Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đã có những bước tiến đáng kể, từng bước mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa phương với nhiều đối tác quốc tế. Đứng trước bối cảnh đó, Việt Nam vừa có những thuận lợi, vừa có những thách thức, khó khăn. Để có thể đứng vững và ngày càng phát triển, Nhà nước Việt Nam cần phải phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Chi thường xuyên NSNN có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại của bộ Nhà nước, đảm bảo cho Nhà nước thực hiện chức năng cũng như vai trò của mình. Chính vì vậy, việc quản lý một cách hiệu quả chi thường xuyên từ Trung ương đến địa phương là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định kinh tế, đảm bảo an ninh, an toàn xã hội, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Thị xã An Khê là cửa ngõ quan trọng của tỉnh Gia Lai và vùng Bắc Tây Nguyên xuống đồng bằng Duyên hải Miền Trung. Vị trí địa lý của thị xã An Khê thuận lợi trong trao đổi liên vùng về kinh tế xã hội, thu hút khoa học kỹ thuật, vốn, lao động cũng như tiêu thụ sản phẩm. Cùng với tăng trưởng kinh tế hằng năm, tổng thu NS thuộc thị xã quản lý cũng ngày càng tăng. Tuy nhiên, hiện nay thị xã vẫn chưa tự cân đối được NS địa phương, nhiệm vụ chi vẫn lớn hơn nguồn thu cân đối, đặc biệt là chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NS của thị xã. Hơn nữa, trong công tác quản lý chi thường xuyên tại thị xã An Khê vẫn còn có những bất cập ở một số điểm, một số nội dung cũng như phương thức quản lý, gây thất thoát, lãng phí. Vì vậy, việc quản lý chi thường xuyên hàng năm của thị xã An Khê cần phải chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn nhằm đảm bảo cân đối giữa nguồn thu và chi của thị xã, đảm bảo sự phát triển các lĩnh vực xã hội, phục vụ nhu cầu hoạt động của cấp uỷ, chính quyền địa phương, đồng thời khắc phục các tồn tại hạn chế trong quản lý chi thường xuyên là yêu cầu nhiệm vụ của các cơ quan quản lý và sử dụng NSNN của thị xã An Khê. Với những lý do đó, tôi chọn đề tài: “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi thường xuyên NSNN trên cơ sở Luật NSNN, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Tài chính có liên quan.
– Phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2015. Từ đó, đánh giá những thành công, tồn tại trong quản lý chi thường xuyên tại thị xã An khê và nguyên nhân của những tồn tại đó.
– Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên tại thị xã An Khê trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi thường xuyên NSNN bao gồm lập dự toán, chấp hành dự toán; kiểm soát và quyết toán; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong chi thường xuyên ngân sách nhà nước.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Nghiên cứu công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách của thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu các nội dung trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
+ Về thời gian: Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu thực trạng quản lý chi thường xuyên tại thị xã An Khê từ năm 2011 đến 2015; đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên thị xã đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:
+ Trước khi thu thập dữ liệu thứ cấp, tác giả sẽ xác định, đánh giá những dữ liệu thứ cấp cần thiết phục vụ cho nghiên cứu đề tài. Các loại dữ liệu thứ cấp sẽ được sao chụp, tóm lược và xử lý theo nội dung, yêu cầu của việc sử dụng dữ liệu đó trong đề tài.
+ Thực hiện thu thập những vấn đề lý luận đã được rút ra từ các giáo trình, sách giáo khoa, sách chuyên ngành, qua các đề tài nghiên cứu liên quan, báo, tạp chí, internet để làm cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên trong đề tài, hay việc đề xuất giải pháp thiết thực. Ngoài ra, các số liệu thứ cấp được thu thập qua các cơ quan trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai như phòng Tài chính – Kế hoạch, Chi cục thống kê, Kho bạc nhà nước An Khê, Chi cục Thuế An Khê, Văn phòng Ủy ban nhân dân thị xã An Khê, Văn phòng Thị ủy An Khê, các số liệu thứ cấp này được sử dụng cho việc phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2015.
– Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng các phương pháp phân tích như phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp phân tích chuẩn tắc, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để phân tích những số liệu thứ cấp đã thu thập được phục vụ cho việc đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên và đề xuất những giải pháp thiết thực. Cụ thể:
+ Đề tài đi từ phân tích những số liệu thứ cấp đã thu thập được nhằm phân tích chi tiết từng khía cạnh, nội dung của vấn đề về chi thường xuyên, tình hình quản lý chi thường xuyên trên địa bàn, làm cơ sở để tổng hợp, đánh giá tổng quát thực trạng quản lý chi thường xuyên tại thị xã An Khê.
+ Sử dụng phương pháp so sánh để so sánh thực trạng với các định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương để đánh giá được những những thành quả, cũng như hạn chế trong công tác quản lý chi thường xuyên trên địa bàn.
+ Dựa trên kết quả phân tích, so sánh các dữ liệu thứ cấp, kết hợp với việc tổng hợp các tài liệu liên quan để làm cơ sở đề xuất những giải pháp thiết thực cho công tác quản lý chi thường xuyên tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm có 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên NSNN.
Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN của thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI
THƯỜNG XUYÊN NSNN
1.1. TỔNG QUAN VỀ NSNN VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của NSNN
a. Khái niệm NSNN
NSNN là một phạm trù kinh tế tổng hợp và trừu tượng. Thuật ngữ ngân sách nhà nước được sử dụng rộng rãi ở mọi quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn có rất nhiều ý kiến khác nhau khi đưa ra khái niệm về NSNN tùy theo trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu, được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN để đưa ra khái niệm. Cụ thể:
Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện.
Xét về thực thể: NSNN bao gồm những nguồn thu và những khoản chi cụ thể và được định lượng. Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ tập trung ấy.
Xét theo quan hệ kinh tế: NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và phân phối các nguồn tài chính.
Tại Điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002 cũng đã khẳng định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước, đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Theo Vũ Văn Hóa [11, Tr 31], NSNN là bản dự toán thu – chi tài chính tổng hợp của Nhà nước, phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở luật định.
b. Đặc điểm của NSNN
NSNN có 04 đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, nét khác biệt của NSNN với các khoản tài chính khác là mọi hoạt động NSNN luôn gắn liền giữa quyền lực nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được tiến hành trên cơ sở hệ thống luật lệ nhất định.
Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước và chứa đựng những lợi ích chung và công.
Thứ ba, ngoài những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác, NSNN còn là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định.
Thứ tư, hoạt động NSNN là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính thông qua thu và chi NSNN. Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
c. Vai trò của NSNN
Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường có thể đề cập đến nhiều nội dung và những biểu hiện đa dạng khác nhau, song có thể khái quát trên những khía cạnh sau:
– NSNN đảm bảo hay duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước. NSNN đảm bảo tài chính cho bộ máy của nhà nước từ nhiều nguồn khác nhau trong xã hội, sau đó phân phối lại các nguồn tài chính theo tỷ lệ hợp lý nhằm đảm bảo, duy trì hoạt động và sức mạnh của bộ máy nhà nước.
– NSNN có vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Nhà nước thông qua NSNN định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Nhà nước cũng có thể chống lạm phát bằng các công cụ tài khóa của mình như cắt giảm chi NSNN, tăng thuế tiêu dùng, khống chế cầu…
– NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội, dựa vào công cụ NSNN như sau: Giảm bớt thu nhập cao bằng cách đánh thuế (lũy tiến) vào các đối tượng có thu nhập cao, đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào những hàng hóa dành cho người tiêu dùng có thu nhập cao; ngược lại, Nhà nước hỗ trợ cho các đối tượng có thu nhập thấp bằng cách giảm thuế, trợ giá cho những hàng hóa thiết yếu như lương thực, điện, nước… và trợ cấp xã hội cho những người có thu nhập thấp.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của chi thường xuyên NSNN
a. Khái niệm chi thường xuyên NSNN
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính đã tập trung được vào NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi giúp bộ máy nhà nước vận hành và thực hiện nhiệm vụ của mình đồng thời đảm bảo chi cho các hoạt động sự nghiệp nhằm cung ứng các hàng hoá công cộng gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh tế – xã hội.
Theo Dương Đăng Chinh [2, tr. 257], Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước vẫn phải cung ứng.
b. Đặc điểm của chi thường xuyên NSNN
– Chi thường xuyên NSNN gắn với quyền lực nhà nước, mang tích chất pháp lý cao.
– Các khoản chi thường xuyên NSNN mang tính ổn định và có tính chất không hoàn trả trực tiếp. Ví dụ, trong bất kỳ thời kỳ nào của nền kinh tế thì những công việc thuộc về quản lý nhà nước vẫn phải duy trì đều đặn, đầy đủ, chỉ khác ở việc ưu tiên thứ tự giải quyết các vấn đề.
– Phạm vi, mức độ chi thường xuyên NSNN gắn với cơ cấu, tổ chức và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công. Ví dụ, trong thời kỳ bao cấp Nhà nước quyết định miễn phí cho lĩnh vực giáo dục thì phạm vi, mức độ chi NSNN cho giáo dục lớn; ngược lại khi hoạt động giáo dục có thu phí thì có thể thu hẹp phạm vi chi NSNN cho giáo dục.
– Xét theo cơ cấu chi ở từng niên độ và mục đích cuối cùng của vốn cấp phát thì chi thường xuyên NSNN cho các hoạt động sự nghiệp có tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội. Đại bộ phận của chi thường xuyên NSNN (trừ một số khoản chi thường xuyên mang ý nghĩa chiến lược, có tính chất tích lũy đặc biệt như chi cho Giáo dục – đào tạo, khoa học – Công nghệ) được xếp vào dạng chi tiêu dùng vì các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý, các hoạt động này hầu như không tạo ra của cải vật chất.
– Các chính sách, chế độ về chi thường xuyên NSNN cho cơ quan nhà nước thường chậm thay đổi và có nguy cơ tụt hậu so với nhu cầu thực tiễn.
c. Nội dung của chi thường xuyên NSNN
* Nếu xét theo lĩnh vực chi, chi thường xuyên NSNN bao gồm:
– Chi cho các hoạt động sự nghiệp như sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý. Đây là các khoản chi cho các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng cộng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu. Trong đó:
+ Chi sự nghiệp kinh tế nhằm đảm bảo hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực chi sự nghiệp nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thị chính và sự nghiệp kinh tế công khác; chi điều tra cơ bản, đo đạc địa giới hành chính các cấp; chi về bản đồ, đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính; chi định canh, định cư và kinh tế mới.
+ Chi sự nghiệp khoa học, công nghệ là các khoản chi cho nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm hiện đại hóa khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường làm việc, tăng năng lực cạnh tranh cho mỗi quốc gia về kinh tế – xã hội.
+ Chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo là các khoản chi cho hệ thống giáo dục, đào tạo từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến đào tạo đại học và sau đại học.
+ Chi sự nghiệp y tế là các khoản chi đảm bảo sức khỏe cộng đồng, khám chữa bệnh cho người dân, công tác dân số – Kế hoạch hóa gia đình.
+ Chi cho hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao là các khoản chi cho hoạt động văn học, nghệ thuật, bảo tàng, truyền thanh, truyền hình, thể dục, thể thao…
+ Chi sự nghiệp đảm bảo xã hội: khoản chi này nhằm đảm bảo cuộc sống của người dân khi gặp khó khăn do ốm đau, bệnh tật hoặc những người già không nơi nương tựa nhằm ổn định xã hội.
+ Chi sự nghiệp môi trường: Hỗ trợ kịp thời trong việc xử lý các điểm ô nhiễm; mua sắm thiết bị, vật tư thu gom rác, nạo vét cống rãnh cải thiện môi trường đô thị; xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại các bệnh viện; thực hiện công tác quan trắc, xây dựng mạng lưới quan trắc, nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện; tăng cường các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên…
– Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương). Khoản chi này nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo ra sự yên bình cho người dân. Chi quốc phòng nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống lại sự xâm lấn của các thế lực thù địch bên ngoài.
– Chi quản lý hành chính, Đảng, Đoàn thể: là các khoản chi đảm bảo hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương.
– Chi khác: Ngoài các khoản chi trên, một số khoản chi không phát sinh đều đặn và liên tục trong các tháng của năm nhưng vẫn thuộc về chi thường xuyên như chi trợ giá theo chính sách của nhà nước, chi trả lãi tiền vay do chính phủ vay, chi hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội…
* Nếu xét theo nội dung kinh tế của các khoản chi thường xuyên, thì chi thường xuyên NSNN gồm:
– Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính – sự nghiệp, bao gồm: Tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, tiền thưởng, các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản thanh toán khác cho cá nhân.
– Các khoản chi về nghiệp vụ chuyên môn: chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi thuê mướn, tư văn phòng, công tác phí, chi các khoản đặc thù, chi thường xuyên sửa chữa tài sản cố định phục vụ công tác chuyên môn…
– Các khoản chỉ mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện vật tư, sửa chữa không theo các chương trình dự án sử dụng nguồn kinh phí thường xuyên: Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính – sự nghiệp còn được NSNN cấp kinh phí để mua sắm thêm các tài sản (kể cả tài sản cố định) hay sửa chữa các tài sản đang trong quá trình sử dụng, nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu hoạt động và nâng cao hiệu suất sử dụng của các tài sản đó.
– Các khoản chi khác: Thuộc phạm vi các khoản chi khác nằm trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN, hay có thể nói là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn nhưng chưa được đề cập tới ở 03 nhóm mục trên.
1.1.3. Khái niệm quản lý chi thường xuyên NSNN
Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng được quản lý hoạt động và phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt được các mục tiêu đã định.
Như vậy, quản lý chi thường xuyên NSNN là quá trình các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sử dụng hệ thống các biện pháp tác động vào hoạt động chi thường xuyên NSNN, đảm bảo cho các khoản chi thường xuyên được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
Ở đây, chủ thể quản lý chi thường xuyên NSNN là các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với lĩnh vực chi NSNN (ở Trung ương là Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Kho bạc nhà nước… Ở địa phương là HĐND, UBND, cơ quan tài chính, KBNN…) và các đơn vị sử dụng ngân sách (cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng ngân sách).
Đối tượng quản lý là hoạt động chi thường xuyên NSNN, hoạt động đó bao gồm việc lập, phân bổ dự toán; chấp hành dự toán; kiểm tra, kiểm soát, thanh toán, quyết toán các khoản chi thường xuyên ngân sách.
Công cụ quản lý chi thường xuyên NSNN là các chế độ, chính sách; các tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành tác động lên đối tượng và chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý chi thường xuyên NS.
Sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của quản lý chi thường xuyên NS. Đó là mục tiêu sử dụng NS một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả cho phát triển ổn định kinh tế – xã hội…
1.1.4. Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên NSNN
a. Nguyên tắc quản lý theo dự toán
Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN. Những khoản chi thường xuyên khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt được coi như là chỉ tiêu pháp lệnh. Khi đó, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của các cơ quan chức năng về quản lý tài chính công với các đơn vị thụ hưởng NSNN. Vì vậy quản lý chi thường xuyên NSNN phải theo nguyên tắc quản lý theo dự toán, cụ thể:
Thứ nhất, hoạt động của NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu, chi của NSNN phụ thuộc vào quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước và phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước đó. Do vậy, mọi khoản chi từ NSNN chỉ có thể trở thành hiện thực khi khoản chi đó đã nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt và thông qua.
Thứ hai, phạm vi chi của NSNN rất đa dạng liên quan tới nhiều loại hình đơn vị thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Mức chi cho mỗi loại hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng; hoặc giữa các cơ quan trong cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng điều kiện về trang bị cơ sở vật chất có sự khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau sẽ dẫn đến các mức chi từ NSNN cho các cơ quan đó cũng có sự khác nhau.
Thứ ba, quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của NSNN; tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành NSNN; hạn chế được tính tuỳ tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ở các đơn vị thụ hưởng NSNN.
b. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả
Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý chi thường xuyên NSNN. Các hoạt động của chi thường xuyên NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp; nhu cầu chi thường xuyên NSNN luôn tăng trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn. Vì vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực có hạn cần tính toán để đạt hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quá trình quản lý chi thường xuyên NSNN chỉ thực hiện được khi:
+ Xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc.
+ Thiết lập được các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị, hay yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi một cách phù hợp.
+ Lựa chọn được thứ tự ưu tiên cho các hoạt động sao cho với số chi thường xuyên có hạn nhưng công việc hoàn thành tốt, chất lượng cao.
+ Khi đánh giá tính hiệu quả của chi thường xuyên NSNN phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi khoản chi thường xuyên tới các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội khác và phải tính đến thời gian phát huy tác dụng của nó.
c. Nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước
Một trong những chức năng quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN. Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên. Để tăng cường vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyên của NSNN, hiện nay ở nước ta đã và đang triển khai thực hiện chi trực tiếp qua KBNN và coi đó như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này.
Chi trực tiếp qua KBNN là phương thức thanh toán chi trả có sự tham gia của 3 bên: Đơn vị sử dụng NSNN; KBNN; tổ chức hoặc cá nhân được nhận các khoản tiền do đơn vị sử dụng NSNN thanh toán chi trả (gọi chung là người được hưởng) bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Cách thức tiến hành cụ thể là: Đơn vị sử dụng NSNN uỷ quyền cho KBNN trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển trả vào tài khoản cho người được hưởng ở một trung gian tài chính, nơi người được hưởng mở tài khoản giao dịch.
Để thực hiện được nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN cần phải giải quyết tốt một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát một cách chặt chẽ trong quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được duyệt; tuân thủ đúng cơ chế quản lý tài chính được phép áp dụng cho mỗi khoản chi; và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN chuẩn chi.
Thứ hai, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án… sử dụng kinh phí NSNN phải mở tài khoản tại KBNN; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Tài chính và KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN.
Thứ ba, cơ quan Tài chính các cấp có trách nhiệm xem xét dự toán NS của các đơn vị cùng cấp; kiểm tra phương án phân bổ và giao dự toán của đơn vị dự toán cấp trên cho các đơn vị dự toán cấp dưới, nếu không đúng dự toán NS được giao, không phù hợp với cơ chế quản lý tài chính được phép áp dụng cho mỗi khoản chi thì yêu cầu điều chỉnh lại. Cơ quan Tài chính các cấp có trách nhiệm thẩm định các báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp I trực thuộc, tổng hợp số liệu vào quyết toán chi NSNN.
Thứ tư, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng qui định; tham gia với các cơ quan Tài chính, cơ quản quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử đụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua kho bạc của các đơn vị.
Thứ năm, lựa chọn phương thức cấp phát, thanh toán đối với từng khoản chi thường xuyên cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội hiện tại.
1.1.5. Vai trò của quản lý chi thường xuyên NSNN
Thứ nhất, đảm bảo mục tiêu ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn. Quản lý có hiệu quả các khoản chi của NSNN sẽ có sự tác động tích cực đến đời sống kinh tế – xã hội, đảm bảo mục tiêu phát triển đã đề ra.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi thường xuyên NSNN nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn NS, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả. Quản lý các khoản chi thường xuyên NSNN sẽ tránh được tình trạng chi dàn trải, chưa thực sự cấp thiết và đặc biệt là tình trạng thất thoát nguồn vốn NS.
Thứ ba, quản lý chi thường xuyên NS giúp điều tiết thu nhập dân cư thực hiện công bằng xã hội. Qua công tác quản lý để xuất phương án chi NS để giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo từ đó công bằng xã hội được cải thiện.
Thứ tư, quản lý chi thường xuyên NSNN có vai trò điều tiết giá cả, chống suy thoái và chống lạm phát.
Thứ năm, để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
1.2.1. Lập dự toán chi thường xuyên NSNN
a. Mục tiêu của lập dự toán chi thường xuyên
Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN. Việc quản lý lập dự toán chi thường xuyên NSNN nhằm đảm bảo các mục tiêu sau:
– Đảm bảo lập dự toán chi thường xuyên theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NS hiện hành, chủ động sắp xếp thứ tự các nhiệm vụ chi theo mức độ cấp thiết để chủ động điều hành, cắt giảm trong trường hợp cần thiết.
– Đảm bảo việc lập dự toán được căn cứ vào điều kiện và nguồn kinh phí thực tế của địa phương để lựa chọn các nhiệm vụ cần ưu tiên bố trí vốn; thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên ngay từ khâu bố trí dự toán gắn với cơ chế quản lý, cân đối theo kế hoạch trung hạn. Rà soát, lồng ghép các chế độ, chính sách, nhiệm vụ chi thường xuyên tránh chồng chéo, lãng phí.
– Đảm bảo thời gian quy định của Luật NSNN; có thể thuyết minh, giải trình cụ thể về cơ sở pháp lý, chi tiết tính toán.
b. Căn cứ lập dự toán chi thường xuyên NSNN
– Chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạt động thuộc bộ máy quản lý Nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, hoạt động quốc phòng – an ninh và các hoạt động xã hội khác. Căn cứ này giúp cho việc xây dựng dự toán chi thường xuyên NSNN có một cách nhìn tổng quát về những mục tiêu và nhiệm vụ mà NSNN phải hướng tới. Từ đó có thể xác lập các hình thức, các phương pháp phân phối nguồn vốn NSNN một cách tiết kiệm và hiệu quả.
– Căn cứ các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí chi thường xuyên của NSNN năm kế hoạch. Các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội kết hợp với các định mức chi thường xuyên sẽ là những yếu tố cơ bản để xác lập dự toán chi thường xuyên của NSNN.
– Dựa vào cơ cấu thu NSNN của năm trước và mức tăng trưởng của các nguồn thu năm kế hoạch. Nhờ đó mà thiết lập mức cân đối tổng quát giữa khả năng nguồn kinh phí và nhu cầu chi thường xuyên của NSNN.
– Các chính sách, chế độ chi thường xuyên của NSNN hiện hành và dự đoán những biến động thể xảy ra trong kỳ kế hoạch. Đây sẽ là cơ sở pháp lý cho việc tính toán và bảo vệ dự toán chi thường xuyên của NSNN. Đồng thời nó cũng tạo điều kiện cho quá trình chấp hành dự toán không bị lúng túng khi có sự điều chỉnh hoặc thay đổi một hay một số chính sách, chế độ.
– Kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí chi thường xuyên năm báo cáo là căn cứ mang tính thực tiễn cao đối với quá trình lập dự toán chi thường xuyên. Căn cứ này sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc lập dự toán chi thường xuyên như:
+ Tính phù hợp của các định mức chi hay các chính sách, chế độ chi hiện hành, trên cơ sở đó mà hoàn chỉnh bổ sung cho kịp thời;
+ Tính phù hợp của các hình thức cấp phát, phương thức quản lý tài chính đối với mỗi loại hình đơn vị. Từ đó đặt ra vấn đề cẩn cải tiến các hình thức cấp phát kinh phí và phương thức quản lý tài chính sao cho tiên tiến hơn;
+ Xem hướng gia tăng các khoản chi cả về tốc độ và cơ cấu thường diễn ra như thế nào? Kết quả của các loại hoạt động được đảm bảo bởi nguồn kinh phí chi thường xuyên của NSNN ra sao?
c. Trình tự lập dự toán chi thường xuyên NSNN
Quá trình lập dự toán chi thường xuyên của NSNN được tiến hành theo các bước cơ bản sau đây:
Thứ nhất, căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn lập dự toán NSNN; thông báo số kiểm tra dự toán về tổng mức chi thường xuyên NS đối với các bộ ngành từ trung ương tới địa phương. Sau đó, UBND cấp tỉnh hướng dẫn việc lập dự toán NS các cấp ở địa phương. Bước này còn được gọi là xác định và giao số kiểm tra từ cơ quan hành chính ở trung ương và địa phương cho các cơ quan chủ quản cấp ngành và UBND cấp dưới. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành và UBND các cấp đã được phân cấp về quản lý chi thường xuyên của NSNN lại cụ thể hoá các định mức chi cho phù hợp với điều kiện cụ thể của mình, tiếp tục hướng dẫn cho các đơn vị dự toán trực thuộc, đơn vị dự toán cấp cơ sở. Với hệ thống NS địa phương quy trình giao số kiểm tra còn diễn ra ở nhiều cấp NS và nhiều đơn vị dự toán thuộc các cấp khác nhau cho đến khi nào đơn vị dự toán cơ sở (đơn vị dự toán cấp III) nhận được số kiểm tra và văn bản hưởng dẫn lập dự toán kinh phí, thì mới được coi là hoàn tất công việc của bước này.
Thứ hai, dựa vào số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh phí, các đơn vị dự toán cơ sở tiến hành lập dự toán kinh phí của mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan Tài chính. Căn cứ vào mức độ phân cấp về chi thường xuyên, cơ quan Tài chính các cấp ở địa phương có trách nhiệm xem xét và tổng hợp dự toán kinh phí của các đơn vị dự toán cấp I của NS cấp mình. Cụ thể là: Phòng Tài chính cấp huyện có nhiệm vụ xem xét và tổng hợp dự toán kinh phí của các đơn vị dự toán cấp I của NS cấp huyện để lập dự toán chi thường xuyên của NS huyện; đồng thời báo cáo dự toán chi thường xuyên của NS huyện cho Sở Tài chính. Sở Tài chính có nhiệm vụ xem xét và tổng hợp dự toán kinh phí của các đơn vị dự toán cấp I của NS cấp tỉnh và dự toán chi thưòng xuyên của NS các huyện để lập dự toán chi thường xuyên của ngân sách tỉnh và báo cáo dự toán chi thường xuyên của NS tỉnh cho Bộ Tài chính. Bộ Tài chính có trách nhiệm kiểm tra, tổng hợp dự toán kinh phí của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương – với tư cách là đơn vị dự toán cấp I của ngân sách trung ương, cùng với dự toán chi thường xuyên từ NS các tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) thành dự toán chi thường xuyên của NSNN.
Thứ ba, căn cứ vào dự toán chi thường xuyên đã được cơ quan quyền lực nhà nước đồng cấp thông qua và đã được sự chấp thuận của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; cơ quan Tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ đề nghị cơ quan quyền lực Nhà nước đồng cấp chính thức phân bổ và giao dự toán chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị. Theo Luật NSNN năm 2002, Quốc hội phân bổ dự toán NS trung ương; HĐND các cấp phải phân bổ dự toán NS cấp mình. Việc lập dự toán chi thường xuyên chỉ được coi là hoàn tất và tuân thủ đúng qui định của Luật NSNN hiện hành khi vào thời điểm trước ngày 31 tháng 12 của năm báo cáo, tất cả các đơn vị dự toán cấp III đã nhận được thông báo về tổng số kinh phí theo dự toán của đơn vị đã được duyệt và đơn vị được quyền sử dụng cho năm kế hoạch.
Với trình tự tiến hành như trên, quá trình lập dự toán chi thường xuyên vừa đảm bảo được tính khoa học, vừa đảm bảo được tính thực tiễn. Đồng thời nó thể hiện rõ sự tôn trọng nguyên tắc thống nhất, tập trung và dân chủ trong quản lý NSNN thuộc về phạm vi quản lý của khoản chi này.
*Tóm lược quy trình lập dự toán chi thường xuyên NSNN huyện/thị xã:
Bước (1): UBND cấp tỉnh hướng dẫn và giao số kiểm tra dự toán ngân sách cho UBND cấp huyện.
Bước (2): UBND cấp huyện tổ chức hội nghị triển khai xây dựng dự toán NS và giao số kiểm tra cho các phòng, ban, ngành, đoàn thể sử dụng NSNN.
Bước (3): Các phòng, ban, ngành, đoàn thể lập dự toán chi thường xuyên NS của đơn vị mình.
Bước (4): UBND cấp huyện (giao cho Phòng Tài chính -Kế hoạch) làm việc với các phòng, ban, ngành, đoàn thể về dự toán chi thường xuyên; kế toán tổng hợp và hoàn chỉnh dự toán chi thường xuyên NS.
Bước (5): UBND cấp huyện trình thường trực HĐND cùng cấp xem xét cho ý kiến về dự toán chi thường xuyên NS.
Bước (6): Căn cứ vào ý kiến của thường trực HĐND cấp huyện, UBND cùng cấp hoàn chỉnh lại dự toán và gửi Sở Tài chính.
Bước (7): Sở Tài chính tổ chức làm việc về dự toán NS với các huyện/thị/thành phố trực thuộc tỉnh; tổng hợp và hoàn chỉnh dự toán cấp tỉnh báo cáo UBND cấp tỉnh.
Bước (8): Sở tài chính giao dự toán NS chính thức cho UBND cấp huyện.
Bước (9): UBND cấp huyện chỉnh lại dự toán NS gửi đại biểu HĐND cùng cấp trước phiên họp của HĐND cấp huyện về dự toán NS; HĐND cấp huyện thảo luận và quyết định dự toán NS.
Bước (10): UBND cấp huyện giao dự toán cho các đơn vị sử dụng NS trực thuộc; thực hiện công khai dự toán NS cấp huyện.
* Tiêu chí đánh giá lập dự toán chi thường xuyên
– Lập dự toán đúng qui trình, đảm bảo thời gian quy định của Luật NSNN; Dự toán có thể thuyết minh, giải trình cụ thể về cơ sở pháp lý, chi tiết tính toá.
– Lập dự toán bám sát nhiệm vụ chi của từng cơ quan, đơn vị hay dàn trải, không đúng nhiệm vụ chi của từng đơn vị.
– Dự toán được lập theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NS hiện hành.
– Phân bổ NS chi thường xuyên kịp thời.
1.2.2. Chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN
a. Khái niệm
Chấp hành dự toán chi thường xuyên là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp về kinh tế – tài chính và hành chính nhằm biến các khoản chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán chi thường xuyên trở thành hiện thực. Qua đó, góp phần thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế – xã hội. Như vậy, có thể nói chấp hành NSNN là khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến một chu trình quản lý chi thường xuyên NSNN.
b. Mục tiêu của quản lý chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN
Mục tiêu cơ bản của việc quản lý chấp hành dự toán chi thường xuyên của NSNN là đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng NSNN một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Để đạt được các mục tiêu cơ bản đó, trong quá trình tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên của NSNN cần chú trọng đến các yêu cầu cơ bản sau:
+ Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, tập trung có trọng điểm trên cơ sở dự toán chi thường xuyên đã xác định.
+ Phải đảm bảo việc cấp phát vốn, kinh phí một cách kịp thời, chặt chẽ tránh mọi sơ hở gây lãng phí, tham ô làm thất thoát nguồn vốn NSNN.
+ Trong quá trình sử dụng kinh phí do NSNN cấp phát phải hết sức tiết kiệm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội của mỗi khoản chi đó.
c. Căn cứ tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN
Chấp hành dự toán chi thường xuyên là một trong những nội dung quan trọng của chấp hành dự toán chi NSNN – khâu thứ hai của chu trình quản lý NSNN. Thời gian tổ chức chấp hành NSNN ở nước ta được tính từ ngày 01 tháng 1 đến hết ngày 31 tháng 12 năm đương lịch. Trong quá trình tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên cần dựa trên những căn cứ sau:
Thứ nhất, dựa vào mức chi của từng chỉ tiêu (hoặc tổng mức chi nếu đó là kinh phí đã nhận khoán) đã được duyệt trong dự toán. Hầu hết nhu cầu chi thường xuyên đã có định mức, tiêu chuẩn, đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua.
Thứ hai, dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi thường xuyên trong mỗi kỳ báo cáo. Mặc dù các khoản chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán nhưng một khi số thu thường xuyên không đảm bảo vẫn phải cắt giảm một phần nhu cầu chi.
Thứ ba, dựa vào các chính sách, chế độ chi NSNN hiện hành. Đây là căn cứ mang tính pháp lý cho công tác tổ chức chấp hành dự toán chi NSNN. Tính hợp lệ, hợp lý của các khoản chi của NSNN sẽ được đánh giá dựa trên cơ sở các chính sách, chế độ chi của Nhà nước hiện đang có hiệu lực thi hành.
* Tiêu chí đánh giá quản lý chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN
– Sử dụng NS chi thường xuyên phù hợp với dự toán được phê duyệt.
– Sử dụng NS chi thường xuyên đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn và các quy định khác của Nhà nước có liên quan đến quản lý, sử dụng NSNN; vận dụng các chính sách có liên quan trong sử dụng NSNN đúng theo quy định.
– Thực hiện các nhiệm vụ được giao đã được phê duyệt trong bản dự toán kịp thời; việc cấp phát vốn, kinh phí cách kịp thời, chặt chẽ.
– Sử dụng NS thường xuyên tiết kiệm, hiệu quả, không bị lãng phí, tham ô làm thất thoát nguồn vốn NSNN.
– Hồ sơ, tài liệu thanh toán đầy đủ, đúng theo quy định.
1.2.3. Kiểm soát và quyết toán chi thường xuyên NSNN
a. Kiểm soát chi thường xuyên NSNN
Chủ thể kiểm soát chi thường xuyên NSNN gồm: Cơ quan tài chính phối hợp với KBNN tham mưu giúp cơ quan hành chính nhà nước kiểm soát chi ngân sách. Trong quá trình quản lý chi thường xuyên, thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình nhận và sử dụng kinh phí tại mỗi đơn vị sao cho mỗi khoản chi tiêu phải đảm bảo theo đúng dự toán, đúng định mức tiêu chuẩn của chế độ chi NSNN hiện hành. Nhờ đó mà góp phần nâng cao tính tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên của NSNN.
Việc kiểm tra, giám sát đòi hỏi phải được tiến hành một cách liên tục và có hệ thống thông qua các hình thức khác nhau:
+ Thực hiện kiểm tra, giám sát hàng ngày qua mỗi nghiệp vụ cấp phát kinh phí cho nhu cầu chi thường xuyên. Hình thức này do chính mỗi cán bộ có trách nhiệm kiểm soát trước khi xuất quỹ của KBNN thực hiện.
+ Thực hiện kiểm tra, giám sát theo định kỳ bằng việc thẩm định các báo cáo tài chính hàng quý của các đơn vị sử dụng ngân sách.
+ Thực hiện kiểm tra, giám sát một cách đột xuất tại đơn vị dự toán, được thực hiện bởi các cơ quan chuyên trách của ngành hoặc của Thanh tra Nhà nước thực hiện, khi phát hiện có dấu hiệu không lành mạnh trong quản lý tài chính ở một đơn vị nào đó.
– Nội dung kiểm soát chi thường xuyên NSNN:
+ Kiểm soát, đối chiếu các khoản chi so với dự toán chi thường xuyên, bảo đảm các khoản chi phải có trong dự toán, được cấp có thẩm quyền giao, số dư tài khoản dự toán của đơn vị còn đủ để chi.
+ Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi.
+ Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi, bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi thường xuyên NSNN theo quy định. Đối với các khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi thường xuyên NSNN, KBNN căn cứ vào dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao để kiểm soát.
+ Thực hiện kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa cơ quan tài chính và Kho bạc để đảm bảo chi đúng, chi đủ cho các đơn vị.
+ Thực hiện công tác kiểm tra việc sử dụng ngân sách tại đơn vị định kỳ.
b. Quyết toán chi thường xuyên NSNN
Công tác quyết toán các khoản chi thường xuyên của NSNN là công việc cuối cùng trong mỗi chu trình quản lý các khoản chi thường xuyên nói riêng và chi NSNN nói chung. Nó chính là quá trình nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút ra những kinh nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp sau.
Để quản lý quyết toán chi thường xuyên NSNN tốt cần phải:
+ Đảm bảo các đơn vị dự toán lập đầy đủ và nộp kịp thời báo cáo tài chính cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ đã quy định. Việc xét duyệt quyết toán năm đối với những khoản chi thường xuyên phải được thực hiện theo nguyên tắc sau: Xét duyệt từng khoản phát sinh tại đơn vị; các khoản chi phải đảm bảo đủ các điều kiện chi; các khoản chi phải hạch toán theo đúng chế độ kế toán, đúng mục lục NSNN và đúng niên độ NS; các chứng từ chi phải hợp pháp; sổ sách và báo cáo quyết toán phải khớp với chứng từ và khớp với số liệu của KBNN.
+ Các số liệu trong các báo cáo có tính chính xác, trung thực. Nội dung các báo cáo tài chính tuân thủ theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục NSNN đã quy định.
+ Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp và của NS các cấp chính quyền trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn phải có xác nhận của KBNN đồng cấp.
+ Thủ trưởng các đơn vị đự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và duyệt quyết toán các khoản chi thường xuyên NSNN của các đơn vị trực thuộc; tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích, đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan.
Sau khi thực hiện xong công tác khóa sổ cuối ngày 31 tháng 12 hàng năm, số liệu trên sổ sách kế toán của mỗi đơn vị phải đảm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu của KBNN cả về tổng số và chi tiết; khi đó đơn vị dự toán mới được tiến hành lập báo cáo quyết toán năm để gửi xét duyệt theo trình tự, như sau:
+ Đơn vị dự toán cấp dưới lập báo cáo quyết toán năm gửi đơn vị dự toán cấp trên. Trong thời gian tối đa 20 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới, đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp dưới. Sau 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo xét duyệt quyết toán của đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp dưới không có ý kiến gì khác thì coi như đã chấp nhận để thi hành.
+ Đơn vị dự toán cấp I có trách nhiệm tổng hợp và lập báo cáo quyết toán năm gửi cơ quan Tài chính đồng cấp sau khi đã có sự xác nhận của KBNN và Kiểm toán Nhà nước. Cơ quan Tài chính có trách nhiệm thẩm định quyết toán năm cho các đơn vị dự toán cấp I trực thuộc mình quản lý trong thời gian tối đa 10 ngày đối với cấp huyện kể từ ngày nhận được báo cáo cáo quyết toán. Sau 10 ngày, kể từ khi đơn vị dự toán cấp I nhận được thông báo về quyết toán đã được thẩm định, nếu không có ý kiến gì khác coi như đã chấp nhận để thi hành. Nếu phát hiện sai sót, cơ quan Tài chính có quyền yêu cầu cơ quan duyệt quyết toán điều chỉnh lại cho đúng, đồng thời xử lý hoặc đề nghị xử lý vi phạm theo qui định của pháp luật.
+ Trường hợp đơn vị dự toán cấp I có ý kiến không thống nhất với thông báo thẩm định quyết toán của cơ quan Tài chính thì phải trình UBND đồng cấp để xem xét quyết định. Trong khi chờ ý kiến quyết định của UBND đồng cấp thì mọi quyết định của cơ quan Tài chính vẫn được thi hành.
+ Cơ quan Tài chính đồng cấp có quyền tham gia xét duyệt quyết toán năm đối với đơn vị dự toán trực thuộc cấp I (nếu thấy cần thiết). Cơ quan dự toán cấp I và cơ quan Tài chính đồng cấp có quyền xuất toán, thu hồi các khoản chi không đúng chế độ và không nằm trong dự toán được duyệt; đồng thời ra lệnh nộp ngay các khoản phải nộp vào NSNN theo chế độ quy định.
Trình tự lập, gửi, xét duyệt các báo cáo tài chính đã được quy định như trên vừa phản ánh một quy trình bắt buộc phải tuân thủ, vừa phản ánh yêu cầu cần phải tôn trọng về thời gian tại mỗi cấp, mỗi đơn vị. Chỉ có như vậy thì công tác quyết toán chi thường xuyên NSNN mới đảm bảo được tính kịp thời, chính xác, trung thực, khách quan.
* Tiêu chí đánh giá công tác quyết toán chi thường xuyên NSNN
– Hệ thống mẫu biểu quyết toán đúng, đầy đủ theo quy định hiện hành.
– Thời gian trong lập báo cáo quyết toán đúng theo quy định.
– Hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán đủ, đúng theo quy định.
– Công tác xử lý các vi phạm đúng theo quy định.
1.2.4. Thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên NSNN
Tranh tra chi thường xuyên NSNN là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan nhà nước đối với việc thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước về chi thường xuyên NSNN, nhằm đảm bảo hoạt động chi thường xuyên NSNN của các đơn vị có thẩm quyền thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời có những kiến nghị chấn chỉnh hoặc xử lý những sai phạm (nếu có).
Mục tiêu của thanh tra chi thường xuyên NSNN nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý chi thường xuyên NSNN; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động chi thường xuyên NSNN; phát hiện và kết luận được những sai phạm trong việc phân bổ, sử dụng các nguồn kinh phí của nhà nước; phân tích tìm rõ nguyên nhân, quy trách nhiệm và có những kiến nghị xử lý cụ thể đối với từng sai phạm.
Cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc kiểm toán, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán chi NSNN nói chung, chi thường xuyên NSNN nói riêng ở các cấp, cơ quan, đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật… Việc kiểm toán quyết toán chi thường xuyên NSNN được thực hiện trước khi HĐND phê chuẩn quyết toán; trường hợp kiểm toán sau khi HĐND phê chuẩn quyết toán thì thực hiện theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện nhiệm vụ, cơ quan Kiểm toán Nhà nước có quyền độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận kiểm toán của mình. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan Kiểm toán Nhà nước được đề nghị các cơ quan chức năng phối hợp công tác để thực hiện nhiệm vụ được giao.
Mục đích của việc kiểm toán nhằm phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng NS, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng NS và tài sản nhà nước.
* Tiêu chí đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên NSNN
– Việc kiểm tra, thanh tra trong khi chi NSNN đảm bảo theo quy định hiện hành.
– Sự thường xuyên tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, giám chi thường xuyên NSNN.
– Xử lý nghiêm các vi phạm trong chi thường xuyên NSNN.
– Hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN
1.3.1. Nhân tố về chế độ chính sách quản lý tài chính công
Đó là sự ảnh hưởng của những văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý chi NS nói chung và chi thường xuyên NSNN nói riêng. Cụ thể: là các văn bản quy định phạm vi, đối tượng chi thường xuyên NS của các cấp chính quyền; quy định, chế định việc phân công, phân cấp nhiệm vụ chi, quản lý chi của các cấp chính quyền; quy định quy trình, nội dung lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý chi thường xuyên ngân sách và sử dụng quỹ ngân sách; quy định, chế định những nguyên tắc, chế độ, định mức chi tiêu… Các văn này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân sách trên một địa bàn nhất định, do vậy đòi hỏi Nhà nước phải ban hành những văn bản đúng đắn, phù hợp với điều thực tế thì công tác quản lý chi NSNN mới đạt được hiệu quả.
1.3.2. Nhân tố về tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý
Để tổ chức quản lý chi NSNN nói chung và chi thường xuyên NS nói riêng, phải xây dựng cơ cấu, tổ chức bộ máy tham mưu giúp việc, phù hợp với thẩm quyền, chức năng và nhiệm vụ được chính phủ quy định. Tại mỗi cơ quan, đơn vị sử dụng NS lại có mô hình tổ chức bộ máy và cán bộ riêng để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. Hiệu quả hoạt động và chất lượng cán bộ của từng cơ quan đơn vị có tác động rất lớn tới chất lượng quản lý nói chung và quản lý chi thường xuyên NSNN nói riêng. Tổ chức bộ máy tinh gọn và chất lượng nguồn nhân lực cao luôn là mục tiêu hướng tới của chính phủ và các cấp chính quyền tại mỗi địa phương. Bộ máy cồng kềnh với chất lượng nguồn nhân lực thấp sẽ kéo theo sự trì trệ trong phát triển kinh tế xã hội lãng phí thời gian, tài sản, tiền của của nhà nước.
1.3.3. Nhân tố về kinh tế – xã hội
NSNN là tổng hòa các mối quan hệ kinh tế – xã hội, do vậy quản lý chi NSNN nói chung hay chi thường xuyên NS nói riêng luôn chịu sự tác động của các yếu tố về kinh tế – xã hội, cụ thể:
– Về kinh tế: Kinh tế trên địa bàn định, tăng trưởng và phát triển bền vững là cơ sở đảm bảo nguồn thu của ngân sách. Do đó việc quản lý chi NSNN nói chung và chi thường xuyên NSNN nói riêng ít phải đối mặt với mâu thuẫn giữa nhu cầu chi cao mà nguồn thu thấp, và ngược lại. Khi đó, hiệu quả quản lý chi thường xuyên NSNN càng được nâng cao, đảm bảo việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển kinh tế và xã hội một cách ổn định.
– Về xã hội: Xã hội ổn định bởi chế độ chính trị ổn định. Sự ổn định về chính trị – xã hội là cơ sở để động viên mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên cho sự phát triển. Mặt khác, chính trị – xã hội cũng hình thành nên môi trường và điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư trên địa bàn; thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như tăng cường các nguồn lực tài chính, đảm bảo nguồn thu và nhu cầu chi, góp phần làm tăng hiệu quả quản lý chi thường xuyên, làm cho quá trình quản lý chi NSNN khó khăn, phức tạp hơn.
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN
1.4.1. Kinh nghiệm của một số địa phương
a. Kinh nghiệm của huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
Quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện Kinh Môn trong những năm qua có nhiều bước tiến bộ. Thể hiện trên một số nội dung sau:
– Hệ thống chính sách chế độ; các tiêu chuẩn định mức được địa phương quan tâm triển khai thực hiện. Nhờ đó, về cơ bản NS, tài sản nhà nước được sử dụng tiết kiệm và đúng chính sách chế độ.
– Công tác cải cách các thủ tục hành chính được tăng cường, cơ chế xin cho cơ bản bước đầu được hạn chế. Trong việc giao dự toán ngân sách, cơ bản đã phân bổ và giao toàn bộ dự toán chi thường xuyên cho các đơn vị dự toán ngân sách huyện ngay từ đầu năm.
– Huyện đã chú trọng cân đối chi cho sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo, phát triển sự nghiệp y tế. Huyện cũng đã quản lý tốt dự phòng ngân sách chủ yếu để phục vụ cho các nhu cầu cấp thiết khi có thiên tai, dịch bệnh.
– Công tác thanh tra, kiểm tra, thẩm định về tài chính ngân sách được chú trọng và tăng cường. Qua thanh tra, kiểm tra đã góp phần đảm bảo cho ngân sách, tài sản của nhà nước được sử dụng đúng, hiệu quả. Huyện đã xử lý nghiêm một số trường hợp vi phạm.
– Huyện cũng đã quan tâm công tác quyết toán ngân sách, thực hiện công khai dự toán và quyết toán ngân sách theo đúng các quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, quản lý chi NSNN ở huyện Kinh Môn còn một số tồn tại như:
– Việc lập dự toán chi ở một số đơn vị chưa kịp thời. Vẫn còn đơn vị xây dựng dự toán không sát, phải xin bổ sung, điều chỉnh ngân sách.
– Hệ thống chế độ chính sách, các tiêu chuẩn định mức về sử dụng tài chính ngân sách vẫn còn một số nội dung và lĩnh vực chưa đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn. Việc tổ chức thực hiện chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu hành chính sự nghiệp ở một số đơn vị dự toán chưa nghiêm.
– Công tác kiểm tra, thanh tra vẫn còn hạn chế, tình trạng thất thoát, tiêu cực trong quản lý và sử dụng ngân sách chưa được khắc phục triệt để, vẫn còn thiếu sự phối hợp đồng bộ trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán giữa các cơ quan chức năng.
b. Kinh nghiệm của Thị xã Sơn Tây, Hà Nội
Quản lý chi thường xuyên ngân sách tại thị xã Sơn Tây trong giai đoạn 2011-2014 có nhiều thành công. Thể hiện trên một số nội dung sau:
– Thị xã Sơn Tây đã tiến hành khoán biên chế và khoán chi hành chính cho các cơ quan Nhà nước theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP và cho các đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP. Kết quả cho thấy các đơn vị được giao khoán đã chủ động trong khai thác tối đa nguồn thu, quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả kinh phí được ngân sách cấp và kinh phí được chi từ nguồn thu để lại.
– Công tác quản lý và điều hành ngân sách của các đơn vị, các địa phương của thị xã luôn bám sát dự toán giao, không có phát sinh lớn ngoài dự toán. Tăng cường công tác giám sát kiểm tra, kịp thời uốn nắn và xử lý nghiêm túc những trường hợp chi sai, vượt chế độ, định mức của chế độ chi tiêu tài chính hiện hành.
– Bằng việc thực hiện phân cấp nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách địa phương thị xã Sơn Tây đã thu được những kết quả đáng khích lệ, kinh tế địa phương tăng trưởng, ổn định chính trị xã hội.
Tuy nhiên, công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã Sơn Tây, Hà Nội cũng vấp phải những khó khăn, hạn chế đó là:
– Trình độ quản lý tài chính của cán bộ quản lý ngân sách.
– Không phân bổ và giao hết dự toán cho các đơn vị sự nghiệp từ đầu năm để các đơn vị chủ động thực hiện, nên hầu hết các sự nghiệp đều phải bổ sung dự toán nhưng cuối năm vẫn phải chi chuyển nguồn sang năm sau.
– Hạn chế trong khâu lập dự toán chi thường xuyên, việc chấp hành dự toán giao đầu năm chưa tốt, gây thất thoát, lãng phí.
– Công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành dự toán chi thường xuyên chưa được quan tâm đúng mức, chưa thường xuyên.
1.4.2. Bài học kinh nghiệm cho quản lý chi thường xuyên thị xã An Khê
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chi thường xuyên NSNN và quản lý chi thường xuyên NSNN; kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên NSNN tại một số huyện/thị xã, có thể rút ra một số bài học có ý nghĩa tham khảo, vận dụng vào quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã An Khê như sau:
Thứ nhất, cần chú trọng và tăng cường cải cách tài chính công, nhất là cải cách cơ chế quản lý chi thường xuyên ngân sách cho phù hợp với tiến trình phát triển của địa phương; cải tiến các quy trình, thủ tục hành chính; hướng quản lý chi thường xuyên ngân sách theo kết quả đầu ra.
Thứ hai, chú trọng công tác phân tích, dự báo kinh tế phục vụ cho việc hoạch định chính sách kinh tế và các chính sách liên quan đến chi thường xuyên nhằm phát triển kinh tế – xã hội một cách toàn diện, vững chắc.
Thứ ba, thống nhất chỉ đạo và phân cấp quản lý kinh tế đi đôi với phân cấp quản lý chi thường xuyên ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách nhằm tạo điều kiện cho cho các đơn vị sử dụng ngân sách phát huy được tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo các quy định của pháp luật.
Thứ tư, tập trung thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ, có hiệu quả chi thường xuyên NSNN trên toàn bộ các khâu của chu trình ngân sách (từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán NSNN).
Thứ năm, triển khai các hoạt động quản lý chi thường xuyên ngân sách thị xã phải xuất phát từ điều kiện thực tế về kinh tế xã hội của địa phương và phải liên tục hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý ngân sách theo mức độ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Thứ sáu, thực hiện xây dựng quy chế phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra tài chính giữa các cơ quan chức năng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên NSNN trên địa bàn.
Kinh nghiệm của các địa phương khác là rất quý báu và bổ ích. Tuy nhiên, việc vận dụng kinh nghiệm của địa phương khác cần áp dụng một cách hợp lý, tránh dập khuôn, máy móc.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN TẠI
THỊ XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI
2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ AN KHÊ VÀ TÍNH HÌNH CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI THỊ XÃ
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
An Khê là cửa ngõ phía Đông Bắc của tỉnh Gia Lai, nằm trên Quốc Lộ 19, là trục giao thông quan trọng nối Duyên hải Miền Trung với Tây Nguyên và các tỉnh Đông Bắc Campuchia. Thị xã An Khê có 11 đơn vị hành chính với tổng diện tích tự nhiên toàn thị xã là 20.065,21 ha. Địa hình không bằng phẳng và bị chia cắt bởi nhiều sông suối và các triền núi nằm ở phía đông dãy Trường Sơn. Hệ thống sông suối trên địa bàn thị xã có mật độ không cao. Trong năm có 2 mùa mưa, khô rõ rệt.
Điều kiện tự nhiên của thị xã An Khê tạo ra những thuận lợi, khó khăn như sau:
* Thuận lợi:
– An Khê có vị trí địa lý rất thuận lợi trong trao đổi liên vùng về kinh tế xã hội, thu hút khoa học kỹ thuật, vốn, lao động cũng như tiêu thụ sản phẩm. Là cửa ngõ quan trọng của tỉnh Gia Lai và vùng Bắc Tây Nguyên xuống đồng bằng Duyên hải Miền Trung và cũng là cửa ngõ của các tỉnh Duyên hải Miền Trung lên các tỉnh Tây Nguyên. Ngoài ra, An Khê còn là đầu mối giao lưu kinh tế xã hội của các huyện phía Đông của tỉnh Gia Lai.
– Khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, ánh sáng dồi dào, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn cho phép phát triển nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại vật nuôi, cây trồng, đặc biệt là các loại cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới. Thị xã có các vùng sản xuất cây hàng năm tập trung quy mô lớn như mía, sắn, ngô là những điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến quy mô vừa và nhỏ.
* Khó khăn:
– Điều kiện khí hậu của thị xã An Khê cũng mang lại nhiều hạn chế cho thị xã, như: vào mùa khô, các cây trồng thường thiếu nước, phải thực hiện chế độ canh tác phòng chống hạn; vào mùa mưa, thường có mưa bão, gây thiệt hại đáng kể đến mùa màng của người dân.
– Tài nguyên đất đai tuy nhiều nhưng thường bị khô hạn, thiếu nước tưới trong mùa khô; địa hình không đồng nhất, khó liên kết để cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp; độ phì nhiêu của đất thấp nên khả năng thâm canh, tăng vụ gặp nhiều khó khăn đặc biệt là không có tiềm năng để phát triển cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê,…; tầng đất mặt mỏng, dưới là đá granit nên chỉ có thể trồng các loại cây trồng công nghiệp ngắn ngày như mía, mìa… giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích không cao.
Với những đặc điểm tự nhiên trên, thị xã An Khê có tiềm năng trong việc phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, cũng có những khó khăn không nhỏ do yếu tố tự nhiên gây ra. Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu chi NSNN nói chung, chi thường xuyên nói riêng trên địa bàn thị xã An Khê.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1/ CHI THƯỜNG XUYÊN THỊ XÃ AN KHÊ
Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An KhêQuản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thị xã An Khê


