Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà Nội

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà Nội

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 25 năm thực hiện Nghị quyết số90/CP (21/8/1997) vềphương hướng và chủtrương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, ytế,văn hóa của Chính phủ, nhiều cá nhân, tổ chức đã tích cực hưởng ứng bỏ vốn hàng để xây dựng bệnh viện, phòng khám tư. Đến nay, hệ thống các cơ sở KCB (KCB), hành nghề y dược tư nhân (YTN) đã phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng với nhiều dịch vụđa dạng, phong phú. Nhờhệthống các cơ sởytếtư nhân nên người dân có điều kiện thuận lợi đểchăm sóc sức khỏe dù ởbất kỳđịaphương nào. Vớichất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao, một số cơ sở dần tạo được niềm tin đối với người bệnh, thu hút đông đảo bệnh nhân, từ đó, tạo tác dụng tích cực giúp giảm tình trạng quá tải tại các đơn vị y tế công lập.

Nghị quyết số 20-NQ/TW Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới. Nghịquyết nêu rõ: “Đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dânlà đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách và có cơ chế, chính sách huyđộng, sửdụng hiệuquảcác nguồn lực đểbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻnhân dân;tổchức cungcấpdịchvụcông,bảođảmcác dịchvụcơ bản,đồngthời khuyến khích hợp tác công – tư, đầu tư tư nhân, cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu” [2].

Bên cạnh những kết quảđã đạt được thì hoạt động của một sốcơ sởkhám chữa bệnh tư (CSKCBT) còn nhiều bất cập như: về chi phí: một số cơ sở dù không có giấy phép hành nghề nhưng vẫnhoạt động ydược trái phép; một sốcơ sởcòn nghèo nàn về cơ sở vật chất, thiếu thốn trang thiết bị, chất lượng các dịch vụ chưa cao; chi phí ở y tế tư nhân cao hơn so với y tế công; chất lượng dịch vụ KCB khu vực tư nhân kém hơn khu vực y tế công. Mặc dù chi phí của khu vực y tế tư nhân cao hơn, nhưng chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh không cao hơn; vấn đề đạo đức nghề nghiệp chưa được chú trọng đúng mức; những hạn chế, bấtcập trong việc quản lý, thực hiện các chính sách về y tế tư nhân; hiện tượng trục lợi quỹ BHYT tại các cơ sở y tế ngoài công lập còn diễn ra nhiều.

1

Bên cạnh đó công tác QLNN đối với các CSKCBT còn nhiều tồn tại như: 1) hệthống văn bản quy định về thực hiện, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này chưa đủ răn đe; 2) việc triển khai và thực hiện các chính sách pháp luật về y tế khiến hệthống y tế ngoài công lập gặp rất nhiều khó khăn; tổ chức và thực hiện văn bản chưa đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả; 3) công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tốcáo còn hạn chế; 4) việc xử phạt vi phạm trong lĩnh vực KCBT còn chưa mạnh để rănđe,…Ngoài ra, chúng ta chưa có chính sách đối với các CSKCBT nên chưa có sự công bằng giữa cơsởy tế tư nhân và y tế nhà nước; sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ đối với các BVT hầu như không có…Thực trạng trên gây ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân; nhiều vụ việc đáng tiếc sảy ra liên quanđến tính mạng của bệnh nhân; đồng thời, gây khó khăn cho công tác quản lý của các cơquan chức năng.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ các vấn đề kinh tế, xã hội, y tế tại thành phốHà Nội cũng đang phát triển. Theo báo cáo của Hiệp hội Bệnh viện tư nhân (BVT), hiện nay cả nước có trên 170 bệnh viện tư nhân, hơn 30.000 phòng khám tư nhân và cơ sở dịch vụ y tế. Theo Báo cáo của Sở Y tế Hà Nội, hiện trên địa bàn thành phố HàNội tính đến tháng 6/2018 có 35 BVT, phòng khám đa khoa 165, phòng khám chuyên khoa là 2641, phòng y học cổ truyền là 685, tổng có 3526 CSKCBT trên địa bàn thành phốHàNội[76]. Các cơsởkhám chữa bệnh cóyếutốngườinướcngoài tham gia KCB ở cả lĩnh vực Đông y và Tây y đều có hành vi vi phạm Luật Khám chữa bệnh, pháp lệnh quảng cáo, KCB không đúng với phạm vi chuyên môn đã được cấp phép, ngườinướcngoài làm công việc chuyên môn chưađượcphépcủaSởYtếHà Nội, quảng cáo giới thiệu phòng khám không đúng với nội dung đăng ký đã được Sở Y tếHà Nội phê duyệt, sử dụng dược phẩm chưa được phép của Bộ Y tế cho bệnh nhân.

Bên cạnh những cơ sở chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật thì còn một sốcơ sởdù không có giấy phép hành nghề nhưng vẫn hoạt động ydược trái phép. Một số cơ sở còn nghèo nàn về cơ sở vật chất, tay nghề đội ngũ y bác sĩ chưa đáp

ứng đượcyêu cầu, thiếu thốn trang thiết bị, chất lượng các dịch vụ chưa cao… Thực trạng trên gâyảnhhưởngtiêucựctớichấtlượngchăm sócsứckhỏe chongườidân;đồng thời, gây khó khăn cho công tác quản lý của các cơ quan chức năng.

Ngoài ra, các cơ sởkhám chữa bệnh tư hành nghềvượt quá phạm vi hoạtđộng chuyên môn cho phép; lạm dụng cận lâm sàng; sai phạm về quảng cáo, vượt

2

quá phạm vi chuyên môn cho phép, lợi dụng lòng tin của người dân để quảng cáo không đúng khả năng chuyên môn, không đúng với nội dung quảng cáo. Ngoài các sai phạm về quảng cáo và công tác QLNN, việc xảy ra liên tiếp những vụ việc sai phạm, tiêu cực trong ngành y thời gian qua còn có nguyên nhân do vấn đềyđức:

việc thực hiện quytắcứng xửtrong đội ngũ y bác sĩ, dù đã được tập huấn nhiều, song vẫn chưa nghiêm. Thực tiễn trên đã gây nên tai biến y khoa ngoài ýmuốn ở mọi lúc, mọi nơi và những hậu quả nghiêm trọng liên quan đến tính mạng con người.

Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia; là trung tâm phát triển vềkinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật của cả nước. Có thể nói Tp. Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh là 2 trung tâm dịch vụ lớn nhất cả nước; là điểm có sức thu hút đầu tư trong tất cảcác lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực y tế, nhưng các thủtục hành chính, các chính sách đưa ra cho lĩnh vực này còn nhiều hạn chế. Đó là rào cản đối với các nhà đầu tư, đối với hoạt động của các CSKCBT hiện nay.

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý nhà nước bằng pháp luậtđối với các cơ sởkhám chữa bệnh tư, từthực tiễn thành phốHàNội” làm luận án Tiến sĩ Luật.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích tổng quát

Làm rõ những vấn đề lý luận quản lý nhànước bằngpháp luật đối với các cơ sở KCB tư; đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư trên địa bàn Hà Nội; đưa ra quanđiểm vàgiải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT nói chung, trênđịa bàn thành phố Hà Nội nói riêng.

Mục đích cụ thể

Đánh giá những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT, xác định được câu hỏi nghiên cứu vàgiả thuyết nghiên cứu.

Hình thành được khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT; các yếu tốtác động và kinh nghiệm QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT một số nước và một số địa phương; giá trị tham khảo cho thành phố Hà Nội.

3

Chỉ ra ưu điểm, hạn chế của QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT ởViệt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng

Đưa ra quan điểm và đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luậtđối với các CSKCBT thực hiện chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nêu trên, Luận án có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đếnđềtài nghiên cứu, chỉra nhữngkếtquả, nội dungkếthừa, phát triển, những khoảng trống của các công trình đó, những nội dung mới Luận án tiếp tục giải quyết.

Thứ hai, làm rõ cơ sở lý luận về QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT:

Khái niệm, đặc điểm, vai trò QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sởKCBT; nội dung QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sởKCBT trong việc xây dựng và ban hành pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật để quản lý các cơ sở KCBT; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại,tốcáođốivớicác cơsởKCBT;xửlýđối với các vi phạm pháp luật về dịch vụ YTN.

Thứ ba, phân tích thực tiễn QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT:

khái quát các cơ sở KCBT trên địa bàn Tp. Hà Nội; thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT Tp. Hà Nội (công tác xây dựng và ban hành văn bản; công tác tổchức và thực hiện pháp luậtđối với các cơ sởKCBT; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tốcáo và xửlý vi phạm pháp luật đối với các CSKCBT trên địa bàn Thành phố.

Thứtư, đưara quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường QLNN bằng PL đối với các CSKCBT hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT, bao gồm nội dung của pháp luật, thực hiện pháp luật và những giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Vềnội dung: Luận án nghiên cứu quản lý nhà nước bằng pháp luậtđối với tổchức và hoạt động của các CSKCBT.

4

Luận án nghiêncứuQLNN bằng pháp luậtđốivớicác CSKCBTcủacác cơquan quản lý hành chính nhànước(CQQLHCNN); Luận án không nghiêncứuhoạtđộng của các cơ quan lập pháp và tư pháp trong lĩnh vực này.

Luận án tập trung nghiên cứu QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT trên địa bàn Tp. Hà Nội; còn QLNN đối với các bệnh viện công lập và cơ sở dịch vụ y tế công, các cửa hàng thuốc tư nhân không thuộc phạm vi nghiên cứu trong Luận án.

Về không gian: Luận án không chỉ nghiên cứu trên địa bàn Tp. Hà Nội mà còn còn nghiên cứu một số địa phương khác.

Về thời gian: Luận án nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT từ năm 2003 – khi có Pháp lệnh về hành nghề Y, dược tư nhân.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận

Luận án đượcnghiên cứu dựa trên cơ sởcác quan điểmcơ bản của Chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xã hội hóa y tế, giáo dục.

4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận ánsử dụngphương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin,tư tưởng Hồ

Chí Minh, vận dụng tổng hợp các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, lôgic – lịch sử, hệ thống, so sánh, điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn, phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra xã hội học.

Phương pháp thu thập thông tin, dữ kiện cấp 2 trên cơ sở các tài liệu hay các tuyên bốđãđược công bốchứkhông phải do chính tácgiảtrực tiếp thu thậplầnđầu. Phương pháp này được sử dụngtrong toàn bộ các chương của luận án và tập trung nhiều nhất ở chương tổng quan tình hình nghiên cứu. Phương pháp này được sửdụng trong việc khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan tới đềtài, phân tích những nội dung chính, phương pháp được sử dụng vàcác kết luận đã đạt được cũng như những điểm cần tiếp tục nghiên cứu trong các nghiêncứu trước đó.Qua việcsửdụng phương pháp này, tác giảđã chứng minh được khoảng trống cần nghiên cứu chính của đề tài luận án.

Phương pháp lôgic – lịch sử:Vấn đềquản lý nhà nướcbằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT qua từng giai đoạn. Mỗi giai đoạn, các lý thuyết và kết quả ứng dụng lại có những bước tiến nhất định. Do vậy, tác giả sử dụng phương pháp này để

5

nghiên cứu lịch sửhình thành lý thuyết có liên quan đến quản lý nhà nướcbằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT; phân tích, làm rõ bản chất của các khái niệm vàtính ứng dụng của các lý thuyết nghiên cứu mỗi giai đoạn trong việc hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT.

Phương pháp thống kê, mô tả: Thông tin định lượng thu thập được từ các tài liệu thống kê về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT được sửdụng xửlý, sắp xếpvà mô phỏng dưới dạng bảng biểu, sơ đồđểminh chứng cho các bằng chứng định lượng về các phân tích hay nhận định quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sởKCBT. Phương pháp nàyđượcsửdụng nhiều nhấtởphần phân tích thực trạng.

Phân tích, tổng hợp: Đó là trong quá trình nghiên cứu, tác giả lập luận từng vấn đề, chỉra nội dung chính, sau đó vậndụng các biện pháp nêu giảthuyết, so sánh, đối chiếu các nội dung. Sau đó tác giả rút ra cái chung từ sự phân tích. Tổng hợpđược tác giả áp dụng cuối mỗi nội dung, kết luận chương.

Quy nạp, diễn dịch: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đi từ cái riêng đến cái chung, từ những sự vật đơn lẻ cho đến các nguyên lý phổ biến. Bên cạnh đó, tác giả sửdụng phương pháp diễn dịch trong việc nghiên cứu QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT. Trên cơ sở số liệu tác giả thu thập được, tác giả tổng hợp thành những nhận định, đánh giá trong các chương của Luận án.

Phương pháp điều tra xã hội học:Đó là phương pháp thu thập thông tin phục vụ cho một chủ đề xã hội được nêu trong chương trình nghiên cứu. Trong luậnán, điều tra xã hội học được tác giả sử dụng trong chương 3 nhằm lấy ý kiến của các chuyên gia, CBCCVC quản lý nhà nước trong lĩnh vực YTN.

Phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác: Để tăng thêm độ tin cậy của các thông tin đã thu thập được, nghiên cứu sinh còn sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợkhác như: so sánh, quy nạp diễn giải.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án 5.1. Đóng góp mới về lý luận

Thứ nhất, luận án làm sáng tỏ và sâu sắc thêm những vấn đề lý luận QLNN bằng pháp luật đối vớicác CSKCBT. Luận án đưara một sốkhái niệm, kết luận mang tính khoa học, góp phần hoàn thiện lý luận và là cơ sở để xây dựng, thực thi pháp luật về KCBT.

Thứ hai, luận chứng cụ thể hơn, khoa học hơn về nội hàm các nội dung của công tác QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT, làm cơ sởcho việc hình thành lý luận về QLNN bằng PL đối với các CSKCBT.

Thứ ba, luận án phân tích quan điểm về y tế, tăng cường pháp luật về hành nghề YTN.

5.2. Đóng góp mới về thực tiễn

Một là, Luận án đánh giá thực tiễn QLNN bằng pháp luật đốivới các CSKCBT; chỉ ra những hạn chế của pháp luật về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư.

Hai là, Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với các CSKCBT, giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT hiện nay.

Ba là, Luận án là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, có giá trị về lýluận cũng như thực tiễn là cơ sở để phát triển các nghiên cứu tiếp theo.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án là những bổ sung khái niệm, xác định đặc điểm, vai trò của QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT, góp phần nâng cao nhận thức lý luận về vai trò, giá trị của pháp luật về QLNN đối với lĩnh vực y tế nói chung, KCB trong các cơ sở tư nhân nói riêng.

Luận án dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạyvà học tập môn pháp luật về y tế trong hệ thống các học viện, đại học Y, trung cấp Y; làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy tại các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộlàm công tác tổ chức cán bộ các cơ sở KCB nhất là tư nhân; tài liệu tham khảo cho các trường luật và các cơ quan QLNN.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luậnán gồm 4 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Chương 2. Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư.

Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nướcbằng pháp luật đối với các cơ sởkhám chữa bệnh tư, từ thực tiễn thành phố Hà Nội.

Chương 4. Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luậtđối với các cơ sở khám chữa bệnh tư, từ thực tiễn thành phố Hà Nội.

7

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu

Tổng quan các công trình nghiên cứu phân theo 3 nhóm ở mục 1.1.1. cho thấy:

Thứnhất, đa sốcác công trìnhđã nêuđược các khái niệm có liên quan đến Luận án như: QLNN; hành nghề tư nhân; bệnh viên công, bệnh viện tư;thểchếy

tế;…đề cập đến nội dung QLNN trong lĩnhvựcy tế nói chung: Hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư kinh phí, mua sắm trang thiết bị, thanh tra, kiểm tra.. và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với từng lĩnh vực.

Các tác giả cũng đã đề cập đến tổ chức và quản lý các bệnh viện tư: nguyên tắc, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ; vấn đề cấp phát và sử dụng thuốc trong các bệnh viện; vấnđề đàotạo, bồidưỡng đội ngũY, bác sĩ trong bệnh viện, trên gócđộhành chính công, gócđộkhoahọcLuật Hiến pháp và Luật Hành chính thì các công trình chưa đề cập đến.

Thứ hai, các công trình cũng đã đề cập đến thực trạng QLNN trong lĩnh vực y tế, quản lý đối với các nghiệp vụ chuyên môn y tế; phân tích thực trạng và đánh giá QLNN

17

trong lĩnh vực y tế trong thời gian qua. Dưới góc độ Luật học các nội dung: Khái niệm,đặc điểm, vai trò QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư; nội dung QLNN bằng pháp luậtđối vớicác cơ sở KCBT: xây dựng và ban hành pháp luật;tổchức thực hiện pháp luậtđể quảnlý các cơ sở KCBT; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các cơ sở KCBT; xử lý đối với các vi phạm pháp luật về dịch vụ y tế tư nhân); các yếu tố tác động đến pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh

tư… chưa được đề cập đến và nghiên cứu một cách bài bản.

Thứ ba, từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy ở Việt Nam vấn đề QLNN vềy tế, nhất là YTN đã và đang được quan tâm hơn trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn. Các công trình đã có những tư tưởng, đề xuất nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện dân lập trên địa bàn Tp. HồChí Minh, nhưng các quan điểm,đềxuất đó được rút ratừviệc xem xét đánh giá hiện có, nhiều nội dung vẫn còn có sự khác biệt chưa có sự thống nhất.

Thứ tư, cho đến nay, chưa có một nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT trong cả nước nói chung, Tp. Hà Nội nói riêng. Dưới góc độ Luật học, các nội dung của Luận án như: phân tích sự khác biệt giữa QLNN đối với BVT và BVC; vai trò QLNN bằng PL đối với các CSKCBT; các yếu tố tác động đến QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT; đánh giá thực trạng vàđề xuất các giải pháp QLNNBPL đối với các CSKCBT thành phố Hà Nội chưa được các công trình khoa học trước đề cập. Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cơ sở lýluận và các tham khảo về thực tiễn để tiếp tục nghiên cứu sâu về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT từ thực tiễn thành phố Hà Nội.

Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư nói chung, trên địa bàn Tp. Hà Nội nói riêng hiện naylà hết sức cần thiết. Mặc dùviệc nghiên cứu vẫn còn những hạn chế (như phân tích ở trên), những kết quả đạt được là cơ sở, tiền đề quan trọng cho việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật đối với các cơ sởKCBT hiện nay.

1.3. Những vấn đề đặt ra được tiếp tục nghiên cứu 1.3.1. Vấn đề tiếp tục nghiên cứu

Thứ nhất, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân và của cả cộng đồng. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành y tế, mà còn

18

là trách nhiệm của cáccấp uỷ Đảng và chính quyền, của các đoàn thể quần chúng và tổ chức xã hội. Mặt khác, trong thời gian qua, các CSKCBT hoạt động kém hiệu quả, không tuân thủquy định, chạy theo lợi nhuận, Vì vậy, việc tăng cường QLNN bằng PL đối với các CSKCBT hiện nay là rất cần thiết.

Thứ hai, xã hội hoá chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ con người vừa động viên, vừa tham gia tích cực, chủ động của mọi người với tư cách cộng đồng và tư cách cá nhân, trên cả hai mặt hoạt động và đóng góp; tăng cường sự phối hợp liên ngành và

củng cố vai trò nòng cốt của ngành y tế.

Xã hội hoá bao gồm: Đa dạng hoá các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ (Nhà nước, tập thể, dân lập, tư nhân…), trong đó y tế nhà nước có vai trò chủđạo. Cho phép nhiều lực lượng có hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ dưới sự quản lý của nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ y tếngày càng thuận tiện cho người dân và giảm bớt sức ép về ngân sách cho Nhà nước. Khuyến khích các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước thành lập các phòng KCB nhân đạo. Mở rộng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà, các nhà thuốc tư nhân, các quầy thuốc, tủ thuốc tại trạm y tế xã phục vụ sức khoẻ cộng đồng. Qua các công trình nghiên cứu mà tác giả được tiếp cận, cho thấy những hạn chế nhất định về đối tượng, nộidung nghiên cứu, việcđềcậpđếnquản lý nhànướcbằng pháp luậtđốivớicác CSKCBT vẫn chưa được các nhà khoa học nghiên cứu, giải quyết một cách đầy đủ. Do vậy, luận án cần tiếp tục nghiên cứu, luận giải ở các khía cạnh khác, kể cả về lý luận vàthực tiễn để có những giải pháp phù hợp. Cụ thể như sau:

Một là, luận án tiếp tục nghiên cứu, hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản lý nhà nướcđối với các cơ sởKCBT: khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhànước bằng pháp luật đối với các CSKCBT.

Hai là, luận án tiếp tục nghiên cứu các nội dung vềquản lý nhà nướcbằng pháp luật đối với các CSKCBT trong việc: xây dựng và ban hành chính sách; tổchức thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của YTN; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử phạt hành vi vi phạm pháp luật của các cơ sở khám chữa bệnh tư.

Ba là, luận án nghiên cứu các yếu tốtácđộng đến quản lý nhà nướcbằng pháp luật đối với các CSKCBT hiện nay.

Bốn là, tác giảnghiên cứu kinh nghiệm của mộtsốnước và một sốđịa

19

phương vềquản lý nhà nướcbằng pháp luậtđối với các CSKCBT và giá trịtham khảo cho địa bàn thành phố Hà Nội.

Năm là, thực tiễn quản lý nhà nướcbằng pháp luậtđối với các CSKCBTđược tác giả đề cập trong chương 3 của Luận án bao gồm: Thực tiễn việc xây dựng và ban hành chính sách; tổchức thực hiện pháp luật vềtổchức và hoạt động của YTN; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử phạt hành vi vi phạm pháp luật của các cơ sở khám chữa bệnh tư. Qua việc khảo sát lấy ý kiến, tác giả có được số liệu trung thực, chính xác để làm cơ sở cho việc đánh giá những kết quả đã đạt được, tồn tai, hạn chế và nguyên nhân.

Sáu là, luận án đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với các CSKCBT góp phần nâng cao chất lượng KCB đối với người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung, như: Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước đối vớicác cơsởkhám chữa bệnh tư; tăngcườngthanh tra, kiểm tra hoạtđộngcủacác CSKCBT; tăng cường biện pháp xử lý, kỷ luật đối với hành VPPL của các CQQLNN và CSKCBT; nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ sở khám chữa bệnh tư trên địa bàn thànhphốHà Nội; các giải pháp khác (tuyển truyền,phổbiến pháp luật, tăng cường nguồn lực cho hoạt động quản lý, nâng cao dân trí).

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu

Luận án được triển khai với các câu hỏi vềkhía cạnh lý luận, thực tiễn vềquản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT để làm rõ mục đích của luận án, đó là:

1) Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT gồm các nội dung gì? Các yếu tốnào ảnh hưởng đến quản lý nhà nướcbằng pháp luật đối với các CSKCBT?

2) Thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở KCBT trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay?

3) Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các cơ sở KCBT trên địa bàn thành phố Hà Nội là gì?

1.3.3. Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sởnhận thức và các khảo sát, luận án sẽthu thập, xửlý thông tin nhằm kiểm chứng các giả thuyết sau:

Giảthuyết 1. Quản lý nhànướcbằng pháp luậtđốivớicác cơsởKCBT

20

không được chú trọng thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng KCB, ảnh hưởng đếnviệc chăm sóc vàbảovệsứckhỏe nhân dân; không thực hiệnđượcđịnh hướng phát triển mạng lưới y tế; không bảo vệ được quyền, lợi ích của đội ngũ y bác sĩ và người bệnh.

Giảthuyết 2. Tăng cường quản lý nhà nướcbằng pháp luật đốivới các CSKCBTđểđảm bảocho các CSKCBT phát triển theo hướng:đồng bộ,tạomôi trường bình đẳng cảvềhỗtrợ, chuyển giao chuyên mônkỹthuật giữa các cơ sởKCB công và tư.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT trở thành một vấn đềcấpthiết, quan trọngđối vớiviệc KCB cho nhân dân hiện nay. Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối vớicác CSKCBT đã và đang thu hút sựquan tâm của các nhànghiên cứu, các nhà quản lý, các nhà lập chính sách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cho đến nay tại Việt Nam rất ít các công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về vấn đề QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT dưới góc độ khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Đâylà cơ sở để đề tài “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với cáccơ sởkhám chữa bệnh tư, từ thực tiễn thành phố Hà Nội” được lựa chọn và kế thừa một cách chọn lọc những kết quả nghiên cứu trước đây, đồng thời góp phần lấp đầy những “khoảng trống” như đã đề cập ở trên.

Qua nghiên cứu, phân tích các công trình có liên quan đến đề tài, những kết quả này là những gợi ý quan trọng cho đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư, từ thực tiễn thành phố Hà Nội” có thể kế thừa, phân tích một cách hệ thống và sâu hơn thực trạng cũng như các nhân

tố ảnhhưởngđến quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT nói chung, trên địa bàn thành phốHà Nộinói riêng. Bên cạnh đó, khái quát tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT ở Việt Nam hiện nay có thể thấy một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, hiện nay hoạt động KCBT là vấn đề được nhiều người quan tâm vì

21

nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người dân, song các công trình đã nghiên cứumớichỉdừng lại ởcác bài báo, tham luận, luận văn, chưa có công trình nào nghiên cứu khoa học, toàn diện về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT hiện nay, nhất là đối với địa bàn thành phố Hà Nội.

Thứhai, một sốnghiên cứu đã tiến hành các cuộc điều tra thực nghiệm nhưng chưa sử dụng nhiều các lý thuyết khoa học nhất là lý thuyết luật học để biện giải những vấn đề liên quan đến KCBT.

Thứba, các nghiêncứucũng như phần lớn các bài viết dựa trên cácsốliệu thống kê của các cơ quan chức năng, ít dựa trên các bằng chứng thực nghiệm cóđộtin cậy cao, nên kết quả chưa phản ánh một cách hệ thốngvà đầy đủ cáckhía cạnh bản chất của quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT.

Thứtư, các bài viết cũng như các công trình nghiêncứuđềunhậnđịnhmột cách chung về y tế, pháp luật đối với y tế; quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân, chưađề cập đến quản lýnhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT. Do vậy, các công trình là tài liệu tham khảo để tác giả tiếp tục hoàn thiện Luận án của mình.

22

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT

ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH TƯ

2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư

2.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư2.1.1.1. Cơ sở khám chữa bệnh tư

Hệthống ytếgồmhệthống ytếcông lập vàhệthống ytếngoài công lập. Trong hệ thống y tế ngoài công lập có nhiều loại hình hoạt động trong đó hành nghềYTN là một loại hình hoạt động.

Hành nghề YTN bao gồm hoạt động của các chủ thể cung cấp các dịch vụ vềsức khỏe ngoài quyền sở hữu của nhà nước. Họ có thể hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, cung cấp các loại dịch vụ khám chữa bệnh. Các tổ chức hành nghềYTN bao gồm: Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, nhà hộ sinh, cơ sở dịch vụ y tế, cơ sở dịch vụ vận chuyển người bệnh trong nước, ra nước ngoài và các hình thức dịch vụ y tế khác.

Khiđời sốngxãhộiphát triển, thì cácdịch vụytế,nhất là ytếtư nhân ngày càng phát triển, các loại hình dịch vụ theo yêu cầu cũng phát triển theo. Song, để đảm bảo an toàn cho sức khỏe và tạo điều kiện thuận lợi cho việc KCB của nhân dân; thực hiện chính sách xãhộihóa và đa dạng hóa các loại hình dịchvụytế,nhànướccần thống nhất quản lý và đưa việc hành nghề YTN vào hoạt động theo pháp luật.

Hơn nữa, hành nghề YTN là một loại hình dịch vụ đặc biệt. Y tế tư nhân là biểu hiện của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực dịch vụ y tế, đó là loại hình mang tính kinh doanh, kinh doanh dược, vacxin, sinh phẩm y tế, thiết bị y tế theo quyđịnh của nhà nước mà cá nhân hoặc một tổ chức tư nhân đứng ra tổ chức KCB.

Đểđượchành nghề theo đúng quyđịnhcủaLuật KCB thì người hành nghềphải có đủ các điều kiện về văn bằng chuyên môn và đáp ứng điều kiện về thời gian thực hành liên tục tại các cơ sở y tế. Khi cóđầy đủ các điều kiện trênthì họ được đềnghị cấp chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh. Khi được cấp chứng chỉ hành nghềKCB thì họ mới được hành nghề KCB.

23

Theo Luật KCB thì cơ sở KCB là cơsở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ KCB; Người hành nghề KCBlà người đãđược cấp chứngchỉ hành nghề và thực hiện KCB (sau đây gọi chung là người hành nghề) [63].

Như vậy, cóthểhiểu KCBT là một loại hình khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân do các tổ chức, cá nhân (khu vực ngoài nhà nước) thực hiện trên cơ sở có sự quản lý, kiểm tra của nhà nước góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và đáp ứng nhu cầu KCB, CSSK của nhân dân. Song để hoạt động y tế tưnhân phát triển theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước cần sự can thiệp, chính sách và có sự quản lý của nhà nước.

Ngoài ra, có thể kể đến một số khái niệm có liên quan đến KCB như: KCB, chứng chỉhành nghề KCB, giấy phép hoạt độngKCB [63].ỞViệt Nam, các khái niệm trên được quyđịnh tại Luật KCB năm 2009 [63]. Do vậy, cá nhân,tổchức muốn hành nghề KCB đều phải có chứng chỉ hành nghề KCB và chỉ những người cóchứng chỉ này mới được thực hiện KCB và được pháp luật bảo vệ.

Theo quy định, muốn được cấp chứng chỉ hành nghề thì người hành nghề ngoài các quyđịnhvềvăn bằng chuyên môn, lý lịch,sứckhỏe, thời gian thực hành,… thìngườihành nghề còn phảicậpnhật kiến thức y khoa liên tục.Cậpnhật kiến thức y khoa là người hành nghề tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, hội nghị, hội thảo về y khoa thuộc lĩnh vực hành nghề theo chương trình do Bộ Y tế phê duyệt hoặc công nhận và được cấp giấy chứng nhận theo quyđịnh của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Trong trườnghợpngườihành nghề khôngcậpnhật kiến thức y khoa liên tục trong thời gian 02 năm liên tiếp thì chứng chỉ hành nghề bị thu hồi, đình chỉ [63 ].

Luật pháp của nhiều quốc gia đều quy định, mọi cá nhân, tổ chức khi cóđầyđủcác điều kiện vềchuyên môn, cơ sởvật chất, trang thiết bị, nhân lực đều được phép thành lập cơ sở YTN.

Ở Việt Nam, cơ sở YTN là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, quản lý và điều hành [92]. Tuy nhiên, sau khi thành lập, các cơ sởKCB đi vào hoạt động cần có giấy phép hoạt động khám chữa bệnh.

24

Giấy phép hoạt động KCB là văn bản do cơ quan nhà nướccó thẩm quyền cấp cho cơ sở KCB có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật Khám chữa bệnh (sau đây gọi chung là giấy phép hoạt động) [63].

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, giấy phép hoạt động KCB được Bộtrưởng Bộ Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sởKCB thuộc BộY tế, bệnh viện tư nhân hoặc Giámđốc SởY tếcấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở KCB trên địa bàn.

Như vậy, cá nhân, tổ chức thực hiện KCB thì phải có chứng chỉ hành nghềKCB và được cấp giấy phép hoạt động. Những cá nhân, tổ chức không có các loại giấy tờ trên mà vẫn hành nghề thì được coi là hành nghề “chui”.

Cơ sở KCBT là một loại hình khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân do tư nhân thực hiện trên cơsở cósự quản lý, kiểm tra của nhà nước góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và đáp ứng nhu cầu KCB, chăm sóc sức khỏe và thẩm mỹ của nhân dân. Do vậy, hoạt động này được đặt dưới sự quản lý của nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động của khu vực tư nhân trong KCB &CSSKND được diễn ra theo đúng quy định của pháp luật và định hướng của nhà nước; bảo đảm tính mạng của người dân và đội ngũ y bác sĩ trong các BVT được đảm bảo an toàn.

Hành nghề YTN là một bộ phận của ngành y tế. Nếu như ngành y tế có vai trò lớn trong việc CSSKND thì hành nghề YTN có vai trò đắc lực giải quyết những khó khăn, nan giải mà ytếcông chưa có điều kiệnđápứng, giúp nhân dân được chăm sóc sức khoẻ tốt hơn nhất là trong việc tránh sự quá tải cho khu vực y tế Nhà nước. Góp phần hoàn thiện mạng lưới y tế rộng khắp với những hình thức tổ chức và hoạtđộngphong phú, đa dạng, tạo ra sựcạnh tranh lành mạnh giữa ytếnhà nước và YTN.

Qua phân tích có thể thấy, vai trò của hành nghề YTN được thể hiện ở nhữngđiểm sau:

Thứnhất, hành nghề YTN giúp cho người dân có nhiều cơhộitiếp cậnvàlựa chọn các dịchvụchăm sóc, theo dõi sức khỏe thường xuyên cho mình nhằm phát hiện sớm bệnh tật.

Thứ hai, hành nghề YTN không chỉ có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp CSSKND mà nó còn góp phần không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế – xã hội.

25

Thứba, việc chăm sóc và bảo vệsức khoẻ cho con người nhằm mang đến cho con người có sức khỏe tốt và chỉ có sức khỏe tốt mới làm ra của cải vật chất, góp phần tạo ra nguồn lực cơ bản cho sự phát triển của xã hội trong tương lai.

Thứ tư, hoạt động hành nghề YTN đáp ứng yêu cầu của hoạt động CSSKND. Với bất kỳ ai,ở vị thế xã hội nàođều cónhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Trong một khía cạnh nhất định, những nhu cầu này tăng lên theo sự phát triển của đời sống vật chất và tinh thần. Chính vì vậy, khi đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao thì nhu cầu sống khoẻ mạnh, nhu cầu làm đẹp cũng tăng lên. Hệ thống YTN ra đời đáp ứng những yêu cầu chính đáng đó khi mà y tế Nhà nước khôngđủ sức tự đảm bảo sự cung cấp của mình.

Thứ năm, hành nghề YTN góp phần mang lại một sức khoẻ tốt – nhân tố cơ bản nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm dịch vụ, là đòi hỏi bắt buộc đối với nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thứsáu, BVT làmộttrong các thành phần kinhtếngoài nhànướccùng tham gia cung cấp các dịch vụ y tế, tham gia vào lực lượng xã hội để bổ khuyết cho khu vực y tế công, phục vụ cho các đối tượng có điều kiện trong xã hội. Bên cạnh đó, việc tham gia vào các hoạt động y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thì việc cungcấpdịchvụchăm sócsứckhỏeđòihỏiphải tínhđếnyếutốlợi nhuận, vìđólàđiềukiện sống còncủacác BVTtồntạivà phát triển. Tuy vậy, trong khi cungcấpcác dịchvụytếtrênthịtrường,họphải tínhđếnnhu cầu ngày càng cao của người bệnh, do đó phải áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuậtđểcác dịchvụcó chấtlượngcao, thu hútđượcbệnh nhânđếnđiềutrịtạibệnh viện,đápứngđượcnhucầuđa dạngcủacác tầnglớptrong xã hội, góp phần cùng với ytếnhànướcchăm sóc sức khỏe nhân dân. Do vậy, Nhànướccần hỗtrợvà thu hút các nhàđầutưđểphát triểnhệthống BVT.Đồngthời, nhànước phải kiểm soát vàđịnhhướngcho BVT hoạtđộngđúngđịnhhướng, tránh xu hướng thương mại hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Dịch vụ y tế tư nhân có vai trò quan trọng trong phát triển hệ thống y tế. Nóiđến vai trò của y tế tư, người ta đều thấy y tế tư đã thể hiện vai trò trong các khía cạnh sau: i) Chia sẻ trách nhiệm với y tế công giải quyết các gánh nặng y tế kể cả ởtuyến y tế cơ sở. ii) Giúp người bệnh có được nhiều cơ hội lựa chọn thầy thuốc và

26

cơ sởdịch vụ, iii) Tạora nhiều cơ hội phát triển công nghệ cao trong ytếvà góp phần vào đào tạo cán bộ, đặc biệt là các chuyên gia kỹ thuật cao [112].

Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay, khu vực tư nhân đang bị coi là đối tượng mày tế công phải đối phó nhiều hơn là xem họ như đối tác có thể hợp tác nhằm thúc đẩy chất lượng, hiệu quả và công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, thời gian tới nhànướccầnthayđổiquanđiểmtrong quản lý ytếtư nhân,cầnchuyểntừquanđiểm mang tính kiểm soát sang quan điểm hợp tác và khuyến khích đối với y tế tư nhân.

2.1.1.2. Quản lý nhà nước bằng pháp luật * Khái niệm quản lý nhà nước

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhà nước (QLNN) theo các cách tiếp cận khác nhau, quản lý nhà nước theo nghĩa rộng và quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng: “Quản lý nhà nước là hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước từ cơ quan quyền lực nhà nước: Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; các cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp; cơ quan kiểm sát; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện Kiểm sát nhân dân các cấp” [54, tr. 56]. Theo nghĩa này, QLNN: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhànước,nghĩa là bao hàm cảsựtácđộng,tổchức của quyền lực nhànướctrên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nướcđược đặt trong cơ chế”Đảng lãnh đạo, Nhà nướcquản lý, nhân dân lao động làm chủ”. Theo nghĩa hẹp,“Quảnlý nhànướclà hoạtđộngcủariênghệthống cơ quan hành chính nhà nước (QLHCNN): Chính phủ, các Bộ cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân

dân các cấp, cácsở,phòng ban chuyên môncủaUBND…”[54, tr. 57]. Theo nghĩa này, QLNNchủyếu là quá trình tổchức,điều hành của hệthống cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN) đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lýnhà nước. Đồng thời, các cơ quan HCNN nói chung còn thực hiện các hoạt động cótính chất chấp hành, điều hành, tính chất HCNN nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình.

Như vậy, thuật ngữQLNN có thểtiếp cận nhiều góc độkhác nhau, nhưng xét vềbản chất, các quan niệm nàyđều có những đặc điểm chung giống nhau vềtính quyền lực nhà nước, chủthể, khách thể, đối tượng, hoạt độngchấp hành vàđiều hành của nhà nước, tính tổ chức trực tiếp của nhà nước trên mọi lĩnh vực của

27

đời sống xã hội, tính chủ động sáng tạo, tổ chức, chính trị, dân chủ, khoa học… Tuy nhiên, QLNN và QLHCNN có cấp độ và nội dung khác nhau. Hoạt động của hành chính nhà nướclà hoạt độngthực thi pháp luật và biến các ý tưởng củapháp luật thành những sản phẩm cụ thể [60, tr. 38].

Từ sự phân tích trên, theo tác giả quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp, theo nghĩa vốn có của nó: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tính tổ chức và quyền lực nhà nước của các cơ quan QLHCNN (cơ quan quản lý hành chính nhà nước gồm các cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan trực thuộc các CQHCNN) tớiđối tượng quản lý bằng các công cụ quản lý khác nhau để nhằm mục tiêu phát triển các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nước đã đề ra”.

* Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật (QLNNBPL):

Quản lý nhà nướcbằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chếlà nguyên tắc hiến định. Nguyên lý này thể hiện một nguyên tắc cơ bản của tổ chức vàhoạt động của hành chính là phải hợp pháp. Đó là: Hệ thống hành chính nhànước phải chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội hoặc Uỷban thường vụQuốc hộitrong việc thực hiện quyền hành pháp; các cơ quan QLHCNN khi ban hành các quyết định hành chính, các văn bản cá biệt phải trên cơ sở luật để áp dụng luật và phù hợp với luật. Các quyết định hành chính, các văn bản cá biệt được ban hành cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc pháp chế; mở rộngviệc bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân, của tập thể công dân. Trong những trường hợp cần thiết mà phải hạn chế quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật thì phải tuân theo các quy định đó; các chủ thể QLHCNN phải chịu trách nhiệm trước xã hội về những sai phạm trong hoạt động quản lý gây thiệt hại tới lợi ích hợp pháp của công dân và phải bồi thường cho công dân.

Trong quá trình QLNN, điều chỉnh các quan hệ xã hội, Nhà nước với tư cách làchủ thể quản lý phải thường xuyên sử dụng các công cụ quản lý – phương tiện hữu hình hoặc vô hình, tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của mình. Đểđạt được các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp, khích lệ, động viên, dẫn dắt, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý vào mục tiêu đã được xácđịnh trước thông qua việc sử dụng hệ thống phương pháp và các công cụ quản lý.

Để thực hiện chức năng của mình, nhà nước phải sử dụng các công cụ quản lý. Các công cụ quản lý của Nhà nước bao gồm pháp luật, chính sách, kế hoạch…

28

Mộtlà, côngcụpháp luật: Hiện có nhiều quan niệmvềpháp luật. Nhưng dùtiếp cận dưới góc độ nào thì pháp luật là phương tiện để xác lập, thiết lập trật tự xã hội, có hiệu lực bắt buộc và được kiểm soát, bảo đảm, bảo vệ bởi quyền lực nhà nước [36, tr. 289]. Dước góc độ QLNN thì “pháp luật là hệ thống các quy phạm (quy tắc hành vi hay quy tắc xử sự) có tính chất bắt buộc chung và được thực hiện lâu dài; nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận), thể hiện ý chí nhànước và được nhà nước đảm bảo thực hiện bởi các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộ máy nhà nước. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có nhà nước” [86, tr.12].

Hai là, công cụ chính sách (chính sách công): Có thể hiểu là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trịgắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó. “Chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạtđộng củanhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đặt trong đời sống kinh tế, xã hội, theo mục tiêu xác định” [56, tr. 48] như chính

sách KCB cho người nghèo, chính sách BHYT…

Như vậy, chính sách là sự thống nhất giữa chủ trương và hành động của nhà nước, chính sách giữ vai trò là công cụ QLNN mang tính định hướng của nhà nướcđối với đời sốngkinh tế, chính trị, xã hội trong đó có chính sách đối với lĩnh vực y

tế nói chung và y tế tư nhân nói riêng [61, tr. 31]. Tuy nhiên, công cụ chính sách cómối quan hệ với công cụ pháp luật. “Xét ở một khía cạnh nhất định, các chính sách công được thể chế hóa bằng một loạt quyết định có tính chất pháp lý của nhà nước. Song chính sách không đồng nghĩa với những đạo luật và văn bản dưới luật do Nhà nướcban hành. Chính sách là một chương trình hành động của nhà nướcxoay quanh việc giải quyết những vấn đề nhất định” [56, tr. 24 ].

Ba là, công cụ kế hoạch: Công cụ kế hoạch trong QLNN nhằm định hướng, điều tiết hoạt độngcủa các chủ thể khác nhau trong phát triển kinh tế – xã hội. Quản lý bằng kế hoạch có tiền đề khách quan từ bản thân nền kinh tế – xã hội. Kế hoạch chính là tập hợp các mục tiêu và các phương thức để đạt được mục tiêu. Trong quản lý nhà nước, “Kế hoạch là các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và các biện pháp cụ thể để đạt được mục tiêu trong từng thời kỳ nhất định do Nhà nước đặt ra” [43, tr.36]. Hệ thống kế hoạch của nhà nước bao gồm: Chiến lược, quy hoạch, các kế hoạch trung hạn, các chương trình mục tiêu, các kế hoạch năm và các dự án.

29

Công cụkếhoạch giúp cho các nhà lãnh đạo vạch ra phương hướng hoạt động trong tương lai, làm giảm sự tác động của những thay đổi từ môi trường, tránhđược sựlãng phí và dư thừa nguồn lực, thiết lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra.

Trong quá trình quản lý, nhà nước phải sử dụng thường xuyên vàđồng bộ tất cảcác côngcụtrên, nhưng côngcụpháp luật luônđượcđặtlên hàngđầu.Khisửdụng các công cụ khác vào QLNN đều phải thực hiện thông qua các quy định của pháp luật nhưng công cụ pháp luật vẫn là gốc chung của QLNN.

Để QLNNBPL thì bản thân hệ thống PL phải đảm bảo chất lượng, phải thểhiện các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của con người và sự phát triển bền vững của xã hội; Áp dụng PL phải công bằng, nghiêm minh, xây dựng niềm tin pháp luậtđối với công dân, tổ chức. Đồng thời phải có những điều kiện về kinh tế, văn hóa,

khoa học, công nghệ, môi trường…để pháp luật được thực thi trong đời sống thực tiễn có hiệu quả.

Qua phân tích trên, theo tác giả: QLNNBPL là sự tác động có tổ chức và quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành bằng công cụpháp luật với việc sử dụng kết hợp với các công cụ, phương pháp và bằng hình thức khác nhau để tác động lên các quá trình xã hội, nhằm thiết lập, duy trì trật tự xã hội.

2.1.1.3. Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tưNhà nướccó chức năng quản lý trên tất cảcác lĩnh vực, ngoài chức năng tổ

chức và quản lý kinh tế, nhà nước còn có chức năng tổ chức và quản lý về văn hoá – xã hội, trong đó có y tế. Chức năng này được đặt ra nhằm giải quyết các nhu cầu xãhội, tạo điều kiện để xây dựng một xã hội văn minh, nhân đạo và vì các giá trị nhân văn cao cả. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhiều vấn đề như văn hoá, giáo dục, y tế, việc làm, bảo hiểm xã hội… cần phải được giải quyết trong mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tếđi liền với thực hiện tiến bộvà công bằng xã hội. Đây là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó nhà nước giữ vai trò nòng cốt [61, tr. 41].

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT thực chất là quá trình xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện pháp luật về y tế tư nhân và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.Đólà việc chủ thể QLNN là các cơ quan nhà nước,CQHCNN, cá nhân có thầm quyền, thông qua các cơ quan

30

QLHCNN trực tiếpchỉhuy, điều hành đểthực thi quyền lực nhànướctrong lĩnh vực y tế tư nhân nhằm tác động lên các đối tượng quản lý. Đối tượng quản lý là các các cơ sởytếhành nghề tư. Công cụquản lý: Côngcụpháp luật, công cụchính sách và công cụkếhoạch; trong đó công cụpháp luật là thường xuyên và quan trọng nhất nhằm thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nướcđã giao.

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT có thể hiểu trên các cách tiếp cận sau:

Thứ nhất, là quá trình tác động và điều chỉnh có tính vĩ mô của bộmáy nhà

nước, đội ngũ CBCC lên đối tượng quản lý…. nhằm đạt được mục tiêu trong việc KCB và nâng cao sức khỏe của người dân.

Thứ hai, là việc ban hành và thực thi các văn bản pháp luật để điều hành và quản lýthống nhất các hoạt động trong lĩnh vực y tế nói chung, y tế tư nhân nói riêng, để nâng cao chất lượng KCB.

Thứ ba, là việc dùng công cụ pháp luật để thực hiện chức năng QLNN về y tế; xây dựng, ban hành văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện là một mắt xích, một nhiệmvụquan trọng trong các chức năng QLNN nói chung và QLNN vềytếtưnhân nói riêng.

Thứtư, là việc xây dựng hệthống pháp luật nhằmđiềuchỉnh đốivới các

nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên…); quyền hoạt động nghề nghiệp

của nhân viên y tế; quyền, nghĩa vụ của các chủ đầu tư CSKCBT…

Qua phân tích trên, theo tác giả thì: Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sởKCBT là hoạt động của các CQHCNN có thẩm quyền trong thành lập, cho phép thành lậpvà kiểm tra, giám sát, xửlý những hành vi vi phạm pháp luật của các CSKCBT nhằm làm cho các hoạt động y tế tư nhân diễn ra theo đúng quyđịnh của pháp luật, bảo đảmviệc chăm sóc, KCB cho nhân dân, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.

2.1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các CSKCBT có một số đặc điểm sau:

Một là, chủ thể quản lý các CSKCBT: Đó là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đối với hoạt động của các CSKCBT. Các cơ quan QLHCNN là các cơ

31

quan hành pháp (Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ, cơ quan ngang bộ) có liên quan đến các hoạt động y tế, Ủyban nhân dân các cấp, trong đó ởcấp tỉnh,SởY tếlà cơquan chuyên môn giúp UBND cấp tỉnh và ởcấp huyện, Phòng Y tếlà cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng QLNN về y tế trong phạm vi lãnh thổ). Các cơ quan này thực hiện chức năng chấp hành, điều hành để quản lý các hoạt động y tế dưới quyền lực của pháp luật và có quyền hành động vì lợi ích sức khỏe của nhân dân nhưng phải chịu trách nhiệm công vụ khi gây ra thiệt hại bởi quyết định hành động của mình. Căn cứvào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ thể quản lý ban hành hệ thống các VBQPPL và VB dưới luật nhằm quản lý, triển khai và tăng cường QLNN đối với lĩnh vực YTN.

Hai là,đốitượngQLNNBPLđốivớicác CSKCBT tươngđốiđa dạng, hoạtđộngnghề nghiệp có tínhđặcthù.ĐốitượngcủaQLNN bằng pháp luậtđốivớicác CSKCBT ở Việt Nam là: các BVT, cơ sở KCB, cơ sở điều dưỡng – phục hồi chức năng, các doanh nghiệp dược, trang thiết bị y tế và các đội ngũ y bác sĩ, người bệnh, thân nhân người bệnh và mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến các hoạt động KCBT. Đối tượng quản lý của các CSKCBT không những chủ thể quản lý là người trong nước màcòn là các cá nhân, tổ chức nước ngoài đăng ký hoạt động kinh doanh. Đây là một trong những khó khăn trong quản lý đối với các cơ quan QLNN.

Lao động ngành y là loại lao động đặc thù, gắn với trách nhiệm cao trước sức khoẻcủaconngườivà tính mạngcủangườibệnh; là laođộnghếtsứckhẩn trương giành giật từng giây từng phút trước tử thần để cứu tính mạng người bệnh; là lao động liên tục cả ngày đêm, diễn ra trong điều kiện không phù hợp của quy luật sinh lý con ngườilàmảnhhưởngrấtnhiềuđếnsứckhoẻ nhân viên ytế,trực đêm,ngủngày vàngược lại. Đây là lao động trong môi trường không phù hợp với tâm lý con người; là loại lao động luôn tiếp xúc với những người có sức khỏe về thể chất và tinh thần không bình thường. Người bệnh là người có tổn thương về thể chất và tinh thần, họ luôn lo lắng bức xúc với tình trạng bệnh tật của mình.

Ba là, cơ sở pháp lý để QLNNBPL đối với các CSKCBT bao gồm hệ thống các quy định được ghi nhận trong Hiến pháp, các văn bản pháp quy và các văn bản áp dụng pháp luật.

Văn bản pháp luật là phương tiện đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lýcủa các cơ quan nhà nước; là phương tiện truyền đạt các nội dung quản lý của các

32

chủthểcó thẩm quyềnđến đối tượng quản lý. Nó là cơ sởcho công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Để quản lý,điềuchỉnhtấtcảcácmặtcủađờisống xã hội: kinhtế,chính trị, văn hóa, giáo

dục….thì văn bản là phương tiện, công cụ quan trọng nhất.

Bốnlà, QLNNBPLđốivớicác CSKCBT luônđượcthực hiện phốihợpvới QLNN bằng các công cụ khác nhằm đạt hiệu quả tối ưu. Trong quá trình QLNNBPLđối với các CSKCBT, các CQNN có thẩm quyền luôn sử dụng đồng bộ các hình thức quản lý nhằm đạt hiệu quả cao như:

Hình thức lập quy: Các CQHCNN có chức năng lập quy và chức năng hành chính. Lập quy là căn cứ vào thẩm quyền theo luật quy định để ban hành hệ thống VBQPPL và VB cá biệt đểđiều chỉnh một ngành, lĩnh vực. Trong lĩnh vực y tế, VBQPPLđólà Thông tư của Bộ Y tế và hệ thống những văn bản hành chính hướng dẫn thi hành.

Hình thức hội nghị: Hội nghị là hình thức của tập thể lãnh đạo ra quyết định hành chính. Hình thức này có ưu điểm cùng một lúc lấy ý kiến của nhiều người và tuyên truyền hệ thống VB cho nhiều người. Đây là hình thức bàn bạc các biện pháp phối hợp, truyền đạt thông tin, tuyên truyển, giáo dục vềCSSK, trong đó đặc biệt coi trọng đến tuyên truyền phổ biến giáo dục PL về YTN.

Hình thức hoạtđộngthông tinđiềuhành. Hình thức nàyđượcthực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như xây dựng phần mềm và cơ sở dữ liệu các VBQPPLvềytếđểlưu giữ, khai thác sử dụng phụcvụcho mục đích quản lý, các website về quản lý tổ chức y yế, về pháp luật y tế để tiện khi truy cập khi cần thiết [61, tr. 47].

Năm là, QLNNBPLđốivớicác CSKCBT luôngắnvớimụctiêubảođảm quyền con người. Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1946 đã ghi nhận trong lời nói đầu: “Bảo vệsức khỏe là quyền cơ bản của mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị, điều kiện kinh tế hay xã hội”.

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã luôn xác định sức khỏe là điều kiện cơ bản nhất để phát triển con người, phát triển xã hội và xem việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân là một quyền cơ bản, tất yếu. Điều này không chỉđược ghi nhận trong các Công ướcquốc tếViệt Nam tham gia, quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân còn được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp và nhiều đạo

33

luật quan trọng. Quyền được chăm sóc sức khỏe một lần nữa được tái khẳng định trong Hiến pháp năm 2013, theo đó: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sửdụng các dịch vụytếvà có nghĩa vụthực hiện các quyđịnh vềphòng bệnh, KCB. Các hành vi đedọacuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng bị nghiêm cấm” (Điều 38) [66]. So với các Hiến pháp trướcđây, Hiến pháp năm 2013 đã nhấn mạnh đến “quyền bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế của người dân”. Điều này cho thấy, quyền được chăm sóc sức khỏe nói riêng và quyền conngườinói chung, trong Hiến pháp năm 2013đãđượcbổsung và hoàn thiện hơn.

Hiện nay, việc thực hiện Luật KCB còn tồn tại liên quanđến quyền con người như: các VBQPPL về chất lượng, dịch vụ y tế chưa hoàn thiện, thiếu các tiêu chí đánh giá chất lượng hiệu quả hay hoạt động kiểm tra giám sát còn hạn chế, thiếu hệ thống giám sát mang tính chất dự phòng; trình độ chuyên môn vàđạo đức nghềnghiệp của một bộ phận y, bác sỹ chưa tốt, khiến cho người bệnh và thân nhân thiếu tin tưởng, không hài lòng; chất lượng khám chữa bệnh còn chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, nhất là ở những tuyến y tế cơ sở và các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều này đã dẫn đến tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên và gây khó khăn, phiền hà cho người bệnh; kết quả chăm sóc sức khỏe toàn dân chưađồngđều, có sự chênh lệch lớn về tình trạng sức khỏe giữa các vùng miền. Công tác y tếdựphòng còn nhiều thách thức. Công tác tuyên truyền chưa đếnđược với mọi người dân, dịch vụkhám chữa bệnh còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các vùng khó khăn, chưa triển khai việc kiểm định chất lượng KCB.

Do vậy, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quyđịnh của pháp luật vềBHYT; bổ sung các quy định về tiêu chí đánh giá chất lượng y tế vào Luật KCB, tạo căn cứ rõ ràng, cụ thể cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát có vai trò quan trọng. Cần có các chếtàixửlý nghiêm các cơsởvi phạm pháp luậtvềKCB nhằmđảmbảoquyền con người, góp phần nâng cao chất lượng CSSK cho nhân dân hiện nay.

2.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư

Pháp luật về quản lý nhà nước đối với các CSKCBT là một bộ phận của hệthống pháp luật Việt Nam. Thông qua việc điều chỉnh các quan hệ trong KCBT, vai trò của QLNNBPL đối với các CSKCBT thể hiện trên các phương diện sau:

34

Một là, bảo đảm định hướng phát triển sựnghiệp ytếtrong nềnkinh tếthịtrường định hướng XHCN: Quá trình đổi mới kinh tế của đất nước ta hiện nay phải gắn phát triển kinhtếđi đôi với công bằng xã hội. Công bằng là biểu hiện cơ bản của định hướng XHCN trong nền y tế. “Bản chất nhân đạo và định hướng XHCN của hoạtđộngytếđòihỏi sựcông bằng trong CSSK. Thực hiệnsựcông bằng làbảo đảm cho mọi người đều được CSSK, phù hợp với khả năng kinh tế của xã hội,đồng thời Nhà nước có chính sách KCB miễn phí, giảm viện phí đối với người có công với nước, người nghèo, người sống ở các vùng có nhiều khó khăn và đồng bào các dân tộc thiểu số” [61, tr.52].

Như vậy, QLNN bằng pháp luật sẽ góp phần bảo đảm địnhhướngphát triển sựnghiệp ytếtrong nền kinhtếthịtrườngđịnh hướngXHCN, bảođảmnền tảng cho chính sách an sinh xã hội mà hạt nhân là công bằng trong CSSK.

Hai là, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bệnh, của thầy thuốc vànhân viên y tế, của cáccơ sởy tế: QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT có vai trò đắc lực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, bảo đảm dân chủ, bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, góp phần to lớn trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước. Trong thời gian qua, tình trạng thầy thuốc bị bạo lực diễn ra ngày một nhiều và là sự việc đau lòng, “gây tâm trạng bất an cho độingũ nhân viên y tế”. Do vậy, các CQQLNN bằng quyền lực vàhệthống văn bản đã ban hành là công cụquan trọng trong việc bảo vệ, hỗtrợngăn chặn bạo lực với đội ngũ y, bác sĩ, thầy thuốc. Trên thực tế, hệ thống pháp luật về y

tế hoàn thiện và được thực hiện trong thực tế sẽ là tiền đề để bảo đảm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bệnh, của thầy thuốc và nhân viên y tế, của các cơsởy tế. Điều đó thểhiện vai trò hết sức quan trọng của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế [61, tr. 54].

Ba là, tạo lập môi trường pháp lý đầy đủ, rõ ràng, minh bạch; bảo đảm việc bình đẳng trước pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động y tế tư: Khi đề cập đến QLNN bằng pháp luật đối với lĩnh vực y tế nói chung, các CSKCBT nói riêng, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý thường đề cập đến hệ thống thể chế y

tế. Thể chếy tế đó là toàn bộ các VBQPPL về y tế. Hoạt động y tế mang tínhđặc thù, hết sức đa dạng, phong phú, phức tạp và nhạy cảm nên đòi hỏi hệ thống pháp luật vềy tế tư phải được từng bước hoàn thiện và đáp ứng được các đặc tính trên.

35

Hệ thống pháp luật đối với các CSKCBT phải đầy đủ, toàn diện, rõ ràng, minh bạch và phải được thực hiện nghiêm minh trên thực tế. Do vậy, các cơ quan, tổ chức, cánhân khi tham gia các hoạt động liên quan đến ytếtư mới có điều kiện thực hiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật trên cơ sở quy định rõ về quyền và nghĩa vụ, không phân biệt khu vực ytếnhà nướcvới khu vực ytếtư nhân, giữa bác sỹvớiđiều dưỡng viên, hộ lý, giữa người giàu với người nghèo, giữa các khu vực địa lý và kinh tế khác nhau [61, tr. 54].

Bốnlà, góp phần nâng cao hiệu lựcvà chất lượng củahoạt động KCBT. QLNN bằng pháp luật đối với các CSKCBT sẽ góp phần thúc đẩy các hoạt động quản lý về y tế tư có hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm trật tự, kỷ cương, kỷ luật, đồng thời đạt được mục tiêu đã đề ra trong lĩnh vực y tế và y tế tư nhân với chi phí quản lý thấp nhất.

Năm là, góp phần phát huy vai trò của y tế tư nhân trong việc huy động các nguồn lực cho phát triển dịch vụ y tế và chia sẻ trách nhiệm với khu vực y tế công, thể hiện: Thứ nhất, huy động nguồn vốn: Y tế tư nhân góp phần huy động nguồn vốn nhàn rỗi tham gia vào lĩnh vực y tế, góp phần chia sẻ gánh nặng tài chính với khu vực y tế công. Thứ hai, huy động nguồn nhân lực: Khu vực y tế tư nhân phát triển làm tăng cầu về đội ngũ nhân viên y tế, đội ngũ bác sỹ, y tá…, vì vậy đã tạođộnglựckích thích nguồn cung cáclựclượngnày,tạomôi trường cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ y tế: cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, các vấn đềvềkinhtế,xãhộiphát triển nhanh chóng nhằm đápứngnhucầungườidân. Do vậy, lĩnh vực y tế cũng có sự cạnh tranh về dịch vụ y tế và chất lượngphục vụ. Sựcạnh tranh chủ yếu xảy ra giữa: khu vực nhà nước và khu vực tư nhân; cạnh tranh của bản thân các cơ sở y tế tư nhân; cạnh tranh với các dịch vụ y tế quốc tế. Thứba, giảm tải cho khu vực y tế công: Y tế tư nhân tham gia vào thị trường chăm sóc sức khoẻ góp phần giảm tải cho các bệnh viện công. Hiện nay, việc quá tải tại các bệnh viện côngđãvà đang gâybứcxúc trong xã hội, trong khiđó,cơsởytếtưnhânmọclên quá nhanh nhưng thiếu kiểm soátvềtay nghề, chấtlượngdịchvụcũng là thách thứcvớichính quyền các cấp. Nhiềuvụviệc đáng tiếc gây chết người đã xảy ra tại các cơ sở y tế tư nhân thời gian qua là bài học vô cùng đau xót. Do vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động của các CSKCBT cần có sự giám sát của người dân. Kết quả của việc giám sát sẽ góp phần trực tiếp hạn chế thực hiện các

36

kỹ thuật quá phạm vi cho phép, chống lạm dụng chỉ định cận lâm sàng, giảm thiểu sai sót trong chuyên môn, thái độ với người bệnh và tăng cường đoàn kết các cán bộ y tế trong quá trình hành nghề.

2.2. Nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư

2.2.1. Xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật vềtổchức và hoạtđộng của y tế tư nhân

2.2.1.1. Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triểnĐểcông tác QLNN bằng pháp luậtđốivớicác CSKCBT có hiệu quả, nhà

nước cần phải xây dựng chiến lược, qui hoạch kế hoạch về phát triển các dịch vụ y tế tư nhân. Chiến lược phát triển các quyết định những phương hướng lâu dài cho nhiều năm. Nội dung cơ bản của QLNN đối với các CSKCBT của chiến lược phát triển các CSKCBT bao gồm một hệ thống các quanđiểm, chỉđạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển.

Quy hoạch phát triển CSKCBT là hình thức định hướng phát triển lâu dài các loại hình dịch vụ YTN nhằm đáp ứng mục tiêu chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Do vậy, qui hoạch là tiền đềcho việc xây dựng kếhoạch, chương trình và các đề án, dự án phát triển các CSKCBT.

Kế hoạchđịnhhướngphát triển các CSKCBT tập trung các mục tiêu và các phương thức để đạt được mục tiêuđề ra. Trong cơ chế thị trường, đối với dịch vụ y

tế tư nhân, nhà nước thực hiện công tác kế hoạch nhằm định hướng phát triển hành nghề YTN, lựa chọn mô hình, các mục tiêu chủ yếu, xây dựng các chính sách quản lý của nhà nước đối với các CSKCBT.

2.2.1.2. Xây dựng, ban hành hệ thống quy định pháp luật về tổ chức và hành nghề YTN

Hiện nay, chúng tađãcó một hệthống văn bản pháp luật khá đầyđủbao gồm Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư hướng dẫn quan trọng làm nền tảng cho việc xây dựng và phát triển hệthống các CSKCBT theo định hướng XHCN trong nền kinh tế nhiều thành phần.

Ngoài các văn bản của Trung ương qui định và hướng dẫn thì các địa phương cũng đã ban hành các văn bản pháp luật về hành nghề YTN như Chỉ thị của UBND

37

tỉnh đối với các CSKCBT, các văn bản chỉ đạo về tăng cường công tác quản lý nhànước đối với các CSKCBT, các quyết định cá biệt về lĩnh vực này…

Việc tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật về hành nghề YTN là do Bộ Y tế cũng như Sở y tế các tỉnh thành phố phải tổ chức tập huấn để phổ biến đầyđủcụthểnhững nội dung đã yêu cầu trong pháp lệnh cũng như các văn bản khác về lĩnh vực dịch vụ y tế tư nhân.

Những vănbảntrên là cơsởpháp lýđểnhànướcvà cáccấpcó thẩm quyền quản lý,điềuhànhđốivớimọihoạtđộngcủaCSKCBTởđịaphương cũng như trong toàn quốc. Đồng thời cũng là hành lang hoạt động hợp pháp của

tất cả các cơ quan quản lý và cơ sở trong cả nước trên con đường phát triển đất nước, khẳng định tính nhân đạo, ưu việt xã hội chủ nghĩa của nhà nước ta trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là YTN.

ĐểQLNN bằng PLđốivớicác CSKCBT có hiệu quả, yêucầuhệthống văn bản đối với các CSKCBT phải:

Thứ nhất, đảm bảo tính hợp pháp, hợp hiến và khả thi. Khi xây dựng pháp luậtđòi hỏi phải cân nhắc được các lợi ích của tất cả những đối tượng được văn bản pháp luật điều chỉnh.Sựhoàn thiện pháp luật đối với các CSKCBT còn thểhiện ởtính thống nhất của nó. Sựthống nhất thểhiện ởchỗ, chếđịnh pháp luật đối với các CSKCBT phải phản ánh được các nguyên lý khoa học hiện đại của tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nói chung, thực hiện công vụ nói riêng. Ngoài ra, khi xây dựng pháp luậtvềlĩnh vực KCBT luôn phải chú ý các quyđịnhpháp luật có khảnăng thực hiện được trên thực tiễn; sựphù hợp với các điều kiện (vềvật chất, kỹthuật, tổ chức…) bảo đảm cho quy định pháp luật có thể được thực hiện. Bên cạnh đó, một hệ thống pháp luật hoàn thiện phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật lập pháp cao, yêu cầu này cũng đúng đối với pháp luật về y tế nói chung, YTN nói riêng.

Thứ hai, đảm bảo về nội dung: Pháp luật về tổ chức và hành nghề YTN cần tập trungđiềuchỉnh các nhóm quanhệxãhộisau: 1)Thủtụccấpvà thuhồichứngchỉhành nghề KCB, giấy phép hoạtđộngKCB [5]; 2) quyền và trách nhiệmcủacác CSKCBT; 3) Quản lý giáđốivớidịchvụtư nhân; 4) Trách nhiệmcủacác cơ quan QLNN đối với các CSKCBT; 5) Xử phạt vi phạm đối với các CSKCBT. Theo Điều 90đến Điều 93 thì thẩm quyền XPVPHC trong lĩnh vực y tế thuộc về: Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Thanh tra y tế; Quản lý thị trường; Công an nhân dân; Bộ đội biên phòng,

38

Cảnh sát biển,Hảiquan, cơ quan Thuế,CụctrưởngCụcHóa chất, Thanh tra các ngành: Khoahọcvà Công nghệ, Laođộng- Thương binh và Xã hội, Thông tin vàTruyền thông, Tài nguyên và Môi trường, Giao thông vận tải, Tài chính và các cơ quan khác có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật XPVPHC đối với những hành vi VPHC trong lĩnh vực y tế có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực mình quản lý [65].

2.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật để quản lý các cơ sở khám chữa bệnh tư

2.2.2.1. Xây dựng bộmáy quản lý và đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chức năng quản lý các cơ sở khám chữa bệnh tư

* Xây dựng bộ máy quản lý các CSKCBT

Nhà nước hình thành hệ thống tổ chức ngành y tế nhằm thực hiện những mục tiêucủasựnghiệp CS&BVSKND. Dovậyphải tuân theo nguyên tắc: 1)Đảmbảo phục vụ nhân dân kịp thời, có hiệu quả cao đáp ứng được nhu cầu người dân khi cần là được chăm sóc sức khỏe; 2) Phù hợp với tình hình kinh tế địa phương và mô hình bệnh tật; 3) Phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật và khả năng quản lý của ngành,đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ trong quản lý hệ thống.

Mô hình chung của tổ chức quản lý của nước ta được hình thành theo tổ chức

hành chính gồm 4 tuyến: Trung ương – Tỉnh – Huyện – Xã. Khu vực tỉnh – huyện – xã có thểgọi là khu vực phổcập nhằm đảm bảo yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân hàng ngày, sửdụng kỹthuật thông thường, phổbiến. Bên cạnh đó, khu vực chuyên sâu với nhiệm vụ từng bước đi vào khoa học kỹ thuật cao; sử dụng các kỹthuật cao, thích hợp với Việt Nam đi sâu vào nghiên cứu khoa học và chỉđạo khoa học kỹ thuật cho địa phương hỗ trợ giải quyết khó khăn vượt qua khả năng y

tế phổ cập. Khu vực chuyên sâu sẽ đào tạo cán bộ y tế cho phổ cập.

* Xây dựngđộingũ cánbộ,công chức thực hiện chức năng quản lý các CSKCBT.

Xây dựng đội ngũ những nhà quản lý, công chức làm việc tại các cơ quan quản lývềlĩnhvựcYtếnói chung, YTN nói riêng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý. Nếu như thể chế quy định chức năng, nhiệm vụcủa các cơ quan được xác định một cách cụ thể, khoa học mà không có đội ngũ công chứcđủnăng lựcđểthực thi nhiệmvụthì nhiệmvụcủa tổ chứcsẽkhôngđược hoàn thành hoặc kết quả thực hiện sẽ bị hạn chế.

39

Hoạtđộngcủacác CSKCBYTNrấtđa dạng, nhiều lĩnhvựchoạt động, tinh vi; trìnhđộ,nănglựccủađộingũ công chức làm việc trong các cơ quan QLNNảnhhưởngkhôngnhỏđếnkếtquảQLNN. Do vậy,đòihỏicánbộquản lý, CCVC làm việc trong các CQHCNN quản lývềYTN thường xuyên trau dồi kiến thức và kỹ năng trong quá trình thực thi công vụ.

Ngoài một số yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC nói chung như: vềtrìnhđộlý luận chính trị,vềkiến thức QLNN, trìnhđộchuyên môn nghiệp vụ, trình độ tin học, ngoại ngữ thì trong quá trình xây dựng đội ngũ CBCC quản lý các CSKCBTđòihỏiphải cókỹnăng nghiên cứu, hoạchđịnhchính sách trong lĩnh vực y tế, kỹ năng thiết lập các kế hoạch, xây dựng các đề án, kỹ năng

tổ chức thực hiện pháp luật…

Vì vậy, đội ngũ công chức làm việc trong các cơ quan quản lý về y tế nói chung, YTN nói riêngđòihỏiphải cóđủkhảnăng, nănglựchoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao. Lúc này, người công chức phải có trình độ, kiến thức và kỹ năng quản lý với tầm nhìn rộng lớn hơn, kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá bao quát hơn, đặc biệt là đối với những công chức lãnh đạo, quản lý. Kết quảhoạtđộngcủađộingũ công chức này cótầmquan trọng quyếtđịnhchất lượng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền công vụ.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC quản lý nhà nước về lĩnh vực y tế, các cơ quan cần đào tạo một đội ngũ cán bộ cơ cấu đồng bộ, thích hợp với từng giaiđoạn phát triển, bồi dưỡng kiến thức, kỹnăng nhiệmvụđược giao, chăm lo đời sống cán bộ, viên chức của ngành.

2.2.2.2. Tổchức và tạo lập các điềukiện đểcác cơ sởkhám chữa bệnh tưthực hiện các quyền và trách nhiệm theo pháp luật

Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và tạo lập các điều kiện đểcác CSKCBT thực hiện các quyền và trách nhiệm theo pháp luật. Các điều kiện cần thiết đểmột CSKCBT hoạt động đó là: Cấpgiấy chứng nhận đủđiều kiện hoạtđộng; điều kiện vềcơ sởvật chất; điều kiện vềtrang thiết bị; điềukiệnvềchuyên môncủanhân viên ytế.Cácđiềukiện hoạtđộngcủacác CSKCBTđượcNhànước quy định trong hệ thống các văn bản quy định hiện hành.

Đểlĩnh vực ytếtư nhân phát triển hiệu quả, các quyđịnh củanhà nước không chỉ dựa vào những quy định trong các VBQPPL trực tiếp điều chỉnh các hoạt

40

động y tế, mà còn phải xem xét những quy định của các văn bản pháp luật khác cóđiều khoản liên quan đến y tế. Nhà nước tạo điều kiện về thủ tục pháp lý, mua bán

máy móc, thiết bị,trụsởhoạtđộng…đốivớicác CSKCBT, tạo mọi điềukiệnđểcác cơ sở này hoạt động đúng PL.

Những quyđịnhcủanhànướctrong lĩnhvựcytếđặtragắnvớinộidung

QLNN về y tế (xét theo quá trình quản lý, các lĩnh vực hoạt động y tế…) liên quan đến cả chủ thể QLNN (các CQNN, cán bộ, công chức nhà nước), chủ thể hoạt động trong lĩnh vực y tế (tổ chức, cá nhân) và công dân (quyền và nghĩa vụ công dân trong lĩnh vực y tế – lĩnh vực chăm sóc, BVSKND). Ngoài ra, nhà nước còn quy định chặt chẽ và

thống nhấtvềchuyên môn,kỹthuật, nghiệpvụ…liênquanđếnhoạtđộngtrong lĩnh vựcy tế như: quyđịnh vềđiều kiện, tiêu cuẩn chuyên môn,kỹthuật về KCB, chăm

sóc, điều dưỡng, phục hồi chức năng, chỉnh hình, thẩm mỹ, giám định…

2.2.2.3. Tuyên truyền,phổbiến, giáo dục pháp luật vềy tếtư nhân, vềcác quyền và trách nhiệm của cá nhân khi tham gia khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh tư.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH TƯ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà Nội 

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn  thành phố Hà Nội
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà NộiQuản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà Nội Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư từ thực tiễn thành phố Hà Nội

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *