Quan hệ Mĩ –Anh thời kì nội chiến (1861-1865)
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đến những năm nửa đầu thế kỉ XVIII, thực dân Anh đã thành lập được ở miền Đông Bắc Mĩ 13 thuộc địa. Dân số của mười ba thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ khoảng 1,3 triệu người. Tất cả mười ba thuộc địa đều phải tuân theo luật pháp của nước Anh. Do sự phát triển kinh tế nhanh chóng của mười ba bang thuộc địa đã làm cho Bắc Mĩ trở thành mối đe dọa cạnh tranh với nền kinh tế chính quốc của nước Anh. Do đó, thực dân Anh đã dùng mọi biện pháp để ngăn cản, làm chậm sự phát triển không cho nền kinh tế ở các bang thuộc địa Bắc Mĩ có thể cạnh tranh với nền kinh tế của chính quốc. Chính phủ Anh đã dùng nhiều biện pháp, ban hành nhiều loại thuế để cấm Bắc Mĩ mở doanh nghiệp, cấm mang máy móc và thợ lành nghề từ Anh sang…
Những chính sách hạn chế đó làm tổn hại nghiêm trọng tới quyền lợi của nhân dân thuộc địa, của tư sản và chủ nô. Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân mười ba bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ với thực dân Anh càng thêm gay gắt, yêu cầu lịch sử đặt ra là phải tiến hành một cuộc cách mạng để xóa bỏ quyền thống trị của thực dân Anh đối với nhân dân Bắc Mĩ. Đáp ứng yêu cầu lịch sử cuộc chiến tranh giành độc lập của mười ba bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ nổ ra chống lại chính quyền thống trị của thực dân Anh. Cuộc cách mạng giành thắng lợi, nó đã xóa bỏ nền thống trị của thực dân Anh, giành độc lập hoàn toàn cho các bang, khai sinh ra quốc gia tư sản đầu tiên ở châu Mĩ. Tuy nhiên cuộc cách mạng này là cuộc cách mạng tư sản “chưa đến nơi” (Hồ Chí Minh) do nó vẫn chưa giải quyết hết được nhiệm vụ của cuộc cách mạng, và có một số hạn chế cơ bản như ruộng đất của nhân dân chưa
được giải quyết, chế độ nô lệ vẫn còn duy trì ở các bang miền Nam…. Những
hạn chế này được giải quyết bằng cuộc cách mạng tư sản lần thứ hai của nước
Mĩ hay còn được gọi bằng cuộc Nội chiến (1861-1865).
Nhưng cũng từ cuộc chiến tranh ly khai đó, một Liên bang Mĩ thống nhất thực sự về kinh tế, chính trị, văn hóa, được định hình. Bởi vậy lịch sử
nước Mĩ nói chung và lịch sử nước Mĩ thời kì nội chiến nói riêng đã trở thành hiện tượng cần được nghiên cứu, một thực nghiệm về tinh thần và chính trị cần được đánh giá.
Một vấn đề trọng tâm vận động xung quanh cuộc nội chiến là vấn đề về chế độ nô lệ. Tuy nhiên bên cạnh vấn đề về nô lệ, một khía cạnh khác của cuộc nội chiến đó chính là quan hệ ngoại giao của Mĩ trong thời kì này hay nói cách khác là quan hệ đối ngoại của hai miền Nam và miền Bắc cũng cần
được bàn tới. Trong đó nhân tố liên quan tới quan hệ ngoại giao ở nước Mĩ thời kì này phải nhắc tới sự tham gia và có mặt của các cường quốc châu Âu đặc biệt là các quốc gia Anh, Pháp, Nga. Sự tham gia của các cường quốc châu Âu có tác động lớn tới chiến thắng hay thất bại của miền Bắc và miền Nam trong cuộc nội chiến.
Quan hệ đối ngoại của Mĩ thời nội chiến (1861-1865) nói chung đặc biệt với nước Anh là vấn đề đặc sắc của lịch sử thế giới cận đại. Việc nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề này không những cung cấp thông tin, những bài học lịch sử về chính sách đối ngoại của các nước lớn, mà còn để lại những bài học về sự khéo léo trong chính sách đối ngoại của Mĩ nói chung và hai miền Nam- Bắc nói riêng và thái độ của nước Anh đối với những chính sách đó. Đồng thời bổ sung và mở rộng hiểu biết nâng cao nhận thức về một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Hoa Kỳ, góp phần tích lũy tư liệu giúp ích cho việc học tập và giảng dạy sau này.
Hiện nay, Việt Nam đang mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia trên thế
giới trong đó có Mĩ với mục tiêu tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị và hợp
tác toàn diện. Do đó, hiểu biết về lịch sử, văn hóa nước Mĩ sẽ hỗ trợ cho việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên.
Từ những nhận định trên người viết đã lựa chọn vấn đề “ Quan hệ
Mĩ –Anh thời kì nội chiến (1861-1865)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nước Mĩ diễn ra cuộc nội chiến trong giai đoạn 1861 -1865, do đó hai chính quyền song song tồn tại ở hai miền Nam – Bắc nước Mĩ. Vì vậy, chính sách đối ngoại của Mĩ trong thời kì này không được hiểu là chính sách của một chủ thể Hoa Kỳ thống nhất mà là chính sách riêng biệt của hai miền Nam
–Bắc, nhằm lôi kéo sự ủng hộ của các nước châu Âu, đặc biệt là Anh. Nói cách khác, đề tài nghiên cứu chính sách đối ngoại của hai miền nước Mĩ đối với Anh và thái độ của Anh trước những chính sách đó trong thời kì nội chiến (1861 – 1865).
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu nên khóa luận tập trung làm rõ các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích được những nhân tố tác động tới quan hệ Mĩ – Anh thời kì nội chiến (1861 -1865) như: bối cảnh quốc tế, tình hình nước Mĩ nửa đầu thế kỉ XIX và cuộc nội chiến(1861-1865), tình hình nước Anh nửa đầu thế kỉ XIX, khái quát quan hệ Mĩ – Anh trước năm 1861.
Hai là, phân tích được nội dung quan hệ ngoại giao Mĩ – Anh và những tác động thời kì nội chiến (1861 -1865). Trong đó, cần làm rõ được chính sách ngoại giao của hai miền Nam – Bắc đối với nước Anh, thái độ của nước Anh và tác động của quan hệ ngoại giao Mĩ – Anh trong thời kì này.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài khóa luận tìm hiểu về quan hệ của hai miền nước
Mĩ – Anh thời kì nội chiến (1861-1865).
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu giai đoạn 1861 –
1865. Tuy nhiên, tác giả không phân định một cách máy móc mà tác giả có thể mở rộng về trước hoặc sau khoảng thời gian trên để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Để thực hiện đề tài, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về nghiên cứu khoa học lịch sử. Đó là kim chỉ nam trong quá trình xử lý, hệ thống, khai thác và sử dụng tư liệu liên quan đến nội dung nghiên
cứu.
Về phương pháp nghiên cứu, người viết vận dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lịch sử nhằm đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như phân tích, so sánh, tổng hợp, liệt kê,… để rút ra những nhận xét cần thiết.
5. Đóng góp của đề tài
Về mặt khoa học: Khóa luận là một công trình khoa học, tìm hiểu có hệ thống chi tiết về quan hệ Mĩ – Anh trong cuộc nội chiến, từ đó cho ta thấy một bức tranh khái quát về nước Mĩ và quan hệ ngoại giao trong thời kì này.
Về mặt thực tiễn: Việc nghiên cứu đề tài đáp ứng nhu cầu tìm hiểu toàn diện về lịch sử nước Mĩ thời kì cận đại. Đồng thời công trình có thể là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành lịch sử thế giới cận đại, cho việc dạy và học lịch sử thế giới giai đoạn này ở chương trình phổ thông và những ai có nhu cầu đi sâu tìm hiểu về quan hệ ngoại giao Mĩ – Anh trong cuộc nội chiến.
Khóa luận cũng cung cấp một số tư liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đặc biệt là một số tranh ảnh hay một số thông tin về những nhân vật điển hình trong thời kì nội chiến Mĩ, đặc biệt là những nhân vật liên quan trực tiếp đến quan hệ ngoại giao Mĩ – Anh trong giai đoạn này.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận được trình bày theo 2 chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ Mĩ – Anh thời kì nội chiến
(1861-1865)
Chương 2: Quan hệ Mĩ – Anh và những tác động thời kì nội chiến
(1861 – 1865)
NỘI DUNG

Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ NGOẠI GIAO
MĨ – ANH THỜI KÌ NỘI CHIẾN (1861 – 1865)
1.1. Bối cảnh quốc tế
Cuối thế kỉ XVIII, chủ nghĩa tư bản đã thắng thế ở châu Âu, các nước
tư bản đã bắt đầu chuyển sang tiến hành cách mạng công nghiệp, tạo nên
bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa. Cuộc cách mạng trong lĩnh vực kỹ thuật sản xuất này đã làm thay đổi bộ mặt của các
nước tư bản. Máy móc chứng tỏ ưu thế vượt trội so với lao động thủ công. Sự xác lập những công xưởng lớn sử dụng máy móc, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật đã làm sức sản xuất tăng lên nhanh chưa từng có. Yêu cầu về nguyên nhiên liệu cũng như thị trường tiêu thụ hàng hóa, nguồn lao động tự do đã khiến các nhà tư bản công nghiệp nhận ra phải chấm dứt việc buôn bán nô lệ và xóa bỏ chế độ nô lệ tại các thuộc địa cũng như ở chính quốc. Điều này đã làm thay đổi chính sách của các nước thực dân đối với chế độ nô lệ ở các nước thuộc địa.
Đồng thời dưới ánh sáng của trào lưu tư tưởng dân chủ, đặc biệt là tư
tưởng “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” của cuộc đại cách mạng Pháp đã tác động lớn đến các tầng lớp nhân dân ở châu Âu trong việc lên án chế độ nô lệ. Khi những tư tưởng này được truyền bá sang châu Mĩ, trong đó có nước Mĩ, đã có rất nhiều người Mĩ da trắng đã lên tiếng phản đối thậm chí là cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng nô lệ.
Ở châu Âu, đi đầu trong phong trào này là nước Anh. Năm 1772, nhà quý tộc Mansfield tuyên bố nước Anh không công nhận chế độ nô lệ, giải phóng 15.000 người da đen mà chủ nhân của họ đã mang vào Anh. Năm
1792, Quốc hội Anh với 230 phiếu thuận đã chấp nhận dự luật chống chế độ nô lệ. Năm 1807, nước Anh tuyên bố cấm buôn bán nô lệ. Một nhóm người theo chủ nghĩa xóa bỏ chế độ nô kệ ở Anh được chính phủ ủng hộ đã lập các khu định cư cho người da đen. Đến năm 1813, Anh cùng Argentina chính thức bãi bỏ chế độ nô lệ. Tháng 10/1833, với Bản tuyên ngôn bãi bỏ chế độ nô lệ được thông qua tại hội nghị Philadelphia, chế độ nô lệ bị xóa bỏ trên các thuộc địa của Anh. Ở các thuộc địa của mình, đặc biệt là ở Nam Phi, nơi có các chủ đồn điền người Boer, Anh phải bồi thường chi phí cho các ông chủ để giải phóng nô lệ. Năm 1836, Anh đã phóng thích 3.900 nô lệ ở Cape Province( Nam Phi) và chi trả cho chủ đồn điền ở đây 2.824.000 bảng Anh. Đồng thời Anh cũng rất tích cực trong việc tuyên truyền cho các nước thực dân khác trong việc chống lại việc buôn bán nô lệ và xóa bỏ chế độ nô lệ. Tại Hội nghị viên năm 1814, Anh dùng ảnh hưởng của mình để khuyến khích các
nước thi hành chính sách tương tự.
Ở Pháp dưới ánh sáng của cuộc đại cách mạng Pháp năm 1789 thì Quốc hội Pháp năm 1794 cũng ra tuyên bố xóa bỏ việc mua bán nô lệ và chế độ nô lệ ở những vùng đất của mình. Sau này, chính phủ Pháp liên tục ra các sắc lệnh năm 1815,1817,1818 nhằm cấm việc buôn bán nô lệ. Đến năm 1848, chế độ nô lệ bị cấm hoàn toàn trên các thuộc địa của Pháp.
Sau đó, các nước thực dân khác cũng lần lượt cấm việc mua bán nô lệ như Thụy Điển vào năm 1813, Hà Lan năm 1814, Bồ Đào Nha năm 1820, Tây Ban Nha năm 1823… Điều này đã tác động đến chế độ nô lệ và cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mĩ.
Bên cạnh chính sách của các nước thực dân trong việc xóa bỏ chế độ nô lệ thì cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ trên thế giới, đặc biệt là ở châu Mĩ đã tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mĩ. Điển hình là cuộc khởi nghĩa ở Haiti do L‟ouveture – một nô lệ da đen lãnh đạo, nghĩa quân đã đốt phá đồn điền của người da trắng và nhanh chóng khống chế được
các vùng ở Haiti, sau đó đánh bại quân Pháp, quân Tây Ban Nha và sự can thiệp của Anh, buộc Anh phải ký điều ước với L‟ouverture vào tháng
10/1798, thừa nhận nền độc lập của Haiti. Năm 1801, Haiti tuyên bố độc lập.
Sau đó đạo quân, Napoleon định chiếm lại Haiti nhưng bị đánh bại. Đến ngày
01/1/11804, Haiti – quốc gia đầu tiên ở khu vực Mĩ Latinh đã tuyên bố độc lập và xóa bỏ chế độ nô lệ. Sự kiện này đã cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ.
Sau Haiti, một phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã bùng nổ ở khu vực Mỹ Latinh đầu thế kỉ XIX. Các quốc gia lần lượt nổi dậy, tiến hành cách mang lật đổ sự thống trị của thực dân Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Sau khi giành độc lập, các nước đều công bố hiến pháp, xây dựng nước cộng hòa và ban hành các đạo luật cấm buôn bán nô lệ và tiến hành giải phóng nô lệ (trừ Brazil). Đây chính là những đòn tấn công mạnh mẽ vào chế độ nô lệ ở khu vực châu Mĩ.
Như vậy, bối cảnh quốc tế xoay quanh vấn đề nô lệ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình nước Mĩ. Và cuối cùng một tất yếu lịch sử xảy ra đó là cuộc cách mạng Mĩ lần hai nổ ra để xóa bỏ chế độ nô lệ, giải phóng những
người da đen khỏi sự thống trị của bộ phận lớp trên vào năm (1861- 1865).
Bên cạnh vấn đề nô lệ, ở nước Pháp bằng các cuộc chiến tranh kéo dài
hơn một thập kỉ, Napoleon lần lượt đập tan các liên minh chống nước Pháp do
nước Anh cầm đầu, chiếm đóng nhiều khu vực ở châu Âu. Vào thời kì “ hoàng kim” của đế chế, năm 1812, lãnh thổ do Napoleon lập ra gồm 75 triệu dân, chiếm gần một nửa cư dân lục địa châu Âu, gấp ba lần số dân nước Pháp. Biên giới Pháp mở rộng về phía Bắc, phía Đông và phía Nam bao gồm Bỉ, Hà Lan, tả ngạn sông Rhine, toàn bộ bờ biển Bắc Hải, Xavoa và Nice, một phần lớn Bắc và Trung Ý. Xét về mặt tích cực, “sự chiếm đóng và mở rộng chiến tranh của Napoleon có tác dụng phá hủy chế độ phong kiến, khuyếch trương
ảnh hưởng của cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII, gieo mầm cho sự ra đời của châu Âu mới sau này. Mặt khác, những tư tưởng tự do dân chủ tiến bộ được truyền bá những khu vực mà hoàng đế nước Pháp tiến hành chiến tranh đã thức tỉnh tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc của nhân dân các
nước, thúc giục họ đứng lên chiến đấu chống lại ách nô dịch của chế độ
Napoleon [29; tr.152].
Kể từ sau năm 1812, do vấp phải sự phản kháng quyết liệt các dân tộc bị trị, nhất là sự tấn công liên tục của liên minh các quốc gia châu Âu do Anh và Nga cầm đầu, thế thượng phong của quân đội Napoleon không còn giữ
được như trước, trái lại ngày càng yếu đi. Địa bàn kiểm soát bị thu hẹp dần theo thời gian. Hệ quả của tình trạng đó, ngày 31 – 3 – 1814, trước sự vây hãm của đội quân tinh nhuệ các quốc gia châu Âu tại kinh thành Paris, Napoleon I buộc phải thoái vị. Như vậy sau hơn một thập kỉ “làm mưa làm gió” trên chiến trường châu Âu, đế chế Napoleon sụp đổ.
Nhằm lập lại trật tự châu Âu mà trong một thời gian dài bị đảo lộn do chiến tranh, tháng 9 – 1814, các quốc gia thắng trận (Anh, Nga, Áo và Phổ) tổ chức hội nghị tại Viene (Áo). Mục đích của hội nghị là: thứ nhất, xóa bỏ ảnh
hưởng của cách mạng Pháp, thủ tiêu những cải cách tiến bộ đã tiến hành ở nhiều nước châu Âu vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, khôi phục trở lại trật tự phong kiến; thứ hai, ngăn cản nước Pháp quay trở lại đế chế Napoleon; thứ ba, phân chia lãnh thổ nhằm thỏa mãn tham vọng của các cường quốc thắng trận.
Với những mục đích nêu trên, các cường quốc thắng trận đã biến “các dân tộc mua và bán, được chia và hợp chỉ nhằm để đáp ứng nhiều hơn nữa quyền lợi và ý đồ của những kẻ cai trị họ” [21; tr.4]. Việc “các dân tộc được mua và bán, được chia và hợp” là cơ sở cho sự ra đời trật tự mới ở châu Âu. Lịch sử gọi là Trật tự Vienne. Công cụ đảm bảo sự ổn định của trật tự này là
các tổ chức Đồng minh Thần thánh và Đồng minh Tứ cường do các bên tham dự hội nghị lập ra.
Trật tự quốc tế do các cường quốc chiến thắng Pháp tạo ra ở châu Âu dựa trên sự hy sinh, chà đạp quyền lợi của các dân tộc, cùng với đó là âm mưu khôi phục lại thiết chế xã hội cũ đã làm gia tăng sự bất mãn đối với đại đa số quần chúng. Do đó, trong những thập kỉ tiếp theo, trên khắp lục địa châu Âu (ngoại trừ nước Anh) đã bùng lên cao trào cách mạng dân tộc và dân chủ mạnh mẽ. Nhìn chung, các phong trào này vận động theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.
Ở Tây Ban Nha, trong những năm 1820 – 1823, cuộc cách mạng đã diễn ra. Động lực cách mạng là tầng lớp tư sản tiến bộ, nông dân và bình dân thành thị. Phong trào cách mạng rộng khắp cả nước. Tình trạng này không chỉ làm lung lay trật tự phong kiến, làm cho vua chúa các nước châu Âu hoảng sợ mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng của các thuộc địa Tây Ban Nha ở Mĩ latinh giành thắng lợi.
Ở Pháp, sau khi đế chế Napoleon I sụp đổ, vương triều Bourbon được phục hồi, mang lại quyền lợi cho bộ phận quý tộc phong kiến. Cuộc sống
dưới sự vị trí của vương triều Bourbon trở nên đột ngột. Do đó, tháng 7 –
1830, quần chúng nhân dân Paris dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản tiến hành cách mạng lật đổ Charles X, thiết lập vương triều mới – vương triều tháng Bảy. Đại diện cho vương triều này là “quý tộc tài chính”. Dưới vương triều tháng Bảy, nền kinh tế tư bản phát triển khá khởi sắc song cuộc sống của nhân dân lao động không mấy khả quan hơn so với trước. Vì vậy, tháng 2 năm 1848, bằng cuộc khởi nghĩa vũ trang, nhân dân Paris tiếp tục lật đổ vương triều tháng Bảy. Một chính phủ thỏa hiệp mới được dựng lên cho tư sản công thương làm đại diện.
Dưới tác động của cách mạng Pháp và Tây Ban Nha tình hình tương tự đã diễn ra ở Áo, Bỉ, Nga, Ý… Cục diện này đã phá vỡ trật tự mà hội nghị Vienne xác lập, làm “vô hiệu hóa” chức năng của tổ chức Đồng minh Thần thánh, mở ra thời kì thắng lợi của chủ nghĩa tư bản. Điều cần nhấn mạnh, do bận đối phó với những vấn đề quốc nội nên chính giới của các cường quốc ít có mối lưu tâm bên ngoài, nhất là sự bành trướng ảnh hưởng sang địa bàn
khác.
Tóm lại, trong giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, tình hình quốc tế có bước xoay chuyển cùng với những thay đổi về vị thế của các cường quốc châu Âu. Nếu trước hội nghị Vienne, nước Pháp đóng vai trò chi phối hình châu Âu thì sau năm 1815, vị trí này được nhường lại cho Anh. Còn Tây Ban Nha, sau thời kỳ “hoàng kim” ở những thế kỉ trước, đến thời điểm này đang trên đường suy vong nhường lại địa vị cho Anh và Pháp. Trật tự quốc tế ở châu Âu đã tác động nhất định đến những vùng lãnh thổ liên quan trực tiếp đến lợi ích thực dân của họ tại nước Mĩ.
Như vậy, cuộc đấu tranh xóa bỏ nô lệ trên thế giới đã diễn ra mạnh mẽ cùng với những ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng tiến bộ đã góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh của nô lệ và các giai tầng tiến bộ trong xã hội Mĩ nhằm tiến tới xóa bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ, giải phóng người da đen. Đồng thời những biến động của thế giới đặc biệt khu vực châu Âu cũng tác động đến tình hình nước Anh cũng chính điều này ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới quan hệ Mĩ – Anh trong thời kì nội chiến(1861 -1865)
1.2. Tình hình nước Mĩ nửa đầu thế kỉ XIX và cuộc nội chiến
(1861 – 1865)
1.2.1. Tình hình nước Mĩ nửa đầu thế kỉ XIX
Trong thời kì chiến Chiến tranh giành độc lập, cùng với sự nghiệp đấu tranh chống lại ách thống trị của vua Anh, nhiều người Mĩ da trắng đã có cái
nhìn đồng cảm với thân phận của người nô lệ. Tuy nhiên, bản Hiến pháp 1787 của nước Mĩ dường như đã bỏ quên chế độ nô lệ hay chính xác là thừa nhận sự tồn tại của nó tại một quốc gia vừa mới giành độc lập. Vì vậy, có thể nói “Lịch sử Hợp chúng quốc bắt đầu từ chế độ nô lệ chứ không phải từ sự tự
do” [40; tr.125]. Chế độ nô lệ đồn điền đã trở thành một đặc trưng của kinh tế miền Nam nói riêng và chủ nghĩa tư bản Mĩ nói chung “Nó do chủ nghĩa tư bản đẻ ra và được giai cấp tư sản sử dụng” [40;tr.463]. Chế độ nô lệ đồn điền ở nước Mĩ tồn tại dai dẳng trong gần một thế kỉ. Trong khi ở miền Bắc và miền Tây, chế độ trang trại phát triển mạnh mẽ và giành được phần thắng thì trái lại, ở miền Nam chế độ nô lệ không những được bảo tồn mà còn đựơc phát triển lên đến đỉnh cao của nó. Đặc biệt sau phát minh ra máy cán bông năm 1793, chế độ nô lệ đồn điền đã lan rộng nhanh chóng ở miền Nam.
Sự ra đời “Vương quốc bông” với việc sử dụng nô lệ với việc kèm theo đã trở thành một hệ thống vững chắc ở miền Nam. Sự thực từ năm 1807, việc du nhập nô lệ đã bị cấm nhưng nó lại xuất hiện dưới hình thức buôn lậu. Ở đây, thương nghiệp hóa nền nông nghiệp Mĩ đã kích thích việc bảo tồn chế độ nô lệ. Sự suy kiệt của đồn điền thuốc lá đã làm cho việc bóc lột nô lệ trở nên kém sinh lời hơn. Nhưng nghề trồng bông với đầy đủ khả năng và đặc điểm của nó đã giữ chân chế độ nô lệ và đẩy nó lên quy mô rộng lớn hơn. Đúng như K.Marx đã viết: “Sự phát triển mạnh mẽ của nghề kéo sợi bông không chỉ đẩy mạnh nghề trồng bông ở Hợp chúng quốc mà cả nghề làm nô lệ ở châu Phi” [40; tr.343]. Sự phát triển của chế độ nô lệ ở Mĩ không chỉ thể hiện qua sự gia tăng dân số nô lệ mà nó còn gắn liền với quá trình Tây tiến với sự gia nhập hàng loạt các bang nô lệ mới.
Việc bóc lột nô lệ đã mang những món lãi kếch xù cho bọn chủ đồn
điền. Người ta giao việc hàng ngày cho nô lệ, hay dùng họ làm người trông nom nhịp độ lao động của đội người da đen. Bạo lực trực tiếp là một yếu tố của sản xuất. Người da đen sống trong những túp lều lụp xụp, mặc quần áo
vải thô và hầu như ăn toàn ngô, tiền nuôi nô lệ vào khoảng 20 USD/ năm. Trong lúc đó, anh ta đã làm được từ 5 – 10 acres bông. Những người được gọi là “nô lệ trồng bông” bị đối xử như một con vật. Chế độ nô lệ đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội Mĩ. Ở đây,“cũng như máy móc, tín dụng…chế độ nô lệ trực tiếp là cơ sở của nền công nghiệp tư sản. Không có chế độ nô lệ thì không có bông, không có bông thì công nghiệp hiện đại trở nên vô nghĩa. Chế độ nô lệ đã đem lại giá trị cho các thuộc địa, các thuộc địa tạo nên nền thương nghiệp quốc tế, nền thương nghiệp quốc tế lại là điều kiện cần thiết của đại công nghiệp” [24; tr. 127]
Tính đến trước khi Nội chiến bùng nổ (1861-1865), nền kinh tế nước Mĩ vận hành theo hai khuynh hướng hoàn toàn khác nhau. Miền Bắc phát triển nền công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa và ruộng đất nằm dưới quyền sở hữu của trại chủ và nông dân tự do, sản xuất nông nghiệp đi theo hướng phục vụ thị trường công nghiệp. Trong khi đó nền kinh tế miền Nam chủ yếu sản xuất nông nghiệp đất đai tập trung vào chủ đồn điền lớn, dựa trên sự bóc lột nô lệ da đen, trồng các loại cây công nghiệp như bông, thuốc lá, mía và lúa
gạo.
Về công nghiệp, nước Mĩ được thừa hưởng rất nhiều thành tựu về khoa học, kỹ thuật của châu Âu, đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp của Anh.
Công nghiệp dệt, trong nửa đầu thế kỉ XIX, phát triển với tốc độ nhanh chóng. Năm 1805, công nghiệp dệt của Mĩ có 4500 ống suốt đến trước cuộc “Chiến tranh li khai” đạt tới 5.200.000 ống suốt, tức là hơn 1000 lần [33; tr.184]. Vùng New England trở thành trung tâm của ngành công nghiệp dệt, chiếm 2/3 xí nghiệp sản xuất vải và len trên toàn nước Mĩ.
Công nghiệp chế tạo máy đã trở thành một ngành đóng vai trò then chốt trong công nghiệp. Năm 1817, xuất hiện nhà máy chế tạo máy hơi nước. Đến giữa thế kỉ XIX, số nhà máy chế tạo máy móc đã tăng lên đáng kể.
Công nghiệp đường sắt phát triển rất nhanh được xem là mạch vận chuyển nguyên liệu, hang hóa công nghiệp trên một vùng lãnh thổ rộng đến hàng triệu cây số. Sự phát triển công nghiệp đường sắt là kết quả của những phát minh khoa học kĩ thuật, trong đó có phát minh ra đầu máy hơi nước, hệ thống các đường ray và các toa tàu chở hang, chở khách. Từ năm 1850 đến năm 1857, xuyên dãy núi Applachian đã có 5 tuyến đường sắt chính nối miền Trung, miền Tây với miền Đông. Hệ thống giao thông được xây dựng trong thời kì này đã tăng thêm quyền lợi kinh tế cho các nhà tư bản và củng cố liên minh chính trị trong nội bộ liên bang.
Với đà tăng trưởng các ngành công nghiệp đã dẫn đến số lượng các xí nghiệp vưới số vốn đầu tưu khoảng 1 tỉ $ chiếm tỉ lệ lớn. Theo ước tính năm
1860, Mĩ có 140.433 xí nghiệp với số vốn khoảng 1 tỉ $, giá trị sản lượng hàng năm đạt gần 2 tỉ $ [36; tr.185]. Số lượng bằng phát minh được cấp giấy phép ngày càng tăng, từ năm (1815) tăng lên 4.589(1860) [45;tr.309]. Trong số các phát minh phải kể đến máy tuốt bông của Eli Whitney (1793) đã thúc đẩy ngành trồng bông ở miền Nam phát triển, kèm theo đó là công nghiệp dệt.
Ở miền Nam, kinh tế nông nghiệp hoàn toàn khác với miền Bắc. Tận dụng đất đai thổ nhưỡng thích nghi với loại cây trồng nhiệt đới, các chủ đồn
điền chủ yếu canh tác cây bông. Việc trồng cây bông ngày càng mở rộng và chiếm ưu thế so với các loại cây trồng khác. Bông trở thành cây trồng có giá trị lợi nhuận cao và đóng vai trò mạch máu trong nền kinh tế của miền Nam. Những vùng đất màu mỡ của Alabama, Louisiana, Mississippi và Texas rất thuận lợi cho nghề trồng bông. Số lượng bông sản xuất sau mỗi thập niên tăng lên gấp đôi:
Bảng 1: Số lượng bông sản xuất trong thời gian 1810 -1860
Đơn vị: kiện
| Năm | Số lượng |
| 1810 | 178.000 |
| 1820 | 355.000 |
| 1830 | 732.000 |
| 1840 | 1.348.000 |
| 1850 | 2.136.000 |
| 1860 | 3.841.000 |
Nguồn: [1; tr.126]
Bên cạnh những đồn điền trồng bông là đồn điền trồng mía. Chính cơ sở này làm cho công nghiệp sản xuất đường phát triển. Năm 1744, ở Louisiana có 762 đồn điền trồng mía, sản lượng đường năm 1860, lên tới 856 tấn. Ở South Carolina và Geogre, lúa gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Trong vòng 30 năm từ năm (1820 – 1850) sản lượng tăng lên 3 lần. Từ năm 1850 đến năm 1860 sản lượng thuốc lá cũng tăng gấp 2 lần. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông nghiệp tư bản chủ nghĩa gắn liền với kinh tế trại chủ và kinh tế đồn điền, đem lại nguồn sản phẩm dồi dào phong phú cho nước
Mĩ.
Như vậy, chỉ trong thời gian chưa đầy một thế kỉ sau khi giành độc lập đến giữa thế kỉ XIX, sản xuất công nghiệp của Mĩ đã phát triển vượt bậc. Năm 1850, giá trị sản lượng công nghiệp đã vượt qua giá trị sản lượng nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp của Mĩ đã vươn lên đứng thứ 4 thế giới sau Anh, Pháp, Đức.
Sự thịnh vượng kinh tế dẫn đến đòi hỏi tất yếu là phải bành trướng ra bên ngoài, mặc dù nền kinh tế hai miền Nam Bắc vận động theo hai quỹ đạo khác nhau.
Đối với giai cấp tư sản công thương nghiệp miền Bắc, họ muốn giành thêm nhiều đất đai cho việc sản xuất lương thực phẩm, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống con người và số lượng dân cư không ngừng tăng lên ở miền Đông, đồng thời cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên cho quá trình công nghiệp hóa. Ngoài ra nhu cầu mở rộng sang thị trường phía Tây
nước Mĩ nhằm tiêu thụ cho các chế phẩm công nghiệp do họ sản xuất ra cũng
được tính đến. Xét về mặt địa lí, thông qua việc mở rộng lãnh thổ, giai cấp tư sản Mĩ muốn có những hải cảng tại Thái Bình Dương nhằm rút ngắn hành trình trên đại dương của các thương gia trong việc giao thương với thị trường phương Đông, đặc biệt là với Trung Quốc.
Đối với giới chủ nô miền Nam, như đã trình bày ở trên, trong số các cây trồng công nghiệp thì việc canh tác cây bông đem lại giá trị lợi nhuận lớn thông qua việc xuất khẩu sang châu Âu, nhất là nước Anh. Nhu cầu này không ngừng tăng mạnh sau cuộc chiên tranh Napoleon làm cho tầng lớp chủ nô càng đẩy mạnh hơn việc tìm kiếm thêm đất đai mới để canh tác cây bông nhằm thu thêm nhiều lợi nhuận. Hơn nữa, việc trồng bông khiến đất đai nhanh chóng bạc màu nên vấn đề đặt ra là cần tìm nguồn đất đai mới bổ sung, bù đắp sự hao mòn của những vùng đất đai cũ.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế mang lại diện mạo khởi sắc cho hai miền Nam Bắc song cũng dẫn đến hệ lụy về mặt xã hội. Đó là sự bất đồng ngày càng sâu sắc giữa miền Bắc với chủ trương thủ tiêu chế độ nô lệ miền Nam với chủ trương ngược lại.
Nền kinh tế đồn điền miền Nam càng phát triển thì phải cần đến nhân công nô lệ. Trong khi đó, do phải phải làm việc rất cực nhọc trong các đồn
điền và bị đối xử thậm tệ như những con vật nên những nô lệ bị kiệt quệ,
thường xuyên bỏ trốn, làm việc cho chủ nô miền Nam luôn đối mặt sự khủng hoảng nhân công.
Từ năm 1808, việc buôn bán nô lệ chính thức bị “đặt ngoài vòng pháp luật”, song các chủ nô vẫn tìm cách mua nô lệ từ châu Phi, do một thực tế là nô lệ da đen ở miền Nam trốn sang các bang miền Bắc ngày một nhiều làm cho các đồn điền thiếu nhân công, giá nô lệ không ngừng tăng lên.
Trong khi đó tại miền Bắc, xét về mặt kinh tế, sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa đòi hỏi lao động tự do làm thuê tập trung trong các nhà máy và xí nghiệp. Công nghiệp ngày càng phát triển đòi hỏi nhân công tự do ngày càng nhiều trong khi sự tồn tại chế độ nô lệ tạo ra trở lực đối với sự phát triển công nghiệp. Chính vì vậy, giai cấp tư sản miền Bắc đòi thủ tiêu chế độ nô lệ. Lực lượng đòi thủ tiêu chế độ nô lệ ở miền Bắc đã xuất bản một số ấn phẩm báo chí và ấn phẩm văn học. Tháng 1 -1831, trên tờ báo Người giải phóng, ký giả William Cloyd Garrison viết: “ Tôi sẽ chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp ban quyền công dân ngay lập tức cho quần chúng nô lệ của chúng ta… vấn đề này tôi không muốn nghĩ hay nói, hoặc viết lời lẽ ôn hòa- tôi sẽ không tha thứ, tôi sẽ không lùi bước dù chỉ một phân và tôi sẽ được mọi người nghe theo” [4; tr.189] Tuyên ngôn của W.C.Garrison đánh thức dân chúng miền Bắc về sự hiện diện của những bất công trong xã hội mà nhiều người tưởng chừng là bất biến. Không dừng lại trên mặt báo, năm 1852, nhà văn Harriet Beecher Stowe cho ra đời tác phẩm Túp lều Bác tôm, khắc họa bức tranh về sự độc ác, tàn nhẫn của chế độ chiếm hữu nô lệ và các cuộc xung đột căn bản giữa xã hội tự do và xã hội có nô lệ. Tác phẩm được dư luận đón nhận nồng nhiệt vì động chạm tới những tình cảm bản năng của con người. Đó là sự căm phẫn đối với sự bất công và niềm thương xót đối với cá nhân con người bất lực trước sự bóc lột tàn nhẫn. Tại một số tiểu bang miền Bắc, các hội mang tính chất địa phương chống đối chế độ nô lệ có khá nhiều thành viên gia nhập. Theo thống kê năm 1840, có khoảng 2000 hội với số lượng thành viên khoảng 200.000 người [4; tr.81].
Phong trào đòi xóa bỏ chế độ nô lệ ngày càng gay gắt và lan rộng bắt nguồn từ những mâu thuẫn sâu sắc giữa sự phát triển của công nghiệp với chế độ đồn điền. Từ giữa thế kỉ XIX trở đi, quyền lợi giữa hai tập đoàn tư bản công thương nghiệp và chủ nô miền Nam là không thể dung hòa được. Do đó nội chiến xảy ra là điều tất yếu nhằm giải quyết những cản trở của sự tiến bộ.
1.2.2. Nước Mĩ trong cuộc nội chiến (1861 – 1865)
Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1860, Đảng Cộng hòa chỉ định Abraham Lincoln làm ứng cử viên của mình. Cương lĩnh của Đảng Cộng hòa tuyên bố rằng chế độ nô lệ không thể lan rộng thêm được nữa. Đảng cũng hứa sẽ đánh thuế bảo hộ cho công nghiệp và cam đoan ban hành luật cấp các trang trại miễn phí cho những dân định cư nào giúp đỡ trong việc khai khẩn miền
Tây.
Lincoln và Douglas đua tranh ở miền Bắc, còn Breckenridge Bell đua tranh ở miền Nam. Lincoln chỉ đạt có 39% số phiếu phổ thông nhưng lại giành đa số tuyệt đối trong 180 phiếu đại cử tri ở tất cả 18 bang tự do. Bell thắng cử ở các bang Tennessee, Kentucky và Virginia. Breckenridge giành thắng lợi ở tất cả các bang có chế độ nô lệ khác ngoại trừ bang Missouri – là bang Douglas thắng. Mặc dù tranh cử kém nhưng Douglas chỉ thua Lincoln trong việc giành lá phiếu phổ thông. Và chỉ vài tuần sau thắng cử của Lincoln, các bang miền Nam bắt đầu tiến trình ly khai khỏi Liên bang.
Mở đầu là bang Nam Carolina, tuyên bố rút khỏi Liên bang vào tháng
12 năm 1860. Tiếp theo là 6 bang có chế độ nô lệ khác ở miền Nam, bao gồm: Mississippi, Florida, Alabama, Georgia, Lousiana và Texas. Không lâu sau, các bang Arkansas, Bắc Carolina, Virginia và Tennesse đã liên kết với các bang ly khai tạo thành một Hợp bang gồm 11 bang ly khai và bầu cử Tổng thống lâm thời – Tổng thống Jefferson David. Các bang miền Nam còn lại vẫn ở trong Liên bang, riêng bang Texas đang bắt đầu chuẩn bị ly khai.
Bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Lincoln đã loại bỏ mọi khả năng hòa giải, ông cho rằng sự ly khai của các bang miền Nam là không có hiệu lực về mặt pháp luật. Bài diễn văn kết thúc bằng sự kêu gọi phục hồi những mối liên kết của Liên bang, nhưng miền Nam đã phớt lờ lời kêu gọi
này.
Cuối cùng những mâu thuẫn không thể dung hòa được và cuộc nội chiến đã diễn ra ngày 12 tháng 4 năm 1861, tướng P. Beauregard đã cho pháo kích vào căn cứ Sumter tại cảng Charleston, bang Nam Carolina. Chiến tranh bắt đầu diễn ra, một cuộc chiến mà trong đó số người Mĩ tử vong nhiều hơn bất kì cuộc xung đột nào kể cả về trước đó và về sau này.
Miền Bắc có những lợi thế như: số dân đông, nhiều tài nguyên hơn, có Chính phủ mạnh nắm trong tay quân đội và hải quân. Nhưng điều đáng nói hơn cả là sự vượt trội của miền Bắc về một nền công nghiệp phát triển, tạo
điều kiện cung cấp một lượng thiết bị to lớn để sản xuất vũ khí, đạn dược, quần áo và các đồ quân trang, quân dụng khác. Miền Bắc dự định tiến công Liên bang bằng cách giành lại sự kiểm soát sông Mississippi, phong tỏa các bang miền Nam và chiếm thủ đô Richmond ở Virginia.
Trong khí đó, lợi thế của các bang miền Nam chỉ là địa lý và khả năng lãnh đạo của một số tướng lĩnh, do các trận chiến đấu trước đây diễn ra chủ yếu tại các bang miền Nam. Chiến lược của miền Nam là cố gắng cầm cự cho đến khi miền Bắc mệt mỏi về chiến tranh. Liên bang cũng hy vọng sẽ chiếm
được Washington và tranh thủ được sự giúp đỡ của châu Âu.
Cả hai miền, khi tham chiến, đều mong muốn giành thắng lợi nhanh chóng miền Bắc 23 bang với số dân 22 triệu người được triển khai chống lại miền Nam 11 bang với số dân 9 triệu người.
Cuộc chiến tranh kéo dài gần 4 năm, đến tháng 4 năm 1865, tướng Lee, chỉ huy quân đội ly khai mới chịu đầu hàng tướng Grant chỉ huy quân đội
Liên bang, tại Appamattox. Chiến sự diễn ra trên ba mặt trận chủ yếu: mặt trận trên biển, mặt trận duyên hải Đại Tây Dương, và mặt trận Mississippi.
Khi nội chiến bắt đầu, những trận đánh đầu tiên nổ ra chỉ để giữ hoặc chiếm lấy những vùng dọc biên giới. Sau một vài trận đánh ban đầu, bang Misouri đã nằm trong tầm kiểm soát của Liêng bang vào cuối tháng 06/1861. Bang West Virginia cũng chứng kiến những chiến dịch tương tự. Từ bang Ohio, vào tháng 06/1861, có một đội quân gồm 20.000 lính Liên bang dưới sự chỉ huy của tướng McCellan đã tiến sâu vào lãnh thổ West Virginia, chiếm lấy Harpers Ferry. Trước những thắng lợi như vậy, quân đội Liên bang quyết định mở cuộc tấn công lớn đầu tiên với hy vọng chấm dứt chiến tranh. Nếu cuộc tấn công này hoàn tất, nó hy vọng chỉ cần một chiến dịch thôi cũng đủ để đánh bại quân đội Liên minh tại Virginia và chiếm lấy thủ phủ Richmond. Đó là trận đánh lớn đầu tiên diễn ra ở Bull Run với thắng lợi của miền Nam. Miền Bắc giành thắng lợi ở miền Tây và ngoài biển
Trên biển, là các cuộc bao vây các cảng miền Nam bởi hạm đội miền Bắc đã đóng vai trò quyết định. Bởi vì, nguồn tài nguyên chủ yếu của miền Nam là bông không còn được xuất cảng sang Anh được nữa. Nhưng đạo quân ly khai miền Nam cũng đạt được nhiều thắng lợi trên mặt biển nhờ tàu chiến mua được của Anh. Chiếc Alabama của phe Liên minh đã đánh chìm 65 chiến thuyền của miền Bắc, trước khi chính nó bị đánh chìm ngoài khơi Cherbourg.
Trên mặt trận Mississippi, việc quân tướng Grant chiếm được New Orleans (1862) và Vicksburg(1863) đã cho quân Liên bang toàn quyền sử dụng dòng sông, và cô lập hoàn toàn hai bang ly khai Texas và Arkansas.
Trên mặt trận duyên hải Đại Tây Dương, quân đội Liên bang lúc đầu thua hết trận này đến trận khác, chiến thắng đầu tiên của họ là trận Gettysburg (ngày 01-03/07/1863), nhưng phải sau hai năm chiến đầu dữ dội nữa thì tướng Grant mới buộc được tướng Lee đầu hàng. Các lục quân khác của Liên minh
miền nam cũng theo bước đầu hàng. Chiến tranh kết thúc mà không có quân nổi dậy sau chiến tranh. Grant nhắc nhở quân đội của mình“ Những kẻ phiến loạn cũng là anh em của chúng ta” [25; tr.142].
Cuộc chiến tranh rất hao người tốn của. Trong số 2.00.000 người tham chiến, miền Bắc đã mất 300.000, còn miền Nam mất 250.000, tức mất một phần ba số quân của họ. Một phần lớn miền Nam đã bị tàn phá và kinh tế bị phá sản hoàn toàn thì kinh tế miền Bắc lại phát triển.
Trong bài diễn văn tại nghĩa trang Gettyburg, ngày 19/09/1863, Tổng thống Lincoln đã phát biểu: “ Tại đây, chúng ta quả quyết rằng sự hi sinh này sẽ không hề là vô ích – rằng dân tộc này, ơn Chúa, sẽ có nền tự do mới – rằng một chính phủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân sẽ không bị tiêu diệt trên Trái Đất này”[25;tr.141]. Nhưng điều chủ yếu đã đạt được: „gia đình” chính thức không còn bị “chia rẽ” nữa và góp phần xóa bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ. Nước Mĩ bước vào thời kì tái thiết và trưởng thành, từ trong thời kì giữa nội chiến đến trước khi xảy ra chiến Chiến tranh thế giới thứ nhất, để trở thành một trong các cường quốc trên thế giới
1.3. Tình hình nước Anh nửa đầu thế kỉ XIX
Nửa sau thế kỉ XVIII, nước Anh bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng này ảnh hưởng tới vận mệnh của nhân loại, cuối cùng thay đổi hướng đi của lịch sử. Cuộc cách mạng công nghiệp biến quốc gia này “trở thành công xưởng” của thế giới vào những năm 50 của thế kỉ XIX. Bằng chứng là, năm 1850, sản lượng gang, than đá, hàng chế tạo bằng bông của
nước Anh đã chiếm khoảng một phần hai sản lượng toàn thế giới. Năm 1825,
đoạn đường sắt đầu tiên được khánh thành, đến năm 1850, chiều dài đường sắt của nước Anh lên đến 10.000 km. Nhiều công ty hàng hải ra đời với những đội tàu biển có trọng tải lớn, nắm quyền ưu thế trên các đại dương. Thủ đô London trở thành trung tâm tài chính của thế giới lúc bấy giờ.
Một trong những ngành công nghiệp truyền thống của nước Anh là dệt vải. Năm 1765, người thợ dệt Giêm Hagrivơ đã phát minh ra chiếc máy kéo sợi Gienni. Máy Gienni tuy vẫn tuy vẫn kéo bằng tay, song thay cho một cọc suốt trước kia thì nay có tới 16 đến 18 cọc suốt. Năm 1785, kỹ sư Ét – mơn Cacrai phát minh máy dệt, hoàn thành vào năm 1800, làm cho tốc độ sản xuất tăng lên tới 39 lần và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi ở Anh. Nhờ vậy, sợi kéo ra có thể tiêu thụ được, giá vải cũng được hạ xuống. Vào khoảng thập niên 40 của thế kỉ XIX, việc dệt vải bằng máy hoàn toàn áp đảo nghề dệt thủ công.
Tất cả những phát minh này đều có ảnh hưởng đến lượng bông được sản xuất. Năm 1770, bông vải có trị giá khoảng 600.000 bảng, đến năm 1870 con số này đã tăng lên 10.500.000 bảng Anh, đến năm 1870 tăng lên
38.800.000 bảng.
Tuy nhiên, phần lớn nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp dệt vải nước này dựa vào nguồn nhập khẩu bông từ nước ngoài chủ yếu từ miền nam Hoa Kì và Ấn Độ. Trong thời gian từ năm 1850 đến năm 1860 nước Anh sử dụng
80% bông nhập khẩu từ Mĩ. Do đó, miền Nam Hoa Kỳ có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển công nghiệp bông vải của nước Anh.
Hai vật cản chủ yếu mà nước Anh cần phải khắc phục, nếu như muốn thay thế bông của Mĩ bằng bông của Ấn Độ – đó là việc thiếu phương tiện thông tin và vận tải trên toàn Ấn Độ và tình trạng đói nghèo của nông dân Ấn Độ khiến họ không có khả năng sử dụng những điều kiện thuận lợi.
Trong khi đó cuộc khủng hoảng ở Mĩ đã bắt người Anh phải mở rộng lĩnh vực cung cấp của mình và phải giải phóng bông khỏi sự kiểm soát của bọm trùm sỏ chăn dắt và sử dụng nô lệ. Chừng nào ngành công nghiệp bông
sợi của Anh vẫn còn phụ thuộc vào bông do nô lệ gieo trồng thì ta có thể khẳng định một cách hoàn toàn có căn cứ rằng ngành công nghiệp đó dựa trên chế độ nô lệ kép – chế độ nô lệ gián tiếp của người da trắng ở nước Anh và chế độ trực tiếp của người da đen ở phía bên kia Đại Tây Dương.
Chính sự phát triển của công nghiệp, đặc biệt công nghiệp dệt kéo theo nhu cầu về nguồn lao động ngày càng lớn cùng với đó làm cho mâu thuần giữa tư sản và vô sản ngày càng lớn. Giai cấp vô sản công nghiệp họ bán sức lao động, song bị bóc lột nặng nề, đời sống vô cùng khổ cực. Vì vậy các cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản sớm nảy sinh. Năm 1771 – 1778, công nhân các trung tâm công nghiệp dệt và khai thác than đã đấu tranh mạnh mẽ. Chính quyền tư sản khủng bố đàn áp rất mạnh (năm 1769, thông qua sắc lệnh xử tội chết những người phá máy, đốt công xưởng).
Như vậy, cách mạng công nghiệp làm cho mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản – mâu thuẫn giữa sản xuất có tính chất xã hội với việc chiếm hữu tư nhân , và tư hữu sản xuất về thành quả lao động ngày càng bộc lộ rõ rệt. Năm 1825, một cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên nổ ra ở Anh, kết quả cuộc khủng hoảng là sản xuất giảm, nhiều công xưởng đóng cửa, công nhân thất nghiệp, lâm vào tình trạng vô cùng khổ cực “Lấy nước Anh là nơi có nền công nghiệp phát triển nhất làm ví dụ. Ngày lao động kéo dài 16 -18 giờ. Số công nhân lớn tuổi chỉ chiếm chừng 30%, còn lại là công nhân chưa đến tuổi trưởng thành. Tiền lương của công nhân, phụ nữ và trẻ em rẻ mạt hơn lương đàn ông. Trong hai mươi năm từ 1815 -1835, tiền lương thực tế giảm sút ba lần. Điều kiện ăn ở vệ sinh rất thấp kém” [36; tr.110]. Sự bóc lột tàn khốc của chủ nghĩa tư bản làm cho hố ngăn cách giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân ngày càng sâu sắc và mâu thuẫn xã hội trở nên gay găt. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản là điều không thể tránh khỏi.
Ngay trong giai đoạn này, chủ nghĩa xã hội không tưởng ra đời. Tình trạng khổ cực của quần chúng được phản ánh phần nào ý thức của một số nhân vật tiến bộ trong giai cấp có của. Họ nhận thức được mặt trái của xã hội tư bản chủ nghĩa, tìm cách xây dựng một cuộc sống mới tốt đẹp không có bóc lột. Họ nêu lên những luận điểm xã hội chủ nghĩa và kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó, tác động lớn đến sự phát triển của phong trào công nhân.
Vào những năm 30 -40 của thế kỉ XIX, Phong trào Hiến chương phát triển ở Anh đánh dấu một bước phát triển lớn của công nhân Anh và có ảnh
hưởng tới phong trào công nhân châu Âu và Bắc Mĩ. Tổ chức lãnh đạo phong trào Hiến chương là Hội Công nhân Luân Đôn thành lập năm 1836 do một
người thợ thủ công là Lôvet đứng đầu. Tháng 5 -1838, Hội công bố bản Hiến chương 6 điểm: 1. Thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu, 2. Phân chia khu vực bầu cử bình đẳng, 3. Bỏ phiếu kín, 4. Xóa bỏ mọi hình thức thuế đối với
điều kiện ứng cử nghị viên, 5.Trả lương cho nghị viên, 6. Hằng năm bầu cử quốc hội. Đó là bản cương lĩnh cải cách dân chủ của công nhân. Tuy không bao hàm những yêu cầu kinh tế xã hội nhưng nó được sự ủng hộ của đông đảo quân chúng công nhân, vì nếu thực hiện được thì nó tạo điều kiện nhất định cho việc cải thiện đời sống. Nhiều cuộc mít tinh khổng lồ diễn ra ở các trung tâm công nghiệp để thảo luận hiến chương.
Cao trào Hiến chương lần thứ nhất diễn ra vào tháng 5 -1839, lần thứ hai vào năm 1842. Năm 1842, là năm nền kinh tế Anh bị sa sút, đời sống quần chúng khổ cực, có tới hơn một triệu người thất nghiệp. Ngày 2 tháng 5, một bản kiến nghị mới được đệ trình lên nghị viện tới 3.315.752 chữ kí. Kiến nghị đề nghị đề cập tới những vấn đề xã hội, vạch trần chế độ chính trị ở Anh, nêu lên tình trạng khốn cùng trong đời sống công nhân. Kiến nghị đòi thủ tiêu ách áp bức của Anh đối với Ailen vì công nhân đã thấy được mối liên hệ bóc lột của giai cấp tư sản đối với nhân dân Anh và Ailen. Một lần nữa nghị viện
bác bỏ kiến nghị. Đáp lại thái độ đó, phong trào bãi công bắt đầu từ các
xưởng dệt ở Manchester lan ra các trung tâm công nghiệp và dần mang tính chất bãi công trong toàn quốc. Yêu cầu cuộc bãi công là đòi thực hiện Hiến chương. Cuộc bãi công thể hiện rõ tính chất chính trị và nâng phong trào công nhân lên tới mức khởi nghĩa vũ trang. Chính phủ tiến hành đàn áp, bắt bớ để dập tắt phong trào. Tuy vậy, cao trào Hiến chương của quần chúng cũng buộc nghị viện phải thông qua đạo luật rút ngày lao động của công nhân xuống 10 giờ. Đó là sự lùi bước đầu tiên về nguyên tắc và trên thực tế của giai cấp tư sản trước cuộc tấn công của công nhân.
Năm 1848, do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế mấy năm trước và ảnh hưởng của cao trào cách mạng châu Âu, những người thuộc phái Hiến chương lại tiến hành cuộc đấu tranh lần thứ ba. Mặc dù chính phủ ngăn cấm, công nhân vẫn biểu tình ngày 10 – 4, đưa lên quốc hội bản kiến nghị mới gồm hơn 5 triệu chứ kí. Nhưng công nhân bị đàn áp.
Trong điều kiện lịch sử lúc đó, phong trào Hiến chương là một phong trào cách mạng to lớn đầu tiên thực hiện thực sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị. Phong trào công nhân ở Anh phát triển mạnh, điều này tác động tới nhận thức và làm thức tỉnh đại đa số của giai cấp này và quần chúng nhân dân chính điều đó trở thành động lực, ảnh hưởng tới phong trào của giai cấp công nhân ở Bắc Mĩ. Do đó, đại bộ phận giai cấp công nhân Anh ủng hộ xóa bỏ chế độ nô lệ ở Mĩ, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của phe Liên bang chấm dứt sự chia cắt của một quốc gia – còn đa số giới lãnh đạo Anh ủng hộ phe Liên minh trong thời gian đầu. Sự ủng hộ Liên minh của chính quyền Anh còn xuất phát từ một yếu tố khác đó chính là vấn đề bông vải sợi.
Như vậy, vào giữa khoảng thế kỉ XVIII ngành công nghiệp vải sợi ở
Anh có những biến động – một ngành công nghiệp mà nguồn nguyên liệu chủ
yếu dựa vào sự cung cấp từ bên ngoài mà cụ thể từ nước Mĩ và chính điều đó đã ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao của nước Anh trong cuộc nội chiến Mĩ.
1.4. Khái quát quan hệ Mĩ – Anh trước năm 1861
Sau khi Hòa ước Paris có hiệu lực (1783), chính phủ Mĩ đứng đầu là G. Washington đã bắt tay vào công cuộc hoàn thiện thể chế chính trị đất nước, chấn hưng kinh tế và ổn định tài chính. Bên cạnh công tác nội trị, chính quyền G. Washington còn thực thi chính sách đối ngoại phù hợp với hoàn cảnh của một nước cộng hòa non trẻ. Mục tiêu của chính sách đối ngoại G. Washington là duy trì hòa bình, ổn định để có điều kiện xây dựng đất nước sau chiến
tranh.
Một đối tác ngoại giao quan trọng đối với nước Mĩ ngay từ thời lập quốc đó là các cường quốc Châu Âu trong đó đặc biệt là nước Anh. Mĩ và Anh là hai quốc gia không chỉ có mối liên kết về lịch sử văn hóa, mà còn là đối tác thương mại, trong từng giai đoạn có những biến động riêng.
Vào những năm đầu thế kỉ XIX, quan hệ giữa hai nước Mĩ – Anh chịu tác động bởi các cuộc chiên tranh của Napoleon. Sau khi hạm đội của Pháp bị đánh bại ở Trafalgar (năm 1805), sự kình địch giữa Anh và Pháp mang màu sắc của một cuộc chiến tranh thương mại khốc liệt. Anh tuyên bố phong tỏa tất cả các bờ biển của đế quốc Pháp. Napoleon đáp trả bằng cách cấm các tàu bè trung lập ra vào các cảng của Anh. Biện pháp này ảnh hưởng đến các tàu của Anh. Mỹ vốn có một hạm đội thương mại rất mạnh và họ trao đổi với Anh nhiều hơn là với lục địa châu Âu. Biện pháp này của Pháp cũng đã được Anh đáp trả bằng cách cấm các tàu trung lập ra vào buôn bán trong các cảng của Pháp cũng như của châu Âu thuộc Pháp hay đồng minh của Pháp, nếu trước đó không ghé qua một cảng của Anh cấp giấy phép.
Lệnh phong tỏa từ cả hai phía, đều đã không được thi hành một cách triệt để. Tuy nhiên một số lớn tàu Mĩ cũng đã bị hai bên bắt giữ. Tệ hơn nữa, hạm đội Anh ở ngoài khơi lấy lại quyền coi các thành phần của một thủy thủ đoàn Mĩ như là đảo ngũ vì chính quyền Anh vẫn không nhìn nhận việc nhập quốc tịch Mĩ.
Tuy nhiên, Jefferson thấy là không thể chần chừ tránh né, mà phải hành động. Biết rằng Anh, về mặt lương thực, tùy thuộc số ngũ cốc nhập từ Mĩ, ông đã đệ trình lên Quốc hội, tháng 12 năm 1870 một đạo luật gọi là Embargo(cấm vận) cấm tàu của tất cả các quốc gia xuất phát từ một trong các cảng của Mĩ tới cảng của một quốc gia thứ ba. Đạo luật này được Quốc hội thông qua, gây thiệt hại không chỉ cho các tàu buôn của New England mà cho cả các nông dân và các nhà trồng tỉa vì giá các nông phẩm như ngũ cốc, thuốc là và thịt đã giảm xuống rất nhiều khi không xuất được qua bên kia đại dương. Trong khi đó Anh không gặp nhiều khó khăn lắm trong việc cung cấp lương thực cho người dân của họ trong suốt năm 1808. Tháng 5 năm 1811 một tàu Anh đã bắn vào tàu President của Mĩ. Nhưng người Mĩ cũng còn nhiều lý do khác để không hài lòng về Anh quốc. Đặc biệt là những người ở vùng Tây Bắc và tiếng nói của họ mỗi ngày mỗi mạnh tại Quốc hội. Họ vẫn tiếp tục tin rằng có bàn tay Anh, đúng hơn là những người Anh tại Canada, trong các vùng quấy phá của người da đỏ tại vùng Tây Bắc này và tại cả lưu vực sông Mississippi. Các cư dân ở dọc biên giới nóng lòng muốn chiến đấu chống lại
người Anh và chiếm luôn Cannada. Cơn sốt bành trướng đang hoành hành dữ dội nơi thế hệ trẻ. Henry Clay, đại diện cho bang Kenlucky, còn được sư yểm hộ của một nhân vật nổi tiếng khác là John C. Calhoun người cũng đang nghĩ tới việc xâm chiếm Florida của Tây Ban Nha giờ đây đã trở thành đồng minh của Anh.
Và cuối cùng phe diều hầu đã thắng thế trong Quốc hội. Ngày 18 tháng
06 năm 1812 chiến tranh không cân sức. Nhưng cả hai bên đều thất vọng. Người Anh có một hạm đội mạnh hơn hạm đội của Mĩ gấp bội, cho phép họ thực hiện các cuộc đổ bộ và tiếp viện lực lượng cho quân đội họ tại Cannada ngã ngũ.
Trong cuộc đổ bộ mùa thu, quân Anh có hơn 10.000 người thiện chiến nhưng họ đã vấp phải những dân quân Mĩ dày dặn kinh nghiệm, am hiểu địa hình, địa vật và có một người chỉ huy xuất sắc là Andrew Jackson. Ngày 08 tháng Giêng năm 1815, quân Anh đã bị đánh lui và chịu nhiều tổn thất nặng nề. Đối với chính phủ Mĩ là một chiến thắng vang dội, có ảnh hưởng lớn trong cả nước và củng cố thêm lòng tự hào của họ. Nhưng chiến thắng này không giúp gì cho phía Mĩ trong cuộc đàm phán hòa bình bởi vì hai bên đã ký hòa ước với nhau.
Khi nước Pháp của Napoleon đã sụp đổ ở Fontaineblean thì cả Anh và Mĩ đêu thấy rằng cuộc chiến tranh của họ chẳng có mục đích gì nữa và hai bên tham chiến đã ký thỏa thuận chung với nhau từ mùa hè năm 1814. Hai bên cuối cùng đã dẹp bỏ mọi trở ngại và thỏa thuận với nhau là sẽ giữ nguyên hiện trạng về lãnh thổ. Trong văn bản cuối cùng, người ta thậm chí còn không nhắc một lời nào đến những lý do khiến Quốc hội Mĩ tuyên chiến với Anh nữa. Những vấn đề tồn tại được giao cho các Ủy ban hỗn hợp của hai bên nghiên cứu giải quyết, như vậy cả hai bên đều được giữ thể diện và chung sống từ nay trong tình thân hữu.
Trong cuộc chiến tranh với Napoleon những nhà máy dệt của Anh không được tiếp tế bông của Mĩ. Nhưng từ năm 1815, nhu cầu về bông của châu Âu tăng lên rất nhiều mà người ta chỉ có thể đáp ứng bằng việc mở rộng việc trồng bông. Mà việc trồng bông chỉ sinh lợi khi sử dụng lao động nô lệ. Muốn đảm bảo chế độ nô lệ tồn tại lâu dài trong tương lai số đại biểu cho các
bang miền Nam phải ngang với số đại biểu của các bang miền Bắc trong quốc hội.
Hiệp ước ký kết năm 1818 với nước Anh đã quy định biên giới Cannada và Hoa Kỳ, dọc theo vĩ tuyến 49 nhưng dãy đất rộng nằm giữa dãy núi Rocheuses và biển cả tạm thời đặt dưới sự chiếm đóng hỗn hợp của cả hai bên. Trong một phần tư đầu thế kỉ XIX chỉ có vài thương nhân người Anh lui tới mua lông thú, cũng như chỉ có vài nhà truyền giáo Mỹ tìm cách cản hóa
người da đỏ. Quốc hội Hoa Kỳ đã không che dấu tham vọng của mình, yêu cầu thương lượng để ký kết với người Anh về lãnh thổ. Một Hiệp ước đã
được ký kết sau những cuộc mặc cả gay go ngày 15 tháng 06 năm 1846 thừa nhận biên giới vĩ tuyến 49.
Lãnh thổ Oregon nằm rìa phía Tây Bắc lục địa Bắc Mĩ. Đây là vùng đất
đánh dấu sự mở rộng lãnh thổ của nước Mĩ và có sự có mặt liên quan của
nước Anh. Dải đất Oregon có hệ thống sông ngòi chằng chịt với dòng sông Columbia là tuyến đường thủy huyết mạch trong việc chung chuyển hàng hóa từ vùng nội địa ra Thái Bình Dương và ngược lại. Eo biển Juan de Fuca được xem là cửa ngõ đi đến châu Á. Người Anh thiết lập nhiều cơ sở buôn bán da thú ở các khu vực xung quanh vịnh Hudson với đại bản doanh là đồn Vancouver, phía Bắc con sông Columbia. Công việc buôn bán của Anh tại đây do công ty Hudson Bay đảm nhận.
Trong khi đó, hoạt động khai thác lông thú của Mĩ nằm dưới quyền kiểm soát của công ty lông thú Thái Bình Dương do thương gia John Jacob Astor điều khiển. Năm 1811, công ty náy thiết lập thương điếm với tên gọi Astoria, gần cửa sông Columbia. Do cùng khai thác trên một địa bàn, sự va chạm quyền lợi giữa hai công ty xảy ra là điều tất yếu. Song điều may mắn với công ty Hudson Bay, năm 1812, cuộc chiến tranh giữa Anh – Mĩ làm phá
sản hoạt động kinh doanh của công ty lông thú Thái Bình Dương, buộc Astor bán phần lớn cổ phần cho phía Anh.
Năm 1814, say khi cuộc chiến tranh kết thúc, Anh và Mĩ đều ra tuyên bố mạnh mẽ đòi độc quyền làm chủ xứ Oregon. Cả hai đều không chịu
nhượng bộ. Nhằm giải quyết tình tràng, ngày 20 tháng 08 năm 1818, tại London, Công sứ Mĩ – Richard Rush ký với chính quyền Anh một bản hiệp định, theo đó “không một đường ranh giới nào được thiết lập ở phía Tây dãy Rocky và trong 10 năm tới, vùng Oregon sẽ được mở ra cho những người định cư và giao thông hàng hải của cả hai quốc gia” [43; tr. 408]. Mặt khác, trong cùng thời gian, cả Mĩ và Anh gia tăng áp lực đối với Tây Ban Nha và Nga trong việc từ bỏ chủ quyền đối với Oregon. Sa hoàng Nga cũng cam kết với công sứ Mỹ và Anh là không đòi chiếm hữu đất đai ở phía Nam vĩ tuyến. Như vậy, đến đầu thập niên 20 thế kỉ XIX, Anh và Mỹ trở thành hai quốc gia còn lại được tự do tiến hành những kế hoạch cùng chiếm xứ Oregon.
Trong suốt những năm 20, Anh và Mĩ tiếp tục đẩy mạnh khai thác lãnh thổ Oregon. Thông qua hoạt động của công ty Hudson Bay, người Anh sử dụng dòng sông Columbia để chung chuyển hàng hóa vào vùng nội địa Bắc Mĩ. Nhiều địa điểm buôn bán lông thú của người Anh cũng được thiết lập ven sông. Ngược lại, Quốc hội Mĩ với lí do bảo vệ việc buôn bán lông thú của các thương gia tránh khỏi sự báo hại của thổ dân da đỏ đã tiến hành xây dựng nhiều hệ thống đồn bốt ở Oregon. Hệ quả là, sự va chạm quyền lợi giữa Mĩ và Anh về việc sử dụng lãnh thổ Oregon nảy sinh và tất yếu là hai bên đã tiến hành thương lượng nhằm giải quyết vấn đề Orgon.
Trong các cuộc đàm phán diễn ra vào các năm 1824 và năm 1826, hai bên đi đến một thỏa thuận tạm thời. Theo đó “nước Mỹ giữ cửa sông Columbia và nhiều hải cảng và bán đảo Olympic; nước Anh nắm giữ eo biển Juan de Fuca, Puget Sound và quyền hàng hải trên sông Columbia”
[50;tr.86]. Tuy nhiên, sự phân chia lãnh thổ như trên khó lòng đem lại sự chấp thuận của hai bên. Bởi nước Mĩ nhận thấy giá trị thương mại của Puget Sound quá lớn nên khó nhường nó cho bất cứ ai. Mặt khác công ty Hudson Bay gia tăng sức ép với Chính phủ London là phải chiếm giữ đồng bằng và dòng sông Columbia. Kết quả, ngày 06 tháng 08 năm 1827, Anh và Mĩ ra tuyên bố tiếp tục gia hạn hiệp ước năm 1818, tức cùng sở hữu vùng Oregon trong thời hạn
10 năm nữa.
Vào thập niêm 40 của thế kỉ XIX, có hàng nghìn người Mĩ đến định cư ở Oregon, đa phần đồng bằng Willamette. Theo thống kê vào năm 1845, số
người da trắng quốc tịch Mĩ sinh sống ở lãnh thổ Oregon vượt quá 5000
người. Những người dân lập nghiệp, một mặt bày tỏ thái độ không hài lòng về cả việc Anh và Mõ cùng làm chủ xứ Oregon, mặt khác tiến hành bầu cử các viên chức địa phương tham gia các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp lâm thời nhằm hướng đến việc tổ chức lãnh thổ giống như Liên bang Mĩ.
Do cùng khai thác trên lãnh thổ Oregon nên sự va chạm giữa Anh và Mĩ là điều không tránh khỏi. Do vậy, để giải quyết tình trạng này hai bên muốn có giải pháp phân chia lãnh thổ Oregon. Với lý do như vậy, một lần nữa vào năm 1842 bên lề cuộc đàm phán ở Washington về việc giải quyết tranh chấp biên giới tại Maine, giữa đại diện ngoại giao Anh – Hầu tước Ashburton với Ngoại trưởng Mĩ tại thời điểm này là Daniel Webster, phái đoàn Anh đưa ra quan điểm phân chia lãnh Oregon nằm tại con sông Columbia. Tuy nhiên, chủ trương này không nhận được sự tán thành của phải đoàn Mĩ vì lí do, mặc dù có quyền lợi ở phía Nam sông Columbia nhưng người Mĩ còn muốn mở rộng phạm vi hoạt động của mình lên tới tân miền Bắc, nơi gắn liền với quyền lợi của nước Anh. Một bản báo cáo khác của vị trung úy hải quân, Charles Wilkes, gửi tới chính phủ Mĩ vào tháng 06 năm 1842, cũng có quan điểm, đề xuất ý định thiết lập một hải cảng ở phía Bắc của con sông Columbia. Sở cái
nhu cầu về một hải cảng ở Thái Bình Dương được đặt ra vào thời điểm này là do vào khoảng cuối thập niên 30, đầu thập niên 40, tần suất trao đổi mậu dịch giữa thương gia ở vùng New England và khu vực miền Tây với thị trường phương Đông, nhất là Trung Quốc, ngày càng gia tăng.
Thời gian sau đó, chủ quyền lãnh thổ Oregon trở thành chương trình nghị sự của một số đảng phải chính trị trong chiến dịch vận động bầu cứ tổng thốn năm 1844. Tại đại hội của Đảng Dân chủ diễn ra tại Baltimore, trong những nghị sĩ có tư tưởng bành trướng một mặt đưa ra cương lĩnh khẳng định: “ chủ quyền của Mĩ đối với toàn bộ lãnh thổ Oregon là rõ ràng và không nghi ngờ rằng không một tấc đất trong lãnh thổ này nhượng cho Anh hoặc bất cứ cường quốc nào; rằng việc tái chiếm Oregon và việc tái sáp nhập Texas tại thời điểm thích hợp nhất là những mục tiêu cả người Mĩ” [49; tr.
155].
Trong diễn văn nhậm chức của Tổng thống của J. K. Polk kích động sự tuyên chiến từ phía Anh ngày 04 tháng 03 năm 1845 “Nhiệm vụ của tôi là khẳng định và duy trì bằng tất cả các phương tiện hiến pháp quyền lợi của nước Mĩ đói với vùng lãnh thổ nằm ở phía bên kia dãy Rocky. Chủ quyền của nước Mĩ đối với vùng lãnh thổ Oregon là rõ ràng và không nghi ngờ và dân tộc Mĩ sẵn sàng tiếp nhận chủ quyền bằng cách chiếm lấy vùng lãnh thổ đó” [49; tr.
227]. Để đáp lại thông điệp của Tổng thống Polk, Tạp chí London Times (Anh) tuyên bố, tất cả công dân Anh : “chuẩn bị để bảo vệ lấy chủ quyền đối với vùng lãnh thổ Orgen ở mức tối đa, cho dù bất cứ ở đâu nhân dân Anh cảm thấy bị thách thức nghiêm trọng” [49; tr. 156]. Không giống giới truyền thông, Ngoại trưởng Hoàng gia Anh, coi diễn văn của Polk với một thái độ ôn hòa, như một tuyên ngôn mang tính chất chính trị. Trước Viện Dân biểu , Aberdeen nói: “ Dưới quan điểm của chúng tôi, nước Anh có quyền rõ ràng và chắc chắn, bằng
phúc lành của Thượng đế và với sự hỗ trợ của các bạn, những quyền lợi đó nước Anh sẵn sàng duy trì chủ quyền với Oregon” [50; tr. 227-228].
Trước thái độ cứng rắn của người đứng đầu Nhà Trắng đối với nước Anh gây nên sự tranh cãi gay gắt trong Quốc hội. Một bên là nhóm nghị sĩ thuộc miền Tây Bắc của Đảng Dân chủ do Tổng thống Polk đứng đầu, muốn tiến hành chiến tranh với Anh để chiếm giữ toàn bộ lãnh thổ Oregon; bên kia là các nghị sĩ thuộc phái Whig thuộc vùng New England, đại diện cho các thương gia, chủ trương giải quyết vấn đề Oregon theo con đường hòa bình, tức là đàm phán với Anh.
Trước áp lực từ nhiều phía, Tổng thống Polk chấp nhận giải quyết vùng lãnh thổ Oregon theo con đường hòa bình. Về phía Anh bộ phận chính quyền London cũng giải quyết theo biện pháp tương tự. Theo bản thỏa ước Oregon
được ký kết giữa hai chính phủ theo đó xứ Oregon bị phân đôi lấy vĩ tuyến 49 độ Bắc chạy từ Puget Sound đến tận Thái Bình Dương thông qua eo biển Juan de Fuca. Phần phía Nam vĩ tuyến 49 độ Bắc thuộc về nước Mĩ. Phần phía bắc vĩ tuyến 49 độ Bắc, bao gồm cả đảo Vancouver thuộc về lãnh thổ Anh sau này là Canada. Với việc Chính phủ Mĩ kí với Chính phủ Anh bản thỏa ước Oregon, đường biên giới của nước Mĩ đã chính thức mở rộng đến ven bờ Thái Bình Dương. Điều quan trọng, Thỏa ước Oregon đã loại bỏ sự hiện diện của Anh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự lớn mạnh của nước Mĩ.
Ngoài Oregon, vấn đề lãnh thổ Texas, California cũng thể hiện khá
đậm nét được mối quan hệ Anh – Mĩ vào thế kỉ XIX.
Nước Anh tăng cường ảnh hưởng của mình ở khu vực phía nam Mĩ. Tháng 11 năm 1840, chính phủ Cộng hòa Texas được chính phủ London công nhận thông qua việc ký kết hiệp ước thương mại và thân thiện. Theo quan
điểm của giới lãnh đạo Anh việc công nhận nền độc lập của Texas nhằm các mục đích: Thứ nhất, về chính trị nước Cộng hòa Texas độc lập với đường
ranh giới kéo dài tới Thái Bình Dương đồng nghĩa với nó là sẽ tạo thành bức
tường để ngăn chặn sự bành trướng xuống phía Nam của Mĩ. Thứ hai, về mặt kinh tế, do nền kinh tế nông nghiệp Texas phần lớn trồng cây bông nguyên liệu chủ yếu phục vụ sản xuất bông vải do đó nên London hi vọng Texas sẽ giảm bớt gánh nặng cho các nhà máy dệt của Anh vốn phụ thuộc vào nguồn cung cấp sợ bông từ miền nam nước Mĩ. Nguồn cung cấp này có thể bị phong tỏa do chính sách cấm vận hoặc chiến tranh xảy ra. Một Texas độc lập sẽ cung cấp nguyên liệu thô cho nhà máy Anh, đồng thời trở thành thị trường tiêu thụ các chế phẩm công nghiệp do Anh sản xuất ra. Những chế phẩm này
được vận chuyển bằng thương thuyền mang quốc tịch Anh mà có thể tự do ra vào các hải cảng Texas hoàn toàn miễn phí. Điều này góp phần suy yếu hàng rào thuế quan các tiểu bang nước Mĩ, buộc nhà trắng bãi bỏ thuế mậu dịch chống lại hàng hóa Anh và quyền lợi của thương thuyền Anh. Thứ ba, về văn hóa, là quốc gia tiên phong trong việc thủ tiêu chế độ nô lệ, nước Anh đang từng bước vận động chính giới các quốc gia khác trên khắp hành tinh từ bỏ chế độ này.
Nguy cơ Texas rơi vào tầm ảnh hưởng của Anh gây nên mối lo lắng đối với chính giới Mĩ. Bởi theo quan điểm của họ, nền độc lập Texas được sự hậu thuẫn của Anh sẽ là địa điểm cho những nô lệ bỏ trốn, đồng thời cũng là nơi cất giữ những hàng hóa phi pháp nhập từ các cảng vào nước Mĩ. Dư luận Mĩ cho rằng nước Anh muốn đẩy Mĩ ra khỏi cuộc đua thôn tính Texas. Tình hình này xảy ra khi nước Mĩ đang trong cuộc vận động cuộc tranh cử tổng thống. Trong diễn văn nhậm chức của Tổng thống Polk coi sự sáp nhập của Texas nhằm hường tới việc “xây dựng một phần của phe Liên bang và cùng hướng tới và cùng hưởng ứng với cúng ta nền tự do mà Quốc hội đã bảo đảm và bảo vệ” [11; tr. 284]. Ngày 29 tháng 12 năm 1845, người đứng đầu Nhà Trắng kí nghị quyết cuối cùng sáp nhập Texas, sau 09 năm tồn tại với tư cách quốc gia độc lập, vào lãnh thổ Mĩ.
Sự kiện Texas gia nhập vào nước Mĩ, đã làm tăng diện tích của đất
nước đặc biệt gia tăng không gian cho việc sản xuất cây bông, đồng thời nó đã làm phá sản hoàn toàn mưu đồ của chính phủ London trong việc xây dựng một quốc gia đệm phía Nam nhằm hạn chế sức mạnh của Mĩ.
Mặc dù trên thực tế nước Anh không có động thái thể hiện quân sự tại bờ biển Thái Bình Dương song tin đồn về nước Anh có tham vọng đối với California lan truyền khắp nước Mĩ, nhất là khi trong cuộc vận động ngoại giao quốc tế của giới London nhằm ngăn cản Texas sáp nhập Mĩ đứng trước nguy cơ phá sản cuối năm 1844. Cụ thể vào mùa hè năm 1845, nhà Trắng liên tục nhận được những công hàm từ đại diện lãnh sự Mĩ ở Liverpool nói rằng: “Nước Anh chưa bao giờ có ý định từ bỏ California” [47; tr. 182]. Tình hình trên gây nên mối lo lắng trong dư luận nước Mĩ. Tờ người đưa tin New York cho rằng: “Việc nước Anh có tham vọng sở hữu California dường như là mối bận tâm lớn nhất đối với cư dân Mĩ tương tự như mưu đồ của Nga đối với Ấn Độ” [50; tr. 253].
Ngày 17 tháng 10 năm 1845, Tổng thống J. K. Polk một mặt gửi công hàm chỉ thị T. Larkin tiến hành những hoạt động chống lại ảnh hưởng ngoại quốc mà cụ thể chỉ nước Anh, kích động phong trào đấu tranh đòi ly khai của cư dân California và khuyến khích sáp nhập lãnh thổ này vào Mĩ, J.K.Polk đưa ra hệ luận Polk dựa trên tuyên ngôn mà Tổng thống J. Monroe công bố gần một phần tư thế kỉ trước đó, cảnh báo các cường quốc châu Âu mà trước hết là Anh, rằng California không phải là đối tượng cho việc thực dân hóa của
nước Anh, việc California tình nguyện gia nhập vào Liên bang là công việc của cư dân nhập cư ở đây mà không một cường quốc nào có thể can thiệp. Điều quan trọng trên hết, hệ luận Polk cho rằng nước Mĩ sẽ không cho phép châu Âu can thiệp quá trình sáp nhập California vào nước Mĩ theo con đường hòa bình.
Như vậy quan hệ giữa hai nước Mĩ -Anh trước năm 1861 có nhiều sự kiện có lúc quan hệ giữa hai nước tưởng chừng như đứng trước nguy cơ tan vỡ, có lúc lại gắn kết chặt chẽ với nhau vì mục tiêu mỗi bên. Quan hệ Mĩ – Anh còn được thể hiện rõ hơn trong thời kì lịch sử đẫm máu của nước Mĩ trong giai đoạn 1861 -1865.
Tiểu kết chương 1
Vào nửa đầu thế kỉ XIX, các cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh của các tầng lớp lao động trên khắp các châu lục, đặc biệt là lao động da đen ở châu Mĩ. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn vị thế của các cường quốc trên thế giới có nhiều thay đổi. Tại châu Âu, nếu trước năm 1815, Pháp giữ vị thế chi phối tình hình châu Âu, thì sau năm 1815 vị trí này nhường lại cho Anh. Do đó,những biến đổi tình hình thế giới giai đoạn này ảnh hưởng nhất định tới quan hệ Mĩ –Anh thời kì nội chiến (1861 -1865).
Sự tồn tại dai dẳng của chế độ nô lệ làm cản trở sự phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Mĩ. Hơn nữa, sự khác biệt về thái độ chính trị, phương thức kinh tế giữa hai miền Nam – Bắc nước Mĩ khiến mâu thuẫn giữa hai miền càng trở nên gay gắt và không thể dung hòa được. Cuối cùng, cuộc nội chiến (1861 -1865) nổ ra, gây thiệt hại lớn về người và của, nhưng để lại ý nghĩa vô cùng to lớn đó là xóa bỏ sự tồn tại của chế độ nô lệ và chấm dứt sự ly khai của các bang miền Nam, thị trường dân tộc Mĩ thống nhất.
Sau cuộc các mạng công nghiệp nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Anh “trở thành công xưởng” của thế giới vào những năm 50 của thế kỉ XIX. Công nghiệp dệt – một ngành công nghiệp truyền thống của Anh lại dựa vào nguồn cung cấp bông chủ yếu từ thị trường bên ngoài là miền Nam nước Mĩ,
Ấn Độ. Sự phát triển mạnh của công nghiệp kéo theo nhu cầu về nguồn nhân công ngày càng lớn, cùng với đó là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và công nhân ngày càng cao. Do đó, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ vào nửa đầu thế kỉ XIX. Khi cuộc nội chiến Mĩ diễn ra đại bộ phận giai cấp công nhân Anh ủng hộ chính quyền Liên Bang, còn giới cầm quyền Anh ủng hộ chính quyền phe ly khai miền Nam trong giai đoạn đầu.
Mĩ –Anh là hai quốc gia có mối quan hệ lâu đời về lịch sử, văn hóa và đến trước năm 1861 có nhiều biến đổi có những lúc mối quan hệ này đứng trước nguy cơ tan vỡ, có lúc lại được gắn chặt lại với nhau vì mục đích của mỗi bên. Mối quan hệ này càng được thể hiện rõ trong cuộc nội chiến Mĩ (1861 -165).
Như vậy, những yếu tố trên là cơ sở để nảy sinh những phức tạp trong quan hệ Mĩ – Anh thời kì nội chiến (1861 -1865).
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1/ KHÓA LUẬN QUAN HỆ MĨ – ANH (1861 – 1865)


