Quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiếtcủa đề tài
Lao động là tài sản quý của mỗi quốc gia. Không quốc gia nào trênthếgiớitừbỏ quyền quản lý lao độngcủa mình, trongđó có lao độngtrong các
doanh nghiệp – khu vực đóng góp phần lớn thu nhập quốc dân và làm ra phần lớn của cảivậtchất cho xã hộicủa các nƣớc công nghiệp hóa ngày nay. Do vậy, quản lý nhà nƣớc về lao động trong doanh nghiệp luôn đƣợc sự quan tâm của các nhà xây dựng và thực thi pháp luật cũng nhƣ của các nhà nghiên cứu.
Ở ViệtNam, những năm Đổi mới vừa qua đánh dấu sự chuyển biến vềnhận thức và thực tiễn xây dựng pháp luật, hoàn thiện quản lý nhà nƣớc theo
hƣớng phù hợp với điều kiện chuyển đổi. Bên cạnh những thành tựu đạtđƣợc, hoạtđộngquản lý nhà nƣớc cũng còn nhiều hạn chế, yếu kémđòihỏiNhà
nƣớc phải “xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước vềkinh tế, xã
hộiphù hợp với yêu cầu phát triển của giai đoạn mới; (…) xác định rõ phạm vi và nộidung quản lý nhà nước về kinh tế, xãhộicủa cơ quan công quyền các cấp” [33, tr.253, 254].
Những năm qua, chúng ta chú trọng nhiều đếnsố vốn đầutƣ vào nền kinh tế, số doanh nghiệp thành lập, số laođộngđƣợc giải quyết việc làm,
nhƣng lại chƣa quan tâm thích đáng cải thiện và nâng cao điều kiện lao động, bảo đảm hài hòa quyền lợi của các bên, thực hiện an sinh xã hội và tiến bộ xãhội [34]. Hiện tồn tại hàng loạt vấn đề liên quan đến lao động trong các doanh nghiệp đang rất cần tácđộng của“bàn tay nhà nước”.Dự báo những năm tới sẽ phát sinh nhiều vấn đề đòi hỏi trách nhiệm trƣớc hết, cao nhất không phải ai khác ngoài Nhà nƣớc. Do vậy, yêu cầu có tính cấp bách trong giaiđoạn
hiện nay, nhƣ Nghị quyết số 20/NQ–TW ngày 28/01/2008 của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra, là phải “đổimới, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp”;“sớm sửa đổi, bổ
5
sung Luật Công đoàn, Bộ luật Lao động”. Quốchội khóa XII cũng đã đƣa ra chủ trƣơng sửa đổi, ban hành mới hai văn bản này.
Hiện chƣa có công trình nghiên cứu nào giải quyết toàn diện, thỏa đáng vấn đề “quản lý nhà nướcvềlao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam”
dƣớigóc độ lý luận –lịch sửnhànƣớc và pháp luật. Do vậy, nghiên cứu đềxuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mụcđích nghiên cứu của đề tài:Đề xuấtgiải pháp nâng cao hiệuquảquản lý nhà nƣớc, chủ yếu bằng pháp luật, về lao độngtrong các doanh nghiệp ởViệt Nam giaiđoạn hiện nay là: khắc phục những yếu kém hiện hành, xáclậpphạm vi, phƣơng thức quản lý đáp ứng yêu cầu mới của quản lýnhà nƣớc vềlao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
– Hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định vai trò, đặc điểm, nội dung của quản lý nhà nƣớcvềlao động trong các doanh nghiệp trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế.
– Phân tích, đánh giá mặt tích cực, mặtyếukém của quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
– Đề xuấtquan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc vềlao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu củađề tài là: những tácđộngcủa Nhà nƣớc tới nhóm (i) vấn đề chỉ thuộc về ngƣờilao động trong các doanh nghiệp mà các nhóm lao động hay cƣ dân khác không có và nhóm (ii) vấn đề liên quan trực tiếp đến ngƣời lao động trong các doanh nghiệp, nghĩa là nhóm lao động khác hoặc cƣ dân khác có thể có nhƣng không là đối tƣợng chủ yếu.
Đốitượng nghiêncứu của đề tài:hoạtđộngquản lý nhà nƣớcvềlaođộng trong các doanh nghiệp của nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
6
4. Phương pháp nghiên cứu củađề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh,đƣờng lối, chủtrƣơng củaĐảng Cộng sản Việt Nam về nhà nƣớc và pháp luật.
Đề tài thực hiện trên cơ sở tiếp cận từ góc độ lý luận nhà nƣớc – pháp
luật, kinh tế – chính trị, kinh tế – xã hội;giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể, hiệu quả quản lý nhà nƣớc; từ thực tiễn trong nƣớc, kinh nghiệm
nƣớc ngoài để từ đó xây dựng các giải pháp.
Đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể là: phương pháp lịch sử
và phương pháp lô–gích, phương pháp hệthống, phương pháp phân tích vàphương pháp tổng hợpđể nghiên cứu cơsởlý luận khoa học, kinh nghiệm các nƣớc nhằm đƣa ra dựbáo, giải pháp; phương pháp chuyên giađể lấyý kiến đánh giá về thực trạng và giải pháp; phương pháp điều tra xã hộihọcđểkhảo sát những địa phƣơng, khu vực có nhiều doanh nghiệp, đông lao động, nơi có hoạt động quản lý tốt, nơi có hoạtđộng quản lý yếu kém để củng cố, bổ sung cho đánh giá thực trạng, hoàn thiện giải pháp.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tàiĐóng góp về mặt lý luận của đề tài:
Mộtlà, trong nền kinh tếthịtrƣờng, quản lý nhà nƣớc vềlao động trong các doanh nghiệp không chỉlà“quản” mà chủyếu làhỗtrợ; không là“làm khó” mà là thuận lợi hóa cho các bên tham gia quan hệlao động. Quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp không chỉ mang tính pháp lý
mà còn mang đậm tính xã hội – nhân văn, tính kinh tế – chính trị sâu sắc.
Hai là, quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng sẽ thành công nếu xác định đƣợc sự phân công và có đƣợc lựa chọn hợp lý giữa nhà nƣớc hay thị trƣờng. Vớinhóm quan hệ, vấn đềcótính kinh tế, có tính thị trường, nhà nƣớc để thị trƣờng điều tiết bằng cách xácđịnh giới hạn cho các bên thƣơng lƣợngtheo cơ chế thị trƣờng. Nhà nƣớc đƣa ra nguyên tắc khống chế và“vạch ra giớihạn” cho thị trƣờng điều tiết. Nhà
7
nƣớc thực hiện vai trò trọng tài, giám sát và sửdụng công cụkinhtếlà chủyếu để điều chỉnh cácquan hệ này. Với quan hệ, vấn đề có tính xã hội, có nội dung an sinh xã hội, nhà nƣớc cần quy định quyền, nghĩa vụ cụ thể để các bên
thực hiện – đó chính là tiêu chuẩn lao động. Nhà nƣớc là ngƣời kiểm tra, giám sátvà xửlý vi phạm. Nhà nƣớc sử dụng phƣơng pháp hành chính là chủ yếu để điều chỉnh cácquan hệ này.
Ba là, quản lý nhà nước vềlao động trong các doanh nghiệp ởViệt Nam hiện nay đang bộc lộnhiềuhạnchế, yếu kém.Đểnâng cao hiệuquảquản lý thì phảisớmkhắc phục nhữngyếukém hiện hành, xác lập phạm vi,
phƣơng thức quản lý đáp ứng yêu cầu mới của quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay: (i) Sửa đổi hệ thống pháp luật lao động phù hợp với điều kiện vận hành của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa; (ii) Thực hiện sự hỗ trợ trực tiếp cho ngƣời lao
độngvà doanh nghiệp; (iii) Kiện toàn tổchức –bộmáy, tăngđầu tƣ nguồn lực thực hiện quản lý nhà nƣớc vềlao độngtrong các doanh nghiệp; (iv)Sửdụng linh hoạt các phƣơng thức quản lý và tạo cơ chế để thực hiện thực chất đối thoại, thƣơng lƣợng, hòa giải trong quan hệ lao động; (v) Thiết lập và vận hành thực sự “cơ chế ba bên” ở Việt Nam.
Những đóng góp vềmặtthực tiễn của đề tài:sửdụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy quản lý nhà nƣớc về lao động và pháp luật lao động ở bậc đại học, sau đại học; cung cấp luận cứ tham khảo phục vụsửa đổiBộ luật Lao động, Luật Công đoàn;sửdụng làm tài liệu tham khảo cho cánbộ quản lý nhà nƣớc, cán bộcông đoàn và ngƣờisửdụng laođộng vận dụng trong thực tiễn quản lý, tổ chức hoạt động của mình.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giảvà danh mục tài liệu tham khảo, luận án đƣợc kết cấu làm 4 chƣơng:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài; Chương 2. Vai trò và nội dung quản lý nhànƣớc vềlao động trong các
doanh nghiệp;
Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nƣớc vềlao độngtrong các doanh nghiệp ở Việt Nam;
Chương 4. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
9
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước
14
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Kết luận chương 1.
Các tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc thuộc lĩnh vực nghiên cứu của đề tài đã khái quát những nét chủ yếuvề vịtrí, vai trò của nhà
nƣớc trong quản lý về laođộng nói chung, về quản lý laođộng trong các doanh nghiệp nói riêng; cũngđã bƣớc đầu xácđịnh đƣợc chủ thể, khách thể, nội dung, phƣơng thức của quản lý lao động trong nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, điểm qua các công trình nghiên cứu về quản lý nhànƣớc về laođộng nói chung và quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp nói riêngởnƣớc ta hiện nay là chƣa nhiều. Nếu có thì các nghiên cứu này cũng chƣa giải đáp mộtcách toàn diện từlý luận đếnthực tiễn; chƣa đủ đểhình dung mộtcách trọn vẹnhoạtđộng quản lý nhà nƣớcvềlao động trong các doanh nghiệp, đặc biệt trong việc xây dựng và tổchức thực hiện pháp luậtđể xây dựng“quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ”. Điều này ảnh hƣởng không nhỏ tớiviệc tiếp tụchoàn thiện pháp luật,tổchức tốtviệc thực hiện pháp luật, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớcvề lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Nhƣ vậy, còn một số vấn đề nghiên cứu cần tiếp tục luận giải và làm rõtrong luận án:
Mộtlà:Nộidung, phƣơng thức, vai trò của Nhà nƣớc và quan niệm quản lý nhà nƣớcvề lao động trong các doanh nghiệpởViệt Nam giai đoạnđẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nƣớc.
Hai là: Thực trạng, xác định nguyên nhân làm giảm hiệu quả hoạtđộng quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
Ba là:Đề xuấtgiải pháp đồng bộ, theo lộ trình, nâng cao hiệu quả quản lý nhànƣớcvề lao độngtrong các doanh nghiệp ởViệt Nam giaiđoạnhiện nay.
18
VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
2.1. Quan niệm quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp
Trong nghiên cứu lý luậnvề nhànƣớc và pháp luậtởViệt Nam hiện nay, cụmtừ“quản lý nhà nước” thƣờng đƣợcgiải thích theo nghĩa rộng vànghĩa hẹp của của nó. Hiểu theo nghĩa rộng thì quản lý nhà nướclà phần quản lý xã hội do nhà nước đảm nhận, là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước tớiđốitượng quản lý nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Quản lý công việc nhà nƣớc (hay“quản lý nhà nước” hiểu theo nghĩa rộng)đƣợc thực hiện bởi tấtcảcác cơ quan nhà nƣớc, trên các lĩnh vực
lập pháp, hành pháp, tƣ pháp [45, tr.8, 105–109, 125–126], [102, tr.96–97].
Hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lý nhànƣớc là quản lý hành chính nhà nước –quản lý nhà nướctrên lĩnh vực hành pháp và chủ yếu được giao cho các cơ
quan hành chính nhànướcthực hiện. [45, tr.125–126], [102, tr.12].
Khi nóitớiquản lý nhànƣớc về laođộng trong các doanh nghiệp khôngchỉgiới hạn “sựtác động” bằng quản lý hành chính củanhà nƣớc tới lĩnh vực lao động trong các doanh nghiệp, mặc dù đâylà hoạtđộngdiễn ra
thƣờng xuyên và là khâu đặcbiệt quan trọng trongtổ chức thực hiện pháp luật. Do vậy, để hiểu đầy đủhơn “quản lý nhà nước vềlaođộng trong các doanh nghiệp”, luận án cần hiểu theo nghĩa rộng của cụm từ này.
Trƣớc tiên, nói về quản lý nhà nƣớc và quản lý xã hội nói chung, khi xãhộiloàingƣờihình thành, nhucầuquản lý, định hƣớng sựphát triển xã hội trởthành yêu cầu mang tính khách quan. Xuất pháttừnhững góc độ nghiên cứu khác nhau, đã có nhiều học giả trong, ngoàinƣớc đƣa ra giải thích về“quản lý”.Thựctế cuộc sống cho thấy, để nghiên cứu về quản lý, cầncónhiều môn khoa học khác nhau:mộtsố môn khoa học chỉnghiên cứu thuần túy các vấn đề quản lý, mộtsố môn khoa học khácchỉgóp phần vào việc
19
nghiên cứu quản lý nhƣ là cơsởphƣơng pháp luận và cơsởkhoahọccủa chính khoa học quản lý… Càng ngày lý luận quản lý càng tích luỹ họcm nhiều tri thức mới, nhƣng cho đến nay vẫn chƣa có mộtđịnh nghĩa thống nhấtvềquản lý. Bƣớc sang thế kỷ XXI, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú.
Theo TrƣờngĐạihọc Kinh doanh –Đạihọc Havard (Hoa Kỳ),dƣớigóc độthực tiễn hiệu quả quản lý thì có thể liệt kê ra một số quan niệm cơ bản nhƣ:
Fayel: Quản lý là mộthoạtđộng mà mọitổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có. Nó gồm 5 yếu tố tạo thành là:
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh, kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát.
Hard Koont: Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trƣờng tốt giúp con ngƣời hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định.
Peter F Druker: Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó khôngnằmởnhận thức mà làởhànhđộng;kiểm chứng nó
không nằm ở sự lô–gích mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích [101].
Trƣớc những năm 30 của thế kỷ XX, khi nói tới quản lý và quản lý nhà
nƣớc, ngƣời ta thƣờng mới chỉ lƣu ý đến việc sử dụng pháp luật nghiêm minh, hợp lý hóa, tinh giản bộ máy tổ chức; chú ý giải quyết một cách hợp lý quan
hệ giữa trách nhiệm – quyền hạn, nghĩa vụ –quyền lợi, kỷ luật – khen
thƣởng…;đồng thời, xem việc giải quyết tốt cácvấn đềđólà động lực thúcđẩy và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc. Việc chỉ biết đến cácđộng lực cótính quy phạm, pháp lệnh “lạnh lùng” tuy có đemlạinhững hiệu quảnhất định trƣớc mắt nhƣng không phát huy đƣợc tối đa tính tích cực xã hội lâu dài
của con ngƣời, của cộng đồng và toàn xã hội… Từ sau những năm 30 của thếkỷ XX, trong khi vẫn coi trọng tính quy phạm, kỷ cƣơng, ngƣời ta bắt đầu chúý đến vấn đề con người trong quản lý [53]. Trong hệ thống cơ quan nhà nƣớc và trong hoạt động quản lý nhà nƣớc, ngƣời ta cũng chú trọng phát triển các
tổ chức xã hội. Sử dụng các tổ chức này nhƣ một kênh, một công cụ hữu hiệu đểcùngvớinhà nƣớc nâng cao hiệu quảquản lý nhà nƣớc.Nghiên cứu tiến
20
trình phát triển của quản lý nhà nƣớc ởcácnƣớc phƣơng Tây hiện đạicũng cho minh chứng rằng, vai trò của tổ chức xã hội trong quản lý có xu thế tiếp tục gia tăng và chứng kiếnsựphát triển của xã hộidân sự, xãhộicông dân
nhƣ là một trong những tất yếu khách quan trong sự vận động xã hội và quản lý xã hội, quản lý nhà nƣớc.
Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội, là phần quản lý xã hội do nhà nƣớc đảm nhận. Cũng có điều cần nhấn mạnh thêm là: quan điểm của hầu hếtcác nhà nƣớc tiến bộ, dân chủ ngày nay đều coi rằng, những công việc này là sự ủy quyền của xã hội, của ngƣời dân cho nhà nƣớc thực hiện [27]. Bởi lẽ, nhà nƣớc cũng nhƣ quyền lực nhà nƣớc vốn dĩ phải là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quản lý nhà nƣớc không chỉ vì tự thân nó mà phải trƣớc tiên và quan trọng nhất nhằm bảo đảmquyền và lợiích của nhân dân. Nhà
nƣớc sinh rađể phục vụ nhân dân. Quản lý nhànƣớcđiềuchỉnh và hƣớng hành vi của cácchủ thểtrong xã hội diễn ra phù hợp với lợi ích chung trên cơsở bảo đảm quyền lợi của ngƣời dân và cácchủthể liên quan trong xã hội.
Ở ViệtNam hiện nay, trong nghiên cứu lý luận nhà nƣớc và pháp luật, phần lớn đều xuấtpháttừkhái niệm chung của“quản lý”để lý giải các khái niệm khác có liên quan. Hiểu theo cách chung nhất, quản lý là sựtác độngđịnh hướng bấtkỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó
phát triển phù hợp với những quy luật nhấtđịnh [45, tr.105–109]. Quản lý do nhiều chủ thể khác nhau cùng tiến hành với những mục tiêu cụ thể khác nhau. Mộttrong những đặc trƣng cơbảncủa quản lý đó làsửdụng quyền lực để“bắtbuộc” đối tƣợng quản lý phục tùng nhằm mục tiêu thiết lập trật tự chung, manglạilợiích cho mộttập thể, mộtcộngđồng nhất định. Tuy nhiên, quan niệm này chƣa thểhiện hếtđƣợcmục tiêu củaquản lý nhà nƣớc. Bởilẽ,nómới chỉ dừng lại ở mục tiêu vì bản thân nhà quản lý, vì bộ máy nhà nƣớc mà
chƣa đề cập mục tiêu cao hơn của quản lý nhà nƣớc là vìngƣờidân, vìđối
tƣợng quản lý và vì xã hội. Trong xã hội văn minh, luật pháp – công cụ quản
lý nhànƣớc chủ yếu– không là công cụ để cai trị xã hội, mà phải là phƣơng tiện để bảovệ các quyền công dân, quyền con ngƣời, bảo vệ xã hội.
21
2.1.1. Mục tiêu, phạm vi, phương thức quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp
Nhƣ chúng ta đã biết, quản lý nhà nƣớc là một dạng hoạtđộng có chủý, do đó nó cũng bao gồm: ai làm? làm gì? vớiai? để làm gì? bằng cách nào?. Với cách nhìn này sẽ thấy rõ hơn những khía cạnh biểu hiện cụ thể của hoạtđộngquản lý nhà nƣớc đốivớixã hội. Đốivớihoạtđộngquản lý nhà
nƣớc nói chung có thểhiểu là: chủ thể quản lý nhà nƣớc (ai làm?)–các cơ
quan nhà nƣớc; tácđộnggì (làm gì?)– phạmvi, nội dung quản lý nhà nƣớc;
chủthể chịu sựtác động củahoạtđộng (với ai?)–khách thể của hoạtđộng quản lý là các tổ chức, cá nhân liên quan; công cụ, phƣơng tiện, cách thức tác
động (bằng cách nào?) – phƣơng thức quản lý nhà nƣớc;và để nhằm đạtmục tiêu (để làm gì?) của quản lý nhà nƣớc. Trong những nội dung này, chủ thể vàđốitƣợngquản lý nhà nƣớc là khá rõ ràng cho nên cần bàn sâu hơn là: mục tiêu, phạm vi, nội dung, phƣơng thức quản lý nhà nƣớc.
Phạm vi quản lýcủanhà nƣớclà khoảng giới hạn mà nhà nƣớcxác
định cần có sự tác độngcủa mình– tức cần sự tácđộng bằng quyền lực nhà
nƣớc [112, tr.738, 764]. Nhƣ vậy, có thể hiểu, nội dung hay phạm vi quản lýnhà nƣớc trả lời câu hỏi: nhà nước quản lý xã hội về cái gì, quản lý mặt nào, quản lý tớiđâu? Khoảng giới hạn mà nhà nƣớc quản lý chính là những quan hệ xã hội mà nhà nƣớc cho rằng cần thiết phải quản lý bằng pháp luật. Nghĩa là, phạm vi quản lý nhànƣớc chính là những quanhệxãhộimà nhànƣớc quản lý bằng pháp luật: “bất kỳ một quan hệ pháp luật cũng là quan hệ xã hội nhưng không phải bất kỳ một quan hệ xã hội nào cũng là quan hệ pháp luật.Điều này cũng chính là giới hạn của sự tác động pháp luật” [44, tr.399].
Phương thức quản lý nhà nƣớcđƣợc hiểu là những hình thức quản lýnhà nước, là hệ thống các cách mà nhà nước sử dụng để tiến hành quản lý xãhội [112, tr.103, 763, 793]. Nó trảlờicâu hỏi: Nhà nước quản lý bằng cách thức nào và phương pháp gì? Những phƣơng thức quản lý nhà nƣớc phổ biến,điểnhình có thểkểra là: phƣơng pháp hành chính, phƣơng pháp kinh tế,
22
phƣơng pháp giáo dục hoặc theo cách phân loại khác là: phƣơng pháp tác
động trực tiếp, phƣơng pháp gián tiếp… [44], [45].
Phương pháp hành chính là phƣơng thức tácđộngtrực tiếp đến đối
tƣợng quản lý thông qua những quy định nghĩa vụ mà đối tƣợng quản lý phải thực hiện. Nó có tính bắtbuộc và tính quyền lực. Tínhbắtbuộcđòihỏiđối
tƣợngquản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác độngcủa nhà nƣớc, nếu vi phạm sẽ bị xử lý. Thực chất của phƣơng pháp hành chính trong quản lý nhà
nƣớc là nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để tạo ra sự phục tùng của cácđối tƣợng quảnlý.
Việc sử dụng phƣơng pháp này cần thiếtở bấtkỳ lĩnh vực quản lý nhà
nƣớc nào. Bởivì, bấtkỳ cơ quan nhà nƣớcnào, ngƣờicó chức vụ nào cũng phải áp dụng quyền hạn đƣợc trao, theo quyđịnh pháp luật, để quản lý vàphối hợp hoạt động của các cá thể nhằm thiết lập trật tự trong quản lý. Vì vậy,
phƣơng pháp hành chính đƣợc coi là thuộc tính cơ bản của quản lý nhà nƣớc vì nó thểhiện rõ tính quyền lực nhànƣớc.Việcsửdụng phƣơng pháp nàyđúngđốitƣợng, vào giaiđoạn thích hợp, manglạihiệu quả quản lý to lớn, nhất là khi kết hợp với những phƣơng pháp quản lý khác. Tuy nhiên, phƣơng pháp này cũng có hạn chế nhất định, nên cần sử dụng một cách hợp lý.
Phương pháp kinh tế hay còn gọilà phƣơng pháp tácđộngđến lợi ích củađối tƣợng quản lý. Đó là phƣơng thức tác động gián tiếp đến hành vicủađối tƣợng quản lý thông qua việc sử dụng đòn bẩy kinh tế tácđộng đến lợi ích củađối tƣợng quản lý, kích thíchsựquan tâm củahọ đến kếtquả cuối cùng củahành vi, nhờđómà đạtđƣợc kếtquả quản lý mà nhà nƣớc mong đợi. Nhà
nƣớc thông qua cơ chế, chính sách, công cụ và biện pháp kinh tế tácđộng đến lợi ích của chính nhà nƣớc, của doanh nghiệp và của ngƣời lao động cũng nhƣmọi ngƣời dân.Sựtác động này nhằm giải quyết hài hòa lợi ích, tạođiều kiện
thúc đẩykinh tế –xã hộiphát triển. Phƣơng pháp này tạo rađiều kiện vật chất, khuyến khích vật chất nhằm hƣớng cho đối tƣợng quản lý xácđịnh đƣợc rằng, nếu thực hiện theo “sựquản lý”của nhànƣớcthìsẽ có những lợiích
23
kinh tế. Côngcụ sửdụng trong phƣơng pháp kinh tế (đòn bẩykinh tế)chủ
yếulà giá cả, tiền lƣơng, thuế, lãi suất ngân hàng, tín dụng…
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trƣờng thì phƣơng pháp kinh tế ngày càng có vai trò quan trọng và trởthành phƣơng pháp chủ yếu trong hoạtđộng quản lý nhà nƣớc hiện đại. Nó tạo sự quan tâmvậtchất thiết thân củađối tƣợng quản lý, chứa nhiều yếu tố kích thích kinh tế cho nên tácđộng rấtnhạy bén, linh hoạt, phát huy đƣợc tính chủ động, sáng tạo của ngƣờilao
động và doanh nghiệp…
Phương pháp giáo dụclà cách thức tácđộng vào nhận thức, tâm lý, tình cảm của con ngƣời thuộc đối tƣợng quản lý nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tìnhcủa họtrong việc thực hiện nghĩa vụ. Phƣơng pháp giáo dục có những hình thức: tuyên truyền, vận động, thuyết phục, định hƣớng dƣ
luận xã hội, truyền thống – văn hóa – đạo đức xã hội, phong tục, tập quán, tôn
giáo,…; thông qua các tổ chức xã hội…
Hiệu quả quản lý nhà nƣớc có tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của các dân tộc, tạo độnglực hay kìm hãmsựphát triển của xã hội. Quản lý nhà nƣớc chỉ thành công nếu nhận đƣợc sự nỗ lực và đồng thuận của xã hộivà đa số ngƣờidân. Trong xu thế hiện nay, mặc dù vai trò của nhà
nƣớc không hề giảm nhƣng sự tham gia của tổ chức dân sự, tổ chức phi chính phủ đang là mộttấtyếu. Nó đóng góp ngày càng quan trọng vào hiệu quảquản lý xã hội hiện nay. Điều này đã và đang diễn ra ở các nƣớc phát triển vàkể cả các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam.
Mộttrong những“phương thức” tác động đƣợc nhắc đến nhiều hiện nay, nhất là đối với các doanh nghiệp, đó là đòi hỏi thực hiện “trách nhiệm xãhộidoanh nghiệp”.Trách nhiệm xã hộidoanh nghiệp là những camkếtcủa doanh nghiệp đóng góp vàosựphát triển bềnvững, hợp tácvớingƣờilaođộng, gia đình, cộng đồng địa phƣơng và xã hội để cải thiện chất lƣợng cuộc sống của họ sao cho vừa có lợi cho doanh nghiệp vừa có ích cho sự phát triển [90]. Nghĩa là, ngoài trách nhiệm phải thực hiện nhƣ tuân thủ đầy đủ pháp luật thì nhà nƣớc còn “thuyết phục, yêu cầu” doanh nghiệp thực hiện tốt hơn
24
đòihỏicủa pháp luậtđốivớinhà nƣớc, ngƣờilao động, cộngđồngdân cƣ, với môi trƣờng,với xã hội và đất nƣớc.
2.1.2. Đặc điểm, yêu cầu của quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp
Hoạt động quản lý xãhội củanhà nƣớc là dạng hoạt động phức tạp. Nóthể hiện trƣớc hếtởđốitƣợngquản lý rộng lớn, bao gồmgần nhƣmọimặt
đời sống kinh tế – chính trị – xã hội…, sau đó là chịu sự tác động của nền văn hóa của từng quốc gia cũng nhƣ sự chi phối của các quyền lợi chính trị trong xã hội. Mộtyếu tố nữalàm cho quản lý xã hộingày càng trởnên phức tạp hơn đó chính là sự tác động của tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Cũng là một dạng quản lý nhà nƣớc nên quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp cũng mangđặctính của quản lý nhà nƣớc. Bên cạnhđó, lao động là lĩnh vực vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội sâu sắc. Lao động có vai trò quan trọng với sự phát triển của xã hội, là nguồn lực phục vụ cho sựphát triển của xã hội. Do vậy, việc gìn giữ,sửdụng hợp lý và cóhiệu quả nguồn nhân lực quý giá là đòihỏicấp bách trongbấtcứgiaiđoạn nào. Trên cơ sở phân tích thuộc tínhcủaquản lý nhà nƣớc, xem xét các khía cạnh chung của quản lý nhà nƣớc về lao động cho thấy, quản lý nhà nƣớc vềlao động trong doanh nghiệp mang những yếu tố vừa là yêu cầu và cũng vừa là những đặc điểm cơ bản của nó.
Mộtlà, quản lý nhànướcvềlao động trong các doanh nghiệp bao gồm nhiều nhóm nội dung khác nhau và có sự khác biệt với các dạng quản lý nhànước về lao động khác
Căn cứ tính chất quản lý thì quản lý nhà nƣớc về lao động bao gồm: (i) Những nội dung pháp lý chung phục vụ yêu cầu phát triển lực lƣợng lao động xã hội; (ii) Những nội dung nhằm tạo điều kiện để duy trì, phát triển quan hệlao động và sửdụng sức laođộng;và (iii) Những nộidung bảođảmcho sựduy trì, ổn định và làm lành mạnh môi trƣờng cho quan hệ lao động [106].
25
Tuy nhiên, nhìn mộtcách tổng quát, quản lý nhà nƣớc về lao độngcóthể quy về các nội dung cơ bản là [106, tr.127]: (i) Xây dựng pháp luậtvà tổchức, hƣớng dẫn thi hành pháp luật liên quanđếnviệc làm, thịtrƣờng laođộng, tiền lƣơng và thu nhập của ngƣời lao động, bảo hộ lao động, bảo hiểm
xã hội…;(ii) Thực hiện sựđiều hành cảởtầmvĩ mô và vi mô đốivớiquátrình quản lý laođộng;và (iii) Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình lao động.
Quan hệ lao động trong doanh nghiệp và trong cơ quan chính quyền, hộ
gia đình, hợp tácxã… đều tạo nên quan hệlao độngsong chúng có sựkhác biệtvề chủ thểvà mục đích sửdụng sức lao động. Trong quan hệ lao động trong các doanh nghiệp, ngƣời sửdụng lao động là doanh nghiệpchứkhông
phải một chủ thể nào khác: cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, chính trị – xã
hội hay cá nhân, hộ gia đình… Ngoài ra, doanh nghiệp sử dụng sức lao động chủ yếu để tiến hành kinh doanh và thông qua sức lao động của ngƣờilaođộngđể tạo ra giá trịthặng dƣ, nhằm tìm kiếmlợinhuận cho chủ sởhữu doanh nghiệp. Những đặc điểm này tạo nên nétđặcthù của quan hệ lao động và quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng sức lao động của doanh nghiệp.
Dƣớigóc độnghiên cứu lý luận quản lý nhànƣớc vềlao động trong các doanh nghiệp cần xác định ranh giới giữa hoạt động quản lý do nhà nƣớc thực hiện với các hoạtđộngquản lý do doanh nghiệp, tổ chức công đoàn, tổ chức
đại diện của ngƣời sử dụng lao động thực hiện… [106, tr.130].
Trong nềnkinh tếthịtrƣờng, quanhệ laođộng đƣợc hiểu theo nghĩa chung nhất là quan hệ giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động (quan hệ hai bên). Nó bao gồm: (i) quan hệ giữa cá nhân ngƣời lao động và cá nhân
ngƣờisửdụng lao động;và (ii) quan hệ giữa tập thể giữa tổ chức đạidiện
ngƣờilao động và tổchức đạidiệnngƣờisửdụng lao động ởcác cấp. Tuy nhiên, theo quan niệm của Tổ chức Lao độngquốc tế [90], còn có mộtcách hiểu rộng hơn vềquan hệ laođộng.Theo đó, quan hệ laođộng (theo nghĩa rộng) còn bao hàmcả“quanhệba bên” hoặc“quan hệ ba bên cộng” với sựtham gia của nhà nƣớc (có thể đạidiện là chính phủ, cơ quan quản lý laođộng, cơ quan lập pháp, hành pháp, tƣ pháp…) và các tổ chức xã hộikhác
26
(thông thƣờng là: tổ chức đại diện ngƣời lao động, tổ chức giới chủ) hay một hình thức nào đó.
Quanhệ lao độngtrong doanh nghiệp có những tính chất, đặcđiểm nhất định. Điểmđặc biệtởđâychính là “khếước” giữangƣờisửdụng laođộng (doanh nghiệp) và/hoặc tổ chức đại diện của ngƣời sử dụng lao động với
ngƣờilaođộngvà/hoặcvớiđại diệncủa ngƣờilaođộng.Với tƣ cách là một loại khế ƣớc, hợp đồng lao động mang đặc điểm chung là sự tự do, tự nguyện và bình đẳngcủa các chủ thể trong quan hệ. Song, vớitƣ cách là hình thức pháp lý của quá trình trao đổi, mua bán loại hàng hóa đặc biệt“sức lao động”, cho nên nó có đặctrƣng riêng so vớicác loại khế ƣớcdân sựkhác khi mua bán hàng hóa, dịch vụ thông thƣờng.
Dƣới gócđộ quảnlý nhà nƣớc thì hợp đồng lao động là nétđặcthù của quản lý nhà nƣớcvềlao động trong các doanh nghiệp. Quan hệlàm công
hƣởng lƣơng, quan hệ chủ thợ, thông qua hình thức hợp đồnglao động–
phƣơng thức chủ yếu củagiao kếtlao độngtrong kinh tế thịtrƣờng, dạng quan hệ phổ biến trong nền kinh tế thị trƣờng. Nó gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh và lợi nhuận doanh nghiệp. Nó khác với quan hệ lao động giữa cơquan nhà nƣớc vớiđội ngũ cán bộ, công chức, gắn với thực thi công vụ, gắn vớiquyền lực nhànƣớc.Quan hệ lao động tồntạivà đặttrong mốiquan hệquyền quản lý của ngƣời sử dụng lao động (doanh nghiệp)đốivới ngƣờilaođộng.Trong quan hệ lao động, mặcdù có thể xảyra tranh chấp, mâu thuẫn, thậm chí là mâu thuẫn đối kháng, nhƣng thông thƣờng thìngƣờilao động và
ngƣờisửdụng lao độngvẫn luôn có nhu cầu quay lạivớinhau để hàn gắn xung đột, mâu thuẫn để duy trì quan hệ lao động.
Quan hệ lao động, về tổng thể, mặc dù đƣợc thiết lập giữa ngƣờilaođộng và ngƣời sử dụng lao động nhƣng đó không còn là chuyện riêng của hai bên mà nó ảnh hƣởng tới cả vấn đề xã hội. Do đó, quan hệ lao động phải đƣợc xây dựng trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của hai bên (ngƣời lao động và ngƣời sửdụng lao động) và của nhà nƣớc, xã hội. Trong quan hệ lao động, có sự tham gia của tổ chức đạidiệnngƣờilao động, tổ chức đại diện ngƣời sử dụng lao
27
động.Quanhệlao độngvề bản chất là quanhệ dân sự, quanhệ mua bán
nhƣng nó không đơn thuần là mộtgiao dịch mua bán thông thƣờng mà liên quan chặt chẽ đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, đờisống vật chất, tinh thần và sự phát triển của con ngƣờivới tƣ cách là mục tiêu của sự
phát triển kinh tế – xã hội của bấtkỳ quốcgia, xã hội hiện đại nào ngày nay.
Hai là, quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp là nhằm bảo vệquyền lợivà hỗtrợ cho các chủthểtham gia quanhệ lao động, bảođảm lợi ích củanhà nước và xã hội.
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con ngƣời, tạo ra của cải vật chất và giá trịtinh thần của xã hội. Lao độngcó năng suất, chất lƣợng, hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của mọi quốc gia. Xuất pháttừ vịtrí, vai trò đó, quản lý nhà nƣớc về lao động trƣớc tiên phải bảo vệ quyền làm việc và các quyền lợikhác của ngƣờilao động, đồng thời bảo vệ quyền,lợiích hợp pháp của ngƣời sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ laođộngđƣợc hài hòa, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năngcủa ngƣờilaođộng, của ngƣời quản lý lao động.
Bảo vệ con ngƣời, tấtcảvì con ngƣờinói chung và đặcbiệt là ngƣời lao động, vốn đƣợc coi là lực lƣợng yếuthếtrong quan hệ laođộng với ngƣời sử dụng lao động, đã trở thành minh chứng cho sự tiến bộ của xã hội và là đặc
trƣng, nhiệm vụ xuyên suốt của chính sách, pháp luật lao động các nƣớc, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, sự bất cân đối của quan hệ cung cầu
lao độngcũng nhƣ những biến độngkhông ngừng của đờisống kinh tế–xã
hội… Mỗi sự biến động củanềnkinh tế, nhất là trong giai đoạn suy thoái vàkhủng hoảng kinh tế, ngƣờilaođộng là đốitƣợng dễ bịtổn thƣơng và gánh chịu tổn thất do mất việc làm, dẫn đến đời sống ngày càng khó khăn, nảy sinh
nhiều vấn đềkinh tế – xã hội buộc nhà nƣớc phải giải quyết.
Mặtkhác, hoạtđộng quản lý nhà nƣớc về lao độngkhông phải là để
“làm khó”, gâycản trởmà phải tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia quan hệ laođộng;không can thiệp trực tiếp vào quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp; không can thiệp trực tiếp vào quyền thƣơng lƣợng, tự định đoạt
28
củacác bên trong quan hệ lao động nhƣng cũng không đƣợc buông lỏng quản lý. Nhà nƣớcquy định hành lang pháp luật hợp lýđể cả ngƣờilao động và
ngƣờisửdụng lao độngcó thể thực hiện đƣợc;hạn chế tốiđa sựcan thiệp hành chính vào quan hệ lao động của hai bên; bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể trong quan hệ lao động;tạo điều kiện để các bên cùng nhau thƣơng
lƣợng, đạtđƣợc thỏa thuận về những điều kiện thuận lợihơn cho ngƣờilaođộngsovớiquy định pháp luật lao động, đồngthời, hƣớng dẫnhai bên xây dựng mối quan hệ lao động lành mạnh.
Ba là, quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp phải giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và các vấn đề xã hội của quốc gia.
Điều này xuất phát từ chức năng của nhà nƣớc. Bởi lẽ, ngoài chức năng kinh tế thì nhà nƣớc còn có chức năng xã hội. Do đó, bất kỳ quốc gia nào, bên cạnh mụctiêu tăng trƣởng kinh tế thì muốn hay không cũng phải giải quyết vấnđềxã hội, đặc biệt là những nƣớc phát triển nền kinh tế thịtrƣờngđịnh
hƣớng xã hội chủ nghĩa nhƣ ở Việt Nam.
Thông qua hoạtđộng quản lý nhà nƣớc về lao động nói chung, laođộng trong các doanh nghiệp nói riêng, nhànƣớc thể hiện bảnchất của mình. Trong các giaiđoạn phát triển khác nhau, nhànƣớc phải giải quyết hài hòa giữa mục tiêu tăng trƣởng kinhtế vớigiải quyết các vấn đề xã hội. Do vậy, nhà nƣớc luôn phải coi chính sách xã hộilà độnglựcđể phát triển kinh tế,
nhƣng đồng thời lại phải coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiềnđề để thực hiện các chính sách xã hội. Việc đƣa ra những bảo đảmcho ngƣờilao động, nhất là về chính sách xã hội là điều hết sức cần thiết, nhƣng phải cân nhắcmức độphù hợp theo từng thời kỳ để nâng dần từng bƣớc, có tính đến khả năng kinh tế chung của quốc gia và khả năng chi trả của ngƣời sử dụng lao động. Do đó, cần xéttớiphạm vi, biện pháp và bƣớc đinếukhôngsẽ có thể gây thiệt hại cho chính bản thân ngƣời lao động, trƣớc hết là về việc làm, và rút cục khôngđạtđƣợcmục tiêu của chính sách, không bảo vệđƣợcngƣờilaođộng trong thực tế. Ảnh hƣởng của nhà nƣớc và hệ thống chính sách, pháp luậtvề lao
29
động có thể tạo ra sự bình ổn hoặc bấtổn trong quan hệ laođộng – xã hội vàcó thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quan hệ này phát triển [106, tr.271].
ỞViệt Nam, yêu cầu này xuất pháttừchính mụctiêu,động lựcphát
triển kinh tế – xã hội của nƣớc ta là:
Kếthợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vicảnƣớc, ởtừng lĩnh vực, địa phƣơng; thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội ngay trong từngbƣớc và từng chính sách phát triển, thực hiện tốtcác chính sách xã hộitrên cơsởphát triển kinh tế, gắn quyềnlợivà nghĩa vụ,cống hiến và hƣởng thụ, tạo
độnglực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế –xãhội. Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc [33, tr.101].
Nét đặc trƣng của “địnhhướng xã hộichủnghĩa” trong phát triển nền kinh tếthịtrƣờng ởViệt Nam hiện nay đƣợc Đảng Cộng sảnViệt Nam xácđịnh là: (i) Sự phát triển phải lấy “con người làm trung tâm”, phải vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh”, “Thực hiện tiến bộvà công bằng xã hộingay trong từng bước và từng chính sách phát
triển…”;(ii) Có sựcan thiệp, quản lý chặtchẽcủa Nhà nƣớc, đềcao vai tròđiều tiết của nhà nƣớc (trong đó các doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc sử dụng làmộtcông cụ quan trọng) bên cạnh vai trò điều tiếtcủa thị trƣờng tựdo; (iii) Phát huy quyền làmchủxã hộicủa nhân dân, bảo đảmvai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa dƣới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam [33, tr.77–78].
Bốn là, quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp có quan hệ mậtthiết với quyền quản lý của doanh nghiệp, sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động, người sử dụng lao động
Quản lý lao động trong các doanh nghiệp do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện với những mục đích khác nhau. Hoạt động quản lý nhà nƣớc về laođộng trong các doanh nghiệp là hoạtđộngquản lý có những ƣu thế vƣợt trội củanó. Tuy nhiên, nhà nƣớc cũng cần xem xétđến tính hiệu quả và vai trò
30
củacác thiếtchế tự quảncủa ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động. Nó làmộtkênh quản lý quan trọng, mang lại hiệu quả quản lý tốtnếunhànƣớc tạo cơ sở pháp lý phù hợp. Ví dụ, ngƣời sử dụng lao động quản lý lao động theo cách của mình nhằm khai thác có hiệuquảnhất cho mình nguồn nhân lực màhọ đã bỏtiền ra thuê; tổ chức đại diện của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng laođộng tham gia quá trình quản lý lao động thông qua việc góp ý kiến, thể hiệný chí, nguyện vọngvớinhà nƣớc trong quá trình xây dựng pháp luật. Trong thực tiễn tổ chức và hoạtđộng của các doanh nghiệp, cũng có thể tồn tại những hình thức tự quản khác nhau.
Đặc biệt, sự tham gia mạnh mẽ củatổ chức đại diệnngƣời lao động và
ngƣờisử dụng lao động trong hoạt động quản lý nhànƣớc hiệnnay đã đƣợc thừa nhận rộng rãi. Tôn trọng vai trò và tăng cƣờng sự tham gia của tổ chứcđại diện ngƣờilao động, tổ chức đại diện ngƣời sử dụnglao động trong hoạtđộng quản lý nhà nƣớc về lao động cũng đã đƣợc Tổ chức Lao độngquốc tếkhuyến khích các quốc gia thực hiện. Trong Điều lệ của mình và cụ thể là tại Công ƣớc số 150 về quản lý lao động: vai trò, chức năng và tổ chức, Tổ chức Lao động quốc tế khẳng định rằng:
Thừa nhận sự cần thiết tôn trọng đầy đủ quyền tự quản của các tổchức của ngƣời sử dụng lao động và của ngƣời lao động (…) xét rằng cáctổchức củangƣờilaođộng và của ngƣờisửdụng laođộngcó vai trò thiết yếu trong việcđạttớicác mục tiêu về tiến bộkinh tế, xã hội và văn hóa.
Từ những phân tích nêu trên, có thể quan niệm: Quản lý nhà nướcvềlao động trong các doanh nghiệp là hoạt động quyền lực nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước và chủ yếu sửdụng pháp luật, tác động địnhhướng lên ngườilao động, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan nhằmđiều chỉnh vàhướng hành vi của các chủ thể này diễn ra phù hợp với lợi ích chung trên cơsở bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động.
31
2.2. Vai trò quản lý nhà nước về laođộngtrong các doanh nghiệp
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam


