Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy

Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy

Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên quốc gia quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người… Đất đóng vai trò quan trọng: là môi trường nuôi dưỡng các loại cây, là nơi để sinh vật cư trú và sinh sống, là không gian thích hợp để con người xây dựng các công trình dân dụng và nhà ở … Đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất ĐNN, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra những lương thực, thực phẩm nuôi sống con người. Tuy nhiên, với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội hiện nay cùng với sự gia tăng về dân số đã tạo áp lực rất lớn cho công tác quản lý, sử dụng và bảo vệ đất đai, đặc biệt là ĐNN. Do đó, việc sử dụng ĐNN một cách bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đang trở thành chiến lược cấp thiết hàng đầu của mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của ĐNN cho thời điểm hiện tại và mai sau.

Sa Thầy là một trong 10 huyện lỵ của tỉnh Kon Tum “có tổng diện tích tự nhiên 143.172,9 ha; trong đó diện tích nhóm ĐNN là 134.664,6 ha, chiếm 94,1% diện tích toàn huyện. Thời gian qua, công tác QLĐĐ nói chung và ĐNN nói riêng được chính quyền huyện Sa Thầy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đã thu được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc quản lý ĐNN trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều vấn đề còn hạn chế như: Sự chồng chéo giữa các loại quy hoạch (Quy hoạch Xây dựng, QHSDĐ, Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng,…); các thủ tục hành chính hiện nay vẫn còn phức tạp, rườm rà gây cản trở các quan hệ đất đai trong xã hội, cản trở người sử dụng đất khai thác đất có hiệu quả để phát triển kinh tế, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực ĐNN; việc cấp GCNQSDĐ và xây dựng hồ sơ địa chính còn chậm, ảnh hưởng đến quyền của người sử dụng đất và công tác QLĐĐ; năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên làm công tác đất đai, công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư còn bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc; thời gian qua công tác giải quyết đơn thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo có giảm về số lượng song mức độ phức tạp lại có xu hướng tăng”[22].

Nhằm góp phần làm rõ vấn đề nêu trên, bản thân lựa chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy” để nghiên cứu và làm Luận văn thạc sĩ của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá thực trạng QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy; Từ đó đưa ra mộ số giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về ĐNN trên địa bàn của huyện.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận QLNN về ĐNN.

– Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy trong thời gian từ năm 2019 đến 2022.

– Đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy trong thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác QLNN về ĐNN của chính quyền huyện Sa Thầy.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung: Đánh giá thực trạng QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy gồm các nội dung: Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp; Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp; Quản lý tài chính trong sử dụng đất nông nghiệp; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp;

– Về thời gian: Đánh giá thực trạng QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy từ năm 2019 đến năm 2022. Các giải pháp có ý nghĩa trong những năm tới.

– Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy.

– Về chủ thể:Chính quyền huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan QLNN như:

– Niên giám thống kê huyện Sa Thầy hàng năm từ năm 2019 đến năm 2022

– Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021 – 2030 của huyện Sa Thầy.

– Kế hoạch sử dụng đất hàng năm trên địa bàn huyện Sa Thầy các năm từ năm 2019 đến năm 2022

– Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai hàng năm trên địa bàn huyện Sa Thầy các năm 2019 đến năm 2022.

– Báo cáo tổng hợp về đất đai của huyện Sa Thầy, của Sở Tài nguyên và Môi trường và UBND tỉnh Kon Tum…và thu thập dữ liệu từ các đơn vị chuyên ngành, đơn vị tư vấn hoạt động trong lĩnh vực có liên quan trên địa bàn tỉnh.

Ngoài ra đề tài còn tham khảo, sử dụng các kết quả đã công bố tại các luận văn, bài báo, tạp chí, giáo trình của các tác giả trong nước để phục vụ cho quá trình nghiên cứu.

Dữ liệu này sẽ được dùng để đánh giá thực trạng QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.

Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy
Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy

4.2. Phương pháp phân tích

a. Phương pháp khảo cứu tài liệu

Sử dụng phương pháp này để tổng hợp và hệ thống hoá các cơ sở lý thuyết và hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước, của huyện Sa Thầy và các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố để phân tích, làm rõ về lý luận và thực tiễn về QLNN về ĐNN hiện nay.

Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã công bố, các Báo cáo tổng hợp về đất đai của huyện Sa Thầy, của Sở Tài nguyên và Môi trường và UBND tỉnh Kon Tum, Niên giám thống kê huyện Sa Thầy hàng năm từ năm 2019 đến năm 2022, Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021 – 2030, Kế hoạch sử dụng đất hàng năm trên địa bàn huyện Sa Thầy các năm từ năm 2019 đến năm 2022, Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai hàng năm trên địa bàn huyện Sa Thầy các năm 2019 đến năm 2022 để xây dựng và phát triển thành cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu, đánh giá công tác QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy.

b. Phương pháp thống kê mô tả:

Dựa trên tài liệu thu thập được để phân tích, tổng hợp, so sánh, mô tả các chỉ tiêu, dữ liệu ở các thời điểm, thời kỳ khác nhau. Tập hợp dữ liệu, số liệu nhằm phát hiện ra các đặc trưng của vấn đề. Từ đó tiến hành mô tả phản ánh thực trạng của QLNN về ĐNN. “Thông qua việc xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả, thấy được sự thay đổi các chỉ tiêu cần phân tích trong thực trạng QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy, đánh giá được thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Trên cơ sở những thông tin, tài liệu, số liệu thu thập được từ việc nghiên cứu tình hình QLNN về ĐNN của chính quyền địa phương: việc sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng, tranh chấp, kiến nghị, bồi thường; việc thực hiện và chấp hành QHSDĐ, kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu … để phân tích, đánh giá tìm ra được những mặt tiêu cực thì sẽ có những biện pháp thích hợp hạn chế chúng, phát triển những mặt tích cực thì quá trình quản lý và sử dụng đất đai sẽ hoàn thiện, bền vững hơn. Phân tích nguyên nhân của những mặt hạn chế: Dựa trên công tác QLNN về ĐNN và căn cứ theo số liệu thực tế”[15].

Thông qua phương pháp này để thấy được những mặt tích cực và hạn chế của công tác QLNN về ĐNN của huyện Sa Thầy.

d. Phương pháp so sánh

Tổng hợp những thông tin thu thập được, tiến hành phân tích và so sánh giữa các năm khác nhau. So sánh dữ liệu thực trạng trong quá khứ qua từng năm, từng giai đoạn để đánh giá, nhận diện đúng mức thực trạng QLNN về ĐNN của huyện Sa Thầy. Dùng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với phương pháp so sánh, phân tích thực trạng để tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện, để từ đó kiến nghị những giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý trong thời gian tới.

5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

6. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, các danh mục có liên quan nội dung chính của Luận văn được trình bày trong 03 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

Chương 2. Thực trạng quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy

Chương 3. Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.1.1. Một số khái niệm

a. Khái niệm đất nông nghiệp

Theo Docuchaev: “Đất nông nghiệp là một thể độc lập cũng giống như khoáng vật, động vật, thực vật, đất không ngừng thay đổi theo không gian và thời gian. Nó được hình thành do tác động của 5 yếu tố: sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình và thời gian”[12].

Theo Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT: “Đất nông nghiệp (ĐNN) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng.

Căn cứ vào mục đích sử dụng, Luật Đất đai năm 2013 quy định nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau:Đất sản xuất nông nghiệp (gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm), đất lâm nghiệp (gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng), đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác kể cả đất làm bờ lô, bờ thửa nằm trong khu đất của một đối tượng sử dụng đất để phục vụ cho mục đích nông nghiệp của đối tượng đó”[16].

b. Khái niệm quản lý

“Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định”[17].

“Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”.

Quản lý bao gồm các yếu tố sau:

– Phải có một chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra. Chủ thể phải thực hành việc tác động.

– Phải có một mục tiêu cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.

Chủ thể

quản lý

Đối tượng

bị quản lý

Mục tiêu

Khách thể

    1. Hình1.1. Sơ đồ lôgic của quản lý

c. Khái niệm quản lý Nhà nước

“Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”[11].

“Chủ thể quản lý là Nhà nước, đối tượng quản lý các quá trình xã hội, hành vi của cá nhân và tổ chức xã hội, phương thức quản lý là bằng quyền lực nhà nước và có tổ chức cao, mục tiêu quản lý là duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước”.

Quản lý nhà nước có những đặc trưng phân biệt đối với các loại quản lý khác như sau:

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức. Tổ chức ở đây được hiểu như là một khoa học về thiết lập những mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể, để thể hiện quá trình quản lý xã hội. Tổ chức là một trong những chức năng quan trọng trong quản lý nhà nước, không có tổ chức thì không thể quản lý. Vấn đề đặt ra là nhà nước phải tổ chức như thế nào để mọi công dân đều có thể đóng góp tích cực và chủ động khả năng của mình cho đất nước.

“Quản lý nhà nước là sự tác động có điều chỉnh. Điều chỉnh là sự quy định của Nhà nước thể hiện bằng pháp luật và quyết định quản lý về nguyên tắc, tiêu chuẩn.v.v… nhằm tạo ra sự cân bằng, cân đối các hoạt động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người”

“Quản lý nhà nước là sự tác động mang tính quyền lực nhà nước, tức là bằng pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế. Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương và tính tổ chức cao. Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”

d. Khái niệm quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp

Khái niệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp:“Quản lý nhà nước đất nông nghiệp là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất nông nghiệp; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân phối lại quỹ đất nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, điều tiết các nguồn lợi từ đất nông nghiệp”[11].

1.1.2. Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp

* Đảm bảo quản lý ĐNN tập trung, thống nhất

Đất đai nói chung, ĐNN nói riêng là tài sản chung của toàn dân, là tài nguyên của quốc gia. Do đó, không cho phép cá nhân, tập thể chiếm đoạt tài sản công thành tài sản riêng.

Đại diện hợp pháp duy nhất cho toàn dân là Nhà nước, có toàn quyền chỉnh sửa pháp lý của đất đai. Điều này nhằm mục đích tập trung quyền lực và quản lý thống nhất của Nhà nước trong toàn bộ lĩnh vực xã hội nói chung và đất đai nói riêng.

“Từ đây, vai trò quan trọng của các cơ quan Nhà nước trong QLĐĐ là không thể phủ nhận và được quy định rõ trong Điều 4 Luật đất đai 2013.

* Đảm bảo kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất

Quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền sử dụng, quyền chiếm hữu và quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu. Quyền sử dụng đất đai là quyền tận dụng, khai thác, hưởng lợi tức từ giá trị đất của chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng đất đai.

Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà thực hiện thông qua việc thu tiền từ chủ thể sử dụng. Bao gồm thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, phí sử dụng đất, lệ phí trước bạ.

Để có thể áp dụng nguyên tắc quản lý về đất đai một cách có hiệu quả. Nhà nước phải quy định một hành lang pháp lý phù hợp và giao đất trực tiếp cho các chủ thể sử dụng. Vừa đảm bảo lợi ích của nhà nước, vừa đảm bảo lợi ích cho từng cá nhân”[22].

Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 60 Luật Đất đai 2013.

* Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích

Đất đai phản ánh mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân, tập thể, cộng đồng xã hội. “Đây là yếu tố quan trọng trong sản xuất, vậy nên, trước hết phải đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất. Mặt khác, đất đai là tài nguyên quốc gia nên phải được đảm bảo lợi ích chung của xã hội. Kết hợp hài hòa 03 lợi ích trên có nghĩa là phải chú ý phát huy đồng thời cả ba lợi ích, không để lợi ích này lấn át hay triệt tiêu lợi ích khác. Việc đảm bảo hài hòa 03 lợi ích được thực hiện thông qua quy hoạch hoặc các quy định tài chính về đất đai. Cùng các chính sách về quyền, nghĩa vụ của nhà nước và người sử dụng đất.

* Tiết kiệm và hiệu quả

Nhắc đến nguyên tắc QLNN về đất đai nói chung, ĐNN nói riêng không thể không nhắc đến nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả. Thực chất nguyên tắc quản lý ĐNN cần dựa trên nguyên tắc kinh tế, do đó, tiết kiệm là cơ sở, nguồn gốc của hiệu quả. Điều này được thể hiện bằng việc xây dựng các KHSDĐ, phương án quy hoạch có tính khả thi cao, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Đồng thời, cần phải quản lý và giám sát chặt chẽ việc thực hiện KHSDĐ, phương án quy hoạch. Từ đây, vai trò QLNN về đất đai mới được tăng cường. Phục vụ cho chiến lược tăng trưởng kinh tế – xã hội, đảm bảo sử dụng đất đai tiết kiệm nhất có thể mà vẫn đạt được mục đích đề ra”[19].

1.1.3. Đặc điểm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

* Thứ nhất: Nhà nước quản lý toàn diện đất nông nghiệp theo địa giới hành chính dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của chính quyền Trung ương. Bởi vì đất nông ngiệp là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, quốc gia nào có nhiều đất nông ngiệp thì quốc gia đó sẽ phát triển tốt. Đất nông ngiệp không tự sinh ra mà đã có sẵn ở mỗi quốc gia và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp. Đặc điểm đất nông ngiệp ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân bố của ngành nông nghiệp. Vai trò của đất nông ngiệp càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất,… ngày càng tăng. Vì vậy, phải nghiên cứu, tìm hiểu quy mô, đặc điểm đất nông ngiệp để bố trí cơ cấu sử dụng thích hợp nhằm phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.

* Thứ hai: Quản lý nhà nước đối với ĐNN rất phức tạp, bao gồm cả quản lý tác nghiệp trong quản lý đất đai lẫn phân cấp quyền hạn, trách nhiệm và chỉ đạo, phối hợp giữa các cấp chính quyền tỉnh, huyện, xã. Theo nguyên tắc quản lý thống nhất phân cấp từ Trung ương đến địa phương. Bởi vì đất nông ngiệp là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người. Con người tác động vào đất nông ngiệp nhằm thu được sản phẩm để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống. Tác động này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp và làm thay đổi tính chất của đất nông ngiệp có thể chuyển đất hoang thành đất sử dụng được hoặc là chuyển mục đích sử dụng đất. Tất cả những tác động đó của con người biến đất nông ngiệp từ một sản phẩm của tự nhiên thành sản phẩm của lao động. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất nông ngiệp phong phú hơn rất nhiều, quyền sử dụng đất được trao đổi, mua bán, chuyển nhượng và hình thành một thị trường đất nông ngiệp. Lúc này, đất nông ngiệp được coi như là một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt. Thị trường đất nông ngiệp có liên quan đến nhiều thị trường khác và những biến động của thị trường này có ảnh hưởng đến nền kinh tế và đời sống dân cư.

Thứ ba:Quản lý nhà nước đối với ĐNN phải phù hợp với điều kiện của địa phương về các mặt điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội. Bởi vì đất nông ngiệp có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được, tính cố định vị trí quyết định tính giới hạn về quy mô theo không gian và chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường nơi có đất. Mặt khác, đất nông ngiệp không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh qua quá trình sản xuất, do đó đất nông ngiệp là có hạn. Tuy nhiên, giá trị của đất nông ngiệp ở các vị trí khác nhau lại không giống nhau. đất nông ngiệp ở đô thị có giá trị lớn hơn ở nông thôn và vùng sâu, vùng xa; đất nông ngiệp ở những nơi tạo ra nguồn lợi lớn hơn, các điều kiện cơ sở hạ tầng hoàn thiện hơn sẽ có giá trị lớn hơn những đất nông ngiệp có điều kiện kém hơn. Chính vì vậy, khi vị trí đất nông ngiệp, điều kiện đất nông ngiệp từ chỗ kém thuận lợi nếu các điều kiện xung quanh nó trở nên tốt hơn thì đất đó có giá trị hơn. Vị trí đất nông ngiệp hoặc điều kiện đất nông ngiệp không chỉ tác động đến việc sản xuất, kinh doanh tạo nên lợi thế thương mại cho một công ty, một doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa đối với một quốc gia.

Thứ tư: Quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp ở mỗi vùng, địa phương khác nhau có đặc tính khác nhau nên việc quản lý, sử dụng ĐNN muốn đạt hiệu quả phải phù hợp và phát huy thế mạnh của những đặc tính đó. Bởi vì đất nông ngiệp là một tài sản không hao mòn theo thời gian và giá trị đất nông ngiệp luôn có xu hướng tăng lên theo thời gian. Đất nông ngiệp có tính đa dạng phong phú tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng đất nông nghiệp và phù hợp với từng vùng địa lý.

1.1.4. Vai trò quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

“Đất nông nghiệp có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, nó là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng to lớn, vừa là sản phẩm của tự nhiên – vừa là sản phẩm của lao động – là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, không thể thiếu đối với các ngành sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Trong sản xuất nông nghiệp, ĐNN là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Không có ĐNN thì không có sản xuất nông nghiệp. Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất. Diện tích, chất lượng ĐNN của mỗi vùng miền là không giống nhau, là đặc trưng riêng biệt, do đó nó quy định lợi thế cũng như cơ cấu sản xuất của từng vùng. Vì vậy, việc quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đúng hướng, có hiệu quả sẽ góp phần tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị xã hội. Công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của một điạ phương”[15]. Cụ thể như sau:

* Thứ nhất: Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp nhằm “sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả. Bởi vì đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp nhưng đang có xu hướng ngày càng thu hẹp do bị chuyển mục đích sử dụng sang công nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng vì quá trình đô thị hóa tăng nhanh. Do đó, quản lý nhà nước đối với ĐNN của chính quyền địa phương nhằm khuyến khích sử dụng ĐNN ngày càng hiệu quả hơn, bù đắp vào diện tích ĐNN giảm đi, nâng cao đời sống của nông dân. Chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng đất là sự gia tăng giá trị, số lượng hiện vật trên đơn vị diện tích ĐNN, là cơ cấu sử dụng ĐNN phù hợp với cầu của thị trường”[12].

* Thứ hai: “Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp nhằm tạo điều kiện cho phát triển bền vững. Quản lý của chính quyền địa phương đối với ĐNN giúp đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái”[15]. Chỉ tiêu đo lường mục tiêu này là:

– Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp nói riêng, tăng trưởng giá trị sản xuất trên địa bàn tỉnh nói chung.

– Mức độ hợp lý của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung, ĐNN nói riêng.

– Mức tăng thu nhập cho người nông dân nhờ sử dụng ĐNN.

– Mức độ ô nhiễm môi trường từ sử dụng ĐNN.

* Thứ ba: Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp nhằm bảo vệ quỹ ĐNN, tạo điều kiện chuyển giao một phần ĐNN cho sử dụng phi nông nghiệp phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quản lý nhà nước đối với ĐNN của chính quyền địa phương sẽ giúp bảo vệ quỹ ĐNN và chủ động điều chuyển hợp lý một phần ĐNN sang phục vụ mục đích phi nông nghiệp. Tiêu chí đo lường mục tiêu này là:

– Biến động của quỹ đất nông nghiệp theo quy hoạch và theo thực tế.

– Mức độ hợp lý của các kế hoạch chuyển mục đích sử dụng ĐNN sang đất nông nghiệp.

– Mức độ hợp lý của các phương án thu hồi ĐNN và hỗ trợ người dân mất ĐNN có cuộc sống ổn định sau khi giao đất”[7].

* Thứ tư: Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp nhằm bảo đảm phân phối lợi ích từ ĐNN một cách công bằng. Quản lý nhà nước đối với ĐNN của chính quyền địa phương góp phần phân phối công bằng lợi ích từ SDĐ vì đất đai nói chung và ĐNN là kết quả của bao thế hệ người dân khai phá, cải tạo, thuần dưỡng và đổ máu để bảo vệ. Ngoài ra, ĐNN là tài sản lớn nhất, là sinh kế của người nông dân. Để phân phối lợi ích từ ĐNN một cách công bằng, chính quyền địa phương phải can thiệp vào các khâu: giao đất, đánh thuế đất, thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ, tái định cư.

1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.2.1. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp

“Sau khi Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai có hiệu lực, Phòng Tài nguyên Môi trường huyện đã tham mưu cho UBND huyện Sa Thầy ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các nội dung QLNN về ĐNN phù hợp với thực tiễn của địa phương. Xây dựng các văn bản mới để thay thế các văn bản liên quan đến đất đai thuộc thẩm quyền cấp huyện. Phòng Tài nguyên Môi trường hướng dẫn chuyên môn cho UBND các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, phổ biến Luật Đất đai và các văn dưới luật, các văn bản của UBND tỉnh Kon Tum, của huyện Sa Thầy, để người dân nhận thức, thực hiện đúng luật bằng nhiều hình thức như: Tuyên tuyền, phổ biến pháp luật trên Đài Truyền thanh huyện, xã, thị trấn”[1].

Tiêu chí đánh giá:

(1) Số lượt tuyên truyền, phổ biến GDPL về ĐNN;

(2) Sự hiểu biết của người dân về pháp luật đất nông nghiệp;

(3) Mức độ chấp hành pháp luật của người dân đối với các quy định về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp

1.2.2. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp

“Quản lý quy hoạch, KHSDĐ là một nội dung hết sức quan trọng trong công tác QLNN về đất đai. Đối với Nhà nước, nó đảm bảo việc sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, đạt các mục đích nhất định. Nó cũng giúp cho Nhà nước theo dõi, giám sát được quá trình sử dụng đất. Quy hoạch và KHSDĐ là công việc của tất cả các cơ quan QLĐĐ và các tổ chức, cá nhân sử dụng đất. Việc lập và phê duyệt đầy đủ KHSDĐ hàng năm góp phần tạo điều kiện thuận lợi và cơ sở pháp lý cho huyện trong việc QLĐĐ, đặc biệt là trong công tác giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất để thực hiện các công trình, dự án”[5].

Tiêu chí đánh giá:

(1) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp được xây dựng kịp thời, phù hợp, mức độ thực hiện thực tế so với quy hoạch, bao nhiêu diện tích đất nông nghiệp thực hiện không đúng quy hoạch. Chỉ số hoàn thành càng cao chứng tỏ quy hoạch càng có hiệu quả.

(2) Số lượng các văn bản hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

(3) Số lượng xã (thị trấn) có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

1.2.3. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp

“Công tác giao đất, cho thuê, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện thông qua các cơ quan chức năng dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước”[15] và theo các chính sách cụ thể của pháp luật, cụ thể:

a. Giao đất

“Các tổ chức và cá nhân có nhu cầu sử dụng ĐNN vào các mục đích khác nhau nằm trong quy định, quy hoạch đã được phê duyệt có thể lập hồ sơ xin giao đất để sử dụng vào mục đích đó.

b. Cho thuê đất

Các tổ chức và cá nhân khi muốn sử dụng đất nhưng không thuộc diện được giao đất hoặc không có quỹ đất xin giao, hoặc các công việc sử dụng không thuộc diện được giao đất (vượt hạn mức) thì phải tiến hành xin thuê đất.

Khi đã được thuê đất để sử dụng, các chủ thể sử dụng đất phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định pháp luật của Nhà nước về sử dụng ĐNN (sử dụng đất đúng mục đích đã phê duyệt, nộp lệ phí sử dụng đất theo quy định hiện hành, đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng thuê đất.

c. Thu hồi đất

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, cá nhân khi đã hết thời hạn thuê hoặc thu hồi nhằm mục đích phát triển của địa phương, khu vực.

d. Chuyển mục đích sử dụng đất

Chuyển mục đích sử dụng đất là việc Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân, hộ gia đình đang sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng từ loại đất này sang mục đích sử dụng loại đất khác phù hợp với quy hoạch được duyệt và phù hợp với tình hình phát triển của địa phương, có thu tiền sử dụng đất theo quy định”[12].

Tiêu chí đánh giá:

(1) Số diện tích đất đã giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất;

(2) Sự phù hợp của quỹ đất sử dụng cho mục đích tái định cư; Tuân thủ quy định, quy trình, trình tự thủ tục khi giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất;

(3) Tỷ lệ người dân đồng thuận khi bị thu hồi đất và đồng ý với mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất;

(4) Việc sử dụng đất đúng mục đích được giao đất, cho thuê đất của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân;

1.2.4. Quản lý tài chính trong sử dụng đất nông nghiệp

“Đây là chức năng rất quan trọng của Nhà nước vừa để thực hiện quyền lợi về mặt kinh tế của chủ sở hữu; đồng thời thực hiện được chức năng kinh tế của Nhà nước, nó bao gồm các nội dung quy định mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thuế đất các loại, quy định mức tiền bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, các khoản ngân sách đầu tư vào đất và quản lý ngân sách khi đấu giá quyền sử dụng đất.Quản lý tài chính về đất đai bảo đảm sử dụng đất có hiệu quả, tiết kiệm, tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi để tổ chức, cá nhân khi sử dụng đất yên tâm đầu tư vào đất, được bảo vệ quyền lợi khi Nhà nước thu hồi đất, tránh kiện tụng về sau”[15].

Tiêu chí đánh giá:

(1) Tỷ lệ đóng góp vào ngân sách của các khoản thu từ đất nông nghiệp.

(2) Sự phù hợp của bảng giá đất so với thị trường.

1.2.5. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp

“Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc các quy định của pháp luật có được thực hiện theo đúng quy định trình tự, đúng thời điểm và các điều kiện cụ thể khác hay không. Qua công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện các sai phạm để ngăn chặn kịp thời tránh hậu quả xấu gây thiệt hại cho Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân. Kịp thời xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo mọi đối tượng phải thực thi pháp luật nghiêm túc, đảm bảo sự bình đẳng giữa những 25 đối tượng sử dụng đất và các cơ quan quản lý của Nhà nước. Giải quyết khiếu nại, tố cáo là việc các cơ quan chức năng giải quyết các kiến nghị của cá nhân, tập thể hoặc tổ chức trong trường hợp không chấp thuận quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan QLNN hoặc tố cáo những sai phạm trong quản lý, sử dụng ĐNN”[9].

Tiêu chí đánh giá:

(1) Số lượng các cuộc kiểm tra hằng năm. Tỷ lệ tăng của các cuộc thanh tra, điều tra qua các năm.

(2) Số tiền thu hồi được sau thanh tra, kiểm tra và tỷ lệ vi phạm trên tổng số thanh tra, kiểm tra.

(3) Số các đơn từ khiếu nại hàng năm, tỉ lệ giải quyết các đơn từ trên tổng số đơn từ khiếu nại.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỚNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.3.1. Điều kiện tự nhiên

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, do tự nhiên tạo ra vì vậy việc QLĐĐ nói chung và ĐNN nói riêng bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên.

Điều kiện tự nhiên ở đây chủ yếu được xét đến các yếu tố như: nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các nguồn tài nguyên trên mặt đất có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất. Trong đó, nhân tố điều kiện khí hậu là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và có tác động lớn tới việc QLNN về đất đai, tiếp đó là các điều kiện địa hình, thổ nhưỡng và các nhân tố khác. Biến đổi khí hậu cũng đang là một thách thức lớn đối với quá trình phát triển; Tác động trực tiếp đến cuộc sống, kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh tế.

Tùy từng địa phương, khu vực mà các điều kiện tự nhiên sẽ có sự khác biệt nên khó khăn trong sử dụng đất cũng khác nhau. Do đó, việc QLNN về ĐNN cần tận dụng lợi thế từng vùng và tuân thủ quy luật tự nhiên để đạt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất.

1.3.2. Điều kiện kinh tế

Điều kiện kinh tế là nhân tố ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả QLĐĐ tại một địa phương, đặc biệt là ĐNN. Tăng trưởng kinh tế “diễn ra với tốc độ nhanh làm tăng áp lực đối với tài nguyên đất nông nghiệp. Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế tốt, đời sống của người dân tăng cao, nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích sản xuất, kinh doanh, xây dựng nhà ở cũng sẽ tăng thêm. Người dân sẵn sàng chi trả một khoản tiền nhất định để thuê, mua đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở và đóng tiền đất đúng, đủ và kịp thời. Nhờ đó, việc QLĐĐ của Nhà nước cũng được thuận tiện hơn. Người dân không tìm cách trì trệ, nợ tiền thuê, mua đất hay thuế trước bạ.

Ngược lại, tốc độ phát triển kinh tế chậm, đời sống của nhân dân khó khăn, nghèo đói, nhu cầu thuê, mua đất sử dụng vì các mục đích trong cuộc sống sẽ bị hạn chế. Tình trạng thuê, mua đất bị trì trệ, tiền thuế đất cũng sẽ khó thu hồi. Điều này khiến cho công tác QLNN về đất đai gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là công tác tài chính”[11].

1.3.3. Điều kiện xã hội

Sự tăng dân số nhanh làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng. Những sai lầm của con người trong quá trình sử dụng đất sẽ dẫn đến huỷ hoại môi trường đất, một số công năng nào đó của đất đai bị yếu đi.

khi mức sống của con người còn thấp, công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào trong sản xuất nông nghiệp. Khi xã hội phát triển ở mức cao hơn, công năng của đất đai được mở rộng,vấn đề sử dụng đất đai cũng phức tạp hơn

“Ý thức chấp hành pháp luật của người dân sử dụng đất nông nghiệp là yếu tố quan trọng trong QLNN về ĐNN, đặc biệt là trong công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, trong việc cấp GCNQSDĐ. Trong khi đó, ĐNN là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp nên có nhiều nguy cơ dẫn đến những vi phạm hoặc tiêu cực trong quản lý, sử dụng đất. Thực tiễn cho thấy, nếu ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng đất tốt, công tác QLNN về ĐNN sẽ rất thuận lợi và hiệu quả. Ngược lại, nếu ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng đất không tốt, công tác QLNN về ĐNN sẽ rất phức tạp, khó khăn”[12].

1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.4.1. Kinh nghiệm của huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum

“Huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum có những bước phát triển nhanh, mạnh trên các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ du lịch. Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị hóa tại huyện Đăk Hà diễn ra rất mạnh mẽ. Vì vậy, việc giải quyết quan hệ xã hội về đất đai tại huyện Đăk Hà là rất đáng quan tâm. Toàn huyện Đắk Hà có 11 đơn vị hành chính, bao gồm xã Hà Mòn, Đắk La, Đắk Mar, Đắk Hring, Đắk Ui, Ngok Wang, Ngok Réo, Đắk Pxi, Đắk Ngọk, Đắk Long và Thị trấn Đắk Hà. Quản lý đất đai tại Đăk Hà có một số đặc điểm nổi bật:

– Công tác lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính trên địa bàn huyện được xây dựng theo Chỉ thị 364 (gọi tắt là địa giới 364) từ năm 1994, việc thành lập địa giới hành chính 364 giữa các cấp chủ yếu căn cứ vào những địa hình tự nhiên (sông suối, sườn đồi). “Căn cứ hồ sơ địa giới hành chính, năm 2018, UBND huyện Đắk Hà đã tổ chức đo đạc, lập bản đồ hành chính cho 09 xã, thị trấn và 01 bản đồ hành chính huyện tỷ lệ 1/25.000. Hiện tại các đường ranh giới giữa những huyện giáp ranh cũng như các xã đã ổn định không có tranh chấp. Hồ sơ, kết quả được nộp lưu trữ, quản lý sử dụng theo đúng quy định pháp luật. Theo đó, đất đai được quản lý theo đơn vị hành chính trong toàn huyện và 11 xã, thị trấn. Đến nay, việc xác định địa giới hành chính và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, bản đồ địa chỉnh tại huyện Đắk Hà đã đi vào nề nếp, ổn định phục vụ công tác QLNN về đất đai”[4].

– “Công tác cấp GCNQSDĐ nông nghiệp: Hiện nay, trên địa bàn huyện Đắk Hà, số lượng diện tích đất cần phải cấp GCNQSDĐ còn khá lớn. Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, còn tới 25% hộ gia đình, cá nhân cần phải cấp GCNQSDĐ, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp. Do đó, chính quyền huyện cần tiếp tục áp dụng các biện pháp cụ thể, đổi mới nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ để đáp ứng nhu cầu cho nhân dân trên địa bàn”[21].

– “Căn cứ các quy định hiện hành của Chính phủ, các văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương và điều kiện thực tế của huyện, UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường xây dựng “Quy định về trình tự, thủ tục hồ sơ cấp GCNQSDĐ và tài sản khác gắn liền với đất”. Quy định này xây dựng theo quy trình cấp giấy đồng loạt, trách nhiệm từng cơ quan, sự luân chuyển hồ sơ, phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn của huyện và xã, các loại giấy tờ cần thiết mà tổ chức và cá nhân phải nộp, nghĩa vụ tài chính, thời gian thực hiện,… Tất cả các loại hồ sơ, văn bản được ban hành phải được công khai trên trang web của huyện và niêm yết tại UBND huyện cũng như các xã, thị trấn của huyện, nơi tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ cấp GCNQSDĐ để người dân nắm được, chủ động tìm hiểu”[13].

– “Công tác lập quy hoạch, KHSDĐ: Quy hoạch, KHSDĐ là công cụ để nhà nước QLĐĐ, đảm bảo cho đất đai được sử dụng hiệu quả và tiết kiệm. Công tác quy hoạch, KHSDĐ tại huyện Đắk Hà đã được quan tâm, đạt được một số kết quả nhất định. Đặc biệt, huyện Đắk Hà đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, các địa phương cần tăng cường quản lý nghiêm ngặt đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Tổ chức xác định rõ ranh giới và công khai diện tích đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần bảo vệ nghiêm ngặt để các tổ chức và cá nhân được biết. Việc chuyển mục đích từ đất chuyên trồng lúa nước sang cho các mục đích phi nông nghiệp tập trung chủ yếu cho các mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội, phát triển hạ tầng, công trình trọng điểm và ở khu vực thị trấn Đắk Hà”[6].

1.4.2. Kinh nghiệm của huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai

“Huyện Chư Prông nằm phía Tây Nam của tỉnh Gia Lai, có diện tích tự nhiên 169.551,56 ha, chiếm 10,92% diện tích tự nhiên của tỉnh Gia Lai. Toàn huyện Chư Prông có 19 xã và 1 thị trấn, trung tâm huyện (thị trấn Chư Prông) cách Thành phố Pleiku khoảng 40km về phía Tây Nam. Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của huyện Đảng bộ, chính quyền cùng sự nỗ lực của các ngành, các cấp chính quyền địa phương để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, huyện Chư Prông triển khai nhiều chính sách kích cầu, đầu tư phát triển mọi mặt, ưu tiên phát triển kinh tế, thu hút nhiều dự án đầu tư về với Chư Prông. Công tác QLNN về ĐNN tại huyện Chư Prông có những điểm nổi bật sau:

– Công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính: Trong những năm qua UBND huyện Chư Prông luôn quan tâm, chú trọng đến công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính, xây dựng hồ sơ địa chính phục vụ công tác QLĐĐ, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đẩy nhanh công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện. Đến nay huyện Chư Prông đã khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất cho 14/20 xã, thị trấn (đạt 60,3 % diện tích cần đo), qua đó đã cấp GCNQSDĐ tập trung cho 35.971,3 ha ĐNN (diện tích đất ở chưa cấp tập trung được do liên quan đến tiền thuế, phí sử dụng đất) và lập bản đồ quy hoạch sử dụng đất của huyện nhằm đáp ứng công tác QLNN về đất đai và phù hợp với thực tế biến động về đất đai.

– Huyện Chư Prông đã quan tâm đến công tác cấp GCNQSDĐ một cách toàn diện, từ việc lập kế hoạch, giao chỉ tiêu, đến việc tổ chức thực hiện, theo sát tiến độ hàng năm, đồng thời không ngừng bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ cho cán bộ chuyên môn và đầu tư một lượng ngân sách lớn cho các trang thiết bị cần thiết để phục vụ công tác cấp GCNQSDĐ một cách tốt nhất, như: xây dựng bản đồ được số hóa tỷ lệ 1/1000; 1/2000, xây dựng hệ thống phần mềm QLĐĐ, thuận tiện cho việc tra cứu và quản lý thông tin. UBND huyện đã ban hành các văn bản khắc phục những tồn tại trong công tác QLĐĐ, cụ thể giúp cho công tác QLĐĐ nói chung và công tác cấp GCNQSDĐ nói riêng ngày càng có hiệu quả thay vì chỉ đơn thuần ra sức tuyên truyền, vận động qua thông tin đại chúng.

– Việc lập và thực hiện quy hoạch đất nông nghiệp: Trong những năm qua việc lập quy hoạch và thực hiện quy hoạch sử dụng ĐNN trên địa bàn huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai đã có những tiến bộ, các chỉ tiêu đăng ký sử dụng đất nông nghiệp tương đối tốt phục vụ cho nhu cầu sử dụng đất, là cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất nông nghiệp được thuận lợi. Trên cơ sở Quy hoạch sử dụng đất của huyện được phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các địa phương tham mưu huyện xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm trên địa bàn huyện trình UBND tỉnh phê duyệt đề thực hiện. Trong công tác lập quy hoạch, KHSDĐ, UBND huyện đã chủ trương điều chỉnh giảm diện tích đất lâm nghiệp và tăng đất nông nghiệp trong đó tăng đáng kể cho trồng câu lâu năm”[17].

1.4.3. Một số bài học rút ra đối với huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

“Từ những tương đồng về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội và tình hình sử dụng đất nông nghiệp so với huyện Đắk Hà (tỉnh Kon Tum) và huyện Chư Prông (tỉnh Gia Lai), một số bài học kinh nghiệm rút ra đối với huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum như sau:

– Một là, hồ sơ địa chính về đất nông nghiệp phải được số hóa và cập nhật dữ liệu thông tin một cách thống nhất, đồng bộ trên cơ sở công nghệ tin học điện tử hiện đại. Muốn đạt được điều đó cần phải đầu tư đồng bộ trong việc đo đạc, lập bản đồ địa chính để có được hệ thống hồ sơ địa chính cơ sở (hồ sơ gốc) có độ tin cậy cao ở tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn toàn huyện.

– Hai là, cần tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp đối với lĩnh vực đất đai nói chung và ĐNN nói riêng; việc ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của cấp ủy Đảng, chính quyền phải phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương; ban hành các văn bản khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý ĐNN, cụ thể giúp cho công tác quản lý ĐNN nói chung và công tác cấp GCNQSDĐ nói riêng ngày càng thuận lợi và có hiệu quả cao.

– Ba là, cần chú trọng đến công tác lập và thực hiện quy hoạch, KHSDĐ của địa phương. Việc lập quy hoạch sử dung đất phải có tính khả thi cao, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội của địa phương (nhu cầu của thị trường, nhu cầu vốn, nguồn nhân lực của địa phương,…). Trong quá trình thực hiện quy hoạch, KHSDĐ cần kiểm tra, giám sát chặt chẽ nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về đất đai nói chung và ĐNN nói riêng, đặc biệt cần xử lý nghiêm tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng ĐNN sang đất phi nông nghiệp trên địa bàn huyện.

– Bốn là, coi trọng công tác tuyên truyền, vận động làm chuyển biến nhận thức và hành động trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; phát huy, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền làm chủ theo phương châm Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Đồng thời, cần phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu của công việc, gắn với đào tạo, chuyển giao khoa học kỹ thuật.

– Năm là, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc thúc đẩy chuyển dịch đất nông nghiệp hướng tới phát triển bền vững là việc làm cần thiết, để góp phần đẩy nhanh tiến trình này cấp Ủy Đảng và chính quyền địa phương cần mạnh dạn thay đổi mô hình sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, thiếu liên kết sang mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, dựa vào doanh nghiệp và các mô hình trang trại, hoạt động theo cơ chế thị trường; ưu tiên tập trung ruộng đất theo hình thức gia trại, trang trại, lấy đây làm lực lượng nòng cốt để tổ chức hệ thống hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã”[8].

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

“Quản lý ĐNN là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với ĐNN; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân phối lại quỹ ĐNN theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng ĐNN, điều tiết các nguồn lợi từ ĐNN. Đây là hoạt động rất quan trọng, giúp Nhà nước đảm bảo sử dụng ĐNN hợp lý, tiết kiệm; việc phân loại, đánh giá ĐNN cũng được tiến hành chính xác, kịp thời hơn và là cơ sở để Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý cho việc sử dụng ĐNN, đảm bảo lợi ích chính đáng của người sử dụng đất.

Khi QLNN về ĐNN, cần phải chú ý đến 05 nội dung đó là tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử sụng ĐNN; Công tác quản lý quy hoạch, KHSDĐ nông nghiệp; Công tác quản lý giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng ĐNN; Công tác quản lý tài chính trong sử dụng ĐNN; và thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm trong quản lý và sử dụng ĐNN. Hơn nữa, để công tác QLNN về ĐNN đạt hiệu quả cao, cần chú ý đến một số nhân tố như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội và hoạt động của cơ quan QLNN về ĐNN trên địa bàn”[2].

Chương 1 sẽ là các cơ sở lý luận để tác giả phân tích thực trạng công tác QLNN về ĐNN trên địa bàn huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum ở Chương 2.

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA THẦY

2.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA HUYỆN SA THẦY

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

a. Vị trí địa lý

Hình 2.1. Bản đồ địa giới hành chính huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU NĂM 2023\TÀI LIỆU CHƯA ĐỔI TÊN/ Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy

Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy  Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *