơ quan thanh tra, kiểm toán cần tuân thủ nghiêm ý thức nghề nghiệp và quy trình. Đảm bảo khách quan, tính trung thực, chính xác, đầy đủ và kịp thời của kết quả kiểm tra. Xử lý nghiêm các vi phạm nêu tại kết luận thanh tra, báo cáo kiểm toán là biện pháp hữu hiệu để phòng chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư, nâng cao trách nhiệm của từng cá nhân và cơ quan quản lý vốn.
– Đánh giá kết quả quản lý đầu tư cũng như kết quả quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng nội dung quan trọng gắn liền với các kết quả giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nhà nước. Trên cơ sở phân tích các kết quả kiểm tra, kiểm toán để phát hiện những mặt làm được cần phát huy và đưa ra các hạn chế, các khuyết điểm, sai phạm, kiến nghị, đồng thời nêu ra giải pháp khắc phục. Kết quả thanh ta kiểm toán kiểm tra sẽ là tiền đề để đánh giá, xác định sự phù hợp của các chính sách, các cơ chế quản lý vốn đầu tư của các cơ quan quản lý, đồng thời phát hiện ra những bất cập, các mâu thuẫn trong chính sách và cơ chế quản lý vốn đầu tư.
Qua kết luận kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nếu ít sai phạm, ít thu hồi vốn, ít xử lý về mặt tài chính, xử lý hành chính và dự án thực hiện đúng tiến độ thì hiệu quả sử dụng vốn tốt. Nếu dự án chậm tiến độ, nhiều sai phạm về mặt tài chính phải xử lý thì hiệu quả sử dụng vốn kém.
Từ việc đánh giá kết quả sử dụng vốn mà các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, về ngân sách nhà nước, các đơn vị chủ đầu tư phải thường xuyên nâng cao năng lực quản lý điều hành ngân sách trên lĩnh vực đầu xây dựng cơ bản.”
Tiêu chí đánh giá công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nhà nước, xử lý vi phạm
– Số lần thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của các cơ quan chức năng đối với các đơn vị.
– Số vụ vi phạm trong quản lý vốn đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước
– Công tác thanh tra, kiểm tra đảm bảo không bỏ lọt sai phạm.
– Công tác xử lý vi phạm đảm bảo tính răn đe, không dung túng sai phạm.
– Đảm bảo việc khắc phục, bồi thường, giải quyết hậu quả sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.3.1. Chính sách, pháp luật của nhà nước có liên quan
“Chính sách, pháp luật quyết định công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng, đây là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả thực hiện quản lý nhà nước về vốn đầu tư.
Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng là các quy định của Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền về các nội dung quản lý làm chế tài để quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng. Nếu cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng mang tính đồng bộ cao sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh hoạt động đầu tư xây dựng, tiết kiệm trong việc sử dụng vốn trong đầu tư xây dựng, ngược lại nếu cơ chế thường xuyên thay đổi hoặc không phù hợp với thực tế sẽ dẫn tới giảm hiệu quả sử dụng vốn trong đầu tư xây dựng.
Trong thời gian qua, các cơ quan trung ương đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, ban hành các cơ chế chính sách mới cho phù hợp hơn, góp phần quản lý tốt nguồn vốn trong đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, cơ chế chính sách liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng vẫn chưa theo kịp thực tế cuộc sống, cần phải được tiếp tục hoàn thiện.
Hệ thống pháp luật với vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự, trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải rất đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ. Vì vậy, hệ thống pháp luật, các chính sách liên quan đến quản lý chi đầu tư xây dựng sẽ có tác dụng kiềm hãm hay thúc đẩy hoạt động quản lý hiệu quả hay không hiệu quả chi đầu tư xây dựng ở địa phương.
1.3.2. Tổ chức bộ máy quản lý vốn đầu tư xây dựng
Tổ chức bộ máy, quy trình tổ chức bộ máy quản lý, quyền hạn trách nhiệm, nhiệm vụ của từng khâu, từng bộ phận, mối quan hệ, phối hợp của từng bộ phận trong quá trình thực hiện từ lập, chấp hành, thanh, quyết toán và quyết toán vốn có tác động rất lớn đến công tác quản lý sử dụng vốn trong đầu tư xây dựng nói chung và xây dựng nói riêng. Tổ chức bộ máy quản lý sử dụng vốn phù hợp sẽ nâng cao chất lượng quản lý, hạn chế tình trạng sai phạm trong quản lý. Quy trình quản lý được bố trí càng khoa học, rõ ràng thì càng góp phần quan trọng làm nâng cao chất lượng của thông tin tới cấp ra quyết định quản lý sử dụng vốn trong đầu tư, giảm các yếu tố sai lệch thông tin. Từ đó nâng cao được hiệu quả quản lý sử dụng vốn trong xây dựng tại ĐHĐN. Tổ chức bộ máy trong từng khâu quản lý có ảnh hưởng không nhỏ đến việc quản lý sử dụng nguồn vốn cho xây dựng, tại những nơi có tổ chức bộ máy quản lý tốt, cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao, công tâm thì công tác quản lý sử dụng nguồn vốn đầu tư sẽ mang lại hiệu quả cao. Nếu tổ chức công tác quản lý sử dụng vốn hiệu quả, phù hợp thì kết quả trong quản lý sử dụng vốn đầu tư sẽ đạt hiệu quả cao và ngược lại.
Đặc điểm của việc quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng tại ĐHĐN là nguồn vốn đầu tư thường không thuộc quyền sở hữu của chủ đầu tư và việc quản lý liên quan đến rất nhiều chủ thể, do đó việc quản lý là rất phức tạp và đòi hỏi năng lực, trách nhiệm của mỗi chủ thể quản lý phải phù hợp với mỗi khâu của quá trình quản lý, trong đó trách nhiệm của mỗi chủ thể quản lý có ý nghĩa quyết định. Nếu người quyết định đầu tư và chủ đầu tư trách nhiệm không cao sẽ dễ gây ra thất thoát, lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư. Việc phân định trách nhiệm của các chủ thể tham gia quản lý đầu tư xây dựng có rõ ràng hay không và xây dựng chế tài xử lý vi phạm trong quản lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Bên cạnh năng lực chuyên môn thì đối với cán bộ, công chức cũng cần phải tránh bệnh xu nịnh, chiều ý cấp trên, là thói quen xin cho, hạch sách, thiếu ý thức chịu trách nhiệm cá nhân. Thậm chí là sa sút về phẩm chất đạo đức như đòi hối lộ, đưa đút lót, thông đồng, móc ngoặc, gian lận… đây là những nhân tố ảnh hưởng không tốt tới quá trình quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng”.
1.3.3. Năng lực quản lý dự án của các chủ đầu tư
Các chủ đầu tư đầy đủ năng lực chuyên môn quản lý dự án chuyên nghiệp sẽ thực hiện các bước trong quá trình đầu tư đúng theo kế hoạch tiến độ được duyệt, đúng và đầy đủ hồ sơ dự án sẽ góp phần quan trọng trong quản lý vốn như thanh toán, thu hồi tạm ứng, giải ngân vốn và quyết toán dự án đúng kế hoạch và thời gian quy định. Việc tổ chức và phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng bàn giao mặt bằng sạch kịp thời sẽ góp phần quyết định trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư. Nếu ngược lại, khả năng quản lý dự án yếu kém sẽ kéo dài thời gian thực hiện các thủ tục, công đoạn trong tổ chức thi công, thiếu thủ tục, hồ sơ không chặt chẻ sẽ ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng hồ sơ thanh toán vốn, kéo dài thời gian quyết toán dự án. Hoặc chậm trễ bàn giao mặt bằng, không có mặt bằng thi công sẽ không giải ngân được nguồn vốn theo kế hoạch dẫn đến chuyển nguồn vốn, ứ đọng vốn đầu tư gây lãng phí nguồn vốn đầu tư.
1.3.4. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
“Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý vốn đầu tư đã góp phần quan trọng trong công tác lập sỗ theo dõi, lập dự toán chi phí, lưu trữ dữ liệu…đặc biệt là thanh toán trực tuyến qua Kho Bạc nhà nước đã góp phần nâng cao độ chính xác, hệ thống trong quản lý, nhanh, kịp thời trong thanh toán, giải ngân vốn đầu tư, tiết kiệm thời gian, chi phí xã hội.
Thực tế đã chứng minh với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong công tác quản lý sử dụng nguồn vốn NSNN nói chung và quản lý sử dụng nguồn vốn trong đầu tư xây dựng ở địa phương nói riêng sẽ giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc, đảm bảo được tính chính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dữ liệu, tạo tiền đề cho những quy trình cải cách về mặt nghiệp vụ một cách hiệu quả. Chính vì lẽ đó mà công nghệ thông tin là một trong những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác quản lý sử dụng vốn trong đầu tư xây dựng. Nếu có công nghệ quản lý phù hợp, hiện đại, như hệ thống máy tính có kết nối mạng Internet, có phần mềm thiết kế, lập dự toán, phần mềm kế toán và phần mềm đăng kí văn bản quy phạm pháp luật… thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý sử dụng nguồn vốn NSNN và ngược lại, nếu công nghệ quản lý thiếu, không phù hợp sẽ làm giảm chất lượng, hiệu quả công tác quản lý sử dụng nguồn vốn”.
1.3.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của địa phương
“Dự án đầu tư xây dựng ở miền núi như huyện Tiên Phước, phần lớn các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, thi công ngoài trời ở địa hình phức tạp, thời tiết bất thường, điều kiện phục vụ thi công khó khăn, dễ bị tác động bởi thiên tai, độ rủi ro cao nên tốn nhiều chi phí đầu tư, tiến độ thi công thường chậm nên ảnh hưởng lớn đến kế hoạch giải ngân vốn đầu tư, thường giải ngân gấp vào thời điểm cuối năm ngân sách dễ dẫn đến sai sót, thất thoát vốn đầu tư.”
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI ĐHĐN GIAI ĐOẠN 2017-2021
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐHĐN ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
2.1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐHĐN
ĐHĐN được thành lập theo Nghị định 32/CP ngày 04/04/1994 của Chính phủ trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại các trường: Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Cơ sở Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Đà Nẵng, Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam Đà Nẵng và Trường Công nhân Kỹ thuật Nguyễn Văn Trỗi. Trụ sở ĐHĐN tại số 41 Lê Duẩn, quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng.
Năm 1994 gồm có 05 trường thành viên: Trường Đại học Kỹ thuật (năm 1998 đổi tên thành Trường Đại học Bách khoa), Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh (năm 1989 đổi tên thành Trường Đại học Kinh tế), Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Đại cương (1997 giải thể) và Trường Cao đẳng Công nghệ. Sau đó, các cơ sở giáo dục đại học thành viên lần lượt được thành lập:
+ Năm 2002: Trường Đại học Ngoại ngữ (26/8/2002).
+ Năm 2003: Trường Cao đẳng Công nghệ Thông tin (14/10/2003).
+ Năm 2007: Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum (14/02/2007).
+ Năm 2014: Viện Nghiên cứu và Đào tạo Việt – Anh (02/10/2014) và Khoa Đào tạo Quốc tế (31/7/2014).
+ Năm 2017: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (08/11/2017).
+ Năm 2020: Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt – Hàn (03/01/2020).
ĐHĐN có 2.535 cán bộ, công chức viên chức và người lao động, trong đó cán bộ giảng dạy là 1.580 người, chiếm tỷ lệ 62,35%. Chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy của ĐHĐN không ngừng tăng lên qua các giai đoạn phát triển. ĐHĐN hiện có 07 Giáo sư , 106 Phó Giáo sư và 678 Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ, 1.142 Thạc sĩ. Tỷ lệ giảng viên có trình độ Tiến sĩ trở lên chiếm hơn 42.28%, có trường chiếm tỷ lệ cao như Trường Đại học Bách khoa 67.33%, Trường Đại học Sư phạm trên 50.21%, Trường Đại học Kinh tế 42.96%. Nhiều cán bộ, giảng viên được đào tạo từ các trường đại học danh tiếng nước ngoài. Đây là nguồn lực quan trọng để khẳng định uy tín, học hiệu, chất lượng đội ngũ đào tạo và nghiên cứu khoa học của ĐHĐN. Những năm gần đây, bình quân mỗi năm ĐHĐN đào tạo, tuyển dụng mới thêm 50 – 90 Tiến sĩ.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1/ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI ĐẠI HỌC
Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng Quản lý nhà nước về vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Đại học Đà Nẵng


