Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam

Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế thị trƣờng là một trong những thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sửphát triển của văn minh nhân loại. Trong nền kinh tế thịtrƣờng, sựhiện diện của các quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật lƣu thông tiềntệ làmột điều tất yếu. Có cạnh tranh đƣơng nhiên có đào thải và doanh nghiệp nào khôngđápứngđƣợcnhữngđòihỏinghiệt ngã củaquy luật cạnh tranh trên

thƣơng trƣờng, doanh nghiệp đósẽbị đào thải. Cơ chếđàothải những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh toán các khoảnnợ đến hạn,đồngthời phòng ngừa, khắc phục nhữnghậuquả và rủiro mà những doanh nghiệp này gây ra là cơ chế phá sản. Cơ chế phá sảnđòihỏisựcan thiệp rất mềmdẻo, linh hoạt của Nhà nƣớc phùhợpvớinhững yêucầuthực tiễn kinh doanhđặtra. Luật Phá sảnđƣợc Quốc hộinƣớc Cộng hoà xã hộichủnghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực thi hànhkể từngày 15/10/2004 thaythếcho Luật Phá sảndoanh nghiệp năm 1993. Tiếp thu có chọn lọc pháp luật về phá sản của một số nƣớc trên thế giới, LPS, trong đó có các quy định về quản lý và xử lý TSPSđã cónhững sửa đổi, bổ sung cơ bản nhằm khắc phục những hạn chế của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, có nhiều nội dung phù hợp với yêucầucủa thực tiễn, ghi nhận thêm những cơ chế, chính sách mới nhằmtạođiềukiện cho việc giải quyết phá sản

đƣợc tiến hành nhanh chóng, thuận lợi, công bằng, đạt hiệu quả cao hơn. LPS ra đời đã cơ bản giải quyếtđƣợc những vấnđề đặt ra trong thực tế là tạo môi

trƣờng kinh doanh và động lực mới cho phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, do LPSđƣợc ban hành trongđiềukiệnnƣớc ta đang trong quá trình xây dựngnềnkinhtế hàng hoá nhiều thành phầnvậnhành theo cơchế thịtrƣờng cósựquản lý của nhà nƣớc và theođịnhhƣớngxã hộichủnghĩa, hệ thống pháp luậtcủanƣớc ta vẫncòn chƣa đồngbộ,mặtkhác hiện

1

tƣợng phá sản còn khá mới mẻ, nên việc đƣa LPSđặc biệtlà những quy định về quản lý và xửlý tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sảnvào thực tiễn còngặpnhiều khó khăn. Tình hìnhđóxuất pháttừnhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là về mặtpháp lý. Mặc dù, LPS cómột bƣớc tiếnđáng kể về mặtlập pháp, song hiện nay còn thiếu những văn bảnhƣớngdẫn thi hành, nhất là các quyđịnh về quản lý và xử lý tàisảncủa doanh nghiệp phá sản;mặtkhác, vẫncònmộtsốquyđịnhcủa các văn bản pháp luật có liên quan chƣa đồng bộ, chƣa phù hợp.

Thực tiễn cho thấy, hiệu quả của LPS chƣa phát huy đƣợc bao nhiêu, sốviệc đƣợc giảiquyết không nhiều: Năm 2005 toàn ngành Toà án thụ lý 11 vụ, năm 2004 chuyển qua 3 vụ, nhƣng chỉ giải quyếtđƣợc 01 vụ, đạt7,14%; năm 2006 thụ lý 40 vụ, 13 vụ chuyển từ năm 2005 sang và đã giải quyếtđƣợc 16 vụđạttỷlệ 30,2%; năm 2007thụlý 175 vụ, trongđó:trảlạiđơn01 vụ, quyếtđịnhkhôngmở thủtục phá sản10vụvà 164vụđãra quyếtđịnhmở thủtục phá sản, trong đó: 28 vụ tuyên bố phá sản trong trƣờng hợp đặc biệt, 10 vụ ra quyết định đình chỉ, 75 vụ ra quyết định thanh lý tàisảnvà còn 51 vụ chuyển sang năm 2008. Thực trạngđó do việc ban hành các vănbảnhƣớngdẫnthi hành LPS còn chậmdẫn đến cản trở tiến độ giải quyếtcủa Toà án các cấp. Đặc biệt việc thực thi các quyđịnhvề quản lý và xửlý tàisảncủadoanh nghiệp phá sản hiện nay ở nƣớc ta còn đang gặprấtnhiều khó khăn, vƣớng mắc, chƣa

tạođiều kiệnthuậnlợicho việc rút lui “một cách cótrật tự” của doanh nghiệp ra khỏi thƣơng trƣờng.

Mặtkhác, cũng nhƣ nhiềuđạoluật khác ra đờicùng thời điểm, LPS là luật phục vụmục tiêuhộinhập và phát triển. Song, nhiềunộidung của luật,đặc biệt là những quyđịnhliên quanđếnviệc quản lý và xửlý tàisảncủa doanh nghiệp phá sảnchƣa thể hiện mạnhmẽ tinh thầnhộinhập quốc tế vànhu cầu phát triển nội tại của nền kinh tế Việt Nam.

2

Chính vì vậy, việc sớm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện những quy định của LPS và việc ban hành các văn bảnhƣớng dẫnthi hành vàđặc biệtlà các quy định về quản lý và xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản đã trở thành một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễnđối vớinền kinh tế nƣớc ta hiện nay. Để thực hiệnđƣợcnhiệmvụnày, cầnphải có những nghiên cứu kỹ hơn về các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn của việc quản lý và xử lý tài sảncủa doanh nghiệp phá sản, đặt chúng trong mối quan hệ với các quy định khác của pháp luật phá sản, đồng thời đề ra các kiến giải cầnthiết để LPS nói chung và các quyđịnhvề quản lý và xửlý tàisảncủa doanh nghiệp phá sản hoàn thiện hơn và sớm phát huy đƣợc hiệu lực trong thực tế. Đó cũng là lý do tôi chọn vấn đề:“Quản lý vàxử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam ” làm đề tàiluận án tiến sĩ.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích, nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án là phân tích và luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và xử lý TSPS, thực trạng pháp luật về nó, nêu lênđƣợc xu hƣớngđiều chỉnh của chế định pháp luật về quản lý và xử lý TSPS, đƣa ra đánh giá vàchỉra nhữngđề xuất, kiến nghịvề những phƣơnghƣớngvà giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về quản lý và xử lý tài sản phá sản trong thủ tục phásảndoanh nghiệp, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ một cách tốt nhất quyền, lợi ích hợp phápcủa chủ nợ,ngƣờilao động và những chủ thể khác có liên quan đến quá trình giải quyết các vụ việc phá sản ở nƣớc ta.

Để thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:

– Giải quyếtmộtsốvấnđề lý luận cơ bảncủaviệc quản lý và xửlýTSPS, trong đó đi sâu phân tích khái niệm TSPS trên cơ sở phân biệt với khái

5

niệm tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; phân tích khái niệm và đặctrƣng của việc quản lý và xử lý TSPS cũng nhƣ làm rõ lý do tại sao cần phải quản lý và xửlý TSPS,đồngthời nêu lên những nét cơbảntrong mối quan hệ giữa quản lý TSPS và xử lý TSPS.

Nhằm cóđƣợcnhững kinh nghiệm tốt cho việc hoàn thiện pháp luậtvề quản lý và xử lý TSPS ở Việt Nam trong thời gian tới luận án đã nghiên cứu vềkinh nghiệm trong việc quản lý và xử lý TSPSở một số nƣớc trênthế giới nhƣ

Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Cộng hoà Liên bang Nga, ThuỵĐiển…Từkinh nghiệm của các nƣớc, Luận án chỉ ra những nguyên tắc và cách thức cơ bảnđểxác địnhphạm vi khối TSPS cũng nhƣ xác địnhcác nghĩa vụvề tàisảncủa

doanh nghiệp, vấn đề thứ tự phân chia TSPS…

– Làm sáng tỏ những quy định của LPS và pháp luật liên quan về quản lývà xửlý tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Luận án cũng phân tích rõ vai trò, thẩm quyền của các chủ thể tham gia quản lý và xử lý tài sảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam. Những biện pháp bảo toàn tài sảnvớitƣ cách là những nội dungmớicơ bảncủa LPS cũngđƣợc phân tíchmộtcách khá chi tiếttại

Chƣơng 2 của luận án. Vấn đề thủ tục xử lý các khoản nợ và việc phân chia tài sảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo quy định của pháp luật của Việt Namđƣợc đề cậpkhá chi tiết trong luận án và đócũng là mộtnội dung cơ bảnnhằm giúp cho các chủthể quản lý và thanh lý TSPS tiến hành thuận lợi, đồng thời xác định đƣợc các bƣớc tiến hành xử lý các khoản nợ của doanh nghiệp phá sản.

– Luận án có nhiệm vụ phân tích và đánh giá tình hình áp dụng pháp luật về quản lý và xửlý TSPSở Việt Nam trong thời gian qua, đồngthời nhấn mạnh những khó khăn, vƣớngmắc mà các chủthể thƣờnggặpphải khi áp dụng cơ chế quản lý và xử lý TSPS trong thực tiễn hiện nay, phân tích những nguyên nhân làmhạnchế hiệu lực những quy định của pháp luậtvề quảnlý vàxử lý TSPS.

6

– Đƣa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về quản lý và xử lý TSPS ở Việt Nam, trong đó có những kiến giải về hoàn thiện hệ thống pháp luật phá sản nói chung, pháp luật về quản lý và xửlý TSPS nói riêng và những giải pháp về tổ chức thực hiện những quy định của pháp luậtvề quảnlý và xửlý TSPSđápứngyêucầucủa việc giải quyết phásảnở nƣớc ta trong thời gian tới.

4. Phạm vi nghiên cứu củađề tài

Đề tài luận ánchủyếutậptrung nghiêncứumộtsốvấnđề lý luậnvềTSPS và quản lý, xử lý TSPS, phân tích thực trạng của pháp luật Việt Namvềnhữngvấnđề pháp lý có liên quanđếnkhái niệm TSPS theohƣớng-đólàtoàn bộ những tài sản có và tài sản nợ của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phásảntừthờiđiểmToà án thụ lý đơn yêucầu mở thủ tục phá sản đến thờiđiểm Toà án ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản hoặc quyết định tuyên bố phá sản Quản lý và xử lý TSPS là một chế định pháp luật quan trọng trong luật

phá sản, bao gồm nhiều nội dung và trình tự phức tạp, đồng thời việc quản lývà xử lý TSPS có thể đƣợc tiến hành ở những giaiđoạnkhác nhau trong toàn bộ quá trình giải quyết phá sản. Tuy nhiên, quan trọng nhất là hoạt động quản lý và xử lý TSPS trong giai đoạn thanh lý tài sản. Với mục đích nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận án giớihạntậptrung vào nghiên cứu những vấn đề chung nhất về TSPS nhƣ: khái niệm, nguyên tắc xác định khối TSPS, những đặc điểm của quản lý và xử lý TSPS cũng nhƣ mục đích của việc quản lý, xử lý TSPS vàmối quan hệ giữa quản lý và xử lý TSPS. Do đặc điểm và nội dung của các quyđịnh về vấnđề quản lý, xử lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phásảntheo pháp luật phá sảnở Việt Nam, luận ánchỉnghiêncứumộtsốkhía cạnh pháp lý của quản lý, xửlý tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và nghiên cứu những quy định về thủ tục quản lý và xử lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trong giai đoạn thanh lý tài sản, đồng

7

thờibƣớcđầuđối chiếuvới thực tiễn điều chỉnh pháp luật về quản lý và xử lýtài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.

Tác giả của luận án ý thức đƣợc rằng trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ luật học, không cóđiềukiện và không thể luận giảimọikhía cạnh và

phƣơng diện về lý luận và thực tiễn của vấnđề quản lý và xử lýTSPSở nƣớc ta. Vì vậy, nhữngvấnđề khác nhƣ: việc quản lý và xửlý tàisảncủa doanh nghiệp trong quá trình phục hồi hoạtđộngkinh doanh và trong các giaiđoạn khác của thủ tục phá sản; vấn đề quản lý và xử lý tài sản của các doanh nghiệp lâm vào tình trạngđặc biệt nhƣ: doanh nghiệp hoạtđộngtrong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, dịch vụ công cộng, hay trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng,

bảo hiểm… là những vấnđề đặc thù và phức tạpcần phải đƣợc tiếp tục nghiên cứu, luận giải một cách chuyên biệt ở các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý sau này.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài

Luận ánđƣợc thực hiện trên cơsở vậndụng những quanđiểmcơ bản của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nƣớc theođịnh hƣớng xã hội chủ nghĩa.

Luận án vận dụng những phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy

vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, áp dụng vào tình hình cụ thể của nƣớc ta.

Các phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống trong khoa học pháp lý cũng

đƣợcđặc biệt chúý sửdụng trong luận án nhƣ: phƣơng pháp phân tích, tổng hợp các kiến thức từ pháp luật thực định và phân tích thực tiễn để nhận thức vàđánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật và thực thi pháp luật; phƣơng pháp so sánh luật học, phƣơng phápđốichiếu, diễn giải, quy nạp, lịch sử, xã hộihọc pháp luật… để giải quyết những vấn đề cơ bản của luận án.

Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam
Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam

6. Các kết quả mớiđạt đƣợc củaluận án

Hiện nay, tuy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu luật phá sản với tƣ cáchlà một đạo luậtnhƣng thƣờng tập trung nghiên cứu một cách khái quát về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Đề tài:“Quảnlý vàxử lý TSPS theo quyđịnhcủapháp luật phásảnViệt Nam” nghiên cứu một vấn đề mang tính cụ thể, vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết yêucầumởthủtục phá sản, đólà vấnđề quản lý và xửlý TSPS

dƣớigóc độquyđịnhpháp luậtvề phá sảnở Việt Nam. Trong khi LPS vànhững quyđịnhvề quảnlývà xửlý TSPSđã có hiệu lực nhƣng đangcầncónhững kiến giải nhằm hoàn thiện và phát huy hơn nữa hiệu lực trên thực tế, hy vọng những kiến giải của tác giả sẽ đƣợc các nhà làm luật tham khảo. Nhữngđiểmmới của luận án là:

– Lầnđầutiên nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận vàthực tiễn về TSPS, về quản lý và xử lý TSPS.

– Phân tích những nội dung của pháp luật về quản lý và xử lý TSPSđồng thời chỉ ra một số quy định bất cập trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam và những hạn chế, vƣớng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định về quản lý và xử lý TSPS.

– Đƣa ra mộtsốđề xuất, kiến nghịvề phƣơnghƣớngvà giải phápsửađổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật Việt namvề quảnlý, xử lýTSPS nhằm phát huy liệu lực của những quy định đó.

Tác giả luận án hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao ý thức pháp luật về một vấn đề khá mớivà rấtcụthể là việc quản lý và xử lý TSPS trongđiều kiện vậnhành nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, với những ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, luận án còn là tài liệu cần thiết cho nhữngngƣờinghiên cứu, học tậpvà đặc biệt nhữngngƣờilàm công tác thực tiễn liên quan tới vấn đề phá sản doanh nghiệp và các chủ thể có thẩm quyền quản lý và xử lý TSPS trong đó đặc biệt là các nhà doanh nghiệp.

9

7. Kết cấu của luận án

Ngoàilờinóiđầu, kếtluận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án đƣợc kết cấu với 3 Chƣơng:

Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý và xử lý tài sản phá sản

Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về quản lý, xử lý tài sản phá sản và thực tiễn áp dụng

Chƣơng 3: Phƣơnghƣớngvà giải pháp hoàn thiện các quyđịnhcủa pháp luật về quản lý và xử lý tài sản phá sản

10

Chƣơng 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝVÀ

XỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

1.1. KHÁI NIỆM VỀ TÀI SẢN PHÁ SẢN 1.1.1. Khái niệm tài sản

a. Tài sản và sản nghiệp

Trong đời sống kinh tế – xã hội, tài sản đƣợc coi là điềukiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và trong đời sống xã hội. Trải qua các giaiđoạnlịchsửkhác nhau của xã hộiloài ngƣời, “vật” đƣợc xem là tài sảncó thể là nô lệ, làđấtđai, là các sản phẩm của tƣ tƣởng, trí tuệ… là phảnánhsựphát triển văn minh của nhân loại. Do đó, khái niệm tàisảnđã hình thành từ hàng ngàn năm và pháp luật về tài sản đƣợc xây dựng dựa trên những

tậpquán, lối suy nghĩ và hành động khác nhau và vì thế xuất hiện những khái niệm về tài sản từ những khía cạnh nhất định.

Dƣớigóc độ kinh tế, tàisảnđƣợchiểu là vật có giá thị trƣờng hay giá trịtrao đổi và là bộ phận cấu thành của cải hay sở hữu của con ngƣời. Trong kinh tế học, ngƣời ta thƣờng phân biệt giữa tài sản hiện vật hay tàisản hữuhình nhƣnhà xƣởng, máy móc, đất đai, hàng hoá phục vụ cho sản xuất hàng hoá và phục vụtrực tiếp cho tiêu dùng; và tàisảntài chính nhƣ tiền, trái phiếu,cổphiếu. Tàisảntài chính là những chứng phiếu biểu thị quyềnđƣợcnhận thu nhập hay giá trịcủa ngƣờikhác [56, tr.483]. Trong ngônngữthông thƣờng, tàisảnlàmộtvậtđƣợcconngƣờisửdụng, mộtvậtcụthể, nhận biếtđƣợc bằng giác quan tiếp xúc. Trong chừng mực nào đó, ta nói rằng tất cả các tàisảnđều hữu

hình hoặc đều có thể đƣợc hữu hình hoá…

Về phƣơng diện pháp lý, tàisảnlà của cảiđƣợc conngƣờisửdụng. “Của cải” về phần mình, là một khái niệm luôn biến đổi và tự hoàn thiện, theo sự hoàn thiện của quan niệm về giá trịvậtchất. Ở thời kỳ La Mã, thuật ngữ của

cảikhiến ngƣời ta liên tƣởng đến ruộng đất, gia súc, nô lệ, mùa màng… Trong xã hộihiệnđại, chúng ta còn có những của cảiđặc biệt nhƣ sóng vô tuyến,

11

năng lƣợng hạt nhân… [31, tr.5]. Dẫu sao, của cải hayvậtchỉ có thể là tài sản nếu chúng có thể đƣợc sở hữu, tức là chúng có thể thuộc về một chủ thể nào đó của quan hệ pháp luật. Bên cạnh khái niệm tài sản, pháp luật các nƣớc thƣờng có sự phân biệt giữa khái niệm tài sản và khái niệm sản nghiệp.

Sảnnghiệp trong tiếng la tinh là patrimonies,vớitƣ cách là mộtphạm trù kỹ thuật của khoa học luật, đƣợc hiểu nhƣ là một tập hợp các tài sản có vàtài sản nợ, là một tổng thể các quan hệ pháp luật về tài sản chứ không chỉ đơn giản là một bộ sƣu tập đồ vật[128, 129]; bấtkỳ yếutố nào của tài sản nợ cũngđềuđƣợc bảođảmbằng toànbộtàisảncó;bấtkỳyếutốnào của tàisảncócũng đều có thể đƣợc dùng để thanh toán toàn bộ tài sản nợ. Theo đó, tài sản nợ là tậphợptấtcả những tàisảnthuộc về mộtchủsở hữu(hoặc đƣợc dành cho việc thực hiện một mục đích nào đó) nói cách khác, tài sản nợ là tậphợp

tấtcảnhững quyềnvề tàisảncó cùngmộtchủthể(hoặc đƣợcxác lậptrong khuôn khổ thực hiện một mục đích nào đó). Các quyền tài sản tồn tại một cáchđộc lậpvớisự tồn tạicủa các quyền đó: tài sản có thể đƣợc mua, bán, đƣợcsử

dụng, hao mòn và biến mất, nhƣng sản nghiệp vẫn đƣợc duy trì… Tài sản nợthuộc sản nghiệp là tất cả các nghĩa vụ tài sản của một ngƣời (hoặc đƣợc xác lậpnhằmđạt tới một mục đíchnào đó).

Nhƣ vậy, sản nghiệp là những gì còn lại của khối tài sản có sau khi trừđi giá trịcủa các nghĩa vụtài sản: ta có khái niệm tàisảncó ròng của sản nghiệp. Khi giá trị của tài sản có ròng của sản nghiệp đƣợc thể hiện bằng một con số dƣơng, điều đó nghĩa là sản nghiệp có khả năng thanh toán; nếu giá trịtài sản có ròng của sảnnghiệp đƣợc thể hiện bằng con số âm, ta nói rằng sản nghiệp không có khả năng thanh toán. Nhƣng dù có khả năng thanh toán hay không sản nghiệp vẫn luôn tồn tại [31, tr.8].

b. Khái niệm tàisảnvàsảnnghiệp theo pháp luậtcủamộtsốnướcvàViệt Nam

Bộluật Dânsựcủa Pháp, mộtcông trình phápđiểnhoá hiệnđạiđầu tiên trên thế giới đã không đƣa ra một định nghĩa cụ thể về tài sản. Căn cứ vào

12

pháp luật La Mã – Đức, tài sản gồm hai loại là bất động sản và động sản. Trongđó, bấtđộngsảnđƣợc chia thànhbấtđộngsảndo tính chất, bấtđộngsảndo mục đích sử dụng và bất động sản do có đối tƣợng gắn liền với tài sản; và động sảnbao gồm động sản do tính chất, động sản do luật quy định. Ngoài ra, theo Bộluật này, tàisản gồmvật, các quyền và các tố quyền nhằmđòi lạitài sản. Mặtkhác, trongBộluật Dânsựcủa Pháp cósựphân biệt giữa tàisảnvà sản nghiệp, nhƣng khái niệmsảnnghiệp khôngđƣợc đề cậptrong pháp luật thựcđịnh mà chỉ đƣợc nhắc tới trong các học thuyết, theo đó sản nghiệp là tập hợp các tài sản có và tài sản nợ, nghĩa là sản nghiệp là hệ thống các quan hệ về tài sảnthuộc mộtaiđó[24]. Tƣtƣởngchủđạocủa các học thuyết này là sản nghiệp luôn gắn liền với con ngƣời, nghĩa là bất kỳ ngƣời nào cũng có một vàchỉmộtsảnnghiệp,sảnnghiệp không thể chuyển nhƣợng lúc ngƣờicó sản nghiệp sống, sản nghiệp không thể phân chia, và mọi sản nghiệp đều có ngƣờiđứng đầu – pháp nhân hoặc cá nhân.

Bộluật Dânsựcủa Đức năm 1990 bằngmộtkỹthuật phápđiểnhoákhác với mô hình ở Pháp, đã tách những vấn đề pháp lý chung nhất của Luật dân sự để tập hợp trong Phần Chung (quyển I) gồm 240 điều trong đó có một

chƣơng về “vật”, tiếp đó Bộ luậtnày có quyển III về Luật Tài sản quy định chi tiết các vật quyền, Bộ luật cũng không có định nghĩa tài sản, nhƣng ngƣời ta cóthể hiểu tàisảntheo nghĩa pháp lý không chỉ là vật chất liệu mà chủ yếu là các quyền.

Các luật gia Hoa Kỳcho rằng, tàisảnlà các quyền giữa ngƣờicó liên quantớivật, hay nói cách khác, baogồmmộthệ thống các quyềnđƣợc thừa nhậnvề mặtpháp lý do ai đó thủ đắc trong mối liên hệ với những ngƣời khác mà liên quan tới vật. Khác với quan niệmvề sảnnghiệp của Pháp, các luật gia Hoa Kỳ cho rằng sản nghiệp luôn gắn liền với một mục đích nào đó chứ không phảivới một ngƣờinàođó, sảnnghiệp là một tậphợpcác tàisảncó và tài sản nợ tồn tại vì một mục đích nhất định. Song cũng nhƣ sản nghiệp trong luật của Pháp, tập hợp tài sản này là một thực thể độc lập với các yếu tố cấu thành tập hợp đó, các yếu tố này có thể thayđổi mà không ảnh hƣởng đến sự tồn tại của

13

tậphợp. Theo nghĩa này, mộtngƣờicó thể có nhiềusảnnghiệp và mộtsản

nghiệp có thể gắnvớilợiích của nhiềungƣời… Mộttrong những vídụđiển hình cho việc cụthểhoá quanđiểmnày trong pháp luật của Hoa Kỳlà chếđịnhsảnnghiệpuỷthác, chế địnhnàyđặc trƣng bằng việc ngƣờicó tài sản giaomộtphần hoặc toànbộtàisảnthuộc quyềnsở hữucủa mình chomột

ngƣời khác và ngƣời này camkếtquản lý, sửdụng và định đoạttàisảnđƣợc

uỷ thác vào đúng mục đích do ngƣời chuyển giao ấn định…

ỞViệt Nam, khái niệm tàisảncũngđƣợc hiểu theo quan niệm thông

thƣờng và phƣơng diện pháp lý. Tàisảnhiểu theo nghĩa thông thƣờng là của cảivậtchất dùng vào mục đíchsảnxuất hoặc tiêu dùng [114, tr.97]. Trên

phƣơng diện pháp lý, tài sản đƣợc hiểu theo nghĩa rộng dƣới nhiều dạng thức khác nhau, Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2005 của Việt Nam đã quy định tàisảntrong quanhệpháp luật dânsựbao gồm:“vật, tiền, giấytờ có giá vàcác quyền tài sản”.

Nhƣ vậy, theođịnhnghĩa trên, tàisảnđƣợc hiểu trƣớc hếtlà“vật”, làđối tƣợng của thế giới vậtchất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, thực vật, vật với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái. Cụm từ “vật có thực” theo quy định của Bộluật Dânsựnăm 1995đã đƣợc sửa đổithành“vật”. Việc bỏcụmtừ“cóthực”làm cho khái niệm“vật” đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn: baogồmvậtđang có và vậtsẽ đƣợc hình thành trong tƣơng lai. Trên thực tế có nhiềuvậtđang đƣợc hình thành nhƣng đã là đối tƣợng của giao dịch. Ví dụ: công trìnhđang đƣợc xây dựng, tàu thuyền đang đóng… Quy định nhƣ vậy phù hợp hơn,đáp ứng đƣợc nhu cầu về giao dịch dân sự trong nền kinh tế thị trƣờng. Trong quá trình hoạt động, các vật này có thể tham gia vào các giao dịch kinh doanh,

thƣơng mại và doanh nghiệp có thể chiếmhữu, sử dụng, định đoạtđƣợc vật đónhằm phục vụcho nhucầukinh doanh. Cùngvớisựphát triển của khoa học công nghệ, khái niệmvậttrong khoa học pháp lý cũngđƣợcmở rộng hơn, chẳng hạn phần mềm máy tính cũng đƣợc coi là vật.

Ngoài ra, khái niệm tàisảncòn baogồm“tiền”. Dƣớigóc độkinhtếhọc, tiềnđƣợc hiểu là giá trịđạidiện cho giá trịthực hàng hoá và là phƣơng

14

tiện lƣu thông trong giao dịch dân sự. Với giá trị nhƣ vậy, tiền đƣợc xác định là tài sản đặc biệt, tiền giữ một vai trò rất quan trọng và đƣợc coi là một tài sản quý giá của xã hội. Bên cạnh ý nghĩa về mặt kinh tế, xét về mặt pháp lý, tiền còn có tƣ cáchđạidiện cho chủ quyền của mỗi quốc gia, mỗi chế độ nhà nƣớc, bởivì chính nhà nƣớc là ngƣờibảođảmsựcân bằng giữa tiền và trịgiá của vật. Với tƣ cách đại diện cho chủ quyền quốc gia, ngƣời có tiền (chủ sở hữu) không thể có toàn quyền định đoạt, mà phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của nhà nƣớc [122, tr.68]. Chính vì vậy,bấtkỳmộtquốc gia nào cũng cónhững biện phápđể thực hiệnchủquyền quốc gia thông qua việc phát hành tiền.

“Giấy tờ cógiá” cũng đƣợc coi là một loại tài sản, tuy nhiên không phải mọi giấy tờ có giá đều đƣợc coi là tài sản mà phải đápứng đƣợc yêucầulà cóthể trở thành đối tƣợng của giao dịch dân sự khi vẫn còn trong thời hạn đƣợc

lƣu thông. Giấytờ có giá phải cómộtmệnh giá nhấtđịnhnhƣ:cổphiếu, trái phiếu, tín phiếu, công trái, séc, thƣơng phiếu, giấyuỷnhiệm chi… Nhƣ vậy, tiền và giấy tờ có giá đều đƣợc xác định là những loại tài sản có tính chấtđặc biệt, nhƣng mỗi loại tàisảnđó có những đặc điểmpháp lý riêng. So sánh với tiền, giấytờ có giá là phƣơng tiện thanh toán tiệnlợivà có hiệu quả hơn nên ngày càngđƣợc sửdụng rộng rãi, nhất là trongđiềukiệnnềnkinhtế thị

trƣờng.

Tài sản còn bao gồm “các quyền tài sản”. Quyền tài sảnđƣợc hiểutheoĐiều182 Bộ luật Dân sự năm 2005 là “quyền trị giá đƣợc bằng tiền và cóthểchuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trítuệ”. Quyềntàisản

trƣớc hết là quyền sở hữu, ngoài ra còn có các quyền liên quan đến tài sản hoặc

đƣợc hƣởng lợi từ tài sản(quyềnhƣởng lợi tức của cổphiếu, lãi suất tiết kiệm

của sổtiết kiệm, quyềnđòinợ…), quyềnhƣởnglợitừthành quả sáng tạo (quyền hƣởng nhuận bút của tác giả, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quyền nhận thù lao của chủ văn bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích;

15

chủ của giấy chứng nhận kiểu dáng công nghiệp…), những quyền tài sản phát

sinhtừhợpđồng… Ngoài ra, mộtquyền tàisảnmang tính tính chấtđặc thùtrong pháp luật Việt Nam so với pháp luật dân sự của nƣớc khác, đó là quyền sử dụng đất hợppháp. Quyềnsử dụngđất cũng đƣợc coi là tài sản, vì nó bao hàm các quyền chuyểnđổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, thế chấp, thừa kế, góp

vốn… Tuy nhiên, không nhƣ các quyền tài sản khác, đất là loại tàisản đặc biệt thuộc sở hữu nhà nƣớc, do đó, quyền này chỉ trở thành đối tƣợng của giao dịch dânsựtrong trƣờnghợpnhấtđịnhvà trong phạm vi mà pháp luật quy định. Tóm lại, quyền tàisảnlà các quyềngắnliềnvớitàisảnvà khi thực hiện các quyền đó, lợi ích vật chất sẽ phát sinh đối với chủ sở hữu.

Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, quan niệmvề tàisảntrong pháp luật hiện hành của Việt Nam tƣơng đối mở rộng, phạm vi tàisảnkhông hạn chế, chúng bao gồm toàn bộ các tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu tiêu dùng trong xã hội. Một số

nƣớc trên thế giớichỉcoi tàisảnlà nhữngvậtcụthể, thuộc thếgiới vật chất, chiếmmộtkhoảng không gian nhấtđịnh.Tuy nhiên, khái niệm tàisảntrong Bộ luậtDân sự năm 2005 mang tính liệt kê nên rất có thể là không đầyđủ hoặc không theo kịp sự phát triển của khoa học và đời sống. Do đó, cần phải có quyđịnh về khái niệm tài sản theo quan điểm mở và không giới hạn, nó luôn đƣợc bổ sung bởi những giá trị mới mà con ngƣời nhận thức đƣợc.

Về khái niệm sản nghiệp, pháp luật Việt Nam từ thời kỳ luậtcổvà tục lệđếnthờikỳluậtcậnđạivà luật hiệnđạiđềukhông xây dựng khái niệm sản nghiệp. Tuy nhiên, từgiaiđoạncuối những năm 1980, vớichủtrƣơng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, quyền tự do kinh doanh của công dân đƣợc thừa nhận, tôn trọng và khuyến khích trong khuôn khổ pháp luật, vìvậy, các giao dịch dân sự nói chung và giao dịch trong hoạt động kinh doanh,

thƣơng mại thời kỳ này phát triển mạnh làm phát sinh các quyền và nghĩa vụtài sản. Song, nghĩa vụ tàisảncủa một ngƣờiđƣợcbảo đảmthực hiện nhƣ thếnào? Chính thông qua việctrảlờicâuhỏiđó, sẽxác địnhnộidung của tƣ

16

tƣởng chủ đạo, đặt cơ sở cho lý thuyếtvề sảnnghiệp ra đời. Cho đến nay, mặc dù pháp luật Việt Nam chƣa có vănbảnnào ghi nhận những quy tắc về sản nghiệp (tƣ), song từ những quy định liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài sảntrong những trƣờng hợp đặc thù, cho thấy các nhà làm luật Việt Nam hiệnđạiđã nỗ lực trong việc xây dựng lý thuyếtvề sảnnghiệp trên cơ sở vận dụng có chọn lọc những thành tựu của các hệ thống pháp luật tiến tiến và kế thừa cósáng tạo tinh thần của luật học cổ điển Việt Nam. Chẳng hạn: khi đề cậpđến việc quản lý tài sản của ngƣời vắng mặttạinơi cƣ trú, khoản 3 Điều 76 Bộ luật Dânsựnăm 2005 ghi nhậnngƣờiquản lý tàisảncó trách nhiệm thực hiện nghĩa vụcấpdƣỡng, thanh toán các khoảnnợ đếnhạncủa ngƣờivắng mặt bằng tàisản của ngƣờiđó theo quyết định của Toà án. Ngoài ra, theo Điều 130 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì thành viênhợpdanh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toànbộtàisảncủa mìnhvề các nghĩa vụcủa công ty; hayĐiều141 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quyđịnhchủdoanh nghiệp tƣ nhân chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tàisảnphát sinh trong quá trình hoạt

độngcủa doanh nghiệp bằng toànbộtàisảncủa mình… Từnhững quyđịnhđó,cóthểghi nhậnýchícủacác nhà làm luật Việt nam trong việc định hình khái niệmsảnnghiệpvề mặtnguyên tắc, theo đó, các tài sản của một ngƣời tạo thành một tập hợp và tập hợp này là vật bảođảmcho việc thực hiện nghĩa vụtài sản của ngƣời đó. Tóm lại, sản nghiệp trước hết là cái mà chủ nợ có thể yêu cầu kê biên [31, tr.22].

1.1.2. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Việc xác định khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

là mộttrong nhiềuvấnđề mấuchốt của luật phá sản. Tùy vàođiềukiện phát triển kinh tế – xã hội, truyền thống pháp luật khác nhau mà luật phá sản của các

nƣớc trên thế giới xác định khái niệm này có đặc điểm không giống nhau.

LPS của Việt Nam đã ghi nhận khái niệm“tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản”. Quy định này đã tránh đƣợc việc xác định tài sản một

17

cáchtảnmạn, khôngđầyđủtrong quyđịnhcủa Luật Phá sảndoanh nghiệp năm 1993 đồng thời lại khác với cách thể hiện trong Luật Phá sảncủa một số

nƣớc trên thế giới. Theo lô-gíc, tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sảnlà tàisảncóđƣợc từthờiđiểmToà án ra quyếtđịnhmởthủtục phásản, bởivìtừthờiđiểmđódoanh nghiệpmớiđƣợc coi là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, về mặtpháp lý, tạiĐiều49 LPS thì khái niệm nàylạiđƣợc xác định ở một thờiđiểm sớm hơn nhằmhạnchế khả năng tẩután tàisảncủa connợ trong khoảng thời giantừthờiđiểmToà ánthụlýđơn đến thờiđiểmToà án ra quyết định mở thủ tục phá sản, đồng thời làm cho khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đƣợc xác định ở diện rộng hơn về mặt thời gian. Điều 49 LPS quy định: “Tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản gồm:

– Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

– Các khoảnlợinhuận, các tàisảnvà các quyềnvề tàisảnmà doanh nghiệp sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụlý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

– Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp. Trường hợpthanh toán tàisảnlàvậtbảođảmđược trảcho các chủ nợcóbảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thìphần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp;

– Giátrịquyềnsử dụngđấtcủadoanh nghiệpđược xác địnhtheo quyđịnh của pháp luật về đất đai.

Đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh lâm vào tình trạng phásản, Luật cũng quy định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản còn bao gồm cả tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc tài sản của thành viênhợpdanh không trực tiếp dùng vào hoạtđộngkinh doanh. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh có tài sản thuộc sở hữu chung

18

thì phần tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh đó được chia theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật cóliên quan”. Nhƣ vậy, so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, LPSđã cónhững quyđịnhtƣơngđốirõ ràng và chi tiết trong việc xác địnhtàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.

Trƣớc hết, LPS xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phásảngồm tài sản, quyền về tài sản có tại doanh nghiệp vào thời điểm Toà ánthụlý đơn yêucầumở thủ tục phá sản. Trong khi Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 xác địnhthờiđiểmmuộn hơn – thờiđiểmToà ánmởthủtục giải quyết phá sản. Với cách xác định đó, phạm vi tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo LPS đƣợc mở rộng hơn và vì thế chắc chắn, khối tài sản đó sẽ đa dạng hơn so với quy định trƣớc đây. Quy định này nhằm hạn chế những hành vitẩután haycấtgiấu tàisảncủaconnợ trong khoảng thời giantừkhi thụlýđơn đếnkhi ra quyếtđịnhmở thủtục phá sản, nhằm thực hiệntốthơn các mục tiêu của luật phá sản.

Bên cạnhđó, LPSbổsung việc xác địnhcác khoảnlợinhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp sẽ có do việc thực hiện các giao dịchđược xáclậptrước khi Toà ánthụlý đơnyêucầumởthủtục phá sản cũng thuộc phạm vi khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. LPS cũng đề cập một cách chi tiếtvềtàisản là vật bảo đảmthực hiện nghĩa vụcủa doanh nghiệp, quyđịnhcách thức xửlýđốivớitàisảntrong trƣờng hợp thanh toán tài sản là vậtbảo đảmđƣợc trảcho các chủ nợ có bảođảm, nếu giátrị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp. Sự mở rộng này nhằm làm cho khái niệm tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sảnđƣợc mởrộng hơn về phạm vi và đa dạng hơn về chủng loại.

LPS còn ghi nhận giá trị quyềnsử dụng đấtcủa doanh nghiệpđƣợc xácđịnhtheo quyđịnhcủa pháp luậtvề đấtđai. Đâylà mộtloại quyềnđặc biệt, chịu sự điều chỉnh khác biệt so với các quyền dân sự, kinh tế thông thƣờng khác.

19

Tóm lại, khái niệm tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản về cơ bảnđƣợc quyđịnhtạiĐiều49 LPSvớinhữngnộidung cơ bảnlà phùhợp, cách phân loại tài sản nàytránh đƣợc sự tảnmạn, vụn vặt và không đầyđủtrong cách phân loại theo Luật Phá sảndoanh nghiệp năm 1993 và so với các quy định của các nƣớc trên thế giới, LPS đã có những sự tƣơng đồng khácơ bảntrong việc xác địnhkhối tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, bên cạnh nét tiếnbộ đó, cách quyđịnhvề tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo LPS vẫn chƣa hợp lý, chƣa đầyđủ và ảnh hƣởng xấuđến quyềnvà lợi ích hợp pháp của con nợ bị phá sản, cần phải khắc phục. Cụ thể là:

Việc xác địnhkhối tàisảncủa doanh nghiệp trong pháp luật Việt Nam vẫn theo hƣớng liệt kê về các loại hình tài sản nêu trên trong chừng mực nhấtđịnh cóthể giúp các cơ quan tố tụng cũng nhƣ các bên có liên quan đánh giácụthể về tình hình tàisảnthực tế của doanh nghiệp. Nhƣng trên thực tế việc liệt kê đó sẽ khó bao hàmđƣợctính toànvẹncủa khối tàisản. Điềunàysẽ dẫnđếnhậuquả là cònmộtsốloại tàisảnkhác chƣa đƣợcđƣavào tàisảncủa doanh nghiệp mắc nợ, khi đó căncứđể tính toán, kiểm soát và tiến hành phân bổ tài sản sẽ gặp không ít khó khăn, nhất là trong điều kiện cơcấutài sản của doanh nghiệp và môi trƣờng kinh doanh đang ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp. Những tài sản sau đây chƣa đƣợc xác định: tàisảnđƣợc thu hồi từ các giao dịch không công bằng; tài sản và quyền tàisảncó đƣợc do chủ doanh nghiệp

tƣ nhân hoặc thành viên hợp danh trong công ty hợp danh đƣợc thừa kế; tài sản

có đƣợc sau ngàymở thủ tục phá sản…

Mặtkhác, việc liệt kê “tàisảnvà quyền tàisản”là chƣa chính xác vàkhôngcầnthiếtbởivì, trongnộihàm của khái niệm tàisảnmàĐiều163Bộluật Dân sự năm 2005 đã ghi nhận: tàisảnbao gồm cả quyền tài sản, Điều 182 Bộluật Dân sự năm 2005 và mục 1.1.1 của luận án đã phân tích về loại tài sản

20

này. Vì vậy, theo tôi, LPS chỉ cần quy định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bao gồm các loại tài sảnlà đủ, bỏ cụm từ“quyềntài sản”. Ngoài ra, việc xác định tàisản củadoanh nghiệp trong LPS của Việt Nam chƣa có quy định về tài sản được miễntrừra khỏi khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Đâycũng là nguyên nhândẫnđếnkhông ít khó khăn cho việc đánh giá hiện trạng tài sản của doanh nghiệp để tiến hành phân chia thoả đáng.

1.1.3. Khái niệm và phạm vi khối tài sản phá sản a. Tài sản phá sản là gì?

Việc xác địnhkhái niệm và phạm vi khối TSPS cóýnghĩarấtquan trọng, một mặt, nó là căncứđể xác định một doanh nghiệp có bị lâm vào tình trạng phá sản chƣa và tình trạng nợ của doanh nghiệp đó ra sao. Mặt khác, xácđịnh phạmvi khối TSPS chi phối việc lựa chọn thủ tục tố tụng phù hợp, đánh giá sự cần thiết áp dụng các biện pháp bảo toàn, quản lý tài sản có lợi nhất cho chủ nợ và doanh nghiệpmắc nợ. Bởivì, khi Toà án xác định đƣợc rằng, tài sản của con nợ không còn hoặc còn nhƣng không đáng kể thì Toà án có thể tuyên bố ngay con nợ bị phá sản và chấm dứt vụ việc mà không cần phải tiến hành bấtcứmột thủ tục pháp lý nào khác. Ngoài ra, việc xác định một cách đầyđủ phạm vi của khối TSPS sẽ góp phần tốt hơn vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các chủnợ cũng nhƣ của chính các doanh nghiệp mắc nợ. Tuy nhiên, trong thực tế, công việc này hoàn toàn không dễ dàng, đặc biệt là trongđiềukiệnhệ thống pháp luật chƣa hoàn thiện; chế độkế toán, thống kê còn

chƣa đầy đủ; sự công khai, minh bạch về tài chính doanh nghiệp còn chƣa thực hiện tốt. Vì vậy, luật pháp các nƣớc thƣờng quan tâm và giải quyếtvấn đề này một cách khá rõ ràng và cụ thể, tuy có sự khác nhau. Pháp luật phá sản của một số nƣớc trên thế giới và LPS của Việt Nam không trực tiếp quy định khái niệm TSPS. Nhƣng theo cách hiểu chung, phù hợp với tính thống nhất của pháp luật

21

thì khái niệm“tàisản” trong pháp luật phá sản cũng phải thống nhất với khái niệm tàisảntrongBộluật Dân sự. Vì vậy, trên cơsở vậndụng có chọn lọc những thành tựu của các hệ thống luật tiên tiến trên thế giới, kếthợp vớiviệc nghiên cứu những quyđịnhvề thủtụcgiải quyết phá sảnvà phân tích khái niệm tàisảncủadoanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, tác giả luận án cóthể đƣa ra khái niệm TSPS nhƣ sau:

TSPS là khối sản nghiệp của doanh nghiệp, bao gồm toàn bộ những tài sản có và tài sản nợ của doanh nghiệptừ thời điểmToà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đếnthời điểmToà án ra quyết định hoàn tất việc giải quyết vụphá sản.

Về mặtlý thuyết, hai khái niệm TSPS và tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không có nhiều khác biệt. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, dođiều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nƣớc mà pháp luật phá sản các nƣớc có những cách tiếpcậnkhác nhau về nội hàm của những khái niệm này. Đa số các nƣớc pháp luậtsửdụng hai khái niệm nàymộtcách không phân biệt,

nhƣng một số nƣớc, pháp luật lại có sự phân biệt hai khái niệm này. LPS của Việt Nam mặc dù không trực tiếpsửdụng khái niệm này, nhƣng trong nhiều quy định của LPS đã thể hiệnđƣợc phầnnào phạm vi của khối TSPS.

Khi nghiên cứu và so sánh khái niệm tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với khái niệm TSPS, có thể thấy, phạm vi của khối TSPS cónội hàm rộng hơn so với khái niệm tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Vì theo cách định nghĩa trên, thì trong nội hàm của khái niệm TSPS khôngchỉbaogồmnhững tàisảncó mà còngồmcả những tàisảnnợcủa doanh nghiệp. Bản thân phạm vi tàisảncó của doanh nghiệp trong khái niệm TSPS cũng rộng hơn, nó không chỉ gồm những tài sảnđƣợc liệtkê trong phạm vi khái niệm“tàisản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản”, mà tài sản có của doanh nghiệp còn gồm một số loại tài sản khác nhƣ:

22

Tàisảnphát sinh trong quá trình doanh nghiệp thực hiệnthủtục phục hồi hoạt động kinh doanh. Đâylà loại tàisảnquan trọng và nhiều khi là rất lớn (nếu thực tế doanh nghiệp thực hiện phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả), bởi vì sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, pháp luật phá sản cho phép doanh nghiệp vẫn đƣợc tồn tại và hoạt động dƣới sự giám sát của Toà án và thiết chế quản lý tài sản; mặt khác, nếuđƣợc các chủ nợ đồng ývà trên cơ sở quyếtđịnhcủa Thẩm phán, doanh nghiệp mắc nợ sẽ thực hiện các thủtục phục hồihoạtđộngkinh doanh trongmộtthời gian nhấtđịnh (chẳng hạn 03 năm theo quy định tại Điều 74 LPS của Việt Nam). Do đó, trong quá trình này doanh nghiệp có thể có những khoản thutừlợinhuận, từviệc chuyển nhƣợng vốn,từcổphần và các khoản thu khác, tấtcảđềuđƣợc tính vào TSPS.

Tài sản có của doanh nghiệp còn bao gồm những tài sản phát sinh trong giai đoạn thanh lý tài sản, bởi vì, theo quy định của pháp luật phá sản các nƣớc cũng nhƣ pháp luật phá sản Việt Nam, trong giai đoạn này trêncơ sở đề nghịcủa chủ thể quản lý tài sản, Toà án có thể ra quyết định cho phép con nợ thực hiện một số hoạt động cần thiết làm tăng thêm khối tài sản của doanh nghiệp;

Ngoài ra, tài sản có trong khối TSPS còn bao gồm cả những tài sản thu hồi đƣợc từ các giao dịch vô hiệu do doanh nghiệp thực hiện trong khoảng thời gian nhất định (tuỳ theo pháp luật mỗi nƣớc, Điều 43 LPS của Việt Nam quyđịnh khoảng thời gian này là 03 tháng) trƣớc ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Tóm lại, khái niệm tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theoĐiều49 LPS hẹphơn,chỉgồmnhững tàisảncó mà khôngđềcậpđến những tài sản nợ nhƣ trong phạm vi khối TSPS,đồng thờiphạm vi của khối tài sảncó vẫn bị giới hạn ở một số loạitài sản. Nhƣ vậy, khái niệm TSPS mà tác giảluận án nêu là ngoại diên và khái niệm tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là nội hàm của ngoại diênđó.

23

b. Nguyên tắc và cách thức xác định khối tài sản phá sản

Việc xây dựng các nguyêntắcvà cách thức nhằm xác địnhkhối TSPS luôn là vấnđề đƣợc phápluật các nƣớc quan tâm hàng đầu, nhìn chung, việc xây dựng các nguyên tắc, cách thức này trong pháp luật các nƣớc có chung một yêu cầu là làm saođể xác định đƣợc một cáchchính xác, toàn diện và đầyđủkhối TSPS. Thông thƣờng, những nguyên tắc chung xác địnhkhối TSPS

đƣợc pháp luật các nƣớc nƣớc áp dụng là: Việc xác địnhkhối tàisảncăncứvào thờiđiểmcụthểtrong quá trình giải quyết phá sản.Về vấnđề này, trên thế giới có hai khuynh hƣớng: khuynh hƣớng thứ nhất giới hạn khối TSPSchỉ

đƣợc thừa nhậnđếnthờiđiểmmở thủtục giải quyết phá sản(Nhật Bản); khuynh hƣớng khác lại xác định khối tài sản không chỉ tính đến thờiđiểmmởthủ tục phá sản mà kể cả khối tài sản phát sinh trong quá trình giải quyết phá

sản(Nga, Trung Quốc, Đức…); việc xác định khối TSPS có tính đến phạm vi

không gian mà những tài sản của doanh nghiệp đang tồn tại – nguyên tắc hiệu lực theo lãnh thổ. Luật Phá sản của hầu hết các quốc gia không giới hạn hoặc không quy định nguyên tắc đối vớivấnđề này, tuy nhiên, một số nƣớc chỉ thừa nhận tài sản hiện đang nằm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó mà không tínhđến tài sản của doanh nghiệp hiệnở nƣớcngoài (chẳng hạn Luật Phá sản của Nhật Bản); việc xác định tài sản căn cứ vào loại hình tài sản hoặc nguồn hình thành tài sản. Ví dụ, ở Mỹcoi TSPS là tài sản hiện có của doanh nghiệp phảnánh trên sổ sách kế toán tại thời điểm mở thủ tục phá sản, tài sản thu hồi đƣợc

từ việc xiết nợ. Trong Luật Phá sản của Đức lại xác định tàisảndựa trên loại hình tài sản đƣợc phân loại là bất động sản hay động sản, tài sản hữu hình hay vô hình, LuậtMấtkhả năng thanh toánnợ của cộng hoà Liên Bang Nga lại quan tâmđếnthuộc tínhsở hữucủa tàisảntrongcấutrúc tàisảncủadoanh nghiệp; phầnlớnluật phásảncủacác nước đềucósự xácđịnhcụthể nhóm những tài sản loại trừ, nghĩa là ghi nhận những tàisảnkhông tính vào TSPS, các dạng tài sản thuộc diện loại trừ có thể căn cứ vào không gian mà tài sản tồn

24

tạivà thờiđiểmphát sinh tàisảnnhƣ trƣờnghợpcủa NhậtBảnhoặc căncứvào giá trị tài sản, mục đích, công dụng của tài sản theo Luật Phá sản Hoa Kỳ, Đức hay theo Luật Phá sảncủa Nga, Trung Quốc lạicăncứvào tính chấtsởhữu tài sản.

Ngoài những nguyên tắc chungđƣợc ghi nhận, pháp luật phásảncủa các nƣớc có những quy định đặc thù về nguyêntắcvà cách thức xác định khối TSPS nhƣ sau:

Luật Mất khả năng thanh toán nợ của Cộng hoà Liên bang Nga đã quyđịnh rõvề việc định giá phần tàisảncó của ngƣờimắc nợ và xác định mức nợcủa ngƣời mắc nợ nhƣ sau:

1. Tấtcảcác tài sản (phần có) của ngƣờimắc nợ thể hiệntrong bảng cânđối kế toán hoặc các tài liệu kế toán thay thế là cơ sở để xác định TSPS. Trong TSPS còn bao gồm các đối tƣợng thuộc lĩnh vực công cộng xã hội nằm trong bảng cânđốicủa ngƣờimắc nợ, trừquỹnhà ở, các trƣờngmẫugiáo và các công trìnhsảnxuất và hạtầng quan trọngđốivớiđờisống của khu vực, cần

đƣợc đƣa vào bảng cânđốicủa các cơ quantựquảnở địaphƣơng hoặc cơquan quyền lực nhà nƣớc hữu quan, nếu pháp luật của Liên bang Nga không cóquy định khác.

2. Trong quá trình thanh lý tài sản, nhân viên thanh lý tài sản, vớisựgiúp đỡ của các giám định viên đƣợc trƣng cầu, tiến hành kiểm kê và định giátài sản (phần có) của ngƣời mắc nợ và nghĩa vụ (phần nợ) của ngƣời mắc nợ…

3. Việc địnhgiá tàisản(phần có) của ngƣờimắc nợ cấuthành TSPS

đƣợc tiến hành theo trình tự do pháp luật Liên bang Nga quy định.

4. TSPS không bao gồm tài sản (phần có) là vật bảo đảm.

5. TSPS không baogồmtàisảnkhông thuộc quyềnsở hữucủa ngƣời mắc nợ, trong đó có tài sản do ngƣời mắc nợ thuê; tài sản mà ngƣờimắc nợ cótrách nhiệmbảoquản; tài sản riêng của công nhân viên doanh nghiệp mắc nợ, trừtàisảnmà theo quyđịnhcủa pháp luật hoặc điềulệdoanh nghiệp cóthể

25

đƣợc thu hồiđể thựchiện nghĩa vụcủa ngƣờimắc nợ.” Tạiphầnđầuvề giải thích nhữngtừngữ, LuậtMấtkhả năng thanh toán của Liên bang Nga cũng xác định: Tài sản có là tàisảncủa doanh nghiệp bao gồm tàisảncố định, các tài sản thuộc quyền chiếm hữu lâu dài (kể cả vốn phi tài sản), tài sản lƣu động và các nguồn tài chính khác; các khoảnnợ là các nghĩa vụ(trừ tàisảnthuộc quyền sở hữu và các nguồn tài chính khác) của doanh nghiệp đƣợc hình thành từviệc vayđể mua sắmkể cả các khoản vay tín dụng; TSPS là tàisảncủa

ngƣời mắc nợ mà có thể bị thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản [50, tr.25].

Trong Luật Phá sản của Nhật Bản, phạm vi của khối TSPS bao gồm tất cả các tài sản còn lại của con nợ. Khối tài sản này gồm tài sản của con nợ vàquyền phủ nhận về tài sản. “Bất kỳ tài sản nào và tất cả những tài sản do bên bịphá sản giữ tại thời điểm tuyên bố phá sản” đều thuộc khối TSPS (Điều 6, Luật Phá sảncủa Nhật Bản). Tuy nhiên, Luật Phá sảncủa NhậtBảnlạiquyđịnh những tài sản có đƣợc sau khi tuyên bố phá sản thì không đƣợc tính vào khối tàisảncủa doanh nghiệp mà đƣợc xếpvào loại tàisảnmở rộngvớilý do là:

nếu đƣa vào loại tài sản phát sinh này sẽ tạo ra sự phức tạp cũng nhƣ khó khăn trong tính toán và đồng thời cũng tạo ra tính không công bằng trong việc xácđịnh quyền và trách nhiệm của các bên có liên quan đến khối tài sản đó. Đặc biệt, Luật Phá sảncủa NhậtBảncòn quyđịnh:Những tàisảnnàoởngoài phạm vi lãnh thổ Nhật Bản không đƣợc coi là một bộ phận của khối TSPS. Bởi vì họ quan niệm khối tài sản này khó có khả năng giám sát, đánh giá, thu hồi.

Pháp luật phá sảncủa NhậtBảnlạicó quanđiểmđộc đáoriêng: coi những tàisảnconnợ cóđƣợc trong giaiđoạngiữa thờiđiểmđơnyêu cầu tuyên bố phá sảnđốivớicon nợ và ngày ban hành quyết định giải quyết đơn thuộc về khối TSPS, còn tài sản con nợ có đƣợc sau khi bắt đầuvụkiện phải

đƣợc miễntrừkhỏi khối TSPS với ý nghĩa nhằm cung cấp cho con nợ một sựkhởiđầu mới.

26

Cũng trong pháp luật phá sản của Nhật Bản, khối TSPS bao gồm tài sản của connợ tạithờiđiểmtuyênbốphásảnlà đốitƣợngcủathủtục tƣ pháp. Những tài sản mà ngƣời đƣợc uỷ thác thu hồi đƣợc thông qua quyền phủ nhận cũng thuộc về khối TSPS. Quyềnchủsởhữucũng làmộtloại tàisảnthuộc khối TSPS. Tàisảnnày không nhất thiết phải nhìn thấyđƣợc và không nhất thiết phải đƣợc thể hiện trên sổ sách hoặc tài khoản của con nợ. Tàisản cầmcốcũng là một tài sản trong khối TSPS [52] và [58].

Trong Luật Phá sản của Hoa Kỳ ghi nhận “TSPS là khối sản nghiệp của doanh nghiệp” (Điều 401), theo đó, tàisảnTSPS bao gồm:

1.Tấtcảsố tài sản của con nợ (bao gồm quyền và nghĩa vụ tài sản) màkhông đƣợc miễn trừ tại thờiđiểm bắt đầu vụphá sản đó.

2. TSPS còn bao gồm những tài sản mà con nợ có đƣợc trong vòng 180 ngày sau khi vụ ánbắtđầu bằng việcthừa kế những lợi ích từ chính sách bảo hiểm và bất kỳ một lợi ích nào đối với tài sản có đƣợc sau khi vụ án bắt đầu;

3. TSPS cũng bao gồm những tài sản do Tín thác viên thu hồi đƣợc theo thẩm quyền do luật định trong các trƣờng hợp sau:

– Quy định xiết nợ (đại diện cho chủ nợ): Tín thác viên có quyềnxiết nợđốivớicác connợ của doanh nghiệp mà khôngcầnsựđồngýcủa connợ – khoản 544a;

– Các tài sản có đƣợc từ những giao dịch ƣu tiên trả nợ bị vô hiệu: Tín thác viên có quyền thu hồi bất kỳ một sự chuyển nhƣợng, thanh toán bằng bất kỳ tài sản nào của con nợ trƣớc ngày phá sản nhằm bảo toàn tài sản của doanh nghiệp và bảođảmsựphân chia công bằng khối tàisảnnày (trừ những giao dịch mà pháp luật thừa nhận theo khoản 574);

– Các tàisảncóđƣợc do Tín thác viênđã thực hiện việc xiếtnợ ngƣời khác đối với tài sản của doanh nghiệp mà ngƣời tín thác này đang quản lý [112].

Pháp luật phá sản của Hoa Kỳ còn quy định TSPS bao gồm cả những tài sảncó đƣợc trong vòng 180 ngày kể từ ngày có đơn khởi kiện do thừa kế qua chúc thƣ, đƣợc chia, đƣợc thừa kế; là kết quả của một phán quyết về hôn nhân;

27

giải quyếtvụviệc đốivớingƣờihôn phối; hay theomộthợpđồngbảohiểm hoặc những thoả thuận tƣơng tự [112].

Trong InsO của Đức cũng có cách xác định về TSPS theo hƣớng toàn bộtài sản mà con nợ có đƣợc vào thời điểm Toà án ra quyết định thụ lý và những tài sản con nợ có thêm đƣợc từ thời điểm thụ lý đƣợc gọi là khối TSPS. Nƣớc này thừa nhận những tàisảncầmcốcủacácchủnợcóbảođảmcũng thuộc khối TSPS. InsO cũng quy định những tài sản thuộc diện loại trừ ra khỏi khối TSPS:

– Những tài sản không thuộc phạm vi tài sảnbị cƣỡng bức tịchthu (các quyền liên quan đến cá nhân nhƣ sức lao động); các tài sản nhất định theo quyđịnh của Luật tố tụng Dân sự và Luật Gia đình thì không thuộc khối TSPS;

– Các tài sản của con nợ nằm ở nƣớc ngoài là thuộc phạm vi khối TSPS;

-“Tài sản loạitrừ” là tàisảncủa chủnợ đang cho connợ sử dụngmàkhông thuộc về khối TSPS và phải hoàn trả lại cho chủ nợ; “tài sản tách ra” làcác khoảnnợ có đảmbảo.

Ngoài ra, trong InSo không cósựphân biệt các khái niệm“tàisảncủa doanh nghiệp mắc nợ” và “tài sản còn lại của doanh nghiệp mắc nợ”.

Tóm lại, việc xác định phạmvi khối TSPS có ý nghĩa quan trọngđƣợc pháp luật các nƣớc quan tâm và ghi nhận một cách khá chi tiết vì nó không chỉảnh hƣởng đến quyềnlợi tối đa của các chủ nợ và của các bên có liên quan mà còn có ý nghĩa lớn trong việc quyết định phƣơng hƣớng giải quyết một vụ việc phá sản cụ thể.

ỞViệt Nam, LPS không quyđịnhvềnguyên tắc, cách thức xác định TSPS mà chỉ quy định theo hƣớng liệt kê các loại tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đồng thời quy định những nghĩa vụ về tài sản mà doanh nghiệp phải thực hiện (tàisảnnợ của doanh nghiệp). Do vậy, luận án đƣa ra mộtsốnguyên tắc đểxác địnhphạm vi khối TSPS, theo đó, nguyên tắc này vừa phải xácđịnhtàisảncó vừa xác địnhtàisảnnợ của doanh nghiệp,đồng thời phải tính đến những tài sản loại trừ. Những nguyên tắc này đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở nghiên cứu về những nguyên tắc xác định khối TSPS của pháp

28

luật của các nƣớc trênthếgiới và kếthợpvớinhững quyđịnhcủa LPSvềphạm vi khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng nhƣ từkháiniệm vềTSPS nêu trên. Cụ thể là:

+ Phạm vi khối TSPS được xác định căn cứ vào thời điểm xác định khối tài sản. Theo đó, về nguyên tắc chung, phạm vi khối TSPS không chỉ là những tàisảnđƣợcthừa nhậntừthời điểmthụ lý đơn yêucầumở thủ tục phá sản mà còn bao gồm cả những tài sản phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản, đặc biệt là tài sản có thể tạo ra trong quá trình tiến hành thủ tục thanh lý tài sản, vídụ:tàisảnvà quyền tàisảncóđƣợc sau ngàymở thủtục phá sảnvì thông

thƣờng, theo qui định của Luật Phá sản của các nƣớc và Điều 30 LPS, sau khi mở thủ tục phá sản, hoạt động kinh doanh của con nợ vẫnđƣợc tiếnhành một cách bình thƣờng. Vì vậy, việc con nợ có thêm tàisảnsau ngàybắt đầu mở thủtục phá sảnlà điềuhoàn toàn cóthể xảyra. Do đó, việc đƣa tài sản mà con nợcó đƣợc sau ngày mở thủ tục phá sản vào TSPS là rất cần thiết nhƣ tài sản tăng lên trong quá trình thanh lý tài sản. Thậm chí, trong một số trƣờng hợp, TSPS còn baogồmnhững khoảnlợinhuận, các tàisảnmà doanh nghiệpsẽ có do việc thực hiện các giao dịchđƣợc xác lậptrước thờiđiểmToà ánthụlý đơn yêucầumở thủtục phá sảnnếucác giao dịchđóbịcoi là vô hiệu theo quyđịnh tại Điều 43 LPS.

Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trọng việc khẳng định những tài sảncủa doanh nghiệp phá sản xuất hiện sau ngày Toà án tuyên bố phá sản (cóthể là một khoản nợ trƣớc đây doanh nghiệp không đòi đƣợc, nay các con nợtựnguyện trả hoặc những tàisảnmớiđƣợc phát hiện do trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp mắc nợcó hành vitẩután…) sẽ khôngđƣợctính vào phạm vi khối TSPS, trừ trƣờng hợp tài sản của chủ doanh nghiệp hoặc các thành viên của những doanh nghiệp chịu trách nhiệm vôhạnxuất hiện sau ngày tuyên bố phá sản vẫn phải dùng để trả những món nợ còn thiếu theo quyđịnh củaluật phá sản.

+ Việc xác định TSPS phải tính đến loại hình tài sản hoặc nguồn tài sản. LPSđã phân loại tàisảncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sảnthành:

29

tài sản và các quyền về tài sản, quyền sử dụng đất; hoặc tài sản của chủ doanh nghiệp tƣ nhân, tài sản của thành viên hợp danh của công tyhợpdanh không trực tiếp đƣa vào hoạt động kinh doanh, tuy việc xác định đó chƣa đầy đủ… Do vậy, khi xác địnhphạm vi khối TSPS cũngcầnkế thừa và mở rộng việc áp dụng nguyên tắc này bởi vì, việc phân loại TSPS nhƣ vậy có ý nghĩa lớn trong việc áp dụng các quy định của pháp luật liên quan để điều chỉnh việc quản lývàxửlý tàisảnđómộtcách phù hợp, nhất là những tàisảnđặc biệt, chẳng hạn: Tàisảnlà quyềnsở hữutrí tuệ sẽ áp dụng những quyđịnhcủa LuậtSởhữu trí tuệ, hay tài sản là quyềnsử dụng đấtluật cho phép áp dụng những quyđịnhriêng của pháp luậtvề đấtđai; tàisảncủa chủdoanh nghiệp tƣ nhân vàthành viên hợp danh của công ty hợp danh trong trƣờng hợp có tàisảnthuộc sởhữu chung thì phần tài sản đó đƣợc xử lý theo quy định của Bộ luật Dânsự vàcác vănbảnpháp luật khác có liên quan nhƣ Luật Doanh nghiệp, Luật Hôn nhân và gia đình…

Mộtvấnđề cầnbàn khi áp dụng nguyên tắc này là những tàisảnlàquyền về tài sản nhƣ: tên thương hiệu, quyềnvềtài sản được hình thành trong tương lai có đƣợc tính vào khối tàisảncủa doanh nghiệp phá sản hay không? Tôi cho rằng, đốivớitàisảnlà tên thƣơng hiệu, không nên tính vào phạm vi khối TSPS, vì khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bình thƣờng thì đây làmột quyền tài sản quan trọng và đối với nhiều doanh nghiệp đó là tài sản rất cógiá trị, nhƣng khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì loại tài sản này hầu nhƣ không còn giá trị.

Vềquyền về tài sản đƣợc hình thành trong tƣơng lai, một trong các quanđiểmkhi xây dựng Bộ luật Dân sự năm 2005 là tài sản là động sản và bất động sảnhình thành trong tƣơng lai đƣợc dùng làm để bảo đảm, trong khi đó, theoĐiều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giávà các quyền tàisản. Từđó, có thể áp dụng tƣơng tự các quyđịnhnàyđể trả

lờicho câu hỏi nêu trên, cụ thể là các quyền tài sản hình thành trong tƣơng lai cũng cóthểđƣợc tính vào khối tàisảncủa doanh nghiệp phá sản, tiêu biểu

30

trong thực tế là quyền thuhồinợ từcác hợpđồngthuê baođiệnthoại. Tuy nhiên, vấn đề này cần phải quy định rõ hơn trong pháp luật hiện hành.

+ Việc xác định khối TSPS phải tính đến phạm vi không gian mà tài sản của doanh nghiệp đang tồn tại.

Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các quan hệ kinh tế,

thƣơngmạigiữa Việt Nam và các nƣớc đang phát triển, Việt Namđã đƣợc công nhận là thành viên chính thức của Tổchức Thƣơngmạithế giới. Bên cạnhđó,vớichính sách thu hútvốnđầutƣnƣớcngoài, Việt Nam đang làđiểmđến của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, những doanh nghiệp cóvốn đầu tƣ

nƣớc ngoàivớitƣ cách là các công ty đa quốc gia – hoạtđộngkinh doanhởViệt Nam cũng khá phong phú về hình thức và quy mô. Mặtkhác, trên thực tế, sốlƣợnsg các doanh nghiệp Việt Namđã và đang có xuhƣớngđầutƣ ra

nƣớc ngoài ngày càng gia tăng, giả sử những doanh nghiệp này phá sản mà cómột khối lƣợng tài sản không nhỏ ở nƣớc ngoài thì sẽ xử lý ra saođối với khối tàisảnđó?Hiện nay, vấnđề nàycòn đangbịngỏbỏ vàlà mộtthiếu sót lớn của hệ thống pháp luật phá sảnở nƣớc ta hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu quy định loại tàisảnnày cũng thuộc khối TSPS, chúng ta sẽ gặprấtnhiều khó khăn trong việc giám sát, đánh giá và thuhồikhối tàisảnđóở nƣớc ngoài, song thực tế nàysẽ cóthể đƣợc khắc phục bằng việc nhà nƣớc ta sẽ kýkếtcác Hiệp định quốc tế về hợp tác và tƣơng trợ tƣ pháp vớicác nƣớc để hỗtrợ việc giám sát, quản lý cũng nhƣ thuhồikhối tàisảnđónhằmbảovệ tốt hơn quyềnlợicủa các chủ thể tham gia quá trình giải quyết phá sản ở nƣớc ta hiện nay. Vì vậy, tác giả luận án cho rằng không chỉ những tàisảnhiện đang

tồntạitrong lãnhthổViệt Nam mà cả khối tàisảncủa doanh nghiệptồntại ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam cũng thuộc khối TSPS, nghĩa là, những tài sảncủa doanh nghiệp Việt Nam đang tồn tại ở nƣớc ngoài đƣợc coi là một bộphận của khối TSPS.

31

Đâylà một nguyêntắc rấtcơ bảncầnđƣợc quan tâm khi hoàn thiện vàáp dụng pháp luậtvề quảnlý và xử lý TSPS, vì nguyên tắc này đƣợc thực hiện sẽ giải quyết nhữngvƣớngmắc phát sinh khi quản lý và xửlý tàisảncủa doanh nghiệpở nƣớcngoài, đồngthờihạnchế hiệntƣợngtẩután tàisảnra

nƣớc ngoài của các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính có nguy cơphá sảnnhằmbảovệquyền và lợiíchhợppháp của các chủnợ.Thực tế đã xuất hiện doanh nghiệp Việt Nam trƣớc khi làm thủ tục phá sảnđã tiếnhành

tẩután tàisảnbằng cách chuyểnmộtlƣợnglớntàisảnranƣớc ngoài thông qua con đƣờng mua cổ phiếu của một công ty nƣớc ngoài để trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ.

+ Việc xác định TSPS phải tính đến những tài sản loại trừ. Đây là điều mà hầuhếtpháp luật nƣớc nào cũng quan tâm giải quyết. Trong LPS của Việt Nam chƣa có quy định về tài sản được miễn trừkhỏi khối TSPS. Đây cũng lànguyên nhân dẫn đến không ít khó khăn cho việc đánh giá hiện trạng về tình hình tài sản của doanh nghiệp để tiến hành phân chia thoả đáng.

Hiện nay, theo quanđiểmnhânđạo, nhiềunƣớc trên thế giớiđã cho phép con nợ là cá nhânđƣợc giữ lạimột số tài sản, chủ yếu là những đồ dùng sinh hoạt thiết yếu hàng ngày nếu họ không có hành vi vi phạm pháp luật hoặc không có hành vi gianlậntrong quá trình quản lý, điềuhành doanh nghiệp. Những tàisảnnàyđƣợc gọilà tàisảnđƣợc miễn trừ. Vì vậy, khi connợ phásảnlà chủ doanh nghiệp tƣ nhân và thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì Toà án phải xác định danh sách các tài sản đƣợc miễn trừ khi giải quyết phásảnđối với họ. Theo thông lệ các nƣớc, tài sảnđƣợc miễntrừbao gồm: những tàisảnchủ yếucủa cá nhân nhằm bảo vệ các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu nhƣ xeô tô có giá trị đến 1200 USD; 500 USD đối với đồ trang sức… hoặc các khoản tài chính có tính chất nhân đạo nhƣ đền bù thất nghiệp, chăm sóc y tế, trợcấpđối với việc nuôi con trong Luật Phá sản của Hoa Kỳ… còn theo LuậtMất khảnăng thanh toán nợ của Cộng hoà Liên bang Nga, tàisản bị loạitrừlà những

32

tàisảnliên quanđếncác công trìnhsảnxuất, hạ tầng quan trọngđốivớiđời sống công cộng thuộc vào bảng cânđốicủa cơ quantự quảnđịa phƣơng hay chính quyền Liên bang … hoặc ví nhƣ việc đề cập tới sự loại trừ những tài sản của doanh nghiệp hiệnnằmngoài lãnhthổnhƣ quan niệmcủaNhật Bản. Để khắc phục những nhƣợc điểmnày và để phùhợpvớithônglệ quốc tế, LPS nhất thiết phải bổ sung thêm qui định về các loại tài sảnđƣợc miễntrừkhỏi tài phá sản, những loại tài sản khác của doanh nghiệp phá sản.

c. Phạm vi khối tài sản phá sản

Từ những phân tích trên, có thể xác định phạm vi khối TSPS gồm:

Trƣớc hết, tài sản phá sản là những tài sản nợ của doanh nghiệp. Tài sản nợ của doanh nghiệp đƣợc hiểu là những nghĩa vụ về tài sản mà doanh nghiệp mắc nợ phải trả cho các chủ thể khác trong quá trình giải quyết phá sản, những nghĩavụnàyđược xác địnhbằng tiền, đã đếnhạnvà phát sinhtừ các giao dịch do doanh nghiệp mắc nợ thực hiện với bạn hàng, người lao động hoặc từviệc doanh nghiệp mắc nợ thực hiện nghĩa vụ luật định mà doanh nghiệp phải

thanh toán trong thủ tục phá sản – ví dụ: những tài sản do doanh nghiệp mắc nợ thuê, mƣợn, vay hay phảitrảcho các chủ thể khác, tài sản mà doanh nghiệp

có trách nhiệm bảoquản…

Bên cạnh đó, tàisảnphá sảnbaogồmnhững tàisảncó của doanh nghiệp, đó là những tài sản sau:

– Các tài sản của con nợ nằm ở ngoài phạm vi lãnh thổ thuộc khối TSPS;

– Tài sản mà doanh nghiệp cótạithờiđiểmToà ánthụlý đơn yêu cầu mởthủtục phásảnnhư: vậthiện có hoặc được hình thành trong tương lai

(nhà xưởng, máy móc, phương tiệnvận tải…); tiền(tiền Việt Nam, ngoại tệ);

giấytờcó giá(cổphiếu, hốiphiếu,kỳphiếu, trái phiếu…), quyền tài sản (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền tài sản đối

với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng …);

– Các khoản lợi nhuận, các tài sản mà doanh nghiệp sẽ có do việc thực hiện các giao dịchđược xác lậptrướckhi Toà ánthụlýđơnyêucầumởthủ

33

tụcphá sản; trong quá trình doanh nghiệp thực hiệnthủtụcphục hồihoạtđộng kinh doanh; trong giai đoạn thanh lý tài sản;

– Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp. Trường hợpthanh toán tàisảnlàvậtbảođảmđược trảcho các chủ nợcóbảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thìphần vượt quá đó được tính là TSPS;

-Đốivớidoanh nghiệp tư nhân, công ty hợpdanh lâm vào tình trạng phá sản, Luật cũng quy định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phásảncòn baogồmcảtàisảncủachủdoanh nghiệp tư nhân hoặc tàisảncủa thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh. Trường hợpchủdoanh nghiệp tư nhân, thành viênhợpdanh có tàisảnthuộc sởhữu chung thì phần tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh đóđược chia theo quy địnhcủaBộluật Dânsựvà các quy địnhkhác củapháp luật có liên quan”.

Lƣu ý, khi xácđịnh phạmvi TSPS cần phải loại trừ một số tài sản khỏi khối TSPS. Chẳng hạn: tàisản chủ yếucủa cá nhân – là các chủ doanh nghiệp

tƣ nhân và thành viênhợpdanh trong công ty hợp danh (nếu họ không có hành vi vi phạm pháp luật hoặc không có hành vi gianlậntrong quá trình quản lý,điềuhành doanh nghiệp) – nhằmbảovệ các nhucầusinh hoạttốithiểu nhƣ:

lƣơng thực, thuốc mencầnthiết, côngcụlao động, đồdùng sinh hoạt thông

thƣờng cần thiết, đồ thời cúng thông thƣờng…

Tuy nhiên, trong giớihạnphạm vi nghiêncứuđã đề ra, luận ánsẽ chủyếugiải quyết nhữngvấnđề pháp lý có liên quanđếnkhái niệm TSPS theo

hƣớng-đólà toàn bộnhững tài sản củadoanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có từ thời điểm Toà án thụ lý đơn yêucầumở thủ tục phá sản đến thờiđiểmToà án ra quyếtđịnhđình chỉ thủ tục phá sản hoặc quyết định tuyênbốphá sản, bao gồm tài sản có thực tại thời điểm thụ lý đơn yêucầumở thủ tục phá sản và những tài sản phát sinh trong quá trình giải quyếtvụphá sản, chủyếu là những tài sản phát sinh trong giai đoạn thanh lý tài sản.

34

1.2. MỐI QUANHỆGIỮA QUẢN LÝ TÀI SẢNPHÁSẢNVÀXỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

Cũng nhƣ trong việc tiếp cận vấn đề về mối quan hệ của các hiện tƣợng chính trị – pháp lý khác, mối quan hệ giữa thủ tục quản lý TSPS và thủ tục xửlý TSPS cần đƣợc tiếp cận trên ba bình diện chính: Sự thống nhất, sự khác biệt và sự tác động qua lại giữa chúng. Dĩ nhiên, vấn đề cốt lỗi trong mối quan hệgiữa thủ tục quản lý TSPS và thủ tục xử lý TSPS nói riêng và giữa các sự vật, hiệntƣợngchínhtrị- xã hộinói chung làsựtác độngqua lạicủa chúng, bởi vậyđể nhận thức đúngđắnvề sựtác độngbiện chứng giữathủtục quản lýTSPS và thủtục xửlý TSPS,cầnphải làm rõsựtƣơngđồng,thống nhất;sựkhác biệt của chúng vì chínhsựthống nhất bao hàmsựkhác biệtđã tạonên những đặc thù trong sự tác động qua lại giữa chúng.

1.2.1. Sự thống nhất giữa quản lý tài sản phá sản vàxử lý tài sản phá sản

Quản lý TSPS và xửlý TSPS mặc dù là nhữngthủtục có nhiềuđiểm khác biệt về nội dung và ý nghĩa, nhƣng chúng không phải là những hoạt động tách biệt mà cùng nằm trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản. Hai thủ tục nàyđềuđƣợc thực hiệnbởi một chủ thể có những quyền năng đặc biệtđƣợc pháp luật phá sảnquy định, mặtkhác chúngđềucó chung những mục đích là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp mắc nợ và bảođảmtrậttựxã hội, góp phần cơcấulạinền kinh tế. Sự thống nhất đó biểu hiện:

1.2.1.1. Về chủ thể quản lý và xử lý tài sản phá sản

Vớimục tiêu là tránh đƣợc sự thất thoát tài sản, bảo đảm an toàn về mặt pháp lý cho tài sản của doanh nghiệp, đồng thờithực hiện việc thanh toán nợmột cách công bằng, khách quan và hiệu quả, các nƣớc khi ban hành luật phásản đều rất quan tâm đến vấn đề quản lý và xử lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ. Vì vậy, luật phá sản các nƣớc đều quy định việc thành lập ra một thiết chếnhằmđảm bảoquyền lợi cho các chủ nợ và sau đó phải quy định cho nó một

35

địa vịpháp lý nhất định, đólà chủthể quản lý, xửlý tài sản. Thông thƣờng, chủ thể này là cá nhân hoặc tổ chức đƣợc cử ra để thực hiện các hành vi quản lý, xử lý tàisảncủa doanh nghiệp phá sản. Pháp luật của các nƣớc trên thế giớiđã thiết kế hai mô hình chủ thể quản lý, xử lý TSPS. Mô hình thứ nhất, chủ thểquản lý, xử lý tài sản là một nhân viên do Toà án bổ nhiệm. Mô hình thứ hai, việc quản lý, xử lý TSPS đƣợc giao cho một nhóm ngƣời do Toà án thành lập ra và thƣờng gọi là Tổ quản lý tài sản.

Ở ViệtNam, trên cơ sở nghiên cứu những mô hình chủ thể quản lý, xửlý TSPS ở trên thế giới, pháp luật phá sản đã nghiên cứu và xây dựng chủ thểquản lý, xử lý TSPS theo mô hình thứ hai (tuy có đôi nét khác biệt). Theo đó, pháp luật không quy định việccửTổ quản lý tài sản (nhân viên quản lý tài sản) tạmthời nhƣ ở các nƣớc mà việc quản lý, xử lý TSPS chủ yếuđƣợc thực hiện

bởi một chủ thể có tên gọi là TQLTLTS. Giống nhƣ luật các nƣớc, TQLTLTS ở Việt Nam do Toà án quyết định thành lập và giao những quyền hạn nhấtđịnh trong việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Song nhìn chung, địa vịpháp lý của TQLTLTS trong LPS ở Việt Nam có một số khác biệt so với các

nƣớc khác, thể hiện: Một là, việc quản lý và xử lý TSPS không phải thuộc vềduy nhất TQLTLTS mà bên cạnhđó,connợcũng có nhiệmvụrấtlớntrong quản lý và xử lý TSPS, nhƣng ngƣời có vai trò quan trọng nhất trong việc quản lý và xửlý TSPS phải là Thẩm phán hoặc TổThẩm phánphụtrách việc giải quyết phá sản; Hai là,về thẩmquyền của Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Mặc dùLuật Phá sản của Việt Nam quy định một số nghĩa vụ, quyền hạn cho TQLTSTS, song thực tế cho thấy TQLTLTS gầnnhƣchỉcó chức năng giúp việc cho Thẩm phán (hầu hết các hành vi định đoạt TSPSđềudo Thẩm phán quyết định), TQLTLTS không có quyềnđiềuhành, quản lý hoạtđộngkinh doanh của doanh nghiệp, không có quyền trực tiếp quản lý các tàisảncủa doanh nghiệp. Ngoài ra, TQLTLTS còn có chức năng giám sát, kiểm tra hoạtđộng quảnlý tàisảncủa doanh nghiệp vì vậy, mỗi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từng hành viđịnhđoạttàisảncủa doanh nghiệpđềuphải trên cơ sở sự kiểmtra giám sát của TQLTLTS mới cóthể đƣợc tiếnhành. Điềuđó

36

sẽ không đápứng đƣợc yêucầu kinh doanh của doanh nghiệp trong giaiđoạn phục hồinƣớcrút vàđầynhững khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, TQLTLTS không hành động độc lập mà hoạt động của Tổ phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Thẩm phán, đồngthời, TQLTLTS chịu trách nhiệm trƣớc Thẩm phánvề việc thực hiện quyền hạn, nhiệmvụcủa mình. Ba là, về thành phần của TQLTSTS. Dựa vào chức năng, nhiệm vụ của Tổ quản lý tài sản, các nƣớc đều quy định thành phần của Tổ quản lý tài sản chủ yếu là các luật sƣ, chuyên gia pháp lý hành nghề tự do, thƣơng gia hay chuyên gia kiểm toán có kinh nghiệm trong lĩnh vực phá sản. Ở Việt Nam thành phần của thành phần của TQLTLTS mặc dùđã rútgọnnhiều sovớiLuật Phásảndoanh nghiệp năm 1993 nhƣng vẫn là một tập thể với số lƣợng ít nhất là bốn thành viên đại diện cho các chủthể khác nhau, điều đó gây không ít những khó khăn trên thực tế thi hành.

2.1.1.2. Mục đích của quản lý và xử lý tài sản phá sản

Thủtục quản lý và xửlý TSPS cùng có mục đích cuối cùng làbảovệquyền và lợi ích của các chủ thể có liên quanđến việc phá sản, mỗi thủ tục ởmức độ nhấtđịnhcó những vai trò, mục đích không hoàn toàn trùng nhau vàcó những nội dung không giống nhau nhƣng có tác dụng hỗ trợ nhautạođiều kiện cho quá trình giải quyết phá sản đạtđƣợc mục tiêu nhất định. Cụthể là:

Quản lý và xử lý TSPS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ

Phá sản, cho dù làởcác doanh nghiệplớnhay nhỏ, đềugây ra những hậuquả nhất định. Nhà đầutƣ có nguy cơ mấtmộtphần hay toànbộkhoảnđầu tƣ vào doanh nghiệp. Điều này sẽ gây tâm lý hoang mang, không ổn định cho giới đầu tƣ và không bảovệ đƣợc quyềnlợichính đáng của họ. Do đó, xu

hƣớng tất yếulà các chủ nợ sẽ mạnh ai nấy đòi, các chủ nợ chậm chân sẽ trởthành ngƣời ngoài cuộc. Về phía doanh nghiệp, do số tài sản của doanh nghiệp là không đủ trả các khoảnnợ,chủ doanh nghiệp cũng có nguy cơ mất toàn bộsảnnghiệp kinh doanh. Do đó, cũngrấtdễ dẫnđếnhành vi tìmmọicách tẩu tán tài sản, thậm chí có trƣờng hợp còn câu kết với một số chủ nợ, ngƣời thứ

37

ba để tìm cách trốn tránh các khoản nợ. Trong trƣờnghợpđó, quyềnlợicủa các chủ nợ khác cũng có nguy cơ bị xâm hại. Là một công cụ pháp lý rất quan trọngđảmbảocho sựvậnhành của nền kinhtếthị trƣờng, pháp luật phá sản với những quy định về thủ tục quản lý và xử lý TSPS sẽ góp phần giải quyết việc thanh toán nợ và cơ cấu lại doanh nghiệp theo một trình tự chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ tối đa. Nó góp phần khuyến khích chủ nợ yên tâm vì pháp luậtsẽbảovệ quyềnđƣợcthanh toán của họvà họcóthểƣớc tính chính xác mức độ rủi ro xảy ra.

Chẳng hạn: Luật Phá sản của tất cả các nước đều coi chủ nợ là chủ thểđầutiên có quyềnnộpđơnyêucầumởthủtục phásảnđốivớiconnợ. Quyđịnh về quyềnnộp đơncủa các chủ nợ thực chất là cho phép các chủ nợ quyền yêucầucơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đƣa con nợ vào trình tự xem xétđặc biệt, theođótài sản của con nợ phảiđƣợc quản lý và xửlý theomộttrình tựluật định để thanh toán các khoản nợ do vậy, quyềnlợicủa chủ nợ mớiđƣợc bảo đảm. Tuy nhiên có sự khác nhau trong việc quy định phạm vi các chủ nợcó quyền nộp đơn. Có nƣớc cho phép cả chủ nợ cóbảo đảmcũng có quyềnđệđơn (Trung quốc và Hung-ga-ri), một số nƣớc khác lại quy định chỉ có chủ nợkhông có bảo đảmmớicó quyền nàyhoặc cả chủ nợ cóbảo đảm nhƣng phải kèm theo những điều kiện nhất định nhƣ phảitừ bỏ quyềnđƣợcbảo đảm(Luật Phá sản của Malayxia), hoặc là chủ nợ có phần giá trị nợ lớn hơn phần giá trịtàisản bảo đảm(chủ nợ có bảo đảmmột phần). Ở Việt Nam, LPS chia chủ nợthành ba loại:Chủnợ cóbảođảm;Chủnợ cóbảođảmmộtphần;Chủnợkhông cóbảođảm. Nhƣng khoản 1Điều13 của LPS chỉcho phépchủnợkhông có bảo đảmhoặc có bảo đảmmột phần có quyềnnộp đơnyêucầumở thủ tục phá sản đối vớidoanh nghiệp, hợp tác xã. Luật Phá sản đã không cho phépchủ nợ cóbảo đảm đƣợcquyềnnộp đơn, họ hạnchế quyền nàybởichính sự thoả thuận về việc xử lý tài sản đƣợc bảo đảm.

Mặtkhác, việc quản lý vàxửlý TSPS trong luật phá sảntạođiềukiện cho các chủ nợ quyền có đại diện trong thiết chế quản lý và xử lý tàisản của

38

connợ.Đâylà mộtquyềnhếtsức quan trọng vìsựtham gia của chủnợvào thiết chế này góp phần giúp cho việc quản lý TSPS chặt chẽ, khách quan hơn, tránh thất thoát tài sản, đồng thời giảm chi phí của quá trình giải quyết phá sản và góp phần tốt hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ. Quy định quan trọng khác là trong quá trình xử lý TSPS,các chủ nợ đều

có quyền đƣợc thanh toán nợ từ tài sản của doanh nghiệp mắc nợ theo một tỷlệ nhấtđịnh.Quyđịnhnày cũng góp phầnbảovệ quyềnlợicủa cácchủnợ, bảo đảmcông bằng, dung hoà lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội. Trong trƣờng hợpdoanh nghiệp thực hiện thành công phƣơng án phụchồiđã đƣợc HNCN thông qua thì các chủ nợ sẽ đƣợc thanh toán các khoản nợ theo nội dung đã đềra trong phƣơng án phục hồi. Tuy nhiên, không phải trƣờnghợpnào doanh

nghiệp mắc nợ cũng có khả năng phục hồi đƣợc hoạt động kinh doanh, vì vậy, trong nhiều trƣờng hợp Toà án phải ra quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sảncủa doanh nghiệp, khi đó các chủ nợ đƣợc quyền thanh toán các khoản nợcủa mình, việc thanh toán nàyđƣợc thực hiệntheo tính chất của các khoản nợvà thứ tự ƣu tiên theo quy định của luật phá sản ở mỗi nƣớc.

Bên cạnh những quyđịnhcho phépchủnợ đƣợc quyền tham gia vào quá trình quản lý và xửlý TSPS trên nguyên tắc công khai và công bằng, cơchế quản lý và xử lý TSPS trong luật phá sản còn ghi nhận quyềncủa chủ nợtrong việc yêucầuThẩm phán ra quyếtđịnhcầnthiết nhằmbảotoàn tài sản của doanh nghiệp và đó cũng chính là phƣơng thức các chủ nợ tự bảo vệ quyền và lợiíchhợppháp của mình. Quyđịnhnày là hợplý, vìchủnợ là những

ngƣờicólợiích và mốiquan tâm trực tiếpđếntàisảncủa doanh nghiệp phásản, do đó, họ có quyền và có khả năng giám sát đối với các tài sản nàyđể đảm bảoquyềnlợicủamình; hoặc quyđịnhchochủnợcó quyền yêucầuToà án tuyên bố một giao dịch của doanh nghiệp là vô hiệu; quy định chủ nợ nợ không cóbảo đảmcó quyền yêucầuToà án đình chỉ thực hiện hợpđồng đang đƣợc thực hiện hoặc chƣađƣợc thực hiệnđể tránh các hành vitẩután tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Bởi vì, thực tế cho thấy khi doanh nghiệp lâm vào tình

39

trạng phá sản thì họ thƣờng có những hợp đồng đang có hiệu lực nhƣng thực hiện hoặc đang thực hiện. Trongmộtsốtrƣờng hợp, việc tiếp tục thực hiện nhữnghợpđồngđógâybấtlợicho hoạtđộngkinh doanhcủadoanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng nhƣ cho tàisảncủa họ. Vì vậy, pháp luật cho phépchủnợcó quyền yêucầuToà án ra quyếtđịnhđìnhchỉviệc thực hiện những hợp đồng đó chính là nhằm bảo toàn tài sản của con nợ.

Tóm lại, cơ chế quản lý và xử lý TSPS cùngđặtra các quy định nhằm kiểm soát đƣợc tài sản của doanh nghiệp phá sản và các giao dịch có liên quan, tránh hiện tƣợng tẩu tán tài sản. Góp phần thanh lý tàisảnvà phân chia tài sản của con nợ một cách khách quan, công bằng và hiệu quả.

Quản lý và xử lý TSPS nhằm bảo vệ lợi ích của con nợ, tạo cơ hội cho con nợ rút lui khỏi thương trường một cách trật tự

Về bảnchất hoạt động kinh doanh là có độ mạo hiểm, rủi ro nhất định, việc thua lỗ, không trả đƣợc nợ đến hạn hầu hết không phải là do doanh nghiệp cốý nhằm chiếmđoạttài sản của các nhà đầutƣ, mà đa sốlà do các nguyên

nhân khách quan nhƣ: thiên tai, thảm họa, rủi ro trong kinh doanh… Đó là lýdo cơ chế quản lý và xửlý TSPS có mục đích là bảovệ lợiíchcủaconnợ,đảmbảoquyền ra khỏi thƣơng trƣờng cho doanh nghiệp khi “sa cơ lỡvận”. Điềunày cũng góp phần bảo vệ quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, vìdoanh nghiệp có thể tựdo tham gia vào thƣơng trƣờng thì cũng có quyền rút lui có trật tự khi không còn đủ khả năng tồn tại nữa. Vì vậy, để khuyến khích các doanh nghiệpđầutƣ, kinh doanh, bảovệ quyềnlợichính đáng của họ, pháp luật phá sản quy định nhiều nội dung nhằmbảovệ quyềnlợicủa con nợ. Cụ thể là:

Những quyđịnhchặt chẽ về trình tự, thủtục đệ đơnyêucầuphá sản doanh nghiệp (thực chất là yêucầuthanh lý tàisảncủa doanh nghiệp) trong pháp luật phá sảncốt là để bảovệ uy tín cho con nợ, trách trình trạng đệ đơn bừa bãi vì đó có thể là thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh làm giảm uy tín của doanh nghiệp mắc nợ trên thƣơng trƣờng.

40

Quản lý và xử lý TSPS cũng cho phép con nợ đƣợc bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc cử ngƣời đại diện tham gia thiết chế quản lý, xử lý tài sản phá sản, thiết chế này có nhiệmvụ kiểmkê, thu hồi, quản lý tàisảncủa doanh nghiệp, đồng thời trực tiếp thi hành những quyết định của Thẩm phánvề xử lýtàisảncủa doanh nghiệp. Nói cách khác, thông qua nhiều chức năng, quyền hạn quan trọng của thiết chế này, quyền và lợi ích hợp pháp của con nợ đƣợc bảo vệ.

Connợ cònđƣợc áp dụng những biện phápbảotoàn TSPS khi doanh nghiệpbịmở thủtụcphá sản và các biện pháp ngăn chặn nhƣ: tuyên bố giao dịch vô hiệu, áp dụng các biện pháp khẩncấptạmthời, đìnhchỉthi hành án

dân sự hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án… Những quy định này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hạn chế việc bịthất thoát tài sản sau khimở thủ tục phá sản, xét ở góc độ này, tàisảncủa doanh nghiệp có vai tròrấtquan trọng trong quá trình duy trì hoạtđộngkinh doanh cũng nhƣ việc thực hiện phƣơng án phục hồi hoạt động kinh doanh. Dođó, quy định nhƣ vậy sẽ góp phần tích cực cho doanh nghiệp thực hiện thành công thủ tục phục hồi và trở về hoạt động kinh doanh bình thƣờng.

Bên cạnh đó, vớimục đích giảmbớtgánh nặng cho các doanh nghiệp mắc nợ, pháp luật phá sản thƣờng ấnđịnh thờiđiểmngừng thanh toán nợ cho connợ trong quá trình giải quyết phá sản. Theo đó, nghĩa vụvề tàisảncủa doanh nghiệpmắc nợ cũng đƣợcgiảm nhẹ.Bởivì, từ thờiđiểmấnđịnh ngừng thanh toán nợ, những khoảnnợ chƣa đếnhạnđƣợc xửlý nhƣđốivớicác khoảnnợ đếnhạn, nhƣng không tính lãiđốivớithời gian chƣa đếnhạn(tuỳtheo pháp luật của mỗi nƣớc mà thời điểm ấn định có khác nhau).

Mặtkhác, trong quá trình giải quyết phá sản, cơ chế quản lý và xử lý tài sảnphá sản không cho phép chủ nợ nào có quyền gây áp lực đòi nợ riêng rẽ. Sau khi có quyếtđịnhmở thủtục phá sản, doanh nghiệpvẫntiến hành kinh doanh bình thƣờng, song mọi giao dịch của doanh nghiệpđều phảichịu giám sát của Toà án và thiết chế quản lý tài sản. Các chủnợ sẽ không thể tuỳtiện yêu cầu doanh nghiệp mắc nợ thanh toán riêng rẽ các khoản nợ mà không đƣợc

41

sựđồngýcủa Toà án. Khi có quyếtđịnhthanh lý tài sản, tàisảncònlạicủa doanh nghiệp sẽ đƣợc thanh toán cho các chủ nợ theo các thứ tự ƣu tiên nhấtđịnh, sau khi tài sản của doanh nghiệp thanh toán hết, mọi khoản nợ của doanh nghiệp, cho dù chƣa đƣợc thanh toánđầyđủ cũng đƣợc coi là đã thanh toán vàcác chủnợ không có quyềnđòinợ trực tiếp, trừmộtvài trƣờnghợpngoạilệ(đối với chủ thể chịu trách nhiệm vô hạn) đƣợc quy định trong luật phá sản của từng nƣớc. Và sau khiđãthanh toánhếtcác khoảnnợ thì tàisảncònlạicủa doanh nghiệp sẽ đƣợc trả về cho chủ sở hữu của doanh nghiệp.

Đồng thời trong quá trình phá sản, doanh nghiệp còn có cơ hội thực hiện các phƣơng án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, điều đó không chỉ góp phần vào việcbảotoàn khối TSPS của doanh nghiệp, mà còn tạo điều kiện cho khối lƣợng TSPS tăng thêmvề số lƣợng vàvề giá trị. Đó chính là cơ sở để đƣa doanh nghiệp trởlạihoạt động kinh doanh bình thƣờng, có điều kiện hoàn trảcác khoản nợ, thoát khỏi tình trạng phá sản. Do vậy, việc quản lý và bảo toàn chúng càngcầntrở nêncầnthiếttạođiềukiện giúp doanh nghiệp mắc nợ cókhả năng tốt hơn trong việc thanh lý tài sản và hoàn trả các khoản nợ.

Quản lý và xử lý TSPS nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người lao động Phá sản không chỉ gây ra hậu quả xấu cho chủ nợ mà cho cả ngƣời lao

động, phá sảnlà mộttrong những nguyên nhân của tình trạng thất nghiệpởnhiềunƣớc trên thế giới, ngƣờilaođộngtrong doanh nghiệpbịtuyênbốphásảnsẽ mấtviệc làm, cơ hội tìm việc làmđối vớihọ không dễ dàng. Nhƣng mặt khác, khi ngƣời lao động làm việc trong một doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, gặpkhó khăn về tài chính mà không trả đủ lƣơng cho họ trongmộtthời gian dài thì cũngcầnphảitạođiềukiện chohọmộtphƣơng thứcđể đòisốtiền

lƣơng mà doanh nghiệp nợ. Thực tế cho thấy khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, sản xuất kinh doanh bị ngƣng trệ, ngƣời lao động phải nghỉ việc,

lƣơng thấp hoặc không cólƣơng… nên khi doanh nghiệp phá sản, ngƣờilaođộng cónguy cơ bị gạt ra lề đƣờng, mất việc làm, thậm chí có nguy cơ không

đƣợc thanh toán các khoản nợ lƣơng, trợ cấp từ doanh nghiệp mắc nợ. Do đó, luật phá sản nói chung mà đặc biệt là những quy định về việc quản lý và xử lý

42

TSPS đã bảo vệ lợi ích của ngƣời lao động thông qua việc quy định để họ thực hiện một số quyền sau đây:

Pháp luật cho phépngƣờilaođộngđƣợc quyền tham gia vào thiếtchếquản lý và thanh lý tài sản. Việc tham gia vào thiết chế này giúpngƣờilaođộng có điều kiện bảo vệ cho khối TSPS của doanh nghiệp đƣợc vẹn toàn giúp cho việc thanh toán nợ sau nàyđƣợc hiệu quả.Ở các nƣớctrên thế giới tuỳ vàođiều kiệnkinh tế – xã hội khác nhau mà pháp luật quy định ngƣời laođộng làthành phần bắt buộc hay không bắt buộc. Điều 9 LPS quy định thiết chế quản lý tàisảnở Việt Nam là TQLTLTS, thành phần của Tổnàychỉgồmbốnđại diện, trong trƣờng hợp cần thiết có thêm đại diện công đoàn, đại diện ngƣời laođộngtham gia TQLTLTS thì thẩm phán xem xét, giải quyết. Nhƣ vậy, theo quy định nàyđạidiện công đoànhoặc đại diện ngƣờilao động không bắt buộc phải cómặttrong TQLTLTS nhƣng trong trƣờnghợpcầnthiếtvẫncó thể cómặt để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi của ngƣời lao động.

Ngƣờilaođộngđƣợc quyền tham gia vàotổchức của các chủnợ, vìthực chất ngƣời lao động cũng là một dạng chủ nợ về lƣơng (trong trƣờng hợp nàyđạidiện công đoàn hoặc đạidiệnngƣờilaođộngvà có quyền, nghĩa vụ

nhƣ chủ nợ). Quy định này ngoài việc cho phép ngƣời laođộng cóquyền cóýkiến khi quyết định việc quản lý, bảo toàn và xử lý khối TSPS, đồng thời cũng tạođiềukiện thuậnlợicho doanh nghiệp trong quá trìnhtổchức lạisảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp khi đƣợc sự ủng hộ của ngƣời lao động. .

Ngƣờilaođộngcó quyềnnộpđơnyêucầumở thủtục phá sảnđốivới doanh nghiệpcủahọ. Vềthực chấtđốivớidoanh nghiệp mắc nợ,ngƣờilaođộng là một chủ nợ đặc biệt không có bảo đảm, hàng hoá duy nhất đem ra traođổilà sức lao động và tiền lƣơng nguồn sống chính của bảnthân và gia đình họ. Do đó, khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản họ là một trong những

ngƣời bị thiệthạinhiều nhất và thực sự lâm vàocảnh “tứ cốvô thân”, không có lƣơng, nguy cơ thất nghiệp đe doạ. Chính vì thế, pháp luật phá sản của đa sốcác nƣớc đềucho phépngƣờilaođộngcó quyềntựbảovệ mình, khilợiích của họ bị xâmhại. Chẳng hạn,để bảovệ quyềnlợi ngƣờilao động trong quá

43

trình giải quyết phá sản doanh nghiệp, LPS của Việt Nam quy định tại khoản 1Điều14về quyềnnộpđơnyêucầumở thủtục phá sảncủa ngƣờilao động, theo đó dấu hiệuđể ngƣờilao độngđƣợcquyềnnộp đơnyêucầumở thủtục phá sản là: khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và khi doanh nghiệp, hợp tác xã không trả đƣợc lƣơng cho ngƣời lao động.

Cơ chế quản lý và xửlý TSPS cho phépngƣờilaođộngđƣợcƣu tiên thanh toán trƣớc các chủnợ. Khi thực hiện việc thanh toán, một vấnđề quan trọngđặtra đólà tấtcảcác chủnợđềumong muốnđƣợcthanh toán càng nhiều tài sản càng tốt. Trong khi đó lại có rất nhiều các chủ nợ khác nhau: cóchủ nợ có bảo đảm, cóchủ nợ không có bảo đảm; có chủ nợ là Nhà nƣớc (cơ

quan thuế), có chủ nợ về lƣơng – là ngƣời lao động… Vì vậy, không thể đánhđồng giữa các chủ nợ đƣợc mà phảicó thái độ phân biệt đối xử khi phân chia TSPS cho họ. Chính vì vậy, luật phá sản của tất cả các nƣớc đều quan tâmđến vấn đề thứ tự ƣu tiên thanh toánnợ và đặc biệtlà ƣu tiên cho ngƣời lao động.Đối với ViệtNam, quy định ƣu tiên thanh toán nợ cho ngƣời lao động là phùhợpvớiđiềukiệnnƣớc ta hiện naysốngƣờilaođộngkhông có việc làm rất lớn, sự kiện các doanh nghiệp phá sản chắc chắn sẽ làmsố ngƣờithất nghiệp gia tăngmộtcách đáng lo ngại và sẽ gây nhiều biếnđộngxấucho tình hình kinh tế – xã hội. Mặt khác ở một nƣớc kinh tế kém phát triển nhƣ nƣớc ta, đa số ngƣời laođộng chỉ cómột tài sản duy nhất là sức lao động, tìm công ăn việc làmmớilà việc khôngdễdàng, vìvậyƣu tiêntrảlƣơng,bảohiểm xã hộivàcác quyềnlợikhác cho ngƣời lao động theo thoả ƣớc laođộng tậpthể là hoàn toàn hợp lý.

Quản lý và xử lý TSPS góp phần cơcấu lại nềnkinh tế, ổn định xã hội, lành mạnh hoá môi trường đầu tư, kinh doanh

Trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có quan hệ vớiđốitác, bạnhàng là điềutấtyếu. Điềuđókhông những thể hiệnkhảnăng tài chính, năng lực quản lý, kinh doanh mà hơn thế, đó chính là uy tín của doanh nghiệp. Vì vậy, nếudoanh nghiệpbịtuyênbốphá sảnsẽ kéo theo những doanh nghiệp là bạnhàng,đốitác chịusựtác độngnhấtđịnhvề tài

44

chính. Đặcbiệt là những doanh nghiệp hoạtđộngtrong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Đốivớinhững doanh nghiệp này việc phásảncủa mộtdoanh nghiệp cóthểkéo theosựphảnứngmang tính dây chuyền của doanh nghiệp khác, lúc đó hậu quả các doanh nghiệp này gây ra cho nền kinh tế và xã hội làrấtlớn. Vì vậy, cơ chế quản lý và xử lý TSPS góp phần thanh toán các khoản nợ một cách hiệu quả, công bằng, dứt khoát nhằmhạnchếtình trạng phá sản lây lan, dây chuyền, làm ổn định xã hội và nền kinh tế.

Khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thƣờng cóthể xảyra những hậu quả là: sự tranh giành tài sản giữa các chủ nợ, chủ nợ dùng những thủ đoạn và phƣơng tiện đòi nợ vô tổ chức, không công bằng, gây rối loạn trật tự xã hội; ngƣời lao động mất việc làm, không đƣợc trả lƣơng sẽ phát sinh mấtổnđịnhxã hộidohọgặpkhó khăn trongđờisống; doanh nghiệp mắc nợ bịxiết nợ hoặc bị gây áp lực, không có khả năng rút khỏi thƣơng trƣờng hoặc tìm cáchtẩután tài sản, trốn nợ… Cơ chế quản lý và xửlý TSPSvớinhững quyđịnhvề trình tự, thủtục công bằng và nghiêm ngặtsẽ góp phần tích cực bảođảmgiải quyết nhữnghậuquả trên và đảmbảoquyềnlợicho các chủthể cóliên quan.

Những quyđịnhrõ ràng và minh bạch trongthủtục quản lý và xửlýTSPS góp phần làm giớiđầutƣ yên tâmđầutƣ vào kinh doanh vì họ hiểu rằng có thể đƣợc pháp luật bảovệ và họ cóthể lƣờng trƣớc đƣợc những rủi ro. Các doanh nghiệp khác thì mạnh dạnđầutƣ mở rộng kinh doanh vì pháp luật phásảnnói chung và cơ chế quản lý và xử lý TSPS nói riêng cho phéphọ có thể“rútlui có trậttự” mà vẫnbảođảmđƣợcquyềnlợihợppháp của mình nếu không may gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh.

Cơ chế quản lý và xử lý TSPS còn tạođiềukiện đào thải những doanh nghiệpyếukém, thiếu năng lực cạnh tranh. Do vậy, cơ chế này đóng vai trò

nhƣ côngcụhữuhiệuđể răn đe nhà đầutƣ buộc phải thận trọng trƣớc mỗi quyếtđịnh đầutƣ, còn các doanh nghiệp phải luôn tích cực, sáng tạo để không bị đàothải. Đồng thời, còn làm giảm quy mô những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh không hiệu quả, góp phần cơcấulạinềnkinhtếhiệuquảhơn, các

45

nguồn đầu tƣ đƣợc phân bố hợplý hơn. Xétđếncùng, quản lý và xử lý TSPS chính là góp phần lành mạnh hoá môi trƣờngđầutƣ, kinh doanh, ổnđịnhxãhội, phù hợp với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trƣờng.

1.2.2. Sự khác biệt giữa quản lý tài sản phá sản và xử lý tài sản phá sản

Mặc dù thủ tục quản lý TSPS và xử lý TSPS có những điểm thống nhất,

tƣơng đồng, song về bản chất thì đây là hai thủ tục này lại có sự khác biệt, điềuđócó thể lý giảibởisựkhác nhauvề đốitƣợng, nộidung và côngcụthực

hiện… Sựkhác nhau đó có thể biểu hiện thông qua những nét cơ bản sau:

1.2.2.1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý tài sản phá sản

Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp vì lý do nhất định mà cóthể không có khả năng thanh toán nợ đến hạn và lâm vào tình trạng phá sản, họ

thƣờng cho rằng nếu không phục hồi đƣợc hoạt động kinh doanh, không sớm thì muộn, tài sản của họ cũng sẽ bị thu hồi và thanh lý để trả cho các chủ nợ.Điềunày xuất phát từ thực tế là khi một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đến mức không còn đủ khả năng tài chính để trang trải các khoảnnợ đến hạn và lâmvào tình trạng phá sản, nghĩa là doanh nghiệpđókhông còn khả năng quản lý và

tạoniềm tin cho việc quản lý doanh nghiệp cũng nhƣ quản lý khối tài sản của doanh nghiệp. Mặt khác, trong hoàn cảnh đó, các con nợ thƣờng có một tâm lýchung là muốn tiêu dùng tài sản của mình quá mức cần thiết, thậm chí có nhiều

trƣờng hợp, connợ có hành vicấtgiấu, tẩután tàisảnnhằm trốn tránh trách nhiệm trả nợ. Vì thế,nếuđể connợ tiếptụcquản lý khối tàisảncủa họmàkhông có sự giám sát của một cơ quan, tổ chức hay một nhóm ngƣời nào đó thìkhối tàisảnđó sẽ khó đƣợc bảo toànvà hậuquả tất yếusẽ làmcác chủ nợ bịthiệthạivề lợiíchvậtchất. Do vậy, để tránh nhữngrủiro cho xã hộivà cho chính doanh nghiệp, cần phải thành lập một chủ thể đặc biệt có trình độ, kinh nghiệm quản lý kinh doanh và thậm chí trong chừng mực nhất định có quyền hạnthực hiện việc kiểm soát cũng nhƣ áp dụng các biện phápcầnthiết. Mụcđích cơ bảncủa việc quản lý TSPS là nhằm làm cho khối tàisảncủa connợ

46

đƣợc sử dụng một cách hợplý, hiệu quả và đúng pháp luật. Ngoài ra, việc quản lý TSPS còn có tác dụngbảotoàn tàisảncủa con nợ, góp phầnhạnchế khảnăng vì các mục đích khác nhau mà connợ có thể thực hiện các hành vi tẩu tán, làm thất thoát tài sản. Xétđếncùng, việc quản lý TSPS là cần thiết và tất yếu của quá trình giải quyết phá sản.

Quản lý TSPS là việc bảo quản, gìn giữ tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, bảo đảm cho tài sản đó không bị tẩu tán và thất thoátđồng thời tạo điềukiện cho khối tài sản ngày càng gia tăng vàđược sử dụng hợp lý, có hiệu quả nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ nợ cũng như lợi ích của nhà nước và xã hội cũng như các chủ thể có liên quan.

Song khác vớiviệc quản lý tàisảnthông thƣờng và khác vớixửlýTSPS, việc quản lý TSPS mang những nétđặctrƣng nhấtđịnhdo pháp luật quy định, có thể nhận biết thông qua những đặc điểm sau:

+ Đối tượng của hoạt động quản lý tài sản phá sản

Đốitƣợngcủa hoạtđộngquản lý TSPS chính là quản lý khối sản nghiệp của doanh nghiệp bị phá sản, nghĩa là quản lý toàn bộ khối TSPS bao gồm tài sản có và tàisảnnợ từ thờiđiểmToà án thụ lý đơn yêucầumở thủ tục phá sản cho đến khi Toà án ra quyết định hoàn tất việc giải quyết vụ phá sản (khái niệm và phạm vi của khối TSPS đã đƣợc đề cập tại Mục 1.1.3 của luận án).

+ Phương thức thực hiện việc quản lý tài sản phá sản

Phƣơng thức quản lý tài sản phá sản là những cách thức, biện pháp màcác chủthể sửdụngđể bảotoàn TSPS,hạnchế việc mấtmát,tẩután tài sản nhằmbảovệ quyền và lợiíchhợppháp của chủnợcũng nhƣ doanh nghiệp mắc nợ, ngƣờilao động và các chủ thể khác liên quan đến quá trình phá sản.

Để thực hiện những cách thức và biện pháp quản lý tàisảnphá sản,

trƣớc hếtyêu cầu chủ thể tham gia quá trình quản lý tài sản phá sản phảinắm

đƣợc các nguyên tắc, cách thức nhằm xác địnhkhối tàisảncó của doanh nghiệpmắcnợ, bên cạnh đó, phải xác định những tài sản nợ của doanh nghiệp (nhƣ đã trình bàytạiđiểmb Mục 1.1.1 của luận án). Đây là những vấn đề vô

47

cùng quan trọng trong quá trình giải quyết yêucầumở thủ tục phá sản. Bởi lẽ, xác định chính xác số nợ để thanh toán cho các chủ nợ, xác định đúng tính chất nợ sẽ xác định đƣợc phạmvi quyền và nghĩa vụ chủ nợ đƣợc thực hiện. Do đó, việc xác định và thực hiện chính xác những nghĩa vụ về tài sản sẽ thực hiện tốt việc phân chia tàisảncủadoanh nghiệpbịphá sảncho các chủnợ, bảođảm

đƣợc quyềnvà lợi ích hợp pháp của họ. Trên cơ sở đó, đề ra những cách thức và biện pháp nhằm bảo toàn khối tài sản phá sản nhƣ:

– Kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, công việc này đòi hỏi chủ thể quản lý tài sản phải lập bảng kiểm kê tàisảnhiện có của doanh nghiệp, bảng kiểm kê phải xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp có xác nhận của cơ quan kiểm toán trong những trƣờnghợpcầnthiết nhằmhạnchếviệc doanh nghiệp kêkhai không trung thực khối tài sản còn lại của mình;

– Thu hồi và quản lý tài sản của doanh nghiệp;

-Sửdụng phốihợpvà có hiệu quả các biện phápbảotoàn tàisảnphásản, đólà các biện pháp giám sát, kiểm tra việcsửdụng tàisảncủa doanh nghiệp; lập danh sách chủ nợ và số nợ phải trả cho từng chủ nợ, những ngƣời mắc nợ và số nợ phải đòi cho doanh nghiệp;

– Áp dụng các biện pháp khẩn cấptạmthời trong những trƣờng hợp cần thiết nhằm bảo toàn tài sản của doanh nghiệp.

1.2.2.2. Khái niệm và đặc điểm của xử lý tài sản phásản

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *