Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay

Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Bán hàng đa cấp du nhập vào Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XX, theo số liệu thống kê của Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương, tính đến hết Quý I năm 2016, đã có 67 công ty đang áp dụng phương thức kinh doanh này (trong đó, có 54 doanh nghiệp trong nước và 13 doanh nghiệp nước ngoài). Hiện nay, cả nước có khoảng 1,2 triệu người tham gia mạng lưới kinh doanh của các doanh nghiệp đa cấp, tổng doanh thu trong năm 2015, khoảng 6.000 tỉ đồng tăng trưởng 6,4% so với năm 2013 [31, tr.19].

Cho đến nay, bán hàng đa cấp mặc dù không còn mới đối với người dân Việt Nam, nhưng vẫn làđề tài mang tính thời sự, gây nhiều tranh luận trên phạm vi cảnước. Nếu doanh nghiệp thực hiện phương thức bán hàng đa cấp đúng nghĩa, đúng pháp luật, sẽ có những đóng gópnhất địnhcho nền kinh tế; đó là vấn đề mang tính nguyên t c, bất kỳ phương thức bán hàng nào cũng đều giúp cho việc phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Xét trên bình diện rộng hơn, bán hàng đa cấpsẽtạo thêm việc làm và thu nhập cho nhiều người lao động; giúp cho người tiêu dùng có thêm sự lựa chọn mua s m, hàng hóa được giao tận nhà; giúp cho doanh nghiệp tiết

kiệm được nhiều chi phí trung gian, chi phí quảng cáo, khuyến mại… Tuy nhiên, lợi dụng lòng tin dưới hình thức những món lợi khổng lồ, nhiều công ty “ma” đã giả danh doanh nghiệp bán hàng đa cấp nước ngoài để kéo theo hàng nghìn người kinh doanh nhưng chưa hiểu rõ phương thức bán hàng đa cấp, để lừa đảo người tiêu dùng. Nhiều công ty bán hàng đa cấp làm ăn chụp giựt, thu được lợi nhuận khổng lồ ban đầu rồi bỏtrốn gây hậu quả xấu cho người tiêu dùng, bằng chứng là có đến 20 công tybán hàngđa cấp, chiếm gần 30% công ty được cấp giấy phép ngưng hoạt động, trong đó có công tybịtịch thu giấy phép kinh doanh do hành vilừađảo không trung thực [70, tr.18]. Mỗi công ty bán hàng đa cấp có hàng ngàn người tham gia, gâyảnh hưởng đến họ với sựtácđộngxấucủaphương thức kinh doanh này.Thếlà,từmột phương thức kinh doanh hợp pháp, bán hàng đa cấp trở thành bất hợp pháp dưới sự bóp méo của những kẻlừađảo,gâymấtlòng tin của ngườitiêu dùng, khiến xã hội Việt Nam chưa coi

1

trọng , thậm chí phản đối về bán hàng đa cấp, cho rằng đây là hình thức kinh doanh có tính chất “lừa đảo”, đề nghị Nhà nước cấm.

Vậy, vì sao hoạt động kinh doanh đa cấp liên tục biến tướng phức tạp, gây hậu quảnghiêm trọng với cộng đồng xã hội, ảnh hưởng tới an ninh – trật tự?Rất nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, hoạt động kinh doanh đa cấp biến tướng, lộn xộn trước hết là do việc kiểm tra, quản lý kinh doanh đa cấp chưa thường xuyên, thiếu thống nhất, khiến một sốdoanh nghiệp, đơn vịbán hàng đa cấp với mục đích lừa đảo có “đất” phát triển… Bởi vậy, để tăngcường công tác quản lý nhà nước về hoạt động bán hàng đa cấp, các cơ quan chức năng cần sớm bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động bán hàng đa cấp trên địa bàn; chủ động thực hiện hoạt động giám sát, kiểm tra nhằm phát hiện và xửlý kịp thời, hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xửlý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bán hàng đa cấp trên địa bàn; triển khai công tác tuyên truyền, phổbiến, giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân, doanh nghiệp bán hàng đa cấp và người tham gia bán hàng đa cấp trên địa bàn vềhoạt động bán hàng đa cấp nói chung và pháp luật quản lý hoạt động bán hàng đa cấp nói riêng. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp muốn hoạt động tại các địa phương phải có trụ sở chi nhánh, hoặc văn phòng đại diện, có người đại diện, điện thoại cụ thể để ngành chức năng địa phương có cơ sở theo dõi, cập nhập thông tin và kịp thời chấn chỉnh những sai phạm của doanh nghiệp, nhân viên kinh doanh đa cấp. Các địa phương cũng cần chủ động tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân nhận diện hành vi bán hàng đa cấp bất chính, để tránh bịlôi kéo, “sậpbẫylừa đảo”, thận trọng, cảnh giác với các biến tướng của loại hình kinh doanh đa cấp, có phương án bảo vệ an toàn cho người tố cáo các đơn vị kinh

doanh đa cấp có biểu hiện lừa đảo…

Với thực tếđược phân tích ởtrên, nghiên cứu sinh thấy rằng, việc nghiên cứu đểxây dựng mô hình quản lý hiệuquảđối vớihoạtđộngbán hàng đa cấp ởViệt Nam hiện nay là vấn đề cótính cấp thiết. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp luôn là ưu tiên hàng đầu của cơ quan chức năng, nhằm hỗ trợ hơn nữa những người tham gia chân chính, tạo nên một cái nhìn tích cực về

2

ngành này,đồng thời bảo vệtối đa quyền lợi của người tiêu dùng.Từđó, nghiên cứu sinh đã mạnh dạn lựa chọn đềtài “Quản lý nhà nước đối với hoạt độngbán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu và làm Luận án Tiến sĩ luật học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vềquản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay để chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam trong tình hình mới.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ của luận án là:

– Làm rõ bản chất, nội hàm của phương thức bán hàng đa cấp, từ đó, làm rõnhu cầu, vai trò và tính đặc thù trong nội dung quản lý nhà nước đối hoạt động bán hàng đa cấp.

– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay.

– Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam trong tình hình mới.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứucủa luận án là những vấn đềlý luận và thực tiễn vềhoạt động bán hàng đa cấp và quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Vềnộidung: Tác giảluận ántậptrung nghiên cứu nhữngvấnđềlý luận vàthực tiễn về quản lý nhànước đối với hoạt động bánhàng đa cấp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, để làm rõ hơn các vấn đề nghiên cứu, tác giả luận án cũng tiến hành khảo cứu pháp luật và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động

3

bán hàng đa cấp ởmộtsốquốc gia trênthếgiới nhằm rút ra bàihọckinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam.

Vềkhông gian: Thành phốHồChí Minh và HàNộilà hai trung tâm thương mại lớn của cả nước, đồng thời, cũng là nơi tổ chức kinh doanh bán hàng đa cấp nhiều nhất Việt Nam. Có đến 80% công ty bán hàng đa cấp của Việt Nam đóng trên 2 địa bàn này, nhiều công ty kinh doanh thành công và có đóng góp nhất định cho phát triển kinh tế, xã hội, song cũng không ít công ty bán hàng đa cấp có hoạt động không trung thực ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng, gây bức xúc cho xã hội. Vì vậy, tác giả luận án lấy địa bàn TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội để nghiên cứu thực tế nhằm rút ra những bài học từ thực tiễn, góp phần đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhànước đối với hoạt động bán hàng đa cấp.

Vềthời gian: Cácsốliệu thống kêsửdụng trong luận ánđượctiến hành thu thập từ năm 2004 đến năm 2016.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu hiệu quả những vấn đề của đề tài đặt ra, luận án sửdụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đây là phương pháp chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án, để đưa ra những kết luận khoa học đảm bảo tính khách quan, chân thực. Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành (kinh tế, luật học, chính trị); phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp xã hội học pháp luật; phương pháp phân tích hệthống; phương pháp đồhọa (phương pháp mạng lưới); phương pháp mô hình (mô

hình tác nghiệp…).

Để thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, tác giả luận án kết hợp chặt chẽ các phương pháp này trong suốt quá trình nghiên cứu toàn bộ nội dung luận án, tùy thuộc vào từng chương, các phương pháp nghiên cứu được áp dụng như sau:

–ỞChương 1, tác giảsửdụng phương pháp tổng hợp, thống kê, thu thập, phân tích, tiếp cận đa ngành nhằm đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.

–ỞChương 2, tác giảchú trọng phương pháp hệthống, so sánh, phương

4

pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp, đồng thời, phân tích so sánh các quy định pháp luật của một số nước trên thế giới cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lýnhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ởViệt Nam.

– Ở Chương 3, tác giả chú trọng phương pháp hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp, đánh giá; phương pháp đồhọa (phương pháp mạng lưới), nhằm làm rõ thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật vềquản lý nhà nướcđốivới hoạtđộngbán hàng đa cấptrong thời gian qua, chỉra những thành tựu cơ bản, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân.

– Ở Chương 4, tác giả vận dụng kết hợp các phương pháp lịch sử, xã hội học pháp luật, phương pháp tổng hợp và dự báo để đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp, bảo đảm mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạtđộng bán hành đa cấp, song vẫn tôn

trọng quyền tự do kinh doanh và nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp cũng nhưngười tham gia, tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhưng bảo vệ hiệu quả

quyền lợi của người tiêu dùng trong phương thức kinh doanh bán hàng đa cấp…

5. Những điểm mới của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện về quản lý nhànước đối với hoạt động bán hàng đa cấp trong điều kiện kinh tếthịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những điểmmới của luận án được thể hiện ở các vấn đềsau đây:

Một là, luận án làm rõ tính đặc thù của phương thức bán hàng đa cấp và chính những đặc thù này chi phối yêu cầu, mô hình và nội dung của quản lýnhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam về phương diện lý luận. Đồng thời, để làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp, luận án cũng khảo cứu pháp luật và thực tiễn quản lý nhànước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở một số nước trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam.

Hai là, luận ánđãphân tích thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn quản lý nhà nướcđối với hoạtđộngbán hàng đa cấp ởViệt Nam thời gian qua, đánh giánhững ưu điểm, chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân… Đây được coi là cơ sở thực tiễn quan trọng để hoàn thiện công tác quản lý nhànước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam.

Ba là, từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đưa ra các quan điểm và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam trong tình hình mới.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về mặt khoa học, luận án góp phần làm sáng tỏ thêmcác vấn đề lýluận vềquản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Những nghiên cứu, đề xuất của luận án góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảquản lý nhà nướcđối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam trong tình hình mới.

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu lập pháp cũng như thực tiễn quản lý nhànước đối với hoạt động bán hàng đa cấp. Luận án cũng có thể là tài liệu giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo pháp luật về vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động BHĐC.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mởđầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụlục, luận án được kết cấu bốn chương:

Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp

Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay

Chƣơng 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nướcđối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam.

6

CHƢƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 . Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động BHĐC

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2 Nghiên cứu về thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động BHĐC

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

16

1.2 . Đánh giá về các công trình nghiên cứu đã công bố

Từ quá trình khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề bán hàng đa cấp và quản lý nhà nước có liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy hoạt động nghiên cứu đạt được một số kết quả cơ bản sau:

Một là, có rất nhiều cách tiếp cận ở cácgócđộ khácnhau từ góc độ kinh tế, góc độ pháp lý, góc độ chính trị về bán hàng đa cấp. Song nhìn chung dù là ủng hộhay phản đối phương thức kinh doanh đa cấp, các tác giảđều khẳng định tính hai mặt của bán hàng đa cấp và là xu thế tất yếu khách quan của quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế.

Hai là, các công trình đã phân tích làm rõ cơsởkinh tế, pháp lý của việc áp dụng các quy định pháp luật trong hoạt động quản lý bán hàng đa cấp. Ở khía cạnh này cũng có nhiều quan điểm khác nhau có ý kiến cho rằng nên chăng bỏ bán hàngđa cấp trong kinh tế. Điều này đi ngược lại tựdo trong kinh doanh mà Hiến pháp nước ta đã quy định.

Ba là,ởViệt Nam mặc dù vấn đềquản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đacấpcòn khá nhiều tranh luận trong khoahọcpháp lý và thực tiễn kinh doanh song ở các khía cạnh khác nhau, vấn đề này cũng đựơc giới kinh tế, luật học quan tâm và nhìn chung đềucó quan điểmtương đốithống nhấtvềphương thức kinh doanh là bán hàng đa cấp.

Theo tác giả, một sốvấn đềcần tiếp tục nghiên cứu, tìm giải pháp cho hoạt động quản lý nhà nước đối với BHĐC: Trên cơ sở khảo cứu, hệ thống hoá các công trình khoa học đi trước có liên quan đến đề tài luận án, tác giả kế thừa có chọn lọc và phát triển ý tưởng khoa học, từ đó đưa ra những luận điểm của mình về vấn đềnghiên cứu; Bên cạnh việc nghiên cứu hệthống các quy phạm pháp luật vềbán hàng đa cấp của quốc tế cũng như của Việt Nam, luận án sẽ tập trung hướng nghiên cứu vào thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Qua đó rút ra những nhận xét, đánh giá về những khó khăn, phức tạp khi áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị về quan điểm, giải pháp hoàn thiện thể chế, thiết chế về quản lý nhànước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở nước ta hiện nay.

17

Một hướng tiếpcậncũng đượcluận án chú trọng là nghiên cứupháp luật quản lýnhà nước đối với hoạt độngbán hàng đa cấp của một số quốc gia tiêu biểu (có nền kinh tế phát triển, có nền kinh tế gần giống Việt Nam), từ đó tổng kết đánh giá để rút ra những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học hỏi để xây dựng pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh đa cấp của mình.

Qua nghiên cứu pháp luật cũng như thực tiễn, nghiên cứu sinh nhận thấy quản lý hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam mang tính chưa chặt chẽ vàbị động cần phải có giải pháp để giúp cho các cơ quan quản lý một cách chủ động hơn – chặt chẽ hơn vàđặc biệt làbảo vệ quyền tự do trong kinh doanh, người tham gia cũng như người tiêu dùng trong bán hàng đa cấp.

1.3 Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu 1.3.1 Cơ sở lý thuyết

Đề tài luận án được nghiên cứu trước hết là dựa vào các quan điểm của chủ

nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và đường lối chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về các thành phần kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.

Luận án cũng dựa vàođường lối đổi mới của đất nước, các nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng, Hiến pháp và văn bản pháp luật của Nhà nước trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó theo định hướng chosựhoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp.

Luận án tiếp cận các vấn đề theo hướng từ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp đến đánh giá thực trạng công tác quản lý nhànước đối với hoạt động bán hàng đa cấp. Tácgiả, đã sử dụngcác lý thuyết sau: Lýthuyết liên quan đến kinh tế thị trường, các lý thuyết gồm: Lý thuyết về kinh tế thịtrường tự do (Ađam Smits); Lý thuyết hệ thống trong quản lý nhà nước; Lý thuyết trò chơi: được sử dụng để thỏa mãn các nhu cầu của quản lý. Ở đây xung đột không nhất thiết là xung đột đối kháng, mà sựbấtđồng bất kỳnào cũng có thểxem là xung đột; Lý thuyết về hợp đồng.

Để làm sáng tỏ các giả thuyết trên, luận án được triển khai với các câu hỏi cótính lý luận cũng như các câu hỏi liên quan đến khía cạnh pháp luật thực định.

18

Thứ nhất, về khía cạnh lý luận: Câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu:

– Bán hàng đa cấp là gì?

– Đặc điểm bán hàng đa cấp?

– Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp là gì?

– Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp?

– Vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt độngbán hàng đa cấp được pháp luật Việt Nam tiếp cận và quy định như thế nào?

– Tại sao các quốc gia khác trên thế giới thực hiện công tác quản lý bán hàng đa cấp tốt hơn Việt Nam?

– Những bất cập, hạn chế của quản lý nhà nước đối với bán hàng đa cấp ở Việt

Nam là gì?

– Nguyên nhân và phương hướng và các giải pháp nào cho hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với bán hàng đa cấp?

Giả thiết nghiên cứu:

– Trong hoạt động kinh doanhh, bán hàng đa cấp có những quan niệm chưa thống nhất, một số quan điểm cho rằng nên bỏ phương thức kinh doanh này và cónhững quan điểm ngược lại bởi lẽ lý do nhà nước chưa quản lý được một cách chủđộng về loại hình kinh doanh này. Việc áp dụng các quy định pháp luật “cấm” điều đó có tác động lớn, trực tiếp đến các các doanh nghiêp trong tự do kinh doanh.

– Trong quản lý nhà nước đối với bán hàng đa cấp hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập, với những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau.

– Tổ chức cơ quan quản lý nhà nước đối với bán hàng đa cấp cần đổi mới. Dự kiến kết quả nghiên cứu:

– Là công trình đầutiên trong khoa học Luật Hành chính Việt Nam viết vềQLNN đối với bán hàng đa cấp, luận án đã:

– Phân tích toàn diện và sâu s c khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung của QLNN đối với bán hàng đa cấp;

– Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp;

19

– Từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối hoạt động bán hàng đa cấp.

Thứ hai, về khía cạnh pháp luật thực định: Câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu:

– Sự cần thiết của pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp?

– Mức độluật hóa các quyđịnh vềquản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp?

– Nội dung quyđịnh pháp luật vềquản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp?

– Thực tiễn áp dụng pháp luật trong công tác quản lý nhànướcđốivới hoạt động bán hàng đa cấp như thế nào?

Giảthiết nghiên cứu: Nhànướcban hành các quyđịnhcủapháp luậtvềbán hàng đacấptính nguyên t c (quyđịnhkhung)đểcác doanh ngiệp và người tham gia tuân theo khi ban hành pháp luậtcủamình, vìvậycó những cách hiểu không giống nhau và khó áp dụng trong thực tiễn. Pháp luậtvềbán hàng đa cấp của Việt Nam mới chỉ chú trọng tới việc thừa nhận tính hợp pháp của phương thức bán hàng đa cấp chưa thật sự bảo vệ sâu s c doanh nghiệp và người tham gia bán hàng đa cấp. Điều này sẽ dẫn chứng cụ thể trong phần thực trạng của việc quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh đa cấp. Vấn đề hoàn thiện pháp luật cũng như xây dựng cơchếthực hiện quản lý nhà nướcđốivớihoạtđộngbán hàng đa cấpmà nghiêncứusinh nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quảquản lý nhànước trong kinh doanh.

Dự kiến kết quả nghiên cứu: đưa ra được những quan điểm, giải pháp khoa học và có tính thực tiễn cao cho hoạt độnglập pháp, lập quy trong quá trình hoàn thiện pháp luật vềquản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp, một mặt vừa phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam hiện hành lại vừa đảm bảo lợi thế cho Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể luận án có nhữngđiểm mới sau:

Thứ nhất, luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống, sâu

20

s c những khía cạnh lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp.

Thứhai, luận án đưa ra những luận cứkhoa học luận giải cho việc duy trì phương thức bán hàng đa cấp. Điểm đáng lưu ý là luận án phân tích đưa ra quanđiểm với góc độ quản lý nhà nước về hành chính đối với hoạt động bán hàng đa cấp mà các tác giả trước đây chưa đề cập sâu s c.

Thứ ba, luận án sử dụng pháp luật về bán hàng đa cấp đang có hiệu lực thi hành như một chuẩn mực pháp lýđể đánh giá mức độ quản lýnhà nước với phương thức kinh doanh này, qua đó làm rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật nước ta vềvấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp.

Thứ tư, luận án là công trình khoa học pháp lý, song có đối tượng nghiên cứu

mang đậm tính chất chính sách – luật, vì vậy những giải pháp đề xuất, ý tưởng pháp lý mang tính chính sách chi phối việc xây dựng pháp luật nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp. Tạo thế chủ động cho Việt Nam trong các quan hệ thương mại quốc tế, khi phải áp dụng các quy định pháp luật đối với phương thức kinh doanh này. Theo tác giả, thì hiện nay các cơquan quản lý của Việt Nam vẫn luôn bịđộng(thực tiễn diễn ra các vi phạm trong hoạt độngbán hàng đa cấp mà pháp luật chưa dự liệu được để bảo vệ người tham gia và người tiêu dùng).

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Đểnghiên cứu có hiệu quảnhững vấn đềdo đềtài đặt ra, luận án sửdụng phương pháp luận củachủnghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đâylà phương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án,để đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm tính khách quan, chân thực.

Từphương pháp chung đó, luận án sửdụng các phương pháp nghiên cứu cụthểđólà: Phương pháp tiếp cận hệthống đa ngành, liên ngành (kinh tế,luật học, chính trị); phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp xãhộihọcpháp luật; phương pháp phân tíchhệthống; phương phápđồhọa (phương pháp mạng lưới); phương pháp mô hình (mô hình tác nghiệp). Đểthực hiện có hiệu quảmục đích nghiên cứu, luận án kết hợp chặt chẽgiữa các phương

21

pháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận án. Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng chương, mụctrong luận án, tác giảvận dụng, chú trọng các phương pháp khác nhau cho phù hợp. Các phương pháp đó được vận dụng cụ thể trong luận án như sau:

Trong chương 2, tác giả chú trọng phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích tổng hợp (hệthống các quan điểmcủa các nhà nghiên cứu kinh tế, pháp lý). Phân tích đánh giá, tổng hợp nhằm làm rõ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp thông qua việc phân tích cơ sởkinh tế, chính trị, pháp lý phương thức bán hàng đa cấp và quản lý nhà nước đối với hoạt động này.Đồng thời, phân tích các quy định pháp luật của một số nước trên thế giới về quản lý nhà nước đối vớihoạt động bán hàng đa cấp, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay trong hoạt động bán hàng đa cấp, qua đó nhận xét khả năng áp dụng pháp luật trong việc thực thi quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp vàkết quảmà quản lý nhà nước đối với phương thức kinh doanh này mang lại góp phần cho công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế nói chung.

Trong chương 3, tác giả chú trọng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp phân tíchhệthống; phương phápđồhọa (phương pháp mạng lưới), nhằm làm rõ nhữngnộidungcầnnghiên cứu. Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn sử dụng các quy định đó liên quanđếnviệc quản lý nhànướcđốivớihoạtđộngbán hàng đa cấptrong thời gian vừa qua. Qua đó đánh giá pháp luật (những ưu điểm những hạn chế, bất cập).

Trong chương 4, tác giảvận dụng kết hợpcác phương pháp lịch sử, xã hội học pháp luật, phương pháp so sánh, phương pháp trò chơi để đưa ra quan điểm của mình vềhoàn thiện pháp luật vềquản lý nhànước đối với hoạt động bán hàng đa cấp. Đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật để Việt Nam có thể tối đa hoá quyền lực nhà nước trong quản lýđối với hoạt động bánhàng đa cấp đồng thời bảo hộ doanh nghiệp cũng như người tham gia, người tiêu dùng trong phương thức kinh doanh đa cấp và tạo lợi thế cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp.

22

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Từ những ý tưởng cũng như luận giải nhưđãtrình bày, nghiên cứu sinh rút ra một số kết luận sau:

Với những ưu điểm vượt trội trong việc thu hút người tiêu dùng tham gia mạng lưới phân phối, bán hàng đa cấp sẽ là phương thức tiêu thụ sản phẩm có khảnăng phát triển mạnh mẽ ở nước ta trong nhiều năm tới. Dưới góc độ pháp lý, điều đó đòi hỏi pháp luật không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể bán hàng đa cấp chân chính phát triển, mà còn phải có khảnăng ngăn ngừa và xửlý nghiêm minh những chủthểlợi dụng bán hàng đa cấpđểtrục lợi bất chính góp phần bảovệquyền lợi chính đáng của ngườitiêu dùng, người tham gia và doanh nghiệp bán hàng đa cấp nói chung. Và để góp phần đáp ứng yêu cầu trên, qua quá trình nhiên cứu đề tài, tác giả rút ra một số kết luận sau:

Pháp luật điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp hiện nay của nướcta chưa phù hợp với thực tiễn bán hàng đa cấp. Pháp luật có nhiều quy định tập trung vào khâu đăng ký bán hàng đa cấp nhưng buông lỏng quá trình hoạt động của doanh nghiệp và người tham gia bán hàng đa cấp. Bên cạnh đó,các quyđịnh xửlý vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực bán hàng đa cấp còn nhiều thiếu sót nên chưa thểáp dụng vào thực tiễn. Từđó dẫn đến hệquảkhông thểquản lý và ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm của doanh nghiệp và người tham gia bán hàng đa cấp.

Bán hàng đa cấp luôn là vấn đềđược các học giảtrên thếgiới quan tâm nghiên cứu từ lâu và có nhiều quan điểm khác nhau, điều đó cho thấy tính phức tạp của vấn đề. Ở Việt Nam, vấn đề này còn có nhiều tranh luận, tuy đã có một số công trình nghiên cứu, nhưng chủyếunhìntừcác khía cạnh kinh tế. Vì vậy,rấtcầncómột công trình nghiên cứu độc lập chuyên sâu và có hệ thống về quản lý nhà nước hoạt động bán hàng đa cấp từ góc độ thể chế pháp lý.

23

CHƢƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐACẤP

2.1 Những vấn đề chung về hoạt động bán hàng đa cấp 2.1.1 Khái niệm bán hàng đa cấp

Bán hàng đa cấp được các nhà khoa học nhìn nhận từ những góc độ như sau:

Từgóc độphương thức kinh doanh: Bán hàng đa cấp là phương thức kinh doanh kết hợp giữa bán hàng trực tiếp (Direct Selling) và nhượng quyền thương mại. Đại diện bán hàng đa cấp (hay còn gọi là nhà phân phối, hợp tác viên, đại lý, v.v…) nhận hoa hồng từhiệu quảbán hàng của chính mình. Ngoài ra, khi kêu gọi được những thành viên mớitham gia hệthống của mình,họcòn nhận đượchoa hồng từ hiệu quả bán hàng của các thành viên mới (gọi là cấp dưới). Còn trong hệthống bán hàng đa cấp, tiền hoa hồng được trả cho nhiều người thuộc các cấp khác nhau trong hệ thống.

Từgóc độmarketing: Bán hàng đa cấp là phương thức bán hàng trong đó việc tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm được thực hiện qua một cơ cấu nhiều tầng là các mạng lưới phân phối bao gồm những nhà phân phối (NPP) (tức người tham gia bán hàng đa cấp)- có nhiệmvụ: phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng và xây dựng mạng lưới phân phối. Những NPP này hoạt động độc lập và thu nhập của họđược tính theo những tỉlệnhất định trên doanh sốbán hàng của chính nhà phân phối và của mạng lưới do nhà phân phối này xây dựng.

Theo nhà kinh doanh mạngnổitiếng người Mỹlà Don Failla thì: “Kinh doanh đa cấp là hình thức kinh doanh sử dụng những người hợp thành một tổ chức đểlưu hành hàng hóa và dịch vụtừđiểmsản xuất đến người tiêu dùng bằng phương pháp tiếp xúc trực tiếp giữa con người với con người” [84, tr. 99] và “Kinh doanh đa cấp dựa trênsựgiao tiếp giữa mọingười với nhau. Bạn càng thích sản phẩm bao nhiêu thì bạn càng dễ kể cho mọi người nghe về các ưu điểm của nó bấy nhiêu. Khi bạn xem cuốn phim hay hay đọc một cuốn sách hay, thếnào bạn cũng muốn kể với bạn bè và mọi người trong gia đình về chúng… Bạn đừng quên điều đókhi làm việc với sản phẩm vừa dịch vụ của công ty mình” [84, tr. 19].

24

Ở nước ta, bán hàng đa cấp được đề cập dưới nhiều tên gọi như “truyền tiêu

đa cấp”,“kinh doanh theo mạng”, “tiếp thị đa tầng”, “kinh doanhđa cấp”…nhưng

thực chấtđâylà những cách dịch khác nhautừcụm từtiếng Anh “Multi –level

marketing”. Do đó, để tìm hiểu về bán hàng đa cấp phải tìm hiểu về “Multi – level

marketing” hay là kinh doanh đa cấp. “Multi – level marketing” là phương thức tiêu

thụ sản phẩm do nhà hóa học người Mỹ Karl Rendorg (1887 – 1973) sáng tạo trong

khoảng năm 1927 –1934. Hiện tại chưa có một khái niệm chung nhất vềkinh doanh đa cấp mà chủ yếu các khái niệm được đưa ra từ những quy định chung của các văn bản luật quốc gia hayđược đưa ra bởi những người thành đạt trong kinh doanh đa cấp trên thế giới. [61, tr.2]

Theo Nghịđịnh 42/2014/NĐ-CPcủaChính phủban hành ngày 14/05/2014 về quản lý bán hàng kinh doanh đa cấp nêu rõ: “Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hình thức kinh doanh thông qua mạnglưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau, trong đó, người tham gia được hưởnghoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác từ hoạt động kinh doanh của mình và của mạng lưới do mình xây dựng”. Còn theo Khoản 11, Điều 3, Luật Cạnh tranh số27/2004/QH11 được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 03/12/2004: “BHĐC là một phương thức tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp thông qua nhiều cấp khác nhau, trong đó người tham gia sẽ được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng và/hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng hóa của mình và của người khác trong mạng lưới do người đó tổ chức ra và được doanh nghiệp BHĐC chấp thuận”. Theo đó, BHĐCđược hiểu:

– Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;

– Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;

– Người bán hàngđa cấp được hưởngtiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàngđa cấp cấp dướitrong mạng lưới do mìnhtổchức và mạnglưới đó được doanh

25

nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.

2.1.2 Đặc điểm của bán hàng đa cấp

Thứ nhất, bán hàng đa cấp là một hình thức phát triển của bán hàng trực tiếp (là phương thức bánlẻhàng hóa). Bán hàng trực tiếp là phương thức phân phối hàng hoá không qua bất kỳ một cấp trung gian nào. Mọi hoạt động sản xuất, phân phối hàng hoá đến tay người tiêu dùng đều do nhà sản xuất đảm nhiệm thông qua mạng lưới những người bán hàng trực tiếp. Tuy nhiên, có những công ty bán hàng trực tiếp không qua đội ngũ nhân viên mà qua một hệthống, mạng lưới các nhà phân phốiđộc lập. Doanh nghiệp tổchức bán hàng đa cấp sẽthiết lập được mối quan hệmua bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng mà không tốn phí các khoản đầu tư thành lập, duy trì mạng lưới phân phối dưới dạng cửa hàng giới thiệu sản phẩm hoặc cácđại lý phân phối. Đồng thời, ngườitiêu dùng có cơ hộimuađược sản phẩm từgốc sản xuất, tránh những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình phân phối như nạn hàng giả, giá cả không trung thực…

Thứhai, bán hàng đa cấp có phương thức bán hàng là thông qua những người tham giađược tổ chức ở nhiều tầngkhác nhau. Người tham gia bán hàng đa cấp được hiểu đơn giản là những cộng tác viên trong việc tiếp thị, bán lẻ hàng hóa cho doanh nghiệp cho dù họ được gọi với những tên gọi nhưđại lý,nhà phân phối độc lập,trực tiếp viên…Còn việc kinh doanh đa cấp dựa trên nền tảng mối quanhệthân quen, dựa trên uy tín của phân phối viên với khách hàng. Khi người đầu tiên của hình tháp (tầng 1) tìm được 5 người cùng tham gia (tầng 2), sauđó mỗi người này lại tìm thêm 5 người nữa (tầng 3) [xem phụlục số1] thì hình tháp đã có 31 người. Sauđómỗi người ở tầng3 lại tìm được 5 người nữa cùng tham gia (tầng 4).

Đến đây hình tháp đã có 156 người…Trên thực tế thì con số này lớn hơn nhiều lần. Khi mô hình của người tham giahoạt độngtốt sẽ tạo nên một phản ứng dây chuyền liên tục.Ngườitham gia mạng lướibán hàng đa cấp hợpthành nhiều tầng khác nhau. Trong đó người thuộc tầng trên là người trực tiếp tuyển dụng hoặc giúp đỡ, đào tạo những người thuộc tầng dưới kếtiếp vềcách tiếp thịsảnphẩm, phương pháp tuyển dụng và xây dựng mạng lưới phân phối tuyến dưới.

Thứ ba, doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải chi trả hoa hồng cho phân phối

26

viên. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp không trảlương cốđịnhcho phân phối viên bán hàng đa cấp. Bởi vì, doanh nghiệp bán hàng đa cấp trả một khoản tiền hoa hồng cho công tuyển dụng, đào tạo phân phối viên mới của phân phối viên cũ. Thậm chí, trong trường hợp phân phối viên mới đã xây dựng được mạng lưới phân phối riêng và tách khỏi nhánh của phân phối viên từng đào tạo thì phân phối viên cũ vẫn được hưởng mộtkhoản hoa hồng nhỏtrênsảnphẩm do nhánh của phân phối viên mới tách ra tiêu thụ được. Bên cạnh đó, khi mạng lưới phân phối tầngdưới đã đạt đến quy mô nhất định (thường gồm 3 tầng, trong đó tầng thứ nhất có 5 phân phối viên và mỗi người thuộc thuộc tầng thứnhấtđỡđầu cho 5 ngườithuộc tầng thứhai, tương tựnhưvậyđối với tầng thứhai và tầng thứba) phân phối viên giảmđược việc bán lẻđểtập trung quản lý, đỡđầu phân phối viên tuyến dướinhưng vẫn cónguồn thu nhập đáng kể từ kết quả tiêu thụ sản phẩm của mạng lưới phân phối viên tuyến dưới.

Thứ tư, người tham gia bán hàng đa cấp là người tiêu dùng mà không nhân danh doanh nghiệp. Như vậy, khi giới thiệu và bánlẻsản phẩm, doanh nghiệp đãkhông phải là người trực tiếp thiết lập quan hệvới người tiêu dùng mà thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia, cho nên họ độc lập tương đối trong quan hệvới khách hàng. Mặt khác, người tham gia bán hàng đa cấp không phải là nhân viên của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm vềhành vi của người tham gia trước khách hàng tiêuthụsản phẩm. Trách nhiệm của doanh nghiệp chỉ giới hạn trong phạm vi chất lượng sản phẩm và các thông tin liên quan đến sản phẩm do họ cung cấp.

Thứ năm, doanh nghiệp bán hàng đa cấp không cần quảng cáo sản phẩm trên phương tiện thông tin đại chúng. Bởi vì, phân phối viên sẽ trực tiếp quảng cáo cho từng khách hàng. Đồng thời doanh nghiệp cũng không cần thành lập hệ thống chi nhánh, đại lý phân phối sản phẩm rộng lớn mà chỉcần trảhoa hồng cho phân phối viên theo khối lượng sảnphẩm họtiêuthụđược. Với cách hoạt độngkinh doanh như thế, doanh nghiệp không phải chitrảcho những khoản quảng cáo, tiếp thị, mởđại lý…và toàn bộnhững khoản tiền đó doanh nghiệp sẽchi trảtiền hoa hồng cho phân phối viên.

27

2.1.3 Phân biệt bán hàng đa cấp với các phương thức bán hàng trực tiếp khác

và bán hàng đa cấp bất chính

2.1.3.1 Phân biệt bán hàng đa cấp với bán hàng trực tiếp

Bán hàng đa cấp cũng là một phương thức bán hàng trực tiếp. Tuy nhiên bán hàng đa cấp có nhữngđiểmkhác biệt rõ nét với phương thức bán hàng trực tiếp khác như bán hàng qua điện thoại, internet, home shopping, bán hàng thông qua mạng lưới phân phối do doanh nghiệp trực tiếp tuyển dụng…

Phân phối viên trong phương thức bán hàng trực tiếp là người bán hàng cho doanh nghiệp, còn phân phối viên trong bán hàng đa cấp là bán hàng cho chính mình. Bởi vì, trong bán hàng đa cấp bất luận người tiêu dùng mua hàng từphân phối viên hay trực tiếp đến doanh nghiệp mua hàng qua sự giới thiệu của phân phối viên thì vẫn được xem như là phân phối viên mua sản phẩm từ doanh nghiệp với giásỉ, bán lại cho người tiêu dùng với giá lẻ.

Bán hàng đa cấp thực chất là bán lẻ sản phẩm của người tham gia bán hàng đa cấp. Bởi vì, phân phối viên của bán hàng đa cấp phải xây dựng được mạnglưới phân phối tuyếndướicho riêng mình.Nếunhư phân phối viên bán hàng trực tiếp khác phải cốg ng bán hàng 100% thì phân phối viên của bán hàng đa cấp trong mạng lưới họ xây dựng chỉ cần cố g ng 1%. Đó là sức mạnh thành công của mạng lưới bán hàng đa cấp mà phương thức bán hàng trực tiếp khác không có.

Phân phối viên bán hàng đa cấp có quyền tuyển dụng, đào tạo phân phối viên mới để phân phối bán hàng. Còn đối với phương thức bán hàng trực tiếp khác, phân phối viên không có quyền này. Trái lại phân phối viên trong phương thức bán hàng trực tiếp chủyếu là người xa lạ. Phân phối viên trong bán hàng trực tiếp được hưởng lương, hoa hồng hoặc tiền thưởng trên lượng sản phẩm bán được cho doanh nghiệp. Nếu không bán được sản phẩm, hoặc phân phối viên ngừng hoạt động thì mấtnguồn thu nhập và phải tham gia lại từđầu. Còn đối với phân phối viên bán hàng đa cấp, họ không hưởng lương cơ bản mà chỉ hưởng tiền hoa hồng trên cơ sởlà bán hàng trực tiếp (bán lẻ sản phẩm) và lượng hàng do mạng lưới phân phối viên

tầng dưới bán được. Do vậy, phân phối viên có thể giảm tối đa việc tự mình bán lẻsản phẩm bằng cách xây dựng mạng lưới phân phối viên tuyến dưới. [xem phụ lục

28

số 2] và [ xem phụ lục số 3].

2.1.3.2 Phân biệt bán hàng đa cấp với bán hàng đa cấp bất chính

Bán hàng đa cấp bất chính là một hiện tượng xuất hiện vào cuối những năm 1960 bởi thương nhân Hoa kỳ Glen Turner [86, tr. 45]. Dưới góc độ pháp lý, các cơquan có thẩm quyền ở Hoa kỳ thường dẫn chiếu định nghĩa về bán hàng đa cấp bất chính trong phán quyết của Ủy ban thương mại Liên bang đối với vụ kiện công ty Koscot Interplanetery, Inc: “Kinh doanh đa cấp bất chính là mô hình mà trong đóngười tham gia phải trả một khoản tiền cho công ty để được quyền bán sản phẩm và được quyền nhận tiền thưởng từ việc tuyển những người khác tham gia vào chương trình mà những khoản thu nhập đó không liên quan đến việc bán sản phẩm cho người tiêu dùng thực sự [98]

Theo pháp luật Việt Nam, bán hàng đa cấp bất chính được quyđịnh tại Điều 48 Luật Cạnh tranh năm 2004 bằng những hành vi như sau:

1. Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một sốlượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

2. Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất 90% giá hàng hoá đã bán cho người tham gia để bán lại;

3. Cho người tham gia nhận hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tếkhác chủyếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

4. Cung cấp thông tin gian dối vềlợiích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch vềtính chất, công dụng của hàng hoá đểdụdỗngười khác tham gia.

Như vậy, bán hàng đa cấp bất chính là một hình thức kinh doanh mà trong đó doanh nghiệp và những người thuộc tầng trên trong mạng lưới người tham gia được hưởng các khoản lợiích kinh tếchủyếutừtiền đóng góp củanhững người mới tham gia chứkhông phải từlợi nhuận của việc bán lẻsản phẩm cho người tiêu dùng.

Bán hàng đa cấp khác với bán hàng đa cấp bất chính qua đặc điểm sau:

Thứ nhất, cách thức tuyển người vào mạng mạng lưới: Mạng lưới của những

29

năm 60 hoạt động theo nguyên t c “từcon người đến con người”, nghĩa là một người giới thiệu cho một người khác, sauđóngười này lại giới thiệu cho hai người tiếp theo, những ngườitiếp theo đó đến lượtmình lại giới thiệu thêm người nữa. Trong mô hình “hình tháp ảo” người tham gia theo mô hình này thực hiện bằng cách chiêu dụngười tham gia khác như hứa hẹn một mức hoa hồng cao nếu đóng tiền tham gia mạng lưới và lôi kéo được người tham gia khác nữa. Các công ty hoạt động theo kiểu này có thể kiếm được rất nhiều tiền mà không cần quan tâm đến việc bán lẻ sản phẩm. Vì vậy, khi có một hứa hẹn nào đó về khoản hoa hồng mà người tham gia có thể thu được chỉ từ việc giới thiệu thêm được người tham gia vào mạng lưới thì đó ch c ch n là “hình tháp ảo”. Thực chất khi tham gia vào những công ty như vậy, phải bỏra một khoản tiền ban đầu khá lớnnếutìmđược một ngườimới vào thì sẽ được công ty trả lại vào mức hoa hồng, nhưng mức trả này bao giờ cũng nhỏ hơn rất nhiều so với mức đã bỏ vào. Chính vì vậy người tham gia càng phải cốg ng dụdỗđược nhiều người tham gia càng tốt đểhy vọng lấylại được sốtiền mình đã bỏ ra và thu lợi từ những người tham gia tiếp theo.

Thứ hai, những người vào trước luôn luôn có thu nhập cao hơn người vào sau nên đã tạo ra một “hình tháp ảo”. Điều đó đúng, nhưng chỉnhận được thu nhập như thế khi họ thực sự làm việc nghiêm túc, chỉ khi nào mạng lưới hoạt động hiệu quả và vững mạnh thì mới có thể có một khoản thu nhập hậu kỳ cao được. Ở công ty làm ăn chân chính thì người vào sau vẫn có thể có thu nhập nhiều hơn người vào trước nếu họ làm việc có hiệu quả hơn và có thể vượt lên cấp cao hơn. Nếu chỉ nhìn nhận rằng chỉ có những người vào trước mới có thu nhập cao hơn người vào sau thìmạng lưới đó rất dễdàng biến tướng thành một “hình tháp ảo” và thu nhập chính của đỉnh tháp chính là hút từ dưới đáy tháp lên [xem phụ lục số 4]

Thứ ba, phải có đóng góp bắt buộc khi vào công ty: Cần phân biệt giữa đóng góp b t buộc với khoản tiền mua hàng dùng thử. Nhiều công ty theo“hình tháp ảo” yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp chi một khoản tiền khá lớn rồi đưa sản phẩm cho họ dùng thử, nhưng giá trị sản phẩm lại nhỏ hơn nhiều so với khoản tiền đã đónggóp. Công ty bán hàng đa cấp chân chính không b t buộc người tham gia phải mua sản phẩm mà chỉ khuyến khích nên dùng sản phẩm để hiểu rõ về nó trước

30

khi giới thiệu cho người khác. Những công ty b t buộc người tham gia phải đặt cọc, phải mua hàng trước khi tham gia thì đó là “hình tháp ảo”.

Thứ tư,về sản phẩm: Trong mô hình chân chính thì sản phẩm mà công ty phân phối là những sản phẩm không thểmua được ởcác siêu thị, cửa hàng hayđại lý ngoài thị trường. Nó chỉ được phân phối qua các nhà phân phối độc lập. Các công ty bán hàng đa cấp chân chính là những công ty có bằng cấpsáng chếhay có quyền độc quyền đối với sản phẩm của mình. Các công ty này đảm bảo cho chất lượng sản phẩm bằng cách thu hồi lại các sản phẩm với mức giá ít nhất 90% giá hàng hóađãbán lại cho người tham gia. Với mô hình “hình tháp ảo” những sản phẩm có thểđược bán trên các siêu thị, đại lý, khi đưa vào “hình tháp ảo” đượcdoanh nghiệp BHĐC nâng giá lên nhiều lần.

Thứ năm, có thể phân biệt điểm khác nhau cơ bản giữa bán hàng đa cấp chân chính và mô hình “hình tháp ảo” ởchỗ, nếu như trong bán hàng đa cấp giá trịđi xuống là sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng cao, mang lại giá trị đích thực hoặc tương xứng với đồng tiền bỏ ra thì trong hình tháp ảo giá trị đi xuống là một giá trịảo chỉ có giá trị tạm thời. Nội bộ hình tháp hoặc không có giá trị gì hoặc cũng có thểlà giá trị nhỏ hơn, không tương xứng với đồng tiền bỏ ra. Trong hình tháp ảo, mọi người tham gia chỉ có mục đích là có mã số hoạt động giới thiệu người tham gia mà không quan tâm tới sản phẩm có hiệu quảhay không. Chính vì thếthu nhập của người tham gia chỉcó thểdựa trên đóng góp của người vào sau. Đâylà một hình thức lừa đảo và đến một lúc nào đó sẽ tan vỡ [xem phụ lục số 5].

2.2 . Khái niệm quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động bán hàng đa cấp

Quản lý làmộtphạm trù có liên quanmậtthiếtvớihiệp tác và phân công laođộng,nó làmộtthuộc tínhtựnhiêncủamọilaođộnghiệp tác.Từkhi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý có trong xãhộinguyên thủy,ởđóconngườiphảihợptácvớinhaulạiđểđấu tranhthếgiới tựnhiên, muốn sinhtồnconngườiphảitổchức sảnxuất,tổchức phân phối. C.Mác đã coi sự quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình laođộngcá biệt,tảnmạn,độclậpvớinhau thànhmộtquá trình xã hội được phối hợp lại.

31

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quátrình xã hội, các hoạt động của con người và các tổ chức trong xã hội để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

Theo nghĩa rộng thì “quản lý nhà nước được hiểu là sự tác động của các chủthểmang quyền lực nhà nước, chủyếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước” [35, tr.11]. Đây làhoạt động củatoànbộbộmáy nhànướcgồm cơ quan lập pháp, hành pháp và tưpháp nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước.

Còn quản lý nhànướctheo nghĩahẹpchính là hoạtđộngchấp hành vàđiềuhành,“đượctiến hành trên cơsởvàđểthi hành luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của Nhà nước trên mọi lĩnh vực hành chính – chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội” [80, tr.459]. Theo nghĩa hẹp, thì quản lý nhànước không bao gồm hoạt động lập pháp và tư pháp của Nhà nước, mà đó là hoạt độngđiềuhành công việc hàng ngàycủaquyền hành pháp vàcủahệthốngtổchức hành chính.

Nhưvậy, quản lý nhànước là sựtác động mang tính chấp hành và điều hành của các chủthể mang quyền lực nhà nước, chủyếu là các cơ quan hành chính nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở pháp luật.

Nhìn nhận từ gócđộ quản lýnhà nước như nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp như sau: “Quản lý nhànước đối với hoạt độngbán hàng đa cấp là tập hợp những tác động liên tục, có tổ chức, có địnhhướngcủa Nhà nước mang tính chấp hành và điều hành đến toàn bộ quátrình hoạt động bán hàng đa cấp, từ giai đoạn đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp đến hoạt động kinh doanh phù hợp mục đích của nhà nước trong điều kiện kinh tếthị trường.”

Từ đó, quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp mang những đặc điểm chung của quản lý nhà nước:

32

Một là, quản lý nhà nước đối với hoạt độngbán hàng đa cấp là hoạt động mang tính tổchức và điều chỉnh. Khi thực hiện hoạtđộngquản lý, Nhà nướcxây dựng các nguyên t c trên cơ sở quy định của pháp luật và các quyết định quản lý đểthiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thểnhằmđịnh hướng cho các hoạt động được diễn ra theo đúng quy luật và đạt được những mụcđích nhấtđịnh (tính tổchức), thông quađó,Nhànướcthực hiện việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tương tự, quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp là việc Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tựdo lựa chọn hình thức kinh doanh bán hàng đa cấp, kiểm tra, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các quy định của pháp luật… Nhà nước thực hiện sự tác động mang tính điều chỉnh bằng pháp luật, nhằm hướng các hoạt động và hành vi của các doanh nghiệp và người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp theo đúng quy định pháp luật, đem lại lợi ích thiết thực cho nền kinh tế.

Hai là, quản lý nhànước đối vớihoạtđộngbán hàng đa cấp là hoạt động quản lý mang tính quyền lực nhà nước. Đâylà đặc điểm quan trọng đểphân biệt hoạt động quản lý hành chính nhà nước với những hoạt động quản lý không mang tính quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước được thểhiện trướchết ởviệc Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật mang tính b t buộc đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp,ngườitham gia mạnglưới bán hàng đa cấp. Tính quyền uy còn được thể hiện ở việc Nhà nước có quyền áp dụng các biện phápchếtài đối với các chủ thể có liên quan trong hoạt động bán hàng đa cấp không tuân thủcác quy định pháp luật. Những biện pháp chế tài này thể hiện tập trung và rõ nét của quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của Nhà nước được bảo đảm thực hiện.

Ba là, quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp làhoạt độngcótính thống nhất, được tổchức chặt chẽ. Bộmáy quản lý nhà nướcđược tổchức thành một khối thống nhấttừtrung ương tới địa phương. Trong đó, Chính phủthống nhất quản lý hoạt động bán hàng đa cấp trên phạm vicảnước. Nhờđó các hoạt động quản lý bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các ngành, các cấp tạo ra sức mạnh tổng hợp.

Bốn là, quản lý nhànước đốivới hoạt động bán hàng đacấpcó tínhchủ

33

động, sáng tạo. Tính chủ động, sáng tạo thể hiện ở việc Nhà nước kịp thời xây dựng và ban hành chính sách pháp luật điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp. Cụthể, quản lý bán hàng đa cấp sớm được quy định tại Khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2014 và cụ thể hóa trong Nghị định 110/2005/NĐ-CP năm 2005 của Chính phủvề quản lý hoạt động bán hàng đa cấp và được sửa đổi bằng Nghị định 42/NĐ-CP

năm 2014 vềquản lý hoạt động bán hàng đa cấp…Điều đó đãthểhiện tínhchủđộng, sáng tạo của Nhà nước trong việc ban hành văn bảnpháp luật nhằm điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp phù hợp với tình hình thực tiễn.

Ngoài ra, quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp có những đặc điểm riêng sau đây:

Thứnhất, trong hoạt động quản lý nhà nước vềbán hàng đa cấp, Nhà nước trao toàn quyềnchủđộng cho doanh nghiệptựlựa chọn phương thức kinh doanh, cụthể là phương thức bán hàng đa cấp. Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp là cách thức Nhà nước tổchức cho công dân thực hiện “quyền tựdo kinh doanh”2 thể hiện mối quanhệgiữa quyền của công dân và nghĩa vụ của Nhà nước. Do đó, với tư cách là nội dung cơ bản của chính sách và công cụ quản lý kinh

tế, pháp luật phải địnhđược giới hạn quản lý nhà nước đểkhông làm tổn hại đến quyền tựdo kinh doanh. Trên nền tảng củanguyên t c không cấm thì được làm, quyền tựdo kinh doanh được Nhà nước bảo đảmbằng một nền hành chính mang

tính chất phục vụ chứ không phải là sự ban phát của cơ chế xin – cho.

Thứ hai, để thực hiện hoạt động bán hàng đa cấp thì doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (hoạt động kinh doanh có điều kiện) đó làBộ Công Thương. Do đó, gắn liền với quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp là quản lý nhà nước đối với đăng ký kinh doanh. Việc đăng ký kinh doanh làmột thủ tục hành chính b t buộc đối với doanh nghiệp muốn kinh doanh, bán hàngđa cấp là một hình thức kinh doanh có điều kiện nên phải đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứba, quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp là quá trình quản lý những đối tượngtương đối phức tạp. Điều 2, Nghịđịnh 42/2014/NĐ-CP

2 Ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp

34

ngày 14 tháng 5 năm 2014: “Đối tượng tham gia hoạt động bán hàng đacấp được quản lý bao gồm doanh nghiệp và người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp”. Vì vậy, đối với doanh nghiệp, công việc quản lý có phần cụ thể và rõ ràng nhưngđối với người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp với số lượng phân phối viên lớn và đa dạng (thậm chí phân phối viên là người có quốc tịch nước ngoài nhưng tham gia

hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam…) việc quản lý rất phức tạp.

Bốn là, cácsảnphẩm bán hàng đa cấp thường có nguồn gốc xuất xứnước ngoài nên việc quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp có quan hệ mật thiết với quản lý hàng hóa nhập khẩu [31]. Việc quản lý hàng hóa nhập khẩu là điều không đơn giản bởi vì phải qua các khâu kiểm định chất lượng, thuế, nhãn hàng hóa và giá cả là điều rất quan trọng.

Tóm lại, quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp vừacó những đặc điểm của quản lý nhà nước nói chung vừa có những đặc điểm riêng như đã nêu. Quản lý nhànước đối với hoạt động bánhàng đa cấp do các cơ quan nhànước cóthẩm quyền tiến hành dựa trên cơ sởquyền lực của Nhà nước. Trong hoạt động quản lý này, Nhà nước đóng vai trò định hướng, hỗ trợ và giám sát quá trình kinh doanh, nhưng phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, xã hội với lợi ích của doanh nghiệp bán hàng đa cấp, người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp và người sử dụng sản phẩm của bán hàng đa cấp.

2.3 Vai trò của quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động BHĐC

Quản  lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay
Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *