Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Thanh Khê- Thành phố Đà Nẵng
Công tác bảo trợ xã hội được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Quận ủy, UBND quận, sự hướng dẫn của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân và đơn vị liên quan từ quận đến phường trong quá trình thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội. Đảm bảo 100% đối ttượng đủ điều kiện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội được giải quyết hưởng trợ cấp hằng tháng.
Để đảm bảo đủ nguồn lực cho các chương trình, dự án liên quan đến chính sách xã hội, thành phố huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc bằng các nguồn từ ngân sách địa phương; huy động các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, sự đóng góp của nhân dân; nguồn lực vận động từ các quỹ khác. Ngoài ra mức chuẩn trợ cấp tăng lên 30% so với quy định của Trung ương, mở rộng các nhóm đối tượng và điều kiện được hưởng đến các hộ có hoàn cảnh khó khăn; tăng cường các chương trình trợ cấp đột xuất đối với các hoàn cảnh khó khăn khẩn cấp (thiên tai, tai nạn,..).
Thời gian qua, nước ta nói chung và Thành phố Đà Nẵng nói riêng đã thực hiện khá tốt các chính sách về bảo trợ xã hội; xây dựng được phần mềm phục vụ cho việc quản lý và thực hiện chính sách. Ngoài ra công tác kiểm tra liên ngành và tự giám sát ở các địa phương cũng được kiểm tra định kỳ. Tuy nhiên bên cạnh những chuyển biến tích cực, thì công tác về bảo trợ xã hội trên địa bàn Quận Thanh Khê cũng gặp nhiều hạn chế như: Việc ban hành các chính sách, pháp luật về BTXH chưa đồng bộ, kịp thời; việc tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách, pháp luật về BTXH chưa thực sự có hiệu quả; đội ngũ làm công tác BTXH còn mỏng và thiếu chuyên nghiệp; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý khiếu nại, tố cáo còn mang tính đối phó và tiêu cực.
Xuất phát từ lý do đó nên tác giả chọn đề tài: “ Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Thanh Khê- Thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, đề xuất định hướng giải pháp, chính sách phù hợp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước (QLNN) về BTXH trên địa bàn.
– Tổng quan các vấn đề lý luận liên quan QLNN về BTXH.
– Đánh giá thực trạng công tác QLNN về BTXH quận Thanh Khê.
– Đề xuất giải pháp cụ thể về QLNN về BTXH ở quận Thanh Khê có ý nghĩa đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác QLNN về BTXH trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác QLNN về BTXH trên địa bàn quận Thanh Khê.
+ Về phạm vi: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
+ Về thời gian: Thực trạng trong giai đoạn 2018-2022 và giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa đến năm 2030.

4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
– Thu thập dữ liệu thứ cấp:
+ Các thông tin được thu thập từ Bộ Lao động- Thương binh và xã hội quận Thanh Khê, các phòng, ban chuyên môn, một số sở, ban, ngành liên quan
+ Sử dụng nguồn số liệu thứ cấp khác đã công bố từ các luận văn, đề tài nghiên cứu, các giáo trình của các môn học có liên quan của các tác giả để phục vụ cho nghiên cứu.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Phương pháp điều tra, khảo sát qua bảng hỏi. Khảo sát được thực hiện với các đối tượng thụ hưởng chế độ BTXH. Tác giả thực hiện việc chọn mẫu theo hai phương pháp: ngẫu nhiên hệ thống và áp dụng thang đo Likert 5.
+ Thứ nhất: Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống:
Rà soát lập danh sách tất cả đối tượng BTXH đang sống tại 10 phường: An Khê, Hòa Khê, Thanh Khê Đông, Thanh Khê Tây, Xuân Hà, Tam Thuận, Tân Chính, Chính Gián, Thạc Gián, Vĩnh Trung; Đánh số thứ tự đối tượng trong danh sách lấy ngẫu nhiên một trong hai nguời đầu tiên tiếp đó cứ cách 3 người tiếp theo trong danh sách lại chọn một người cho đến khi đủ cỡ mẫu 200 người. Với kích thước mẫu khảo sát trên, v ề phương diện nghiên cứu khoa học, có thể khẳng định, mẫu điều tra này là phù hợp. Đối với các dữ liệu sơ cấp thu được từ các bảng hỏi và từ những ý kiến, nhận định, đánh giá người trả lời bảng hỏi, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để lượng hóa mức độ đánh giá của các đối tượng trả lời đánh giá thực trạng QLNN về bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Về nội dung bảng hỏi: Nội dung bảng hỏi gồm hai phần (được đính kèm ở phần phụ lục): Phần giới thiệu của tác giả và phần trả lời câu hỏi dành cho các đối tượng khảo sát:
Phần giới thiệu của tác giả về đề tài nghiên cứu được thiết kế nhằm đảm bảo thông tin tin cậy và tính minh bạch của việc khảo sát.
Phần trả lời gồm các câu hỏi được thiết kế với nội dung riêng nhằm thu thập thông tin theo định hướng của tác giả. Việc thiết kế bảng hỏi được thực hiện dựa trên nguyên tắc khoa học. Sau khi có kết quả tác giả sẽ phân tích nhằm làm rõ sự khác biệt, sự thay đổi của các nhân tố, từ đó đưa ra những nhận định đánh giá. Trên cơ sở tổng hợp, so sánh với các chỉ tiêu trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phƣơng và kết hợp với nhận định của tác giả để đề xuất giải pháp có tính khả thi nhất theo mục tiêu đề ra của luận văn.
+ Thứ hai: Phương pháp thang đo Likert 5.
Thu thập dữ liệu sơ cấp: Thông qua khảo sát, phỏng vấn các cá nhân, tổ chức về công tác QLNN về BTXH để làm rõ thực trạng trên địa bàn quận bằng bảng câu hỏi chuẩn bị sẵn (phần phụ lục). Phiếu điều tra khảo sát cơ sở áp dụng thang đo Likert 5. Với mục đích thu thập, đánh giá mức độ hài lòng của các đối tượng được khảo sát đối với công tác QLNN về BTXH, cụ thể:
Từ 1.00 – 1.80: Rất không đồng ý.
Từ 1.81 – 2.60: Không đồng ý.
Từ 2.61 – 3.40: Không đồng ý cũng không phản đối.
Từ 3.41 – 4.20: Đồng ý.
Từ 4.21 – 5.00: Rất đồng ý.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng công thức lấy mẫu theo phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), với n là cỡ mẫu: N = 5* số biến đo lường tham gia EFA. Áp dụng phương pháp trên, bảng khảo sát của học viên có 25 câu hỏi sử dụng thang đô Likert 5 mức độ, tương ứng với 25 biến quan sát thuộc các nhân tố khác nhau. Áp dung tỷ lệ 5:1, cỡ mẫu tối thiểu là 25 x 5 = 100 mẫu.
Việc khảo sát được tiến hành bằng bằng bảng câu hỏi chi tiết, gồm 120 phiếu khảo sát được gửi trực tiếp cho các đối tượng. Đối tượng khảo sát là đối tượng được hưởng BTXH ở tất cả các phường trên địa bàn quận, cụ thể: Phường An Khê (12), Hòa Khê (12), Thanh Khê Đông (12), Thanh Khê Tây (12), Xuân Hà (12), Tam Thuận (12), Tân Chính (12), Chính Gián (12), Thạc Gián (12), Vĩnh Trung (12).
Thời gian tiến hành khảo sát: Trong 2 tháng, từ ngày 01/3/2023 đến 01/5/2023. Số phiếu nhận lại sau khi khảo sát là 120 phiếu.
Dữ liệu được thu thập sẽ được xử lý sử dụng đánh giá, nhận xét về thực trạng công tác QLNN về BTXH trên địa bàn quận Thanh Khê tìm ra những ưu điểm và hạn chế để có cơ sở đề xuất các giải pháp cải thiện công tác này theo như mục tiêu của luận văn.
– Phương pháp thống kê, mô tả: Sau khi thu thập, lựa chọn các thông tin, dữ liệu cần thiết để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phần mềm Excel để sắp xếp và xử lý số liệu. Thông qua các số liệu thống kê đã được chọn lọc, sắp xếp, có thể mô tả được tình trạng thực tế và sự biến động theo thời gian của đối tượng nghiên cứu.
– Phương pháp so sánh: Sử dụng để so sánh đối chiếu sự diễn biến, biến đổi về lượng chất của đối tượng nghiên cứu theo thời gian. Phương pháp này còn được sử dụng để so sánh đối chiếu giữa các sự vật hiện tượng với nhau trong cùng thời điểm để rút ra điểm giống, khác nhau, điểm nổi trội, điểm yếu của sự vật hiện tượng này so với sự vật hiện tượng khác.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp để xem xét tương quan số tuyệt đối, số tương đối, giá trị trung bình để đánh giá chất lượng công tác quản lý bảo trợ xã hội tại quận Thanh Khê một cách toàn diện theo các tiêu chí đánh giá của từng nội dung về quản lý. Trên cơ sở đó tổng hợp những ưu, nhược điểm của công tác này và và lựa chọn các giải pháp mang tính khả thi để cải thiện công tác Quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển bảo trợ xã hội trên địa bàn quận.
5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
6. Bố cục luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, kết thúc và 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận công tác Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội
Chương 2. Thực trạng công tác QLNN về BTXH trên địa bàn quận Thanh Khê
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về BTXH trên địa bàn quận Thanh Khê.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
KHÁT QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
Một số khái niệm
- Khái niệm bảo trợ xã hội và QLNN về BTXH:
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “Bảo trợ xã hội là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”. Tổ chức nhấn mạnh chiều cạnh bảo hiểm và mở rộng cơ hội việc làm và tạo việc làm cho những đối tượng có nhu cầu và trong khu vực kinh tế phi chính thức. [1]
– Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) định nghĩa: “Bảo trợ xã hội đề cập đến một hệ chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những rủi ro đối với hộ gia đình và cá nhân”. [1]
Theo Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa: “Bảo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó với và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”. Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh bảo trợ xã hội vừa là mạng lưới an toàn vừa là cơ sở để phát triển vốn con người.
Theo Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. [13]
Kết luận: Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội là quá trình tác động có tổ chức và bằng các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước, thể hiện quyền lực của Nhà nước nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân khác nhau.
Cơ sở của hoạt động bảo trợ xã hội
Bảo trợ xã hội hoạt động trên 3 nguyên tắc như sau:
- Công bằng xã hội: “Là một giá trị cơ bản và có tính định hướng trong việc thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của bộ phận dân cư và mọi thành viên xã hội thông qua mối quan hệ giữa cống hiến và hƣởng thụ phù hợp với khả năng thực hiện của những điều kiện kinh tế xã hội nhất định”.
- Phúc lợi xã hội: Là ngoài phần thu nhập của chính mình, người lao động sẽ được hưởng thêm một số lợi ích nào đó do Nhà nước thực hiện.
- Phân phối lại phúc lợi xã hội: Là thực hiện phân phối lại ngoài phân phối theo lao động nhằm giảm bớt sự bất công bằng trong xã hội. Sự phát triển của các hệ thống phúc lợi xã hội được xem là những thành tựu lớn xét về mặt chính sách xã hội tại các quốc gia trên thế giới. [5]
Bảo trợ xã hội là một chủ trương lớn, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa chính trị, xã hội, kinh tế quan trọng đồng thời nó cũng là nền tảng thực hiện công bằng xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Là một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lại bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến đổi khí hậu; đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên hiện nay số người cần trợ giúp xã hội của Việt Nam rất lớn. Chính vì vậy, chính sách bảo trợ xã hội có vai trò quan trọng trong việc phần ổn định cuộc sống, nâng cao năng lực phòng chống rủi ro cho các đối tượng.
Thông qua sự trợ giúp của Nhà nước, nhân dân và cộng đồng, chính sách bảo trợ xã hội nhằm bảo đảm thu nhập và các điều kiện sinh sống ở mức tối thiểu (bằng các hình thức và biện pháp khác nhau) đối với các đối tượng gặp rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi trong cuộc sống không đủ khả năng tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình. [4]
Ý nghĩa của việc quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội
Ngay từ khi ra đời cho đến nay, an sinh xã hội nói chung và bảo trợ xã hội nói riêng đã được đón nhận như một sự đảm bảo cho cuộc sống và đặc biệt có ý nghĩa đối với một bộ phận thành viên xã hội, bộ phận “người yếu thế”. Là sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất đối với mọi thành viên xã hội trên cơ sở sự tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro, bảo trợ xã hội là hoạt động mang đậm tính nhân đạo, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và pháp luật.
Bảo trợ xã hội là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội, điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như người bình thường khác và không đủ khả năng tụ lo liệu. Ý nghĩa pháp luật của bảo trợ xã hội xuất phát từ quyền cơ bản của con người. Mỗi người sống trong xã hội đều có quyền được sống, được bình đẳng, được thương yêu, đùm bọc, bảo vệ khỏi những biến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống bị đe dọa. [10]
NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
1.2.1. Ban hành các chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội
Chính sách an sinh xã hội nói chung và trợ giúp xã hội nói riêng đã được người yếu thế đón nhận như một sự đảm bảo cho cuộc sống trên cơ sở tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro, đây là hoạt động mang đậm tính nhân đạo, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và pháp luật góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố, bảo đảm “không ai bị bỏ lại phía sau”.
– Ngày 15/03/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội thay thế Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội;
– Nghị định số 20/2021/NĐ-CP với nhiều điểm mới trong thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với đối tượng như: chính sách bảo trợ xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; bảo trợ xã hội khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội. Nghị định số 20/2021/NĐ-CP được coi là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng hàng đầu để các cơ quan có thẩm quyền triển khai áp dụng các chính sách về bảo trợ xã hội trên thực tiễn, tính từ thời điểm 01/07/2021. Nghị định bao gồm 8 Chương, 39 Điều.
– Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội;
– Điều 17 Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
– Các điều từ Điều 40 đến Điều 43 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở bảo xã hội;
– Các điều từ Điều 15 đến Điều 23 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
– Ngoài ra, ngày 24/6/2021, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư 02/2021/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 20/2021/NĐ-CP ngày 15/03/2021 của Chính phủ quy định chính sách bảo trợ xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Thông tư có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký. Các chế độ, chính sách quy định tại Thông tư được áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.
– Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24 tháng 10 năm 2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội;
– Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung khoản 2 và 4 Điều 11 Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT BLĐTBXH-BTC hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư 02/2021/TT-BLĐTBXH có hiệu lực thi hành. [16]
Tiêu chí đánh giá:
– Số lượng văn bản ban hành trong năm là hợp lý.
– Tính kịp thời của các văn bản về QLNN về BTXH
– Trình tự ban hành, thủ tục, thẩm quyền, hình thức, nội dung văn bản ban hành phù hợp với quy định.
– Đối tượng tiếp nhận văn bản đúng với nội dung văn bản ban hành.
– Hiệu quả của các văn bản đối với công tác BTXH
1.2.2. Tuyên truyền phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội
Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội là hoạt động làm cho nhân dân trên cả nước hiểu được nội dung các chính sách, chương trình của Nhà nước ban hành về bảo trợ xã hội là một trong ba chính sách cơ bản của hệ thống an sinh xã hội, qua đó người được thụ hưởng hiểu được quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân trong các nội dung đó, và từ đó góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội và phát triển kinh tế. Ngoài ra, giúp người dân nhận thức rõ hơn về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về trách nhiệm của xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội.
Tiêu chí đánh giá:
– Phương thức tuyên truyền đa dạng, phong phú từ trực tiếp đến trực tuyến.
– Chọn lọc, phân loại đối tượng tiếp nhận thông tin để tuyên truyền hợp lý.
– Nội dung tuyên truyền dễ hiểu, phù hợp với người dân
– Thời gian giữa các cuộc tuyên truyền hợp lý.
– Phân bổ nguồn lực về nhân sự và kinh phí cho các cuộc tuyên truyền là phù hợp.
1.2.3. Tổ chức bộ máy nhà nước về bảo trợ xã hội
Các cơ quan quản lý nhà nước về BTXH
Theo Nghị định 14/2017/NĐ-CP của chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về BTXH, chỉ đạo xây dựng ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách về BTXH. Cơ cấu quản lý Nhà nước về BTXH nước ta từ trung ương đến cơ sở như sau:
– Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Lao động, tiền lương; việc làm; giáo dục nghề nghiệp; bảo hiểm xã hội; an toàn, vệ sinh lao động; người có công; bảo trợ xã hội; trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội (sau đây gọi chung là lĩnh vực lao động, người có công và xã hội) trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ.
- Các bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm huớng dẫn, tổ chức thực hiện.
– Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố có trách nhiệm Tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BTXH; bố trí kinh phí bảo đảm thực hiện chế độ, chính sách BTXH; Quyết định phương thức chi trả phù hợp với tình hình thực tế của địa phương theo hướng chuyển đổi chi trả chính sách trợ giúp xã hội từ cơ quan nhà nước sang tổ chức dịch vụ chi trả. Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội ở địa phương.
– Ủy ban nhân dân cấp quận, quận có trách nhiệm tuyên truyền các chính sách, chế độ, chính sách BTXH theo quy định, tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BTXH; tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BTXH; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách BTXH ở địa phương; định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố để theo dõi và nắm bắt tình hình để có hướng chỉ đạo.
– Ủy ban nhân dân cấp xã, phường có trách nhiệm tuyên truyền các chính sách, chế độ, chính sách BTXH theo quy định; tổ chức thực hiện chế độ; chính sách BTXH; hướng dẫn việc thực hiện hiện chính sách trợ giúp xã hội ở địa Phương; định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân quận, quận để theo dõi và nắm bắt tình hình để có hướng chỉ đạo kịp thời. [16]
Tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động BTXH
Công tác Bảo trợ xã hội chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Lao động Thương binh và xã hội và Ủy ban nhân dân các cấp.
- Trung ương có Bộ Lao động – Thương binh và xã hội.
- Ở tỉnh, thành phố có Sở Lao động – Thương binh và xã hội.
- Ở quận, quận có Phòng Lao động – Thương binh và xã hội.
- Ở xã, phường, thị trấn có cán bộ, công chức phụ trách Lao động – Thương binh và xã hội.
Tiêu chí đánh giá:
– Thủ tục xét duyệt hồ sơ BTXH là đơn giản
– Việc hướng dẫn hồ sơ, thủ tục BTXH hiện nay là đơn giản, dễ hiểu.
– Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác bảo trợ xã hội cho cán bộ, công chức cấp phường, quận hợp lý.
– Công tác chi trả chế độ bảo trợ xã hội nhanh chóng, đơn giản và chính xác.
– Kiểm tra, giám sát thủ tục hồ sơ các đối tượng hưởng chính sách bảo trợ xã hội định kỳ
1.2.4. Quản lý và tổ chức hoạt động tài chính về BTXH
Quản lý tài chính trong bảo trợ xã hội thực chất là việc sử dụng công cụ tài chính của nhà nước trong hoạt động QLNN về bảo trợ xã hội. Kết quả việc sử dụng các công cụ tài chính nhà nước là hình thành các bảng dự toán thu, chi BTXH của địa phương nhằm đảm bảo đáp ứng việc tổ chức thực hiện chế độ BTXH kịp thời và chính xác.
Dự toán thu
Nguồn thu cho công tác bảo trợ xã hội bao gồm: nguồn thu từ ngân sách nhà nước, từ các cơ quan đoàn thể, các doanh nghiệp, các tổ chức từ thiện và cộng đồng.
Hằng năm, công tác vận động xây dựng Quỹ đền ơn đáp nghĩa thu đạt và vượt chỉ tiêu trên giao:
+ Năm 2020: 1.520.851.664đ/1.200.000.000đ, đạt 126,73%, tăng 0,9% so với năm 2019;
+ Năm 2021: 1.532.812.717đ/1.200.000.000đ, đạt 127,73%, tăng 1,7% so với năm 2019;
+ Ngày 06/10/2022: 1.686.340.461đ/1.200.000.000đ, đạt 140,5%, tăng 11,9% so với năm 2019.
Kết quả huy động và sử dụng các nguồn lực trong việc thực hiện chính sách người có công: Tổng kinh phí hơn 221.258 triệu đồng.
Kết quả huy động và sử dụng các nguồn lực trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo: 104.550 triệu đồng.
Về thực hiện Pháp lệnh 02/2020/UBTVQH14 được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 09 tháng 12 năm 2020 về Ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số 131/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng… Tất cả người có công đã được xác nhận và hưởng chế độ ưu đãi đầy đủ và kịp thời; giải quyết tốt các vấn đề còn tồn đọng; cải cách thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi để người có công được hưởng thụ các chính sách ưu đãi của nhà nước; thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác chính sách; làm tốt công tác kiểm tra sau chi trả, không để xảy ra tiêu cực trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng.
Làm tốt công tác cải cách thủ tục hành chính, giải quyết hồ sơ nhanh, sớm hẹn, tạo điều kiện thuận lợi để người có công được hưởng thụ các chính sách ưu đãi của nhà nước, hồ sơ trả sớm hẹn, không có hồ sơ trễ hẹn.
Công tác chi trả chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng được kiểm tra, rà soát, chấn chỉnh, không để xảy ra tiêu cực trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng.
Công tác tiếp nhận quản lý chế độ người có công được quản lý chặt chẽ như: Lập thủ tục cắt giảm và chuyển đi nơi khác, lập hồ sơ mới hưởng đều hướng dẫn đúng theo quy trình.
Thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục – đào tạo đối với con thương binh, con bệnh binh, con liệt sĩ, hằng năm chi trả chế độ được thực hiện đầy đủ, kịp thời đúng nguyên tắc, đúng quy định. Diện hưởng chính sách này thường xuyên biến động, nhưng với sự theo dõi quản lý tốt nên thời gian qua, không có trường hợp nào thắc mắc, khiếu nại.
Chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng, tham quan: Hằng năm theo sự phân bổ số lượng chế độ điều dưỡng, nghỉ dưỡng đối với người có công được phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tham mưu là Phòng LĐTBXH với UBND các phường tổ chức xét, chọn đối tượng chặt chẽ, tổ chức đưa, đón đối tượng đi điều dưỡng tập trung tại Trung tâm điều dưỡng người có công miền Trung; điều dưỡng tập trung tại Trung tâm điều dưỡng người có công Quảng Bình; điều dưỡng tập trung ở địa phương khác ngoài thành phố kịp thời, chu đáo. Thông qua việc thực hiện chế độ điều dưỡng, nghỉ dưỡng kết hợp tham quan, chăm sóc sức khoẻ cũng là giải pháp nâng cao đời sống tinh thần cho các đối tượng người có công với cách mạng.
100% NCC và thân nhân của họ cấp phát bảo hiểm y tế (BHYT) kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh.
Chính sách đối với Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được quy định tại Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20 tháng 10 năm 2012 của UBTVQH khóa XIII Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và các văn bản khác. Truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng:
– Năm 2021: 01 Mẹ
– Năm 2022: 02 Mẹ
Công tác thực hiện chính sách hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà cho gia đình người có công với cách mạng; đầu tư nâng cấp mộ, nghĩa trang liệt sĩ.
Xác định công tác triển khai thực hiện hỗ trợ sửa chữa, xây mới nhà ở đối với người có công với cách mạng là hết sức quan trọng, UBND quận chỉ đạo Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với cơ quan truyền thông để tuyên truyền về chính sách hỗ trợ sửa chữa, xây mới nhà ở đối với gia đình người có công với cách mạng; phối hợp với UBND các phường trên địa bàn quận tổ chức hội nghị triển khai, các buổi gặp mặt, toạ đàm để phổ biến, truyền tải tới toàn thể nhân dân để biết được chính sách hỗ trợ để có kế hoạch thực hiện.
Tiêu chí đánh giá:
– Tính minh bạch của nguồn thu, chi.
– Tính phù hợp của nguồn thu, chi.
– Hiệu quả chương trình kêu gọi kinh nguồn kinh phí từ các tổ chức, cá nhân ngoài nguồn ngân sách nhà nước
– Tính thiết thực, ý nghĩa của các chương trình
1.2.5. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiểu nại, tố cáo trong hoạt động bảo trợ xã hội
Khi thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo trợ xã hội phải tuân theo các quy định của pháp luật; bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ và kịp thời; việc thanh tra, kiểm tra không được trùng lặp về hành vi vi phạm, đối tượng, nội dung thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra. Đoàn thanh tra, kiểm tra trong quá trình làm việc không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra; công tác thanh tra tiến hành thường xuyên gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan bảo trợ xã hội nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về thu, chi bảo trợ xã hội góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực BTXH.
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện trên cơ sở kết quả được xác minh, người giải quyết khiếu nại, tố cáo kết luận việc khiếu nại, tố cáo là đúng hay sai, người giải quyết khiếu nại, tố cáo thực hiện đúng thẩm quyền căn cứ theo các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước, xã hội
Tiêu chí đánh giá:
– Tính nghiêm túc, minh bạch trong công tác thanh tra kiểm tra
– Số lần thanh tra trong năm
– Thời gian thanh tra ở mỗi lần thanh tra
– Số vụ khiếu nại tố cáo được giải quyết
– Tính thỏa đáng trong trong công tác xử lý khiếu nại, tố cáo.
– Phân bổ nguồn lực về kinh tế và nhân sự cho công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý khiếu nại, tố cáo là hợp lý.
. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
Ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội bởi nhiều yếu tố và theo các tiêu chí khác nhau, có thể phân nhóm thành: các yếu tố bên trong và bên ngoài; các yếu tố trực tiếp và gián tiếp; các yếu tố chủ yếu và thứ yếu… Trong điều kiện của nước ta, có các nhân tố chủ yếu chính tác động đến quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội, bao gồm:
1.3.1. Nhân tố kinh tế, xã hội
Quy luật chung của nền kinh tế thị trường là kinh tế tăng trưởng nhanh thì phân hóa giàu nghèo cũng có xu hướng gia tăng, sự chênh lệch này thể hiện ở thu nhập và mức sống của các nhóm dân cư, cao hơn nữa là quyền sở hữu tài sản, bất động sản và tiền vốn. Mặt khác, với quy luật phát triển không đồng đều, trong xã hội luôn tồn tại một bộ phận nghèo tương đối, trong đó có đối tượng bảo trợ xã hội, vì họ là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống và phần lớn do hoàn cảnh khách quan đưa đến; ngược lại, một bộ phận dân cư khác do có điều kiện và cơ hội thuận lợi hơn sẽ giàu lên nhanh chóng và làm cho xã hội có sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một xu thế tất yếu.
Kinh tế tăng trưởng, mức sống của đại đa số nhân dân được nâng cao và cải thiện, mức sống tối thiểu cũng từng bước được nâng cao; do vậy chính sách, chế độ bảo trợ xã hội cũng phải trực tiếp góp phần từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của các đối tượng bảo trợ xã hội, thể hiện trên 2 khía cạnh:
– Thứ nhất, nâng dần mức trợ cấp xã hội, bảo đảm mức sống tối thiểu ngày càng nâng cao cho các đối tượng bảo trợ xã hội, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế và mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
– Thứ hai, bản thân việc thực hiện tốt chính sách bảo trợ xã hội nói riêng và chính sách xã hội nói chung cũng góp phần giữ vững ổn định xã hội tạo cơ hội cho phát triển kinh tế, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế. [6]
1.3.2. Tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính và đội ngũ cán bộ
Tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính:
Hoạt động của các cơ quan hành chính là quản lý hành chính, là hoạt động chịu sự chi phối, tác động của rất nhiều yếu tố và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khi một yếu tố thay đổi sẽ kéo theo các nhân tố khác thay đổi.
Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tránh được sự chồng chéo, vướng mắc, dễ dàng phối hợp, điều chỉnh công việc trong thực hiện nhiệm vụ, tiết kiệm thời gian; ngược lại nếu cơ cấu bất hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động.[2]
Đội ngũ cán bộ
Chất lượng nguồn nhân lực luôn là yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Một nền hành chính chuyên nghiệp chỉ có thể hình thành trên cơ sở xây dựng và phát triển nguồn nhân lực tương ứng mang tính chuyên nghiệp.
Sự ảnh hưởng của đội ngũ cán bộ công chức làm công tác thương binh-
xã hội từ cấp cơ sở lên tới cấp quận, thành phố, trung ƣơng là hết sức quan trọng. Một hệ thống cán bộ công chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực và tâm huyết với nghề thì sự thành công về việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đạt kết quả tốt nhất.
Việc nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, đảng viên ngoài ra còn kể đến gia đình, người thân và các cá nhân, tập thể ngoài xã hội cũng là nhân tố quyết định đến sự thành công của việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội. [7]
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội từ các công trình nghiên cứu đã đề cập cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách bảo trợ xã hội ở nước ta thời gian qua mà chúng ta cần tham khảo qua phần Chương 1. Nội dung phần chương khái quát được các vấn đề cần làm sáng tỏ, khái niệm, cơ sở hoạt động, đặc điểm, ý nghĩa, các nội dung liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội. Ngoài ra, cơ sở lý luận đã đánh giá được các nhân t ố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội.
Quá trình thực hiện chính sách bảo trợ xã hội tập trung vào phân tích cấu trúc nội dung chức năng quản lý cụ thể là công tác triển khai thực hiện kế hoạch, công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện và đánh giá, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện. Đây là những vấn đề tác giả đã tham khảo để hoàn thiện luận văn “Quản lý nhà nước về công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” để từ đó đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp hoàn thiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng trong thới gian tới.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ
ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẬN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
F:\TÀI LIỆU NĂM 2023\TÀI LIỆU CHƯA ĐỔI TÊN/ Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Thanh Khê – Thành phố Đà Nẵng


