Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Kon Tum

Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Kon Tum

Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Kon Tum

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng và chiều sâu, đòi hỏi cơ cấu lao động hợp lý và không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành “Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã nhấn mạnh việc tập trung đào tạo nghề cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế – xã hội của cả nước; bảo đảm hài hòa, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị; có kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính sách đảm bảo việc làm cho nông dân, nhất là ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông thôn, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân để chuyển dịch cơ cấu lao động”. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là việc làm có tính xã hội và nhân văn sâu sắc, do đó đã nhận được sự đồng thuận cao của người dân, của các cấp, các ngành và toàn xã hội. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Chính phủ đã có Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là một chủ trương đúng đắn nhưng cần có một lộ trình lâu dài và thực hiện theo phương châm “mưa dầm thấm lâu” giúp người dân hiểu được giá trị của việc học nghề, trong đó cần tập trung đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động, tuyên truyền và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị.

Việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay trên cả nước nói chung và tại Kon Tum nói riêng càng có ý nghĩa trong bối cảnh cơ cấu lại nền kinh tế, cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp trong quá trình hội nhập, trong đó có ngành nông nghiệp và kinh tế ở nông thôn là chuyển mạnh sang phát triển các ngành nghề mới, dựa trên nền tảng công nghệ ngày càng hiện đại. Trong những năm qua, bằng việc áp dụng hiệu quả các biện pháp quản lý nhà nước về đào tạo nghề công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố đã đạt được những kết quả nhất định đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người lao động, góp phần đáp ứng một phần yêu cầu mới đặt ra của nền kinh tế địa phương. Đặc biệt, trong giai đoạn 2019-2022, toàn Thành phố đã có 1424 lao động nông thôn được đào tạo nghề, trong đó có 1381 người được giải quyết việc làm và tự tạo việc làm sau đào tạo (tỷ lệ trên 96% so với tổng số lao động được đào tạo). Tuy nhiên, công tác đào tạo hạn chế chuyển biến trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn, số lượng lao động có tăng tuy nhiên chưa đạt chỉ tiêu đề ra cả giai đoạn. Công tác quản lý, khảo sát, tuyên truyền, giám sát, đánh giá đôi khi còn mang tính hình thức, do vậy chưa phát huy được hiệu quả của hoạt động đào tạo nghề gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, nhằm đẩy mạnh công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo và phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Sau đào tạo vẫn còn một bộ phận lao động nông thôn chưa tìm được việc làm.

Xuất phát từ thực tế nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum” để nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp giải quyết những tồn tại, hạn chế của công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn thành phố, đồng thời có những kiến nghị, đề xuất để điều chỉnh chính sách về đào tạo nghề phù hợp với giai đoạn hiện nay.

Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Kon Tum
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Kon Tum

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.Mục tiêu tổng quát

Thông qua đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Kon Tum và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong thời gian tới.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

– Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Thành phố Kon Tum trong thời gian qua.

– Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Thành phố Kon Tum.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: “Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Thành phố Kon Tum”.

– Phạm vi về nội dung: “Luận văn nghiên cứu QLNN về ĐTN cho LĐNT trên các khía cạnh: Tổ chức bộ máy; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản, chính sách về ĐTN; tuyên truyền về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn; xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch về ĐTN; Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong công tác ĐTN cho LĐNT”.

Trong đó, công tác ĐTN cho LĐNT chỉ tập trung vào ĐTN trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng.

– Phạm vi về không gian: Luận văn được tác giả nghiên cứu tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

– Phạm vi về thời gian: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Kon Tum được nghiên cứu trong giai đoạn 2019–2022. Các giải pháp đề xuất có ý nghĩa đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp thu thập số liệu

– Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập từ báo cáo công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn của thành phố Kon Tum qua các năm từ 2019-2022; Các số liệu về kinh tế – xã hội của thành phố Kon Tum từ niên giám thống kê của Chi cục Thống kê thành phố; Các báo cáo của các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền như: Ủy ban Nhân dân tỉnh; Sở Lao động- TB&HX tỉnh; UBND Thành phố; Phòng Lao động – TB&XH, Phòng Tài chính – Kế hoạch; Phòng Văn hóa thông tin; Phòng nông nghiệp Thành phố; Trường Cao đẳng Cộng đồng; Các chương trình, đề án, văn bản về công tác đào tạo nghề do Trung ương và tỉnh ban hành.

Ngoài ra, đề tài sử dụng các kết quả đã công bố tại các luận văn, bài báo, tạp chí, giáo trình của các tác giả trong nước để phục vụ cho quá trình nghiên cứu.

– Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: tiến hành điều tra bằng phiếu khảo sát được thiết kế trên cơ sở nội dung và tiêu chí đánh giá công tác QLNN về ĐTN cho LĐNT. Đối tượng khảo sát là cán bộ làm công tác QLNN về đào tạo nghề và cán bộ quản lý các cơ sở GDNN trên địa bàn Thành phố Kon Tum đánh giá về thực trạng và kết quả QLNN về công tác ĐTN cho LĐNT trên địa bàn Thành phố.

Tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Lựa chọn các đối tượng có liên quan đến QLNN về công tác ĐTN cho LĐNT thuộc cơ quan QLNN các cấp, cơ sở GDNN trên địa bàn Thành phố, các đơn vị phối hợp có tham gia ĐTN cho LĐNT và một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có sử dụng lao động để tiến hành gửi phiếu điều tra và người lao động nông thôn. Số phiếu điều tra gửi đi là 115 phiếu, số phiếu thu về là 115 phiếu. Trong đó: Phòng dạy nghề thuộc Sở LĐTB-XH 03phiếu; Chi cục PTNT thuộc Sở Nông nghiệp: 03 phiếu; Phòng LĐTB_XH Thành phố: 03 phiếu; Phòng NN Thành phố: 03 phiếu; Lãnh đạo và giáo viên của 03 cơ sở đào tạo trên địa bàn Thành phố: 25 phiếu; Lãnh đạo 21 xã phường và cán bộ lao động, TB-XH: 42 phiếu; Phòng VHTT: 03 phiếu; Phòng Tài chính Kế hoạch: 03 phiếu; Ủy ban MTTQ VN và các đoàn thể chính trị – xã hội: 12 phiếu; Doanh nghiệp sử dụng lao động: 14 phiếu. Việc điều tra chủ yếu vào các nội dung công tác quản lý nhà nước và kết quả về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Tác giả gửi bảng khảo sát cho các đối tượng thông qua phương pháp gửi trực tiếp và gián tiếp.

Sau khi thu thập các thông tin, tác giả tiến hành phân loại theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng để đưa vào sử dụng trong nghiên cứu đề tài.Các số liệu khảo sát sẽ được xử lý bằng phần mềm Excel.

4.2. Phương pháp phân tích

Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp phân tích khác nhau, bao gồm:

– Phương pháp phân tích thống kê: Được sử dụng để tổng hợp các dữ liệu nhằm phân tích những nội dung chủ yếu của đề tài, phân tích số liệu thống kê để rút ra nhận xét, đánh giá mang tính khái quát làm nổi bật những nội dung chính của luận văn. Trên cơ sở số liệu thu thập được từ năm 2019 đến 2022 luận văn sẽ phân tích và đưa ra những tiêu chí đánh giá hiệu quả, hạn chế trong QLNN về công tác ĐTN cho LĐNT tại Thành phố Kon Tum.

– Phương pháp thống kê mô tả: Luận văn sử dụng các bảng thống kê; tổng hợp các chỉ tiêu là số tuyệt đối và số tương đối từ đó đưa ra các nhận định mô tả thực trạng QLNN về công tác ĐTN cho LĐNT hiện nay trên địa bàn Thành phố Kon Tum.

– Phương pháp tổng hợp: Phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp các vấn đề lý luận, các tài liệu, số liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu từ các nguồn thông tin như các niên giám thống kê của Chi cục thống kê Thành phố; Phòng lao động, Thương binh và xã hội; Kế hoạch phát triển Kinh tế- xã hội của Thành phố đến năm 2030 và số liệu các ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, Giáo dục và đào tạo thành phố Kon Tum, cục thống kê, kế hoạch và đầu tư, các bài viết trên các tạp chí, sách báo,…

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài ra phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Thành phố Kon Tum.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Thành phố Kon Tum.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1.1. Một số khái niệm liên quan

a. Nghề

Theo Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu (2008), “Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội , là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định”. [6]

Theo Nguyễn Hùng (2008): “Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau”. [11]

Nguyễn Hữu Tình (2017) lại cho rằng: “Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội”. [16]

Mặc dù có nhiều khái niệm về nghề nhưng có thể khái quát một số nét đặc trưng nhất của nghề đó là: Nghề gắn liền với kiến thức, kỹ năng và những kiến thức, kỹ năng này có được là do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm; Nghề là một công việc chuyên làm, là phương tiện sinh sống, bao gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay; luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học công nghệ và yêu cầu của xã hội.

b. Đào tạo nghề

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề. Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu”.

Theo mục 1 Điều 5 Luật Dạy nghề năm 2006: “Đào tạo nghề được hiểu là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”. [23]

Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp 74/2014/QH13 thì “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. [24]

Qua các khái niệm trên có thể thấy mục tiêu chung của ĐTN là: “Đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với từng trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn [25]. Điều này thể hiện tính nhân văn, đề cao người lao động, thể hiện đầy đủ hơn về kiến thức, kỹ năng và kỷ luật lao động, một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay”.

c. Lao động nông thôn

Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ: “Lao động nông thôn là người trong độ tuổi lao động, có nghề phù hợp với khu vực nông thôn, gồm có:

– Người lao động có hộ khẩu thường trú tại phường, thị trấn đang trực tiếp làm nông nghiệp hoặc gia đình có đất nông nghiệp mới bị thu hồi.

– Người lao động có hộ khẩu thường trú tại xã”.

Như vậy, có thể hiểu lao động nông thôn là những người đang sống và làm việc tại các phường, xã, đã và đang làm các nghề liên quan đến nông thôn, nông nghiệp.

d. Quản lý

Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển Việt Nam thì quản lý nhà nước là tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội theo pháp luật.

Nguyễn Ngọc Quang (1998), đưa ra khái niệm: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục tiêu nhất định”. [22]

Theo giáo trình Khoa học hành chính (2010) – Nhà xuất bản Chính trị – Hành chính có thể nhận thấy bao giờ quản lý cũng xuất hiện cùng với nhu cầu phải phân công và phối hợp trong lao động. C.Mác cho rằng: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một khi người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. [6]

Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.

e. Quản lý nhà nước

Giáo trình Khoa học hành chính (2010), Nhà xuất bản Chính trị – Hành chính định nghĩa: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó là những hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành đối với mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước”. [6]

Mai Hữu Khuê (2003): “ Quản lý nhà nước “là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển xã hội”. [12]

Nguyễn Đăng Thành (2012) cho rằng: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm thỏa mãn yêu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”. [18]

Từ các quan niệm trên, có thể hiểu “QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”.

f. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Từ phân tích trên tôi cho rằng: “Quản lý nhà nước về đào tạo nghề là sự tác động có tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động đào tạo nghề, do các cơ quan quản lý đào tạo nghề của nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp đào tạo nghề và thực hiện các mục tiêu phát triển sự nghiệp dạy nghề của nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn lực của đất nước ở mỗi thời kỳ khác nhau.

Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động quản lý của cơ quan quản lý đào tạo nghề từ trung ương đến địa phương đối với các cơ sở đào tạo nghề nhằm hỗ trợ LĐNT học nghề, đào tạo nguồn nhân lực để cung cấp cho thị trường lao động”. [20]

Với khái niệm này, có thể thấy:

– Chủ thể QLNN về công tác ĐTN cho LĐNT là các cơ quan tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền, đại diện cho nhà nước, được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật về GDNN và ĐTN cho LĐNT.

– Đối tượng của QLNN về công tác ĐTN cho LĐNT là các hoạt động, các mối quan hệ diễn ra trong quá trình ĐTN cho LĐNT.

– Mục tiêu QLNN về ĐTN cho LĐNT là nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đào tạo nghề cho LĐNT nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của LĐNT sau học nghề; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.

1.1.2. Đặc điểm của lao động nông thôn ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đào tạo nghề

– Lao động nông thôn có số lượng lớn, ngoài các đối tượng được nêu trong quyết định 1956 thì do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.

– “Lao động nông thôn đa dạng về độ tuổi, trạng thái sức khỏe, điều kiện sản xuất kinh doanh và hoàn cảnh sống.

– Trình độ thể lực của lao động nông thôn hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp. Điều này ảnh hưởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế.

– Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường thấp. Đặc điểm này cũng tác động rất lớn đến khả năng tự tạo việc làm của lao động.

– LĐNT ở nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động”.

Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên của người LĐNT đòi hỏi công tác QLNN trong lĩnh vực đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được triển khai với những hoạt động cụ thể: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đạo tạo nghề phải được thực hiện bằng nhiều hình thức đa dạng phù hợp với nhiều đối tượng lao động; Việc tổ chức dạy nghề phải được triển khai dưới nhiều hình thức thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của họ: Đào tạo tập trung; đào tạo lưu động, dạy nghề ban đêm…; Việc xây dựng các chính sách về đào tạo nghề phải đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của người lao động để họ có thể yên tâm tham gia các lớp học…

1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Một là, thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực đào tạo nghề: “Nhằm mục đích đề ra chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tổng thể thực hiện mục tiêu chiến lược đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực lao động xã hội trong từng giai đoạn cụ thể đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển dạy nghề.

Nhà nước quản lý đào tạo nghề đảm bảo những yêu cầu về điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề, chương trình, giáo trình, giáo viên dạy nghề, đồng thời quản lý lĩnh vực đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; đảm bảo công bằng trong dạy nghề thông qua hệ thống chính sách về dạy nghề, tạo cơ hội cho mọi người trong xã hội có điều kiện tham gia vào quá trình đào tạo nghề”.

Hai là, góp phần thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn: “Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ, thông qua hoạt động đào tạo nghề cho LĐNT, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn là một trong những nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề. Đây được coi là giải pháp giảm nghèo nhanh và bền vững được triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương và được Đảng và nhà nước ta coi là một nhiệm vụ chiến lược của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Ba là, tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho lao động nông thôn: “Đào tạo nghề cho LĐNT phải gắn với “đầu ra”, gắn với giải quyết việc làm cho người lao động. Khi người LĐNT có việc làm, họ sẽ có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống và điều quan trọng là họ không trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội. Việc làm được giải quyết, đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên, nguồn lao động được sử dụng hợp lý, đói nghèo từng bước được giải quyết”.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ

1.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đào tạo nghề

Để hoạt động dạy nghề đạt được hiệu quả mong muốn cần thiết phải có tổ chức bộ máy quản lý về hoạt động này. Bộ máy quản lý dạy nghề thực hiện nhiệm vụ được nhà nước giao, được tổ chức thống nhất từ Trung ương xuống địa phương, đảm bảo phối hợp hoạt động nhịp nhàng, thông suốt trong quá trình quản lý nhà nước về đào tạo nghề của các cơ quan quản lý nhà nước và được quy định tại Nghị định số 70/2009/NĐ-CP ngày 21/8/2009 của Chính phủ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đào tạo nghề. Cụ thể như sau:

“Ở Trung ương:

Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung, chương trình của bậc đào tạo, cấp đào tạo; hàng năm báo cáo với Quốc hội về hoạt động giáo dục – đào tạo trong đó có dạy nghề và về việc thực hiện ngân sách giáo dục.

Bộ LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề. Theo Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ v/v quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ LĐ-TB&XH thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH quản lý nhà nước về dạy nghề, bao gồm: Chương trình, giáo trình, kế hoạch, nội dung, chất lượng dạy nghề, khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia, tiêu chuẩn giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề, danh mục nghề đào tạo, quy chế thi, tuyển sinh, hệ thống văn bằng, chứng chỉ, sở vật chất và thiết bị dạy nghề; tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực dạy nghề theo quy định của pháp luật. Tổng cục Dạy nghề có tư cách pháp nhân, có con dấu là đơn vị dự toán ngân sách cấp II thuộc Bộ LĐ-TB&XH, có tài khoản riêng.

Các Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề theo thẩm quyền.

Cấp tỉnh, Thành phố:

UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Ban hành cơ chế, chính sách về ĐTN cho LĐNT theo thẩm quyền. Chỉ đạo triển khai thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả, hiệu quả ĐTN cho LĐNT tại địa phương. Sở LĐ-TB&XH; Giám đốc Sở LĐ- TB&XH chịu trách nhiệm trước ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề trong phạm vi tỉnh, thành phố: (1) Xây dựng và trình UBND cấp tỉnh/thành phố chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm về dạy nghề; chương trình, dự án phát triển dạy nghề ở địa phương; tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt. (2) Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện về chuyên môn, nghiệp vụ đối với Phòng LĐ-TB&XH và các CSDN trên địa bàn. (3) Trình UBND cấp tỉnh ban hành những quy định cụ thể về quản lý dạy nghề, chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề, học sinh, sinh viên học nghề phù hợp với các quy định của pháp luật. Thực hiện đăng ký hoạt động dạy nghề trình độ trung cấp nghề, sơ cấp nghề theo quy định của Bộ LĐ-TB&XH. (4) Tổ chức hội giảng giáo viên dạy nghề, hội thi thiết bị tự làm, hội thi học sinh giỏi nghề cấp tỉnh. (5) Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân, UBND cấp tỉnh các giải pháp thực hiện xã hội hóa dạy nghề; chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện. (6) Phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư trong quá trình lập dự toán thu, chi ngân sách; phân bổ dự toán, quản lý và quyết toán ngân sách dạy nghề hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách của địa phương. (7) Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về dạy nghề; xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật. (8) Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về dạy nghề theo quy định

Cấp huyện: UBND cấp huyện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện QLNN về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn huyện. Trưởng Phòng LĐ-TB&XH chịu trách nhiệm trước ủy ban nhân dân huyện, thành phố thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề trong phạm vi theo phân cấp. Bố trí 01 cán bộ chuyên trách ở Phòng Lao động-TB&XH làm công tác quản lý ĐTN cho LĐNT.

Cấp xã: UBND cấp xã theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện QLNN về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn xã. Chịu trách nhiệm xác nhận đối tượng được hỗ trợ học nghề.

Bên cạnh đó các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp tích cực tham gia vào công tác tuyên truyền và tham gia tổ chức ĐTN cho LĐNT”.

Nhìn chung, Bộ máy quản lý nhà nước về dạy nghề từ trung ương đến địa phương đã được tăng cường, các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đều có Phòng dạy nghề. Có sự phân cấp cho các cấp các ngành để nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan quản lý các cấp.

Tiêu chí đánh giá:

– Sự phân công chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận rõ ràng, phù hợp.

– Sự phối hợp giữa các cấp, các bộ phận nhịp nhàng, hiệu quả .

– Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về ĐTN đáp ứng yêu cầu.

1.2.2. Xây dựng, ban hành các văn bản quản lý nhà nước về đào tạo nghề

Để quản lý và điều tiết đồng bộ, thống nhất hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề từ Trung ương đến địa phương cần phải tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động đào tạo nghề bằng việc xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo nghề. Những nội dung quan trọng mà pháp luật Nhà nước điều chỉnh trong hoạt động dạy nghề là: Xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề đã ban hành tập trung hướng dẫn cụ thể ở một số nội dung sau: Mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề và danh mục ngành nghề đào tạo, mục tiêu, chương trình khung, nội dung, phương pháp dạy nghề; vấn đề tuyển sinh, quản lý học sinh, học viên học trong nước và được cử đi đào tạo ở nước ngoài; tiêu chuẩn chức danh của đội ngũ làm công tác giảng dạy trong hệ thống đào tạo nghề; thời gian, khung chương trình của các cấp trình độ đào tạo nghề và quy chế thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp phát văn bằng – chứng chỉ nghề; tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị, cơ sở vật chất của các CSDN; quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về dạy nghề; về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dạy nghề; ban hành quy định về quy trình kiểm định chất lượng, hướng dẫn xếp hạng CSDN công lập; xét duyệt và cho phép phát hành các loại sách giáo khoa, ấn phẩm phục vụ cho dạy nghề

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật đó, các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ QLNN của mình. Các văn bản quy phạm pháp luật về ĐTN đối với LĐNT có thể kể đến gồm:

“Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 , trong đó xác định cụ thể quan điểm, mục tiêu, đối tượng, chính sách, giải pháp tổ chức thực hiện, các hoạt động cụ thể của đề án, kinh phí và cơ chế tài chính của đề án, phân công trách nhiệm cho các bộ ngành trung ương và địa phương trong việc tổ chức triển khai thực hiện Đề án. Đây được xem là cơ sở pháp lý quan trọng, là tiền đề để tổ chức thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Quyết định sửa đổi, bổ sung một số nội dung không còn phù hợp của Quyết định số 1956/QĐ-TTg để đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong điều kiện hiện nay.

Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định quy định cụ thể, chi tiết về chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng, việc phân bổ và sử dụng nguồn kinh phí, khung đào tạo và chức năng cụ thể của các cơ quan có liên quan”.

Trên cơ sở chính sách do Chính phủ ban hành, các Bộ: Lao động – TB&XH, NN&PTNT, Tài chính, …theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn ban hành nhiều văn bản nhằm quy định, hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện công tác ĐTN cho LĐNT.

Đối với các địa phương, trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, cấp ủy, chính quyền tại chủ động trong triển khai nhiệm vụ đặt hàng dạy nghề cho lao động nông thôn gắn với nhu cầu, địa chỉ sử dụng, theo định hướng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương, cơ sở dạy nghề trong quá trình tổ chức đào tạo; qua đó kịp thời hỗ trợ đào tạo nghề tại địa phương mình. Hàng năm, các cơ quan QLNN về đào tạo nghề ở cấp tỉnh, thành phố (UBND các Tỉnh, thành phố, Sở, phòng LĐTB&XH) ban hành Kế hoạch đào tạo nghề để chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề.

Tiêu chí đánh giá:

– Số lượng văn bản được xây dựng và ban hành.

– Các văn bản được ban hành kịp thời, đúng quy định.

– Nội dung văn bản phù hợp, có hướng dẫn thực hiện rõ ràng, có tính khả thi.

– Kết quả thực hiện các văn bản.

1.2.3. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về đào tạo nghề

Nhận thức đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt động thực tiễn của con người. Thực tế chứng minh, một trong những nguyên nhân thành công hay thất bại trong việc tổ chức hoạt động dạy nghề chính là vấn đề nhận thức. Vì vậy, phải tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, cung cấp thông tin một cách đầy đủ về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, những thuận lợi, khó khăn, nhằm làm chuyển biến nhận thức của các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội, quần chúng nhân dân theo hướng tích cực về vị trí của đào tạo nghề trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

Các cán bộ quản lý và giáo viên các trường dạy nghề đóng vai trò nòng cốt trong việc tổ chức thực hiện tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người về công tác đào tạo nghề. Đối tượng tiếp theo cần tác động là các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương. Cần có sự chuyển biến nhận thức của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương về công tác dạy nghề, để từ đó có sự quan tâm đầy đủ cho công tác này. Đối với các lực lượng xã hội và nhân dân, cần phải làm cho họ hiểu rằng, chỉ có thể làm tốt công tác dạy nghề mới tạo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, cung cấp thông tin một cách đầy đủ về đường lối, chủ trương của Đảng và nhà nước về đào tạo nghề là hoạt động quan trọng, có ý nghĩa quyết định tác động đến nhận thức của người lao động giúp cho người lao động có nhận thức đúng đắn về học nghề, vị thế của người lao động trực tiếp trong phát triển kinh tế – xã hội, qua đó nâng cao ý thức về học nghề để có việc làm, thu nhập ổn định và chủ động đăng ký học nghề.

Thông qua các hoạt động tuyên truyền về các chủ trương, chính sách về đào tạo nghề, tuyên truyền về vai trò, vị trí của đội ngũ lao động có trình độ cao trong sự phát triển kinh tế – xã hội; những ưu đãi của các chính sách dành cho lao động qua đào tạo, các cá nhân điển hình thành công sau khi được đào tạo nghề và có việc làm ổn định, các cá nhân điển hình về lập thân, lập nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng. Qua đó, tác động và làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức về nghề nghiệp trong từng cá nhân, gia đình và toàn xã hội.

Hoạt động tuyên truyền về các chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn được tổ chức thông qua nhiều hình thức khác nhau: Tuyên truyền trực quan; tuyên truyền qua hình thức văn bản; tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền qua các Hội nghị…

Tiêu chí đánh giá:

– Số lần tuyên truyền, phổ biến các văn bản, chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

– Các hình thức tuyên truyền được triển khai (bản tin, bài, tờ rơi, ảnh, băng rôn…);

– Hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến (nhận thức…): Số LĐNT nắm bắt được thông tin, chính sách về ĐTN.

1.2.4. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo nghề

a. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Quy hoạch “là sự phân bố và sắp xếp các hoạt động và các yếu tố sản xuất, dịch vụ và đời sống trên một địa bàn lãnh thổ (quốc gia, vùng, tỉnh, huyện…) cho một thời kỳ (trung hạn, dài hạn) để cụ thể hoá chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trên lãnh thổ, theo thời gian và là cơ sở để lập các kế hoạch phát triển”.

Kế hoạch thực hiện “là những nhiệm vụ rất cụ thể đảm bảo các mục tiêu hoạt động được hoàn thành. Kế hoạch chỉ rõ phải làm gì? Ai làm? Khi nào? Chi phí bao nhiêu? Đây có thể xem là là dự án tổng thể các mục tiêu kinh tế – xã hội ở tầm kinh tế vĩ mô hay kinh tế vi mô được thể hiện thành các chỉ tiêu chung của nền kinh tế quốc dân hay của các ngành, các đơn vị lãnh thổ, hay đơn vị cơ sở, cùng các chính sách, các biện pháp chủ yếu tương ứng bảo đảm việc thực hiện kế hoạch là việc cần làm trong tất cả các việc bởi nó quyết định hiệu quả các việc còn lại”.

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch về ĐTN cho LĐNT là quá trình thiết lập các mục tiêu, các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.

Quy hoạch, kế hoạch ĐTN cho LĐNT cần tập trung chủ yếu vào các nội dung: “Xác định mục tiêu và ngành nghề đào tạo; Phát triển cơ sở giáo dục nghề nghiệp tham gia ĐTN cho LĐNT đảm bảo về quy mô, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo; Phát triển chương trình, giáo trình đào tạo; Phát triển đội ngũ giáo viên, người dạy nghề đủ về số lượng, ngành nghề, đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Bố trí đảm bảo nguồn kinh phí cho việc triển khai thực hiện”.

b. Tổ chức thực hiện

Việc triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch ĐTN cho LĐNT do nhiều cấp, nhiều ngành cùng tham gia, phối hợp triển khai thực hiện. Việc triển khai được thực hiện theo nguyên tắc quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ.

Quản lý theo ngành: “Là sự tác động có mục đích và định hướng của cơ QLNN đối với từng ngành, từng lĩnh vực bao gồm hệ thống các đơn quan, đơn vị, tổ chức mang tính đặc trưng của ngành nghề đó, không phân biệt địa giới hành chính. Trong thực hiện ĐTN cho LĐNT ngành Lao động – TB&XH là cơ quan chủ trì, phối hợp với các ngành điều phối và hướng dẫn thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chịu trách nhiệm về việc tổ chức dạy nghề phi nông nghiệp cho LĐNT; ngành NN&PTNN chịu trách nhiệm về việc tổ chức dạy nghề nông nghiệp; các ngành: Giáo dục và Đào tạo, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Thông tin, truyền thông… theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình phối hợp với ngành ngành Lao động – TB&XH, ngành NN&PTNT tham mưu bố trí kinh phí, nguồn lực và hướng dẫn triển khai thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phối hợp trong công tác tuyên truyền, vận đôngh để triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch”.

Quản lý theo lãnh thổ: “Hiện nay ở nước ta quản lý theo lãnh thổ chủ yếu vẫn là quản lý theo địa phương. UBND các cấp là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung, giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các lĩnh vực hoạt động trên địa phương. UBND cấp tỉnh, cấp huyện bố trí nguồn lực, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả, hiệu quả triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch về ĐTN cho LĐNT tại địa phương mình”.

Để việc thực hiện công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đạt hiệu quả cần có sự kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ. Sự kết hợp này đòi hỏi ngay từ khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch đến tổ chức thực hiện. Trong mỗi nội dung quy hoạch, kế hoạch ĐTN cho LĐNT đều phải quan tâm đến sự gắn kết của ngành với địa phương và ngược lại, có tính thống nhất tương đối trên phạm vi toàn quốc.

Tiêu chí đánh giá:

– Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

– Xác định mục tiêu và ngành nghề đào tạo phù hợp.

– Kết quả thực hiện kế hoạch đào tạo nghề.

1.2.5. Tổ chức thực hiện các chính sách về đào tạo nghề

Chính sách “là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,… Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể”.

Chính sách đào tạo nghề là “chính sách của nhà nước các cấp phục vụ cho hoạt động đào tạo nghề, nhằm thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, đáp ứng yêu cầu về phát triển KT-XH trong thời kỳ CNH-HĐH, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Các chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn được áp dụng trên từng đối tượng được quy định tại Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” như sau:

  “a. Chính sách đối với người học

– Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực học/người; hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên;

– Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế);

– Lao động nông thôn khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế);

– Lao động nông thôn học nghề được vay để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn làm việc ổn định ở nông thôn sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay để học nghề;

– Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo và hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo các khóa học trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú;

– Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm. Mỗi lao động nông thôn chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của Đề án này. Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác của Nhà nước thì không được tiếp tục hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án này. Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án này nhưng tối đa không quá 03 lần”.

“b. Chính sách đối với cơ sở đào tạo nghề

* Chính sách hỗ trợ, đầu tư cơ sở vật chất cho ĐTN

Huy động nguồn lực và tổ chức các lực lượng để triển khai thực hiện chính sách là một trong những điều kiện cần và đủ để thực hiện thành công các chính sách về đạo tạo nghề và luôn được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm, triển khai đầu tư trên cả phương diện về nhân lực, vật lực và tài lực. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động đào tạo nghề như đất đai, phòng học lý thuyết, nhà xưởng thực hành, máy móc thiết bị dạy nghề, nguyên vật liệu… Đây là điều kiện quan trọng trong việc quyết định tay nghề, chất lượng lao động khi được tham gia đào tạo.

Để đầu tư cơ sở vật chất phục vụ ĐTN, cần phải huy động các nguồn vốn. Nguồn vốn cho việc tổ chức thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT gồm có: Vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn huy động từ các tổ chức chính trị – xã hội và nguồn huy động từ các tổ chức, cá nhân khác nhằm đáp ứng các điều kiện dạy nghề và học nghề.

Nguồn vốn và hoạt động đầu tư cơ sở vật chất cho ĐTN đã được qui định ở một số văn bản sau:

– 61 huyện nghèo được đầu tư cơ sở vật chất thiết bị dạy nghề cho trung tâm dạy nghề theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo;

– 30 huyện có tỷ lệ hộ nghèo từ 30 – 50% mới thành lập trung tâm dạy nghề năm 2009 được hỗ trợ đầu tư phòng học lý thuyết, xưởng thực hành, ký túc xá, nhà công vụ cho giáo viên, nhà ăn, ô tô bán tải hoặc thuyền máy để chuyên chở thiết bị, cán bộ, giáo viên đi dạy nghề lưu động, thiết bị dạy nghề cho 4 nghề phổ biến và 3 – 5 nghề đặc thù của địa phương. Mức đầu tư tối đa 12,5 tỷ đồng/trung tâm;

– 74 huyện miền núi, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số mới thành lập trung tâm dạy nghề năm 2009 được hỗ trợ đầu tư xưởng thực hành, ký túc xá; nhà công vụ cho giáo viên, nhà ăn, ô tô bán tải hoặc thuyền máy để chuyên chở thiết bị, cán bộ, giáo viên đi dạy nghề lưu động, thiết bị dạy nghề cho 3 nghề phổ biến và 3 – 4 nghề đặc thù của địa phương; Mức đầu tư tối đa 9 tỷ đồng/trung tâm.

– 116 huyện đồng bằng mới thành lập trung tâm dạy nghề năm 2009 được hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề với mức 5 tỷ đồng/trung tâm.

– 09 trường trung cấp nghề thủ công mỹ nghệ ở 09 tỉnh tập trung nhiều làng nghề truyền thống được hỗ trợ đầu tư xây dựng và thiết bị dạy nghề với mức đầu tư 25 tỷ đồng/trường;

– Tiếp tục hỗ trợ đầu tư thiết bị dạy nghề cho các trung tâm dạy nghề công lập huyện được đầu tư giai đoạn 2006 – 2009 nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đảm bảo chất lượng dạy nghề. Mức hỗ trợ 3 tỷ đồng/trung tâm;

– Hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy nghề cho 100 trung tâm giáo dục thường xuyên ở những huyện chưa có trung tâm dạy nghề để tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn. Mức hỗ trợ 1 tỷ đồng/trung tâm;

– Các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của các Bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở tư thục; trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, các viện nghiên cứu, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, trang trại, nông trường, lâm trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ … có đủ điều kiện dạy nghề cho lao động nông thôn được tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn bằng nguồn kinh phí quy định trong Đề án này và được cung cấp chương trình, giáo trình, học liệu và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề”.

Căn cứ các chính sách được quy định và thực tế sự biến động của giá cả và biến động kinh tế – xã hội hàng năm và từng thời kỳ các chính sách quy định trên đã được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế.

“* Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên ĐTN

Nhân lực trong việc thực hiện đào tạo nghề gồm cán bộ quản lý tại các CSDN và các giảng viên, giáo viên dạy nghề. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đào tạo nghề được xác định là chủ thể trong quá trình dạy nghề, truyền nghề; trong quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị, cơ sở vật chất giảng dạy; trong xây dựng chương trình, giáo trình phục vụ giảng dạy…; Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng dạy nghề cũng như sự thành công trong việc thực hiện chính sách đào tạo nghề. Do đó, đầu tư cho hoạt động tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý và giáo viên đào tạo nghề là điều cần thiết để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm và nhiệt huyết trong dạy nghề.

– Giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được giải quyết nhà công vụ như đối với giáo viên ở các cơ sở giáo dục mầm non đến các cấp học phổ thông;

– Người dạy nghề (cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề lao động nông thôn) được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 25.000 đồng/giờ; người dạy nghề là các tiến sĩ khoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000 đồng/buổi. Mức cụ thể do cơ sở dạy nghề quyết định;

– Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn, bản, phum, sóc thuộc vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn để dạy nghề với thời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu chung như đối với giáo viên thực hiện công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục thường xuyên phải xuống thôn, bản, phum, sóc;

– Xây dựng các tiêu chuẩn, chế độ, cơ chế đãi ngộ phù hợp để thu hút những người giỏi, có năng lực giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; những người hoạt động trên các lĩnh vực, mọi thành phần tham gia vào công tác đào tạo, bồi dưỡng, thu hút những người có năng lực đang công tác tại các cơ quan, đơn vị tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm chức”.

c. Kiểm định chất lượng đào tạo nghề:

Để có cơ sở đánh giá, xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo đối với cơ sở GDNN thì việc kiểm định chất lượng GDNN là một công cụ hữu hiệu để đánh giá chất lượng đào tạo. Hoạt động này một mặt giúp các cơ sở đào tạo tự đánh giá và hoàn thiện các điều kiện bảo đảm chất lượng, mặt khác giúp cơ quan QLNN có chính sách phù hợp để phát triển GDNN.

Việc kiểm định chất lượng đào tạo được thực hiện trên 02 đối tượng: Cơ sở GDNN và chương trình đào tạo. Các tiêu chí, tiểu chuẩn kiểm định được quy định cụ thể tại Thông tư số 15/2017/TT-BLĐTBXH ngày 08/6/2017 của Bộ Lao động – TB&XH.

Công tác kiểm định chất lượng ĐTN thực hiện thông qua hai hình thức: “(1) Định kỳ hàng năm, cơ sở đào tạo thực hiện tự kiểm định. Người đứng đầu cơ sở GDNN phê duyệt và thực hiện công bố kết quả tự kiểm định. Thời hạn hoàn thành trước ngày 25/12 hàng năm. (2) Thực hiện kiểm định ngoài do các tổ chức có đủ điều kiện hoạt động kiểm định được Bộ Lao động – TB&XH cấp phép. Nếu kiểm định đạt các yêu cầu thì cơ sở đào tạo được cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng. Giấy chứng nhận có giá trị trong thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp”.

Tiêu chí đánh giá:

– Cơ sở, vật chất phục vụ đào tạo nghề được đầu tư đầy đủ, kịp thời.

– Phân bổ và sử dụng kinh phí đầu tư cho đào tạo nghề hợp lý.

– Số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đào tạo nghề đáp ứng được yêu cầu.

– Công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đào tạo nghề được thực hiện thường xuyên.

– Định mức hỗ trợ của các chính sách theo kịp thị trường và đáp ứng với nhu cầu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

– Tính kịp thời của việc chi trả chế độ, chính sách.

– Số cơ sở ĐTN được kiểm định và đạt chất lượng.

1.2.6. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về đào tạo nghề

Thanh tra nhằm mục đích phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong ĐTN cho LĐNT; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động QLNN về ĐTN cho LĐNT.

Kiểm tra là để nắm bắt, cập nhật thông tin phục vụ quá trình quản lý; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách. Việc kiểm tra được thực hiện thông qua dưới hình thức báo cáo bằng văn bản hoặc tổ chức làm việc trực tiếp với các cơ quan, đơn vị được kiểm tra. Công tác kiểm tra được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất khi có các vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý.

Nội dung thanh tra, kiểm tra:

– Đối với cơ quan QLNN: Công tác xây dựng kế hoạch; công tác chỉ đạo, hiều hành; công tác phân bổ và quyết toán kinh phí; kết quả triển hiện kế hoạch ĐTN cho LĐNT trên địa bàn.

– Đối với cơ sở ĐTN: thực hiện các qui định về tuyển sinh, tổ chức đào tạo; đội ngũ giáo viên, người dạy nghề; Chương trình, giáo trình đào tạo; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo; chi trả chế độ theo quy định cho người học; công tác theo dõi, giải quyết việc làm cho người học sau đào tạo; việc sử dụng và quyết toán nguồn kinh phí ĐTN cho LĐNT tại đơn vị.

Qua thanh tra, kiểm tra nếu phát hiện cấp dưới có sai phạm thì có các biện pháp cưỡng chế để xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Việc xử lý hành vi vi phạm tùy thuộc vào tính chất mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức độ và hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GDNN được quy định tại Nghị đinh số 79/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ.

Tiêu chí đánh giá:

Quy trình thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng.

Sự minh bạch trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đào tạo nghề.

Năng lực chuyên môn của cán bộ làm công tác thanh tra.

Hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ

1.3.1. Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên bao gồm diện tích lãnh thổ, đặc điểm thời tiết khí hậu và địa hình …Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu tạo ra các đặc điểm đặc trưng con người khác nhau giữa các địa phương, vùng, miền. Khí hậu, thời tiết hệ sinh thái, địa hình giữa các vùng khác nhau dẫn đến việc phân bổ cây trồng, con vật nuôi và phương thức sản xuất, canh tác mỗi vùng, miềm có đặc trưng riêng. Vùng đồng bằng người dân thường giỏi về nghề trồng lúa, người dân ở vùng ven biển thường giỏi nghề thủy sản, người dân vùng miền núi, trung du lại giỏi về nghề trồng cây công nghiệp, lâm nghiệp… Do vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực nông thôn của từng vùng miền cũng khác nhau trong cơ cấu, quy mô, ngành nghề đào tạo, cách thức triển khai thực hiện. Khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch ĐTN cho LĐNT phải phù hợp với nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển KT-XH từng vùng miền.

1.3.2. Điều kiện kinh tế – xã hội

Điều kiện kinh tế xã hội bao gồm các quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, dân số, trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng…là những nhân tố có tác động quyết định đến hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Sự phát triển kinh tế – xã hội càng cao thì sẽ là điều kiện thuận lợi để triển khai có hiệu quả cáo các chiến lược, chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, tạo ra sự chuyển dịch rất lớn đối với lao động nông thôn và ngược lại. Những phát triển về kinh tế sẽ kéo theo sự chuyển biến lớn lao trong văn hóa – xã hội, từ đó sẽ tạo ra nhiều nguồn lực để huy động phát triển công tác đào tạo nghề.

Các quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, quy hoạch nông thôn mới, quy hoạch sử dụng đất… của mỗi địa phương đều ảnh hưởng đến đào tạo nghề. Đào tạo nghề phải gắn với các quy hoạch và tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Dân số là cơ sở hình thành nguồn nhân lực, dân số đông góp phần bổ sung 01 lực lượng lao động đồi dào cho địa phương được bổ sung dồi dào, tạo ra lợi thế lớn về lao động trong quá trình phát triển KT-XH, nhưng đồng thời cũng là thách lớn về chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm.

Trình độ dân trí của người dân của một địa phương cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề.

1.3.3. Hoạt động đào tạo nghề tại địa phương

– Quy mô đào tạo của cơ sở ĐTN: cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện đào tạo phù hợp với nghề, quy mô và trình độ đào tạo; Chương trình, giáo trình đào tạo; đội ngũ giáo viên, người dạy nghề tại các cơ sở đào tạo.

+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo là yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng ĐTN. Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo càng đảm bảo thì chất lượng đào tạo càng cao, giúp người học hình thành được kỹ năng nghề, nhanh chóng thích ứng với công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất. Tùy thuộc vào từng trình độ, ngành nghề đào tạo sẽ có quy định riêng về tiêu chuẩn cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo.

+ Chương trình, giáo trình là yếu tố rất ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và việc làm của người lao động sau học nghề.

+ Đội ngũ giáo viên, người dạy nghề tại các cơ sở đào tạo có vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo nghề.

– Đối tượng đào tạo: LĐNT tham gia học nghề thường là những người có thu nhập thấp, kinh tế khó khăn, người thuộc các nhóm lao động yếu thế, đặc thù trong xã hội vì vậy việc xây dựng hệ thống chương trình đạo tạo phù hợp và các chính sách hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo được bố trí đảm bảo sẽ ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.4.1. Kinh nghiệm của thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU NĂM 2023\TÀI LIỆU CHƯA ĐỔI TÊN/ Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *