Quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành
MỞ ĐẦU
Núi Thành là huyện trọng điểm về khai thác hải sản của tỉnh Quảng Nam và khai thác hải sản cũng là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, Núi Thành có bờ biển dài 37 km, có 2 cửa biển: An Hòa và Cửa Lở; có ngư trường khai thác hải sản rộng lớn, nguồn lợi hải sản phong phú, đa dạng. Trong những năm qua, ngư dân trong huyện tranh thủ thời tiết thuận lợi vươn khơi bám biển khai thác hải sản. Hằng năm ngư dân trong huyện khai thác hơn 45.000 tấn hải sản các loại; nhiều tàu thuyền của ngư dân khai thác đạt sản lượng cao doanh thu hàng tỷ đồng, giải quyết việc làm cho nhiều lao động có thu nhập cao và ổn định. Mặc khác trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội (KT-XH), đảm bảo quốc phòng- an ninh (QP-AN), bảo vệ môi trường của nước ta.
Tuy nhiên, hoạt động ngành khai thác hải sản của huyện Núi Thành còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương, phát triển mang tính tự phát, nhiều rủi ro, thiếu sự bền vững. Chưa có quy hoạch tổng thể và chi tiết phát triển KT-XH các xã ven biển, quy hoạch phát triển ngành khai thác hải sản; cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển khai thác hải sản chưa đáp ứng yêu cầu. Các cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển khai thác hải sản còn thiếu, thực hiện chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Phương thức sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu nên năng suất, chất lượng chưa cao. Việc khai thác quá mức và sử dụng chưa hợp lý các nguồn tài nguyên dẫn đến nguồn lợi hải sản xa bờ ngày càng cạn kiệt, môi trường sinh thái bị huỷ hoại. Chưa liên kết được doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ với ngư dân trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, khai thác hải sản xa bờ của huyện Núi Thành cũng gặp không ít những thách thức từ thiên tai, biến đổi khí hậu; lực lượng lao động dồi dào nhưng chất lượng còn hạn chế…tác động đến hoạt động khai thác của ngành khai thác hải sản xa bờ.
Chính vì lẽ đó, việc tăng cường quản lý để thúc đẩy phát triển khai thác hải sản xa bờ cần được nghiên cứu để đưa ra giải pháp khắc phục những hạn chế nêu trên và định hướng phát triển ngành phù hợp với trình độ và điều kiện của ngư dân tại huyện Núi Thành, bảo đảm tính hiệu quả ổn định KT-XH lâu dài là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Do đó, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế cho bản thân.
Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động khai thác hải sản xa bờ tại huyện Núi Thành từ năm 2017-2021; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước hoạt động khai thác hải sản xa bờ phù hợp với mục tiêu phát triển của huyện.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
– Hệ thống hóa vấn đề lý luận liên quan đến công tác quản lý nhà nước hoạt động khai thác hải sản xa bờ.
– Phân tích, đánh giá thực trạng về công tác QLNN đối với lý hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành.
– Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước hoạt động khai thác hải sản xa bờ tại huyện Núi Thành trong thời gian tới.
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
– Về nội dung: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành.
– Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
– Về thời gian: Luận văn tiến hành phân tích thực trạng công tác quản lý Nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam từ năm 2016 đến năm 2021 và các giải pháp đề xuất có ý nghĩa trong thời gian đến.
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
– Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
+ Thu thập các thông tin liên quan đến công tác QLNN về hoạt động khai thác hải sản xa bờ được công bố chính thức từ các cơ quan nhà nước; tham khảo những nội dung về công tác QLNN về hoạt động khai thác xa bờ trong các giáo trình chuyên ngành trong và ngoài nước, các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức liên quan đến QLNN về hoạt động khai thác hải sản xa bờ nói chung và trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam nói riêng.
+ Thu thập những thông tin về tình hình phát triển kinh tế xã hội, các chính sách liên quan đến QLNN về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành từ các cơ quan chức năng liên quan.
– Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Chọn ngẫu nhiên ngư dân hoặc chủ tàu để điều tra khảo sát. Các phiếu điều tra dành cho ngư dân được thực hiện ngẫu nhiên tại 04 xã Tam Tiến, Tam Quang, Tam Giang, Tam Hải với tổng số phiếu 100 phiếu (bình quân 25 phiếu đối với mỗi xã). Phiếu trả lời sẽ được thu thập, xử lý và sử dụng vào phân tích, đánh giá các nội dụng nghiên cứu để có được kết quả khách quan, phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Phiếu khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 để đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành. Mỗi câu hỏi được xây dựng thành 5 điểm tuỳ ý theo sự đồng ý của người được khảo sát: 1 = rất tốt; 2 = tốt; 3 = bình thường; 4 = chưa tốt; 5 = không tốt. Những câu hỏi chọn “chưa tốt” và “không tốt” được cho là không tốt. Những câu hỏi chọn “rất tốt” và “tốt” được cho là tốt. Những câu hỏi chọn “bình thường” không đưa vào phân tích.
+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Thực hiện thăm dò ý kiến của các chuyên gia, giáo viên hướng dẫn, các lãnh đạo, đồng nghiệp có kinh nghiệm đánh giá về QLNN đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành, qua đó thu thập ý kiến đóng góp, kinh nghiệm quý báu và thực tế.
Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu
+ Phương pháp thống kê mô tả: Tập hợp các số liệu, thông tin thu thập được, phân loại, lựa chọn, sắp xếp, thống kê những thông tin cần thiết thành các bảng số liệu để sử dụng nghiên cứu đề tài.
+ Phương pháp so sánh: Thông tin, số liệu sau khi được thu thập, phân tích sẽ được tiến hành so sánh cụ thể; trong đó so sánh các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội được lượng hóa có nội dung, tính chất tương tự nhau; so sánh qua các giai đoạn; so sánh với các đối tượng tương tự; so sánh kết quả QLNN về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành qua các thời kỳ.
+ Phương pháp tổng hợp: Từ những số liệu thu thập, chọn lọc những kết quả phân tích đánh giá thực trạng công tác QLNN về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành, tác giả tổng hợp kết quả phân tích để đánh giá những mặt thành công, hạn chế trong công tác QLNN về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện. Từ đó, đưa ra được phương hướng, mục tiêu và các giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành trong thời gian đến.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia làm 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về QLNN đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ
Chương 2. Thực trạng công tác QLNN về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ
– Quản lý nhà nước Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2005) “là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm đạt các mục tiêu các chủ thể quản lý thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, vị trí, nguyên tắc QLNN trên cơ sở pháp luật. QLNN phải luôn gắn với những mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ cụ thể.” [10]
– Quản lý nhà nước về kinh tế “là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế. QLNN về kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội.” [10]
– Khai thác thủy sản (đánh bắt thủy sản) “là hoạt động liên quan đến việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển và các vùng nước lợ. Hoạt động khai thác thủy sản là các tác động của con người thông qua các công cụ hỗ trợ và các phương pháp nhằm khai thác các tài nguyên sinh vật, chủ yếu là cơ thể sống như tôm, cá, các loại nhuyễn thể, thân giáp, rong biển, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người về các sản phẩm hàng hóa hải sản.” [7]
- Giải thích từ ngữ trong Luật Thủy sản năm 2017, “khai thác thủy sản là “hoạt động đánh bắt hoặc hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản”.”[15]
- Khai thác hải sản xa bờ: “Là việc khai thác các nguồn lợi thủy sản ở vùng biển giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế (từ 24 hải lý) được trang bị bởi tàu thuyền có công suất từ 90 CV trở lên và có chiều dài trên 15 m.” [15]
- Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ: “là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, kế hoạch của Nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ của tổ chức, cá nhân để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động khai thác hải sản xa bờ trong nước và tại các vùng biển quốc tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế – xã hội đặt ra.” [7]
Quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ đó là thực thi quyền lực công và nhân danh Nhà nước về các hoạt động khai thác hải sản xa bờ.
Quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản xa bờ trước hết phải bảo đảm quốc phòng – an ninh và căn cứ vào trữ lượng nguồn lợi thủy sản, gắn với công tác bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, nhằm không làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, không ảnh hưởng đến đa dạng sinh học đảm bảo phát triển bền vững. Từ đó đã có sự tham gia đồng quản lý của nhiều cá nhân, tổ chức cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Bộ máy quản lý nhà nước ngành thủy sản được nhà nước ta xây dựng từ Trung ương cho đến địa phương, gắn với hệ thống chính quyền nhà nước các cấp.
Các yếu tố cấu thành của quản lý nhà nước về khai thác hải sản xa bờ bao gồm:
– Chủ thể quản lý: chủ thể quản lý nhà nước về khai thác hải sản xa bờ ở nước ta là Nhà nước, gồm: các cơ chế, nguyên tắc và chế độ hoạt động của chính quyền; nguồn nhân lực của bộ máy công quyền bao gồm viên chức, công chức, những người thừa hành công vụ, hoặc phục vụ cho các hoạt động khác nhau của các cơ quan trong bộ máy công quyền; hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước từ Trung ương đến địa phương bao gồm các cơ quan hoạch định chủ trương, chính sách và các cơ quan thực thi.
Quản lý nhà nước về thủy sản được quy định tại Chương VIII Luật thủy sản 2017, trong đó phân cấp rõ ràng trách nhiệm của Chính Phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp, cụ thể:
“Điều 101. Trách nhiệm của Chính phủ, Bộ, cơ ngang Bộ
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thủy sản trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thủy sản và có trách nhiệm sau đây:
a) Quản lý nhà nước về hoạt động thủy sản trong phạm vi cả nước; xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án về hoạt động thủy sản;
b) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế – kỹ thuật trong lĩnh vực thủy sản;
c) Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng, chống dịch bệnh thủy sản, khai thác thủy sản trên biển; quản lý chế biến, thương mại thủy sản; chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản theo quy định của pháp luật; xây dựng, quản lý, hướng dẫn cập nhật, truy cập hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản;
d) Quản lý nhà nước về kiểm ngư; chỉ đạo thống nhất về chuyên môn, nghiệp vụ kiểm ngư;
đ) Tổ chức thực hiện việc cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ thuộc phạm vi quản lý trong hoạt động thủy sản; ủy quyền, phân cấp quản lý theo quy định của pháp luật;
e) Tổ chức điều tra, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ; thẩm định, đánh giá tác động các hoạt động kinh tế gây ảnh hưởng đến hoạt động thủy sản;
g) Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra quản lý nhà nước về cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá trên phạm vi cả nước; tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá theo quy định của pháp luật; công bố danh sách cảng chỉ định có đủ hệ thống xác nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác;
h) Quản lý nhà nước đối với khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong phạm vi cả nước;
i) Quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện đào tạo, tập huấn, huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực thủy sản; tổ chức thực hiện, hướng dẫn thống kê, thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực thủy sản;
k) Quy định về chỉ tiêu, chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản, quy định quản lý kỹ thuật chuyên ngành trong hoạt động thủy sản;
l) Quản lý, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản theo thẩm quyền; là cơ quan đầu mối thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thủy sản;
m) Chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản;
n) Tổ chức thực hiện lưu giữ giống gốc, loài thủy sản bản địa có giá trị kinh tế.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về thủy sản.
Điều 102. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:
a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn tổ chức thi hành pháp luật về thủy sản;
b) Chỉ đạo, tổ chức quản lý hoạt động thủy sản trên địa bàn; tổ chức sản xuất khai thác thủy sản;
c) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tập huấn kiến thức, về thủy sản; xây dựng cơ sở dữ liệu về thủy sản trên địa bàn và cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản;
d) Tổ chức thực hiện việc cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ thuộc phạm vi quản lý trong hoạt động thủy sản theo phân công, phân cấp;
đ) Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản theo thẩm quyền;
e) Bảo đảm chế độ, kinh phí, các điều kiện hoạt động cho Kiểm ngư địa phương theo quy định của pháp luật;
g) Tổ chức quản lý cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá theo phân cấp; thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, chấp hành quy định của pháp luật về khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, an toàn thực phẩm trên tàu cá, tại cảng cá, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy, nổ tại cảng cá; thu thập, tổng hợp báo cáo số liệu về thủy sản qua cảng cá theo quy định;
h) Quản lý nhà nước đối với khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn.
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện nội dung, biện pháp quản lý trong hoạt động thủy sản trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
b) Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy sản theo phân cấp hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp;
c) Tổ chức, thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thủy sản trên địa bàn.
Điều 103. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách, pháp luật về thủy sản; tham gia ý kiến xây dựng pháp luật, thực hiện giám sát, phản biện xã hội trong lĩnh vực thủy sản theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội tham gia ý kiến xây dựng pháp luật trong lĩnh vực thủy sản; tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về thủy sản; tư vấn, tập huấn kỹ thuật về thủy sản; tham gia thực hiện hoạt động bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản.” [15]
Ngoài ra, tại Thông tư số 08/VBHN-BNNPTNT ngày 25/5/2017 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn nhiệm vụ các Chi cục và các tổ chức sự nghiệp trực thuộc Sở NN&PTNT như sau:
“1. Tham mưu, giúp Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình, quy phạm, định mức kinh tế-kỹ thuật về chuyên ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý.
2. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình, quy phạm, định mức kinh tế-kỹ thuật về thủy sản đã được phê duyệt; thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật về chuyên ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý.
3. Trình Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản cá biệt về chuyên ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý.
4. Thẩm định các dự án đầu tư trong lĩnh vực thủy sản; thực hiện đánh giá tác động của các dự án quy hoạch trong lĩnh vực thủy sản.
5. Tổ chức, thực hiện công tác điều tra, thông tin, thống kê, quản lý cơ sở dữ liệu và báo cáo về thủy sản, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thủy sản trên địa bàn tỉnh.
6. Về khai thác thủy sản:
a) Điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản; cung cấp thông tin về dự báo ngư trường, vùng khai thác, mùa, vụ khai thác thủy sản theo quy định của pháp luật;
b) Tổ chức sản xuất, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong hoạt động khai thác thủy sản; hướng dẫn việc phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai trong khai thác thủy sản;
c) Quản lý hoạt động tàu cá trên địa bàn theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho người và tàu cá khai thác thủy sản;
d) Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy phạm kỹ thuật, định mức kinh tế-kỹ thuật; các quy định về phân cấp quản lý tàu cá, cảng cá, bến cá, chợ thủy sản đầu mối, vùng, tuyến khai thác thủy sản, khu neo đậu trú bão của tàu cá, đăng ký, đăng kiểm tàu cá trên địa bàn tỉnh thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao;
đ) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy chế vùng khai thác thủy sản ở sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác thuộc phạm vi quản lý của tỉnh theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
7. Về bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản:
a) Tuyên truyền, phổ biến những quy định của pháp luật về danh mục các loài thủy sản cần được bảo tồn, bảo vệ, cần được tái tạo; các biện pháp bảo vệ môi trường các hệ sinh thái thủy sản, bảo tồn quỹ gen, đa dạng sinh học thủy sản; danh mục các loài thủy sản đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và các loài thủy sản khác bị cấm khai thác, cấm khai thác có thời hạn; các quy định về phương pháp khai thác, nghề, phương tiện, mùa vụ, khu vực khai thác để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản;
b) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về xác lập các khu bảo tồn biển và khu bảo tồn vùng nước nội địa của địa phương; quy chế quản lý khu bảo tồn biển và khu bảo tồn vùng nước nội địa do địa phương quản lý thuộc phạm vi quản lý của tỉnh theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
c) Hướng dẫn thực hiện việc thành lập, quản lý các khu bảo tồn loài, sinh cảnh, khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh và quy định về tiêu chí phân loại khu bảo tồn loài, sinh cảnh, khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh theo phân cấp; tổ chức quản lý khu bảo tồn có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế theo quy định pháp luật.
8. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng và xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản theo quy định của pháp luật; phối hợp với lực lượng kiểm ngư triển khai các hoạt động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật và thanh tra chuyên ngành thủy sản.
9. Tổ chức thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về thủy sản theo quy định; nghiên cứu, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về thủy sản; phối hợp thực hiện phòng, chống thiên tai. Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê hoặc khi có yêu cầu đột xuất của Tổng cục Thủy sản, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
10. Tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính; quản lý tổ chức, biên chế, vị trí việc làm, công chức, viên chức, tài chính, tài sản và nguồn lực khác được giao theo phân cấp của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và theo quy định của pháp luật.” [20]
- Vai trò định hướng
– Xây dựng các chính sách, khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động ngành thủy sản nói chung và hoạt động khai thác hải sản xa bờ thông qua các công cụ kinh tế, giáo dục, hành chính.
– Hoạch định các chiến lược, quy hoạch chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đưa chính sách vào thực tiễn một cách hợp lý và mang lại hiệu quả thiết thực.
- Vai trò điều tiết
– Nhà nước trên cơ sở nắm bắt những quy luật vận động khách quan của kinh tế thị trường, định hướng cho hoạt động khai thác hải sản xa bờ phát triển theo hướng tích cực. Nhà nước tạo cơ sở pháp lý, có các chính sách khuyến khích tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động khai thác hải sản.
- Vai trò phối hợp
– Phối hợp trong công tác quản lý nhà nước giữa hoạt động khai thác hải sản xa bờ với hoạt động khai thác hải sản ven bờ, nuôi trồng hải sản trong cùng ngành thủy sản và với các ngành khác từ trung ương đến địa phương.
Cơ quan quản lý thủy sản có thể phối hợp với các cơ quan trực thuộc để thực hiện nhiều chức năng khác nhau, hoặc có thể thành lập nhiều cơ quan độc lập nhưng có quan hệ với nhau. Sự tồn tại, số lượng các cơ quan trực thuộc và bản chất của mối quan hệ giữa các cơ quan này có sự khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố như: Chính trị, địa lý hoặc tình trạng nguồn lợi thủy sản, quyền hạn được giao… Tuy nhiên, trách nhiệm giữa các cơ quan trực thuộc cần được phân định cụ thể và rõ ràng. Bất kể lựa chọn hình thức nào vẫn cần chú ý đảm bảo có các kênh thông tin, trao đổi, có sự tham gia của các bên có cùng lợi ích và với bất kỳ cơ quan nào khác có liên quan đến thủy sản.
- Vai trò hỗ trợ
– Nhà nước với tư cách là một chủ thể quản lý nhưng đồng thời nhà nước cũng là chủ thể kinh tế thông qua việc sử dụng các nguồn lực của nhà nước nhằm hỗ trợ tạo điều kiện cho hoạt động khai thác hải sản xa bờ phát triển.
– Hoàn thiện thể chế, chính sách phù hợp với điều kiện từng địa phương nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoài đầu tư vào hoạt động khai thác hải sản xa bờ.
– Duy trì, tạo môi trường ổn định cho việc thực thi các hoạt động khai thác hải sản xa bờ.
- Vai trò kiểm tra, giám sát
– Thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực thi các chủ trương, chính sách, các luật, nghị định, thông tư hướng dẫn và các văn bản triển khai của địa phương đối với hoạt động khai thác hải sản.
– Thực hiện kiểm tra, giám sát, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác hải sản đúng định hướng, chủ trương của Đảng, và nhà nước, kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý công tác của nhà nước cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước về hoạt động khai thác hải sản.
– Thường xuyên giám sát hoạt động của mọi đối tượng hoạt động trong lĩnh vực khai thác hải sản xa bờ, cũng như chế độ quản lý của các đối tượng đó nhằm phát hiện và xử lý sai sót, lệch lạc, nguy cơ hoặc vi phạm pháp luật và các quy định của nhà nước, từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh phù hợp, kịp thời nhằm tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ.
Công cụ hành chính
Đây là công cụ sử dụng chủ yếu trong hoạt động QLNN đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, khai thác thủy sản thông qua việc ban hành các nghị quyết, văn bản pháp pháp lý mang tính bắt buộc, tác động trực tiếp đến các đối tượng liên quan, bao gồm: Đội ngũ làm công tác quản lý, các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủy sản, ngư dân.
Công cụ kinh tế
Là một công cụ ảnh hưởng lớn đến hoạt động khai thác hải sản, tác động vào đối tượng quản lý, các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủy sản và ngư dân. Góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động khai thác thủy sản, thông qua việc hỗ trợ, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật .
- Công cụ tuyên truyền, giáo dục
Đây là công cụ tác động vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao ý thức tự giác, thái độ đúng đắn đối với hoạt động khai thác thủy sản. Công cụ này thực hiện thường xuyên và mang tính lâu dài.
- Để quản lý và điều tiết có sự thống nhất toàn bộ hoạt động của ngành thủy sản, tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của ngành thì nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước là phải ban hành các văn bản, chính sách, quy phạm pháp luật. Thông qua các văn bản, chính sách này thì mới có cơ sở để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quản lý nhà nước đối với ngành thủy sản.
- Bên cạnh việc ban hành các quy định, chính sách thì cơ quan quản lý nhà nước phải tổ chức triển khai thực hiện các chính sách, quy định. Tổ chức thực hiện là việc tuyên truyền, phổ biến, triển khai và giám sát việc tuân thủ thực hiện các quy định pháp luật của các đơn vị, cá nhân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước ngành thủy sản. Việc tổ chức thực hiện các quy định, chính sách trong lĩnh vực khai thác hải sản xa bờ cần có sự phối hợp đồng bộ từ các cơ quan có liên quan. Công tác triển khai cần đảm bảo tính kịp thời, đúng đối tượng. Trước khi tổ chức triển khai thực hiện, cần có định hướng, xây dựng kế hoạch cụ thể để đảm bảo lợi ích kinh tế và xã hội đem lại từ chính sách. Đồng thời, việc xây dựng kế hoạch, định hướng triển khai sẽ giúp cơ quan quản lý giảm thiểu mức thấp nhất những thiệt hại xảy ra trong quá trình triển khai thực hiện.
- Tiêu chí đánh giá:
- Mức đánh giá về công tác triển khai các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn
- Mức đánh giá về nội dung các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về hoạt động khai thác hải sản xa bờ
- Tính kịp thời của các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn
- Sự phổ biến và lan truyền rộng rãi của các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn.
– Quy hoạch “là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động KT-XH, QP-AN gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định”[21].
– Quy hoạch phát triển thủy sản “là thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến lược về thời gian, không gian lãnh thổ, xây dựng khung về tổ chức không gian để chủ động hướng tới mục tiêu, đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững. Do vậy, quy hoạch là tiền đề cho việc xây dựng các kế hoạch, chương trình” [23].
– Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động, công việc được sắp xếp theo trình tự nhất định để đạt được mục tiêu đã đề ra.
– Kế hoạch phát triển ngành Thủy sản là một công cụ quản lý của nhà nước theo mục tiêu, được thể hiện bằng những mục tiêu định hướng phát triển ngành Thủy sản phải đạt được trong một khoảng thời gian nhất định ở một địa phương, đồng thời đưa ra những giải pháp, hoạt động cần thực hiện để đạt được những mục tiêu đó một cách có hiệu quả nhất.
* Nội dung bản quy hoạch
“+ Xác định vị trí, vai trò và lợi thế của ngành thủy sản trong phát triển KT-XH của địa phương.
+ Phân tích tiềm năng, đánh giá thực trạng phát triển KTTS, hiện trạng tài nguyên thủy sản, các nguồn lực phát triển thủy sản.
+ Xác định quan điểm, mục tiêu, quy mô phát triển cho khu vực quy hoạch; dự báo các chỉ tiêu và luận chứng các phương án phát triển KTTS.
+ Tổ chức sản xuất ngành thủy sản; kết cấu hạ tầng ngành thủy sản.
+ Đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, phát triển thủy sản theo quy hoạch.
Ngoài những nội dung quy định trên, quy hoạch cụ thể phát triển thủy sản còn có các nội dung chủ yếu sau:
– Phân khu chức năng; bố trí mặt bằng, công trình kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật ngành thủy sản; phương án sử dụng đất;
– Xác định danh mục các dự án đầu tư và tiến độ đầu tư;
– Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường;
– Đề xuất biện pháp để quản lý, thực hiện quy hoạch: cần nhấn mạnh đến việc xác định và tổ chức bảo đảm các nguồn lực, như: vốn đầu tư, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ để thực hiện, trong đó nhấn mạnh đến các chương trình, dự án ưu tiên và bảo đảm nguồn lực cho các chương trình đó.
* Quy trình xây dựng quy hoạch
Theo luật Quy hoạch ngày 24/11/2017 của Quốc Hội thì quy trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch được quy định như sau:
– Bước 1: Điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu, số liệu;
– Bước 2: Xử lý, phân tích, tổng hợp tư liệu, số liệu;
– Bước 3: Xây dựng và lựa chọn phương án quy hoạch, kế hoạch;
– Bước 4: Xây dựng báo cáo quy hoạch, kế hoạch và các bản đồ quy hoạch;
– Bước 5: Tham vấn ý kiến các bên liên quan;
– Bước 6: Thẩm định quy hoạch, kế hoạch;
– Bước 7: Trình HĐND huyện phê duyệt quy hoạch, kế hoạch.
Đối với bước 5: Tiến hành tham vấn ý kiến của các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy sản, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tài chính; UBND cấp xã, Hiệp hội nghề cá, Doanh nghiệp thủy sản và bà con ngư dân làm nghề đánh bắt và NTTS (tùy theo từng trường hợp cụ thể)…. bằng hình thức lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hội nghị, hội thảo.
Đối với bước 7: Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm lập Hội đồng thẩm định để thẩm định quy hoạch, kế hoạch theo các quy định tại Thông tư số 05/2013/TT-BKHĐT ngày 31/10/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội; quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu.” [14]
* Tiêu chí đánh giá
+ Tính hiệu quả của việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch.
+ Khả năng thành công của các kế hoạch, quy hoạch.
+ Tính kịp thời của công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch.
+ Việc triển khai công tác quy hoạch và kế hoạch.
Nhằm nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân về các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề phân định vùng biển giữa Việt Nam và một số quốc gia láng giềng, lưu ý các vùng biển chưa phân định, chồng lấn với các nước cũng như nắm bắt được các nguyên tắc, quy định khi tham gia hoạt động khai thác thủy sản, Bộ NN&PTNT, Tổng cục thủy sản, Chi cục thủy sản các tỉnh, thành phố và các cơ quan liên quan tổ chức tiến hành nhiều hoạt động tuyên truyền về quy định pháp luật trong hoạt động khai thác thuỷ sản nhằm giảm thiểu tình trạng tàu cá và ngư dân vi phạm khai thác hải sản trái phép ở vùng biển trong và ngoài nước bằng nhiều hình thức, nội dung tuyên truyền thiết thực phù hợp với từng đối tượng, tăng cường vận động ngư dân và nhân dân tích cực hưởng ứng các chính sách và luật khai thác thủy sản hiện hành.
– Các cơ quan quản lý liên quan chủ động và có sự phối hợp hiệu quả với nhau trong công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về khai thác thủy sản. Với nhiều hình thức tuyên truyền, lồng ghép nội dung tuyên truyền thông qua việc duy trì và bảo tồn các lễ hội truyền thống … sẽ giúp cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật dễ hiểu hơn, thuận tiện cho việc tiếp nhận thông tin từ phía ngư dân/chủ tàu cá. Đồng thời, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật trong công tác tuyên truyền để thông tin, duy trì liên lạc với các đội tàu, thuyền khai thác xa bờ.
* Tiêu chí đánh giá
+ Các văn bản quy phạm pháp luật về khai thác hải sản xa bờ được triển khai kịp thời
+ Nội dung các văn bản dễ tiếp cận
+ Cán bộ quản lý nắm chắc nội dung các văn bản quy phạm pháp luật về khai thác hải sản xa bờ
+ Các văn bản quy phạm pháp luật về khai thác hải sản xa bờ được thực thi nghiêm túc
– Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động khai thác hải sản xa bờ là các hoạt động học tập cung cấp những kiến thức, kỹ năng nhằm giúp người lao động hoạt động trong lĩnh vực này có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ vị trí việc làm của mình. Đó là quá trình truyền thụ khối kiến thức mới một cách có hệ thống để người lao động thông qua đó trở thành người có văn bằng mới hoặc cao hơn trình độ trước đó.
– Tập trung nâng cao chất lượng lao động trong lĩnh vực thủy sản; xã hội hóa trong việc đào tạo lao động nghề cá, hướng tới đào tạo có địa chỉ, theo nhu cầu thị trường.
* Tiêu chí đánh giá:
+ Số lượng, chất lượng cơ sở đào tạo nguồn nhân lực thủy sản.
+ Tính hiệu quả của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng
+ Tỷ lệ lao động trong ngành qua đào tạo.
Tổ chức hoạt động khai thác, lựa chọn mô hình khai thác hải sản xa bờ
Các mô hình tổ chức khai thác hải sản xa bờ hiện nay:
- Mô hình hợp tác đội, tổ khai thác xa bờ:
Cơ chế hoạt động: các tàu cùng nơi cư trú, chung ngư trường khai thác và cùng góp vốn vào mua sắm tàu thuyền, ngư lưới cụ … cùng liên kết, tham gia vào tổ, đội
Ưu điểm: Tổ, đội khai thác xa bờ giúp ngư dân giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả khai thác. Các thành viên trong đội hỗ trợ nhau lúc thiên tai, tai nạn, đoàn kết, bảo vệ nhau khi gặp sự xâm phạm của tàu cá nước ngoài.
Nhược điểm: Các thành viên trong đội, tổ thường xuyên biến động.
- Mô hình kinh doanh tàu dịch vụ:
Cơ chế hoạt động: Tàu dịch vụ cung cấp nhiên liệu, trực tiếp thu mua hải sản từ các tàu thuyền khai thác xa bờ, vận chuyển vào bờ tiêu thụ.
Ưu điểm: Tăng thời gian bám biển của các tàu khai thác hải sản xa bờ, tiết kiệm chi phí sản xuât, giảm thất thoát trong quá trình bảo quản, nâng cao chất lượng hải sản được khai thác.
Nhược điểm: Chủ yếu là các tàu nhỏ, tàu hoán cải, không có thiết bị hiện đại, không chịu đựng được sự biến động của thời tiết xấu.
Công tác hướng dẫn, xây dựng mô hình của cơ quan quản lý nhà nước đối với chủ tàu/ngư dân/hộ kinh doanh phải phù hợp với điều kiện thực tế của ngư dân và tình trạng tàu cá đang hoạt động. Trong quá trình xây dựng mô hình cần đưa ra những chính sách ưu đãi, hỗ trợ pháp lý, đúng đối tượng, đảm bảo sự công bằng. Song song với việc hướng dẫn xây dựng mô hình cần tiếp thu ý kiến đóng góp của tổ chức, cá nhân hoạt động trong ngành khai thác thủy sản. Các ý kiến đóng góp của tổ chức, cá nhân hoạt động trong ngành khai thác thủy sản. Các ý kiến có giá trị cần được xem xét, cân nhắc và cụ thể hóa vào các chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
* Tiêu chí đánh giá:
+ Hướng dẫn xây dựng mô hình tổ chức khai thác hải sản xa bờ kịp thời
+ Các biện pháp thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế của ngư dân và tàu thuyền
+ Các chính sách ưu đãi đã linh hoạt với từng mô hình khác nhau
+ Các mô hình đã tạo ra hiệu quả
Nhằm đảm bảo việc thi hành pháp luật trong hoạt động khai thác thủy sản, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động khai thác thủy sản cần tiến hành kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác thủy sản, áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. Để đạt kết quả tốt trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát, cơ quan quản lý cần xây dựng kế hoạch tổ chức phù hợp, xác định và quy định rõ thời gian, đối tượng, phương thức kiểm tra. Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra phải công tâm, minh bạch. Chế tài xử lý sai phạm cần được thực hiện nghiêm. Trong hoạt động kiểm tra, giám sát cần có sự kết hợp giữa các cơ quan liên ngành.
- Cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm soát
- Cơ quan chủ trì tổ chức triển khai kế hoạch:
“- Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát trên biển:
+ Tại vùng ven bờ: UBND các quận, huyện thực hiện theo phân cấp.
+ Tại vùng lộng: Sở NN&PTNT (trực tiếp là Chi cục Thủy sản thực hiện).
– Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát tại các cảng cá: Sở NN&PTNT thành lập văn phòng đại diện thanh tra, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản thực hiện thanh tra, kiểm soát (Văn phòng). Văn phòng được phép sử dụng dấu cơ quan của người đứng đầu văn phòng theo quy định pháp luật. Người đứng đầu văn phòng chịu trách nhiệm tham mưu, điều phối, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch này và theo quy định của pháp luật.
UBND tỉnh, thành giao nhiệm vụ cho Sở NN&PTNT phối hợp với BCH bộ đội biên phòng tỉnh, UBND các huyện, thành phố, thị xã và các cơ quan, đơn vị có liên quan ban hành và thực hiện Quy chế phối hợp các lực lượng để kiểm soát các hoạt động thủy sản trên địa bàn tỉnh, thành phố.
- Cơ quan phối hợp
– Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác thủy sản tại vùng lộng: BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh, UBND các huyện, thành phố, thị xã và các cơ quan, đơn vị có liên quan, BCH bộ đội biên phòng tỉnh bố trí cán bộ thường xuyên phối hợp với văn phòng để thực hiện thanh tra, kiểm soát hoạt động KTTS.
– Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác hải sản xa bờ: BCH bộ đội biên phòng tỉnh, Chi cục Kiểm ngư.
- Quy trình tổ chức kiểm tra
- Hoạt động kiểm tra, kiểm soát trước khi tàu cá xuất bến (tại Trạm kiểm soát Biên phòng):
“- Bước 1: Chủ tàu/thuyền trưởng đưa tàu đến Trạm kiểm soát Biên phòng và xuất trình hồ sơ, giấy tờ để được kiểm tra (có mẫu được ban hành) gồm: Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá, Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá; Giấy phép khai thác thủy sản; Giấy chứng nhận An toàn vệ sinh thực phẩm; Sổ Nhật ký khai thác; Bằng/Chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng; Sổ Danh bạ thuyền viên.
– Bước 2: Cán bộ kiểm soát Biên phòng kiểm tra hồ sơ và giấy tờ liên quan; Kiểm tra thực tế trên tàu, gồm: (i) Kiểm tra các trang thiết bị đảm bảo an toàn, hàng hải; cứu sinh; thông tin liên lạc; thiết bị giám sát hành trình (nếu có); (ii) Kiểm tra ngư cụ; (iii) Kiểm tra thuyền viên.
– Bước 3: Kết quả kiểm tra:
Trường hợp các nội dung kiểm tra đủ điều kiện và đạt yêu cầu theo quy định, ngoài việc thực hiện thủ tục xác nhận trên Sổ Danh bạ thuyền viên theo quy định của ngành Biên phòng, Cán bộ kiểm soát Biên phòng còn thực hiện xác nhận vào Mục A Giấy kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản (có mẫu được ban hành). Lúc này tàu cá đủ điều kiện được xuất bến.
Trường hợp các nội dung kiểm tra chưa đạt yêu cầu, điều kiện theo quy định thì không thực hiện các thủ tục xác nhận cho tàu cá xuất bến. Đồng thời yêu cầu Chủ tàu/thuyền trưởng khắc phục các nội dung chưa đạt để được kiểm tra lại. Chỉ khi các nội dung kiểm tra lại đều đạt yêu cầu, điều kiện theo quy định, thì tàu cá mới được thực hiện các thủ tục để được xuất bến.
Trường hợp phát hiện tàu cá vi phạm quy định pháp luật về thủy sản thì tiến hành lập biên bản và xử lý vi phạm hành chính theo quy định.
- Hoạt động kiểm tra, kiểm soát khi tàu cá cập bến, lên cá:
– Bước 1: Chủ tàu/thuyền trưởng đưa tàu vào Trạm kiểm soát Biên phòng và xuất trình hồ sơ, giấy tờ để được kiểm tra và được xác nhận nhập bến vào Sổ Danh bạ thuyền viên theo quy định của ngành Biên phòng.
– Bước 2: Chủ tàu/thuyền trưởng đưa tàu đến cảng cá để lên cá, khai báo các thông tin trong mục B Giấy kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác hải sản (theo mẫu tại Phụ lục kèm theo kế hoạch này), xuất trình cho Ban Quản lý cảng cá, bến cá để kiểm tra, kèm theo Sổ Nhật ký khai thác chuyến biển.
– Bước 3: Ban Quản lý cảng cá, bến cá kiểm tra hồ sơ, kiểm tra các thông tin ghi trong Sổ Nhật ký khai thác với sản lượng khai thác thực tế trên tàu; Kiểm tra đối chiếu các thông tin khai báo về hành trình, vùng biển, ngư trường khai thác.
– Bước 4: Kết quả kiểm tra: Trường hợp tàu cá đáp ứng đầy đủ các quy định. Ban Quản lý cảng cá, bến cá đóng dấu xác nhận vào mục B Giấy kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác hải sản (theo mẫu tại Phụ lục kèm theo kế hoạch này); Trường hợp phát hiện tàu cá vi phạm quy định pháp luật về thủy sản thì tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, chuyển cơ quan chức năng xử lý theo quy định;
– Bước 5: Lưu trữ và báo cáo: Ban Quản lý cảng cá, bến cá chịu trách nhiệm in ấn, cấp phát, thu và lưu trữ: Sổ Nhật ký khai thác thủy sản, Báo cáo khai thác thủy sản (đối với tàu khai thác), Nhật ký thu mua, chuyển tải (đối với tàu thu mua hoặc chuyển tải) và Giấy kiểm tra, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản của các tàu cá sau khi kiểm tra…, nhằm phục vụ cho công tác xác nhận, chứng nhận thủy sản khai thác cũng như công tác thanh tra, kiểm tra của Bộ NN&PTNT. Trước ngày 20 hàng tháng, báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch về Sở NN&PTNT để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và Bộ NN&PTNT (Tổng cục Thủy sản) theo quy định.
- Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát xử lý vi phạm pháp luật thủy sản trên biển:
Hình thức thanh tra, kiểm tra: Lực lượng Thanh tra chuyên ngành của Chi cục Thủy sản sẽ tổ chức thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất theo ý kiến chỉ đạo của cơ quan cấp trên, có sự tham gia phối hợp của các đơn vị liên quan;
Nội dung thanh tra, kiểm tra: Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, quản lý tàu cá và thuyền viên; đăng ký, đăng kiểm tàu cá; dịch vụ hậu cần nghề cá…;
Tổ chức giám sát hoạt động tàu cá trên biển: Chi cục Thủy sản sử dụng hệ thống thông tin Trạm bờ và các kênh thông tin khác để kiểm tra, phân tích, quản lý, giám sát hoạt động của tàu cá phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.” [15]
- Tiêu chí đánh giá:
- Quy trình thanh kiểm tra của cơ quan chức năng.
- Sự minh bạch trong công tác xử lý vi phạm pháp luật về khai thác hải sản xa bờ.
- Năng lực chuyên môn của cán bộ làm công tác thanh tra.
- Đạo đức, thái độ của người làm công tác thanh tra, kiểm tra.
- Hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra hiện nay.
– Cấp bộ: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Tổng cục Thủy sản)
– Cấp tỉnh: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Thủy sản)
– Cấp huyện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Lãnh đạo phòng được phân công phụ trách mảng Thủy sản và chuyên viên thực hiện nhiệm vụ QLNN về lĩnh vực thủy sản)
* Tiêu chí đánh giá
+ Số lượng cán bộ làm công tác QLNN về khai thác hải sản
+ Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về khai thác hải sản
+ Đạo đức, thái độ của của đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về khai thác hải sản
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ
Điều kiện tự nhiên là toàn bộ các điều kiện môi trường tự nhiên như địa hình đa dạng, khí hậu ôn hòa, nguồn sinh vật phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều tài nguyên biển sông ngòi, ao hồ, đất đai, … Cơ quan quản lý nhà nước dựa vào điều kiện tự nhiên làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển ngành thủy sản và xây dựng, ban hành các quy định, chính sách để phát triển ngành thủy sản, khai thác và bảo vệ tài nguyên. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ chịu nhiều ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên của địa phương. Đặc biệt phạm vi nguồn lực mặt nước trải rộng gây ra sự phức tạp đối với công tác quản lý nhà nước. Yếu tố này nảy sinh do sự phân bố tự nhiên các diện tích mặt nước có điều kiện phát triển thủy sản rất đa dạng và không đồng đều giữa các vùng; quy mô về diện tích mặt nước; xác định giáp ranh trên biển phức tạp hơn.
Sự biến đổi về môi trường cũng có thể ảnh hưởng đến sự tập trung của nguồn lợi thủy sản, chẳng hạn do đàn cá sẽ bị phân tán nên khó tập trung chúng vào khu vực dễ đánh bắt. Trong quản lý khai thác cần chú ý đến sự thay đổi tính chất tập trung của nguồn lợi theo chiều hướng đó và tránh hiểu nhầm đó là do sự thay đổi về kích cỡ đàn cá, vì điều này sẽ dẫn đến việc ra các quyết định sai lầm trong quản lý, cũng như dẫn tới kết quả đánh bắt không có tính bền vững.
Tình hình phát triển kinh tế của địa phương là nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển của ngành thủy sản và quản lý hoạt động khai thác hải sản xa bờ. Khi cơ quan quản lý nhà nước ban hành một chính sách ưu đãi về thủy sản sẽ xem xét đến vấn đề về kinh tế của một địa phương để đưa ra được một chính sách phù hợp với địa phương đó. Khi kinh tế phát triển và môi trường chính sách thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thuận lợi tham gia vào các hoạt động của ngành thủy sản, hoạt động khai thác hải sản xa bờ, điều đó đồng thời tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước.
Hiệu quả kinh tế của nghề cá chịu tác động mạnh của tình hình kinh tế. Nếu không kết hợp các yếu tố vĩ mô và tính toán các yếu tố bên ngoài xuất phát từ ngoài ngành thủy sản có thể làm suy yếu nền tảng quản lý và lại khuyến khích tranh chấp phát triển. Bên cạnh đó, ngành thủy sản phải chịu ảnh hưởng của tỷ giá trao đổi ngoại tệ, quy định về kinh doanh và những thay đổi của các chính sách tài chính. Ngoài ra, ngành thuỷ sản địa phương thường cạnh tranh với các ngành khác khi sử dụng nguồn lợi. Do tác động các yếu tố bên ngoài tác động đến nguồn lợi thuỷ sản của các ngành kinh tế khác gây ra, chẳng hạn sự suy thoái môi trường thuỷ sản do tác động ngành vận tải biển, các ngành kinh tế khác …
Bên cạnh đó, còn có sự tranh chấp của những người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản, giữa ngành thuỷ sản và ngoài ngành thuỷ sản, chẳng hạn tranh chấp giữa ngành du lịch và nghề cá ven bờ của ngành thuỷ sản về sử dụng nguồn lợi thuỷ sản ven bờ. Do đó, nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan quản lý thuỷ sản là phải đánh giá được các tranh chấp hiện tại và tiềm năng để giảm thiểu các tranh chấp đó và đạt được hiệu quả tối ưu từ nguồn lợi. Chính vì vậy, công tác đối thoại và hợp tác lâu dài giữa các ngành, các cơ quan liên quan là rất cần thiết, chẳng hạn đối thoại giữa các cơ quan quản lý thủy sản với bộ kế hoạch và tài chính v.v. Việc đối thoại và trao đổi thông tin như vậy sẽ làm cho ngành thủy sản có thể tận dụng hoặc đưa ra các phương án thay đổi phù hợp với những thay đổi về kinh tế và các chính sách liên quan.
Khai thác hải sản xa bờ bắt buộc đảm bảo tính bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Yếu tố này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải rất cụ thể, chi tiết. Đó là điều chỉnh hoạt động đóng mới, cải hoán tàu cá; kịp thời thống kê trữ lượng hải sản, dự báo ngư trường, phạm vi và quy mô khai thác; đưa ra những cam kết, ràng buộc cho chủ tàu cá, ngư dân trong công tác bảo vệ các nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Quản lý nhà nước luôn mang tính kế thừa và chịu sự tác động của các yếu tố xã hội như văn hóa, lịch sử, truyền thống, tập quán, thói quen,… Ví dụ, tâm lý làng xã, dòng họ trên thực tế thường có sự chi phối, ảnh hưởng nhất định đối với công tác cán bộ, thậm chí trong những trường hợp cụ thể còn triệt tiêu vai trò kiểm soát của cơ quan chức năng, hoặc cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn để lại nhiều dấu ấn trong nếp nghĩ, phong cách, lề lối làm việc của không ít cán bộ, công chức, viên chức… Sự tác động của các yếu tố này luôn bao hàm cả hai khả năng tích cực và tiêu cực. Vấn đề đặt ra là phải biết kế thừa, vận dụng, phát huy các yếu tố tích cực, nhất là các giá trị văn hóa, truyền thống đã được kết tinh qua nhiều thời kỳ và hạn chế những yếu tố tiêu cực, lạc hậu làm cản trở quá trình hiện đại hóa nền hành chính nhà nước.
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng làm xuất hiện nhu cầu về tiêu thụ các sản phẩm thủy sản. Trình độ dân trí, yếu tố văn hóa cũng có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động khai thác hải sản như văn hóa ẩm thực các loài thủy sản bản địa, thủy sản đặc trưng sẽ dẫn đến hoạt động khai thác đánh bắt quá mức, khai thác trái phép các loài quý hiếm, dễ dẫn đến quy kiệt một số loài.
Từ thực tiễn cho thấy nếu địa phương nào có trình độ dân trí cao, người dân có trình độ kỹ thuật cao thì thường xuyên được cập nhật thông tin và chủ động nắm bắt các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách của nhà nước trong lĩnh vực thủy sản, do đó công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động ngành thủy sản tại địa phương này cũng có nhiều thuận lợi hơn ở các địa phương khác có trình độ dân trí không cao bằng.
Sự tham gia và ủng hộ của người dân đối với quản lý nhà nước không chỉ góp phần đảm bảo việc phát huy dân chủ của Nhà nước ta, đảm bảo quyền của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước, khẳng định bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mà còn là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước. Thực tiễn cho thấy, sự tham gia, ủng hộ của người dân đối với cơ quan nhà nước càng lớn thì hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước càng dễ dàng đạt được mục tiêu và chỉ khi nào người dân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới thực sự thành công.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận về khai thác hải sản xa bờ và QLNN đối với ngành khai thác hải sản xa bờ. Cụ thể luận văn đã nêu ra một số khái niệm quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về kinh tế, khai thác hải sản, khai thác hải sản xa bờ… nhằm làm rõ khái quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ. Tiếp đến luận văn đi sâu phân tích vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ; các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ; và phân tích nội dung cơ bản của quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác hải sản xa bờ. Trọng tâm của chương 1 là làm rõ các nội dung:
(1) Ban hành và triển khai các văn bản, chính sách; tuyên truyền, phổ biến pháp luật và đào tạo, tập huấn kỹ năng nghiệp vụ về khai thác hải sản xa bờ; (2) xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành Thủy sản; (3) Tổ chức các hoạt động khai thác, lựa chọn mô mình khai thác hải sản xa bờ (4) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác hải sản xa bờ.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
2.1. ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHAI THÁC HẢI SẢN XA BỜ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI THÀNH
a. Vị trí địa lý
“Núi Thành là huyện nằm phía Nam của tỉnh Quảng Nam, được thành lập năm 1983 trên cơ sở tách huyện Tam Kỳ, thành thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành. Phía bắc giáp thành phố Tam Kỳ, phía nam giáp huyện Bình Sơn và huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp huyện Nam Trà My, phía đông giáp Biển Đông.
Tọa độ địa lý: từ 108°34′ đến 108°37′ kinh độ Đông, từ 15°33′ đến 15°36′ vĩ độ Bắc. Với hệ tọa độ trên, Núi Thành nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa thuộc phân vùng khí hậu Nam Việt Nam.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1/ HOẠT ĐỘNG KHAI THẠC HẢI SẢN


