Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hợp tác xã (HTX) là một loại hình tổ chức kinh tế phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới kể từ khi phương thức chủ nghĩa tư bản hình thành. Ngày nay, loại hình kinh tế này không chỉ có ý nghĩa quan trọng về kinh tế mà còn có ý nghĩa to lớn về chính trị và xã hội đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam phát triển kinh tế hợp tác, HTX, đặc biệt là HTX nông nghiệp nói riêng không chỉ phát huy thế mạnh, khai thác hiệu quả mọi tiềm năng, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, dịch vụ gắn thị trường, góp phần tạo sự phát triển ổn định về kinh tế, chính trị – xã hội trên địa bàn khu vực, vùng, liên vùng của cả nước. Mặt khác, phát triển kinh tế HTX nông nghiệp là nhằm huy động, hợp lực sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, Nghị quyết số 21-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (2008) khẳng định “tiếp tục đổi mới, phát triển hợp tác xã và tổ hợp tác theo cơ chế thị trường, phù hợp với các nguyên tắc: tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi và phát triển cộng đồng”.

Tỉnh Kon Tum thực hiện tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX của Đảng, Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành Luật HTX năm 2012” và nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của kinh tế HTX, đặc biệt là HTX nông nghiệp. Những năm qua, Kon Tum luôn nỗ lực thực hiện các nghị quyết, chính sách của Đảng, của Nhà nước, ngày 4/8/2009 UBND tỉnh bàn hành Quyết định số 880/QĐ-UBND về phê duyệt Đề án kiện toàn bộ máy quản lý kinh tế tập thể từ tỉnh đến cấp xã, với mục tiêu đưa kinh tế tập thể vào cuộc sống và đã thu được những kết quả nhất định. Đó là, các loại hình kinh tế nhóm hộ, HTX kiểu mới được thành lập tăng đáng kể; kinh tế HTX đã phát triển đa dạng hơn cả về ngành nghề, quy mô và trình độ; củng cố một bước về tổ chức sản xuất, quản lý và bước đầu khẳng định vai trò của kinh tế HTX trong phát triển kinh tế – xã hội (KT – XH) trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, qua khảo sát, nghiên cứu, kinh tế HTX trong nông nghiệp ở tỉnh Kon Tum chưa phát huy, khai thác được thế mạnh, năng suất và hiệu quả kinh tế còn thấp. Do đó, “nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; hàng nông sản xuất khẩu thô còn chiếm tỷ trọng lớn”. Các HTX chưa tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật; sự liên kết và hợp tác của các chủ thể trong phát triển kinh tế chưa chặt chẽ, vai trò của Liên hiệp HTX chưa được phát huy. HTX trên lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn quy mô nhỏ, vốn ít, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn và lạc hậu, hiệu quả sản xuất – kinh doanh thấp.

Từ thực tế nêu trên, đòi hỏi phải nghiên cứu một cách hệ thống, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước (QLNN) đối với HTX nông nghiệp, qua đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum phát triển.

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, nhằm góp phần giải quyết vấn đề cấp bách và cơ bản trong quá trình phát triển KT – XH của tỉnh Kon Tum.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá thực trạng QLNN đối với các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh để đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác QLNN đối với các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLNN đối với HTX nông nghiệp;

– Phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLNN đối với HTX nông nghiệp ở tỉnh Kon Tum, chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác này.

– Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác QLNN đối với HTX nông nghiệp ở tỉnh Kon Tum.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác QLNN đối với HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung: Đề tài nghiên cứu công tác QLNN đối với HTX nông nghiệp trên giác độ của cơ quan QLNN cấp tỉnh, bao gồm các nội dung, đó là: xây dựng bộ máy và tổ chức thực hiện QLNN đối với HTX nông nghiệp; xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển HTX nông nghiệp và triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, chính sách, quy định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX nông nghiệp; xây dựng, ban hành các chính sách, quy định đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX nông nghiệp. Kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm của HTX nông nghiệp.

– Về không gian: Nghiên cứu công tác QLNN đối với HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

– Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với các HTX nông nghiệp từ 2012 đến 2020. Các đề xuất phương hướng và giải pháp sẽ đưa ra cho giai đoạn từ nay đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp thu thập số liệu

– Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn sau:

+ Tham khảo và kế thừa có chọn lọc những ý kiến của các nhà kinh tế học và các hoạt động kinh tế thực tiễn qua các bài viết trên các báo và tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học, các luận án tiến sỹ, thạc sỹ có liên quan đến đề tài

+ Tham khảo kinh nghiệm của một số tỉnh miền núi có điều kiện tương tự về phát triển các HTX nông nghiệp.

+ Số liệu từ niên giám thống kê, báo cáo của các sở, ban ngành của tỉnh Kon Tum trên các lĩnh vực QLNN về HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

– Số liệu sơ cấp:

+ Điều tra xã hội học với các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; khảo sát trực tiếp 10 tổ chức đó là UBND (UBND) cấp huyện vấn đề thực hiện công tác QLNN về HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

+ Nội dung của khảo sát là vấn đề thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền và thực trạng công tác QLNN về HTX nông nghiệp. Những thành công, hạn chế và nguyên nhân trong công tác QLNN về HTX nông nghiệp trong thời gian qua như thế nào. Giải pháp nào để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác QLNN đối với các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

4.2. Phương pháp phân tích

– Phương pháp kế thừa: Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu có liên quan đến QLNN đối với các HTX nông nghiệp. Việc nghiên cứu đề tài, sẽ kế thừa, tham khảo một số kết quả nghiên cứu đã được thực hiện về các nội dung có liên quan đến chủ đề này.

– Phương pháp phân tích thống kê: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các dữ liệu thu thập được nhằm phân tích những nội dung chủ yếu của đề tài, phân tích số liệu thống kê từ nhiều nguồn để rút ra những nhận xét, đánh giá. Trên cơ sở chuỗi số liệu thu thập được từ năm 2012 đến năm 2020, luận văn sẽ phân tích và đưa ra những nhận xét, đánh giá về diễn biến, xu thế thay đổi của các hoạt động QLNN đối với HTX nông nghiệp. Trên cơ sở đó cho phép đánh giá khách quan thực trạng thực hiện các nội dung QLNN đối với HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Phân tích, đánh giá về những kết quả đã đạt được, những mặt còn hạn chế, yếu kém và các nguyên nhân. Từ đó, rút ra được các vấn đề cần đổi mới, cần khắc phục để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện các nội dung trong công tác QLNN trong lĩnh vực nghiên cứu.

– Phương pháp so sánh: Dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập, đánh giá thực trạng QLNN đối với các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum, đề tài sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu số liệu qua các giai đoạn để phân tích đánh giá, làm rõ thực trạng đặt ra trong nghiên cứu của đề tài.

– Phương pháp phân tích tổng hợp: Thông qua phân tích số liệu thứ cấp và phân tích trường hợp từ những thông tin thu thập có được trong quá trình nghiên cứu các tài liệu, báo cáo và số liệu thu thập được có liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích và tổng hợp các thông tin, đưa ra những đánh giá về thực trạng QLNN đối với các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

– Phương pháp chuyên gia: Dựa trên cơ sở khảo sát trực tiếp 11 tổ chức (UBND cấp huyện) vấn đề thực hiện công tác QLNN về HTX nông nghiệp. Tham khảo ý kiến, đánh giá về những mặt thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác QLNN về HTX nông nghiệp trong thời gian qua.

Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương.

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1.1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1.1.1. Một số khái niệm

a. Khái niệm hợp tác xã

Quá trình phát triển KT – XH của xã hội loài người đã đang chứng minh ưu thế của hợp tác lao động, cũng như hợp tác các nguồn lực vốn nhằm mang lại ưu thế, cạnh tranh, kinh doanh đạt hiệu quả cao. Nhờ có hợp tác, con người đã xây dựng được nhiều công trình kiến trúc vĩ đại. Nhất là trong quá trình hình thành và phát triển của mình, chủ nghĩa tư bản ngay từ đầu đã biết kế thừa và phát triển những ưu thế của hợp tác trong kinh doanh, phát triển KT- XH. Hợp tác trong kinh tế đã trở thành khởi điểm của sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác chỉ ra rằng, hợp tác có vai trò to lớn góp phần nâng cao năng suất lao động, bởi vì nó có rất nhiều ưu thế so với lao động riêng lẻ, là điểm xuất phát lịch sử và lôgíc của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa [3, tr 468].

Các học giả ở Việt Nam nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác xít, và thực tiễn xu thế mới của nền kinh tế thế giới toàn cầu hóa, cho thấy ngày nay, đòi hỏi sự hợp tác các nguồn lực vốn trong kinh tế phải đa dạng về tính chất, quy mô, cũng như không còn bó hẹp trong phạm vi vùng lãnh thổ, quốc gia mà hợp tác trên toàn thế giới. Từ đó, đưa ra quan điểm hợp tác là sự hợp sức, hợp lực (các nguồn lực vốn) của những con người để tạo ra sức mạnh mới, để thực hiện những công việc mà từng cá nhân hoặc từng hộ riêng lẻ khó thực hiện, không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả [3, tr 69].

Nội dung hợp tác cũng rất đa dạng, không chỉ là sự hợp tác trong từng lĩnh vực riêng rẽ mà hợp tác là sự liên kết diễn ra trong nhiều lĩnh vực của các chủ thể. Ở phương diện kinh tế, hợp tác là một tổ chức kinh tế tập thể, tự chủ của những người tự nguyện liên kết lại với nhau để đáp ứng những nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế thông qua HTX do chính các thành viên đồng sở hữu và hợp tác tương trợ giúp nhau trong hoạt động kinh doanh, khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự nguyện, tự chủ, bình đẳng, có trách nhiệm và dân chủ.

Như vậy, từ thực tiễn cho thấy, nghiên cứu làm rõ khái niệm kinh tế hợp tác, HTX là một nội dung rất quan trọng, vì nó xác định bản chất của HTX và làm căn cứ cho toàn bộ nội dung pháp lý, cơ chế, chính sách QLNN đối với HTX trong hoạt động phát triển KT – XH ở Việt Nam hiện nay.

– Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội liên minh HTX quốc tế (ICA) lần thứ 31 tổ chức tại Manchester – Vương quốc Anh đã định nghĩa về kinh tế HTX như sau: HTX là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ.

– Trong bản khuyến nghị phát triển HTX của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) được thông qua tại kỳ hợp thứ 90, diễn ra và tháng 6 năm 2002 tại Geneve – Thụy Sỹ định nghĩa về kinh tế HTX: “HTX là một tổ chức tự chủ của những người tình nguyện liên kết lại với nhau nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn về kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua việc thành lập một doanh nghiệp sở hữu tập thể, góp vốn bình đẳng, chấp nhận việc chia sẻ lợi ích và rủi ro, với sự tham gia tích cực của các thành viên trong điều hành và quản lý dân chủ”. Trên cơ sở đó, nhiều nước trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa HTX cho phù hợp với điều kiện phát triển của họ.

– Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình, đặc điểm KT – XH của đất nước qua các thời kỳ, cho thấy khái niệm về HTX trên cơ sở kế thừa, nhưng có sự đổi mới về quan điểm nhận thức mà đưa ra khái niệm HTX phù hợp với yêu cầu, thực tiễn phát triển kinh tế hợp tác của đất nước đặt ra.

Tại Khoản 1, Điều 3, Luật HTX năm 2012 nêu “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX” .

Theo khái niệm nêu trong luật HTX năm 2012 cho thấy:

+ Về tính chất: HTX là tổ chức kinh tế tập thể.

+ Về nguyên tắc: xã viên tự lập lên, trên cơ sở lợi ích xã viên tự nguyên tham gia bằng cách góp vốn, góp sức và tuân thủ pháp luật.

+ Về mục tiêu: Giúp nhau thực hiện có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bản thân góp phần phát triển KT – XH.

Mặc dù HTX cũng là đơn vị kinh doanh, song sứ mệnh quan trọng nhất của nó không phải là tối đa hóa lợi nhuận, mà là tối đa hóa lợi ích hài hòa trước mắt và lâu dài của thành viên (vấn đề từng thành viên đơn lẻ không thể thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả) bằng cách đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về sản phẩm, dịch vụ, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho thành viên một cách hiệu quả hơn trong điều kiện kinh tế thị trường.

Như vậy, HTX là hình thức tổ chức hợp tác cùng tham gia góp vốn sản xuất, kinh doanh, có tài sản chung, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và tư cách pháp nhân. Các loại hình HTX đều được thành lập trên tinh thần tự nguyện, tự trợ giúp, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công bằng theo sự thỏa thuận giữa các thành viên tham gia.

b. Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp

– Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ, do nông dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật đề phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình của xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp (Điều 1, Nghị định 43-CP ngày 29/4/1997).

– Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện tham gia và có nhu cầu, lợi ích kinh tế chung, liên kết lại, tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau phát triển kinh tế, nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, hỗ trợ, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, tạo việc làm, thu nhập, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của thành viên, góp phần phát triển KT – XH của đất nước [23].

Như vậy, HTX nông nghiệp là loại hình HTX hoạt động gắn liền với lĩnh vực nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN. Sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp gắn với sự phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay.

c. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp

– Khái niệm quản lý nhà nước: QLNN là “hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính chất cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của nhà nước” [2, tr 9].

Theo nghĩa rộng, QLNN là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp.

Theo nghĩa hẹp, QLNN chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.

Quản lý nhà nước được đề cập trong luận văn là khái niệm QLNN theo nghĩa rộng. Nghĩa là, QLNN bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của nhà nước.

– Từ sự phân tích các khái niệm HTX nông nghiệp và QLNN, có thể rút ra khái niệm QLNN đối với HTX nông nghiệp đó là việc nhà nước dùng công cụ quyền lực để tác động có mục đích nhằm làm cho hoạt động của HTX nông nghiệp hoạt động đúng bản chất, đúng định hướng của nhà nước, mang lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và phù hợp với thông lệ quốc tế.

1.1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp

a. Quản lý nhà nước về hợp tác xã nông nghiệp có tính đặc thù, gắn với hoạt động kinh tế của nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Quản lý nhà nước đối với HTX nông nghiệp có tính đặc thù bởi vì đối tượng quản lý luôn gắn với hoạt động kinh tế nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hoạt động của HTX nông nghiệp trên các ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp gắn liền với điều kiện tự nhiên và sử dụng nhiều tài nguyên đất đai. Hoạt động của HTX nông nghiệp là công cụ nhằm làm tăng thêm lợi ích, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ nông dân. Mục tiêu của HTX là phục vụ nhu cầu, lợi ích chung của thành viên, hỗ trợ các hộ nông dân tăng cạnh tranh trong kinh tế thị trường. HTX là một tổ chức dân chủ, xã hội cao, trong đó các thành viên phần lớn là nông dân và bình đẳng, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư nông nghiệp trong quản lý xã hội, kinh doanh.

Về địa bàn hoạt động của HTX nông nghiệp phân tán rộng hầu như khắp cả nước làm cho sự can thiệp của Nhà nước gặp nhiều trở ngại trong việc phân bổ nguồn lực, cũng như công tác QLNN. Về trình độ sản xuất, trình độ tổ chức, trình độ trang bị kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng có sự chênh lệch giữa các vùng sản xuất và chênh lệch so với cả các ngành sản xuất khác, đặc biệt là thấp kém hơn rất nhiều so với ngành công nghiệp. Tính đặc thù của QLNN trong HTX nông nghiệp còn thể hiện ở chính phương thức sản xuất của nó. Đó là sự đa dạng của các chủ thể tham gia HTX với loại hình kinh doanh hàng hóa và dịch vụ trong nông nghiệp, nhiều hình thức sở hữu và thành phần kinh tế khác nhau. Trong quan hệ sản xuất của các thành viên HTX cùng đồng thời tồn tại cả thành phần kinh tế tư nhân (các tổ chức nông hộ, trang trại) và cả thành viên của kinh tế HTX nông nghiệp, lẫn thành viên của HTX phi nông nghiệp. Nét đặc thù này được thể hiện cả ở đối tượng sản xuất lẫn thành viên là lực lượng lao động, cả ở quy trình sản xuất lẫn chủ thể sản xuất. Chính những đặc thù này đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của QLNN đối với HTX nông nghiệp. Do đó, đòi hỏi sự tác động của Nhà nước đến quá trình phát triển HTX nông nghiệp.

Như vậy, tính hiệu quả của QLNN đối với HTX nông nghiệp ở nước ta nói chung và quan trọng hơn là phải thể hiện được sự đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý qua sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo môi trường, điều kiện để HTX nông nghiệp phát triển bền vững. Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải chú trọng đến lợi ích của các thành viên, trước hết, trên hết và trực tiếp đó là người nông dân tham gia hợp tác. Đó phải là chính sách phát triển có trọng điểm và mang tính toàn diện, dài lâu. Thông qua nhiều chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nhà nước Việt Nam đã thể hiện được vai trò QLNN đối với HTX nông nghiệp của mình trên cả ba phương diện: phân bổ tối ưu hóa nguồn lực, định hướng, hỗ trợ HTX nông nghiệp phát triển và giải quyết đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong chiến lược phát triển KT – XH.

b. Quản lý nhà nước về hợp tác xã nông nghiệp có tính phức tạp cao so với các ngành khác

Ở tầm vĩ mô, QLNN về HTX nông nghiệp chủ yếu là định hướng phát triển và phê duyệt, ban hành những quy hoạch tổng thể, chiến lược, kế hoạch phát triển HTX mang tính liên ngành ở tầm quốc gia. Còn các cấp chính quyền địa phương quản lý dưới giác độ cụ thể hóa cơ chế, chính sách của Trung ương phù hợp từng vùng, từng địa phương và triển khai thực hiện các chính sách, hỗ trợ, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho HTX hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, do tính phức tạp của QLNN đối với HTX nông nghiệp đó là sự kết hợp giữa cơ chế tự điều chỉnh của thị trường với cơ chế QLNN đói với HTX nông nghiệp có tính đặc thù và thể hiện sự khác biệt. Sự khác biệt trong QLNN đối với HTX được thể hiện và cho thấy nhà nước không chỉ can thiệp vào những chỗ, những nơi mà cơ chế thị trường không thực hiện được, mà sự can thiệp vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội. Về kinh tế, sự can thiệp của nhà nước được thể hiện qua các chính sách hỗ trợ các nguồn lực cho HTX nông nghiệp hoạt động, tạo điều kiện khai thác tốt tư liệu sản xuất đất đai, giải quyết việc làm, tăng thu nhập của các thành viên và giúp nông dân tiêu thụ nông sản. Mặt khác, sự can thiệp mang tính xã hội thể hiện ở chỗ nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ đối với HTX nông nghiệp ở khu vực nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn. Với mục tiêu nhà nước là hỗ trợ HTX, giúp đỡ các thành viên HTX là nông dân, hộ nghèo tiếp cận các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội một cách bình đẳng, tiêu thụ nông phẩm… để họ điều kiện sinh kế, cải thiện cơ bản cuộc sống. Từ đó nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế hộ và tổng hợp được sức mạnh, tăng khả năng cạnh tranh của HTX và kinh tế của thành viên trên thị trường.

Có thể thấy, đặc điểm QLNN đối với HTX nông nghiệp hiện có tính phức tạp cao được thể hiện bằng vai trò, sự tác động của Nhà nước đến các hoạt động của HTX nông nghiệp luôn được thể hiện trên cả hai phương diện: thúc đẩy nông nghiệp phát triển và đổi mới bộ mặt xã hội nông thôn. Để thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp và nông thôn, Nhà nước ta dựa trên cơ chế pháp luật chung, ban hành các quyết định, nghị định, chỉ thị nhằm quy hoạch, đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích sự phát triển KT – XH nông thôn thông qua HTX nông nghiệp. Để nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nông dân và các thành viên HTX, Nhà nước luôn có những chính sách hỗ trợ HTX đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng KT – XH nông thôn và đào tạo nghề cho người nông dân và thành viên. Trong những chính sách đối với HTX nông nghiệp thì chính sách giúp cho các thành viên HTX có điều kiện sinh kế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Chính sách này vừa xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, vừa thể hiện tính ưu việt của chế độ XHCN mà nước ta đang xây dựng.

c. Có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp chính quyền

Theo Luật HTX năm 2012 ở Trung ương thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư giúp Chính phủ QLNN về HTX. Ngoài ra còn có 6 bộ khác cũng có chức năng quản lý đối với HTX hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau như Bộ Giao thông – Vận tải, Bộ Công thương, Bộ Giáo dục – Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính. Cũng giống như ở Trung ương, ở địa phương các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh (các sở, ban, ngành thuộc tỉnh và UBND cấp huyện), cơ quan quản lý chuyên ngành, lĩnh vực thuộc cơ quan QLNN cấp Trung ương đặt tại tỉnh chủ động phối hợp QLNN đối với HTX, Liên hiệp HTX, Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ hợp tác trong ngành, lĩnh vực QLNN được giao. Chủ động xây dựng phương án, công cụ trao đổi thông tin doanh nghiệp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, cục thuế và các cơ quan đầu mối hoặc liên quan khác để phục vụ nhiệm vụ QLNN của mình. Đối với HTX nông nghiệp, tại Điều 5 Thông tư 06/2019/TT-BNNPTNT ngày 19/7/2019 nêu rõ: UBND cấp tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu thực hiện QLNN đối với các hoạt động đặc thù của HTX nông nghiệp và hướng dẫn UBND cấp huyện, xã triển khai thực hiện QLNN đối với các hoạt động đặc thù của HTX nông nghiệp trên địa bàn.

Tóm lại, đặc điểm QLNN về HTX nông nghiệp đó là nhà nước tác động HTX nông nghiệp bằng những công cụ quản lý QLNN như: hệ thống pháp luật, các nghị định và văn bản dưới luật, các chính sách hỗ trợ kinh tế, xã hội. Sự tác động này đã tạo nên tính hiệu lực, hiệu quả của HTX nông nghiệp, làm thay đổi một cách căn bản vai trò vai trò của thành phần kinh tế tập thể hoạt động trên lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng xã hội nông thôn theo hướng tích cực, văn minh và hiện đại.

1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp

a. Bảo đảm cho các hợp tác xã nông nghiệp thực hiện theo đúng những quy định của pháp luật

Các cơ quan QLNN bảo đảm cho các HTX nông nghiệp thực hiện theo đúng những quy định của pháp luật đó là “thông qua công tác thực thi pháp luật về HTX nhằm tác động để HTX nông nghiệp hoạt động hiệu quả, mang lại lợi ích cả về kinh tế và xã hội, không chỉ tạo ra phong trào HTX nông nghiệp phát triển mà giúp cho HTX nông nghiệp giữ đúng được bản chất, hoạt động đúng nguyên tắc và tạo ra những giá trị đặc trưng của nó”[17-tr 45]. Để bảo đảm cho các HTX nông nghiệp hoạt động theo đúng những quy định của pháp luật, nhà nước ban hành, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về HTX, liên hiệp HTX và văn bản pháp luật có liên quan. Tổ chức và hướng dẫn đăng ký HTX, liên hiệp HTX; giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật đối với HTX; xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của HTX, của thành viên và tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật. Từ đó, buộc các đối tượng có liên quan phải chấp hành, tuân thủ nhằm làm cho HTX nông nghiệp hoạt động đúng theo các quy định pháp luật và phát triển một chác hiệu quả theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

b. Tạo điều kiện cho các hợp tác xã nông nghiệp tham gia phát triển kinh tế – xã hội

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế tập thể với nòng cốt là HTX, trong đó các HTX nông nghiệp kiểu mới đã thể hiện tốt vai trò kinh tế của mình trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Các nhóm hộ, tổ hợp tác và HTX hỗ trợ cho các thành viên, hộ nông dân thông qua việc đáp ứng từng bước về vốn, thông tin, thị trường, kinh nghiệm sản xuất, các loại dịch vụ và các nhu cầu cơ bản trong sản xuất và đời sống của thành viên, giúp kinh tế thành viên giảm chi phí đầu tư, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao hiệu quả KT – XH.

Tuy nhiên, các HTX nông sản hiện nay đang gặp những hạn chế, thách thức về vốn, công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ do dịch bệnh COVID-19 gây ra… Đặc biệt là hạn chế vê năng lực cạnh tranh với các công ty, doanh nghiệp có vốn lớn, công nghệ hiện đại. Vì vậy, để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho khu vực kinh tế tập thể, đặc biệt HTX trong lĩnh vực nông nghiệp, nhà nước cần tạo điều kiện, đảm bảo hỗ trợ các nguồn lực cho các HTX nông nghiệp tham gia phát triển KT – XH, nhất là tạo điều kiện để các HTX tham gia các chương trình, dự án KT – XH, tạo ra cơ hội để các HTX nông nghiệp phát triển ổn định và hoạt động hiệu quả.

c. Bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các hợp tác xã nông nghiệp

Kinh tế tập thể mà nòng cốt ở các HTX là một trong các thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân, HTX hoạt động không chỉ mang lại hiệu quả, lợi ích về kinh tế mà còn mang lại lợi ích to lớn về mặt xã hội. Luật HTX năm 2012 công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của HTX, liên hiệp HTX. Do vậy, nhà nước bảo đảm môi trường sản xuất, kinh doanh bình đẳng giữa HTX, liên hiệp HTX với các loại hình doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.

Nhà nước không chỉ thừa nhận và bảo hộ các quyền của HTX nông nghiệp mà còn quy định cụ thể các quyền của HTX nông nghiệp đó là quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, quyền liên doanh, liên kết và không can thiệp vào hoạt động hợp pháp của HTX, liên hiệp HTX. Việc nhà nước ban hành các quy định bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các HTX nông nghiệp được coi là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội bảo vệ quyền lợi cho các HTX nông nghiệp và buộc các doanh nghiệp, mọi người dân tôn trọng và thực thi.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1.2.1. Công tác tổ chức bộ máy Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX nông nghiệp phát triển thì Nhà nước trước hết cần xây dựng bộ máy đảm bảo QLNN về HTX nông nghiệp. Trước hết bộ máy phải được tổ chức thành hệ thống các cơ quan QLNN từ trung ương đến địa phương, cơ sở, tạo thành một chỉnh thể đồng bộ để thực hiện chức năng QLNN đối với HTX. Thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hành chính, tinh thần, trách nhiệm trong thực thi công vụ. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN của chính quyền các cấp, phối hợp đồng bộ giữa các bộ ngành, địa phương trong triển khai thực hiện những cơ chế, chính sách đã ban hành, giải quyết khó khăn, vướng mắc của HTX nông nghiệp, tạo môi trường khởi nghiệp sản xuất, kinh doanh cho nhân dân. Xây dựng các cơ chế, chính sách, tác động nhằm hạn chế và loại bỏ các yếu tố gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động kinh doanh của HTX nông nghiệp. Đồng thời, phát huy tối đa các yếu tố tích cực đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh của HTX nông nghiệp.

Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chức vi phạm và không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, có thái độ ứng xử làm việc, ứng xử văn hóa khi tiếp xúc, làm việc trực tiếp với nhà đầu tư, doanh nhân.

Tiêu chí đánh giá: Bộ máy QLNN về HTX nông nghiệp được bố trí hợp lý, không chồng chéo; mọi vấn đề đều được giải quyết theo quy trình. Tinh thần, trách nhiệm trong xây dựng cơ chế, chính sách và triển khai thực hiện hỗ trợ HTX nông nghiệp phát triển. Tác động của các chính sách hỗ trợ đến sự phát triển các HTX.

1.2.2. Công tác tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển hợp tác xã nông nghiệp

Công tác xây dựng và hướng dẫn thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT – XH có ý nghĩa quan trọng, định hướng cho sự hình thành và phát triển của HTX nông nghiệp. Công tác xây dựng, ban hành phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về HTX là công cụ quản lý quan trọng trong xác định mục tiêu và định hướng phát triển của HTX nông nghiệp trong. Làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển HTX nông nghiệp là cơ sở, tiền đề tạo môi trường thuận lợi để định hướng, phát huy vai trò của HTX nông nghiệp trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Nó tác động trực tiếp đến sản xuất, giải quyết việc làm, giảm nghèo, nhất là phát triển KT – XH vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo.

Để quản lý hoạt động của HTX nông nghiệp Nhà nước cần phải xây dựng phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật đảm bảo sự phát triển của HTX nông nghiệp nằm trong tổng thể chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT – XH của đất nước và từng vùng miền cụ thể.

Đối với các địa phương, cần xây dựng kế hoạch phát triển HTX nông nghiệp phù hợp với đặc thù và các mô hình HTX nông nghiệp điển hình, nhằm khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh và đặc điểm văn hóa, xã hội của từng địa phương.

Để đưa các văn bản pháp luật về HTX thực sự đi vào thực tiễn và đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội thì việc tổ chức triển khai thực hiện các văn bản pháp luật này nhằm phát triển HTX nông nghiệp là rất cần thiết. Trên cơ sở các quy hoạch chung, quy hoạch phát triển ngành và vùng, các cơ quan QLNN ở địa phương cần phải cụ thể hóa các văn bản pháp luật của Trung ương và có lộ trình triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản này trong lĩnh vực HTX nông nghiệp. Phân công, giao nhiệm vụ cho các phòng, ban có liên quan để đưa các kế hoạch đi vào thực tiễn hoạt động của HTX và giám sát, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện. Đồng thời đánh giá kết quả triển khai thực hiện để kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện các kế hoạch, chính sách phát triển HTX nông nghiệp phù hợp với từng vùng, từng địa phương.

Để tạo hành lang pháp lý cho HTX nông nghiệp hoạt động đúng bản chất của nó vừa là một tổ chức kinh tế đặc thù vừa mang tính văn hóa và xã hội sâu sắc. Nhà nước cần xây dựng một kế hoạch tổng thể, thống nhất vừa kiện định hướng HTX nông nghiệp hoạt động, vừa tạo điều kiện QLNN hiểu hiệu. Đồng thời tổ chức thực hiện pháp luật có liên quan đến hoạt động của HTX nông nghiệp để bảo đảm rằng, nhà nước có công cụ quản lý các HTX nông nghiệp một cách hiệu quả.

Có thể thấy, khi và chỉ khi HTX nông nghiệp phát huy vai trò của mình đòi hỏi phải xây dựng và hướng dẫn thực hiện các chiến lược, kế hoạch phát triển HTX cần quan tâm các nội dung, đó là:

– Cần xem xét phát triển kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp là nội dung quan trọng trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT – XH từng giai đoạn phát triển đất nước. Điều này, cho thấy thể hiện quan điểm nhất quán, lâu dài trong phát triển HTX nông nghiệp của Đảng và Nhà nước Việt Nam. HTX nông nghiệp. Mặt khác, thể hiện vai trò quan trọng của HTX nông nghiệp trong phát triển KT – XH ở nước ta hiện nay.

– Cần có quy hoạch, kế hoạch phát triển HTX nông nghiệp trong tổng thể chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT – XH của đất nước.

– Đối với các địa phương, trên cơ sở điệu kiện đặc điểm KT – XH của mình cần có các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển từng loại hình, mô hình HTX nông nghiệp phù hợp, có như vậy mới khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh và đặc điểm văn hóa, xã hội của từng địa phương.

Tiêu chí đánh giá việc xây dựng, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển HTX nông nghiệp:

+ Xây dựng, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển HTX nông nghiệp trong tổng thể phát triển KT – XH của tỉnh

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển HTX nông nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của tỉnh

+ Thực hiện tốt mục tiêu xây dựng nông thôn mới và giải quyết hiệu quả các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn

1.2.3. Công tác ban hành, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật liên quan đến phát triển hợp tác xã nông nghiệp

Hợp tác xã nông nghiệp với tư cách là chủ thể hoạt động trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi cần có một thể chế thích ứng, đảm bảo các điều kiện hoạt động có hiệu quả. Ở tầm vĩ mô, thể chế và hiệu lực của thể chế có vai trò quan trọng và quyết định đến phát triển quốc gia. HTX nông nghiệp vừa là một tổ chức kinh tế đặc thù, vừa mang tính văn hóa xã hội sâu sắc. Dó đó, với tư cách là một chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường, HTX nông nghiệp chỉ được hình thành và phát triển cần có một thể chế pháp luật thích ứng phù hợp và thuận lợi, bao gồm luật HTX và các văn bản thi hành.

Trước hết, để HTX nông nghiệp có tư cách pháp nhân và phát triển có hiệu quả khi và chỉ khi có môi trường pháp lý minh bạch và thông thoáng. Vì vậy, Nhà nước cần phải ban hành xây dựng phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về HTX đảm bảo sự phát triển của HTX nông nghiệp nằm trong tổng thể chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT – XH của đất nước và từng vùng miền phù hợp với từng điều kiện phát triển.

Để tạo hành lang pháp lý cho HTX nông nghiệp hoạt động, nhà nước cần thiết thập thể chế để quản lý hoạt động của HTX nông nghiệp. Đồng thời tổ chức thực hiện pháp luật có liên quan đến hoạt động của HTX nông nghiệp để bảo đảm rằng, nhà nước có công cụ quản lý các HTX nông nghiệp một cách hiệu quả. HTX nông nghiệp vừa là một tổ chức kinh tế đặc thù vừa mang tính văn hóa và xã hội sâu sắc. Do vậy, HTX nông nghiệp chỉ được hình thành và phát triển khi có môi trường pháp lý phù hợp và thuận lợi.

Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường, HTX nông nghiệp cần một thể chế thích ứng, bao gồm các nội dung cơ bản sau:

– Pháp luật về địa vị pháp lý của HTX nông nghiệp sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là các hộ nông dân hợp tác kinh doanh và tương trợ lẫn nhau theo mô hình HTX [17, tr 53].

– Pháp luật về các quan hệ của HTX nông nghiệp, gồm: “quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về sử dụng lao động; quan hệ về hợp tác, liên kết kinh tế; quan hệ về thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước; quan hệ về việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội” [17, tr 53].

– Pháp luật về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong quản lý HTX nông nghiệp [17, tr 53].

Để các văn bản pháp luật về HTX thực sự đi vào đời sống xã hội thì việc tổ chức triển khai thực hiện các văn bản pháp luật này nhằm phát triển HTX nông nghiệp là rất cần thiết. Trên cơ sở các quy hoạch chung, quy hoạch phát triển ngành và vùng, các cơ quan QLNN ở địa phương cần phải xây dựng các văn bản pháp luật và lộ trình triển khai thực hiện các văn bản này trong khu vực HTX nông nghiệp. Phân công, giao nhiệm vụ cho các phòng ban, nhân sự có liên quan để đưa các chiến lược đi vào thực tiễn; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện. Đánh giá, tổng kết quả triển khai thực hiện để kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện các văn bản pháp luật phát triển HTX nông nghiệp phù hợp với từng vùng miền, địa phương.

Tạo lập môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch cho các HTX nông nghiệp tiếp cận được các các nguồn lực cần thiết của nhà nước thì việc tổ chức thực thi các chính sách ưu đãi, sự hỗ trợ của nhà nước là hết sức quan trọng. Các cơ quan QLNN tùy theo vị trí, chức năng của mình mà triển khai thực hiện kế hoạch, chính sách hỗ trợ HTX phát triển. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến những quy định của nhà nước về HTX nông nghiệp để mọi cá nhân được biết. Phân công các ban ngành có liên quan cùng phối hợp thực hiện để chính sách thực sự đi vào đời sống xã hội. Trong quá trình triển, khai tổ chức thực hiện các cơ chế, pháp luật nói trên, cần phải thường xuyên tổng kết, đánh giá kết quả điều hành, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan nhà nước trong việc triển khai, thực hiện đối với HTX và thành viên HTX được thụ hưởng các cơ chế, pháp luật của nhà nước.

– Tiêu chí đánh giá

+ Hiệu quả tổ chức triển khai các văn bản pháp luật.

+ Tính công khai, minh bạch của các văn bản pháp luật.

+ Các chính sách, quy định được ban hành đầy đủ, kịp thời.

+ Các văn bản hướng dẫn dễ hiểu, rõ ràng, đầy đủ.

+ Hiệu quả của việc tuyên truyền các chính sách, quy định, thủ tục QLNN đối với HTX nông nghiệp.

1.2.4. Ban hành và hướng dẫn thực hiện các chính sách đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã nông nghiệp

Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức yếu thế của các hộ nông dân, hơn nữa trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp – một ngành sản xuất có rất nhiều rủi ro, nên cần có sự hỗ trợ của nhà nước thông qua các chính sách và các công cụ quản lý vĩ mô” [17, tr53-54].

Nhà nước thực hiện thông qua các chủ trương, chính sách của chính phủ và các cơ quan QLNN nhằm tạo cho HTX nông nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh theo định hướng phát triển KT – XH của đất nước trong từng thời kỳ cụ thể, bằng cách tác động vào các yếu tố dịch vụ đầu vào như đầu tư cơ sở hạ tầng, tích tụ đất đai, vốn, lao động, ứng dụng khoa học công nghệ và các yếu tố dịch vụ đầu ra của sản phẩm như giá cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm…. Những chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với HTX nông nghiệp trước hết nhằm thu hút mục tiêu ngày càng nhiều lực lượng lao động, những hộ nông dân và các cơ sở sản xuất nhỏ tham gia HTX nông nghiệp. Thực hiện hỗ trợ các dịch vụ đầu vào và đầu ra của HTX nông nghiệp nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh và giúp đỡ các thành viên, góp phần phát triển KT – XH, giảm nghèo bền vững.

Mặt khác, HTX nông nghiệp phát triển không những có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, mà còn có ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa, xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội ở nông thôn. Do vậy, Nhà nước cần thực hiện các chính sách để phát triển HTX nông nghiệp như tăng cường công tác hỗ trợ tập thể khởi nghiệp, hỗ trợ đầu tư, sản xuất kinh doanh, tư vấn pháp lý, thị trường. Tổ chức các buổi gặp mặt, đối thoại để mở với các HTX dưới nhiều hình thức chuyên đề, giới thiệu thiệu, học hỏi các mô hình điểm HTX thiết thực, qua đó giải quyết những hạn chế, vướng mắc của HTX nông nghiệp và các thành viên.

Việt Nam thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng CNXH, nhà nước dựa vào hệ thống pháp luật và hệ thống chính sách để quản lý và điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế, giữa các ngành, lĩnh vực, giữa phát triển kinh tế và xã hội, bảo vệ môi trường… nhằm bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội. Vấn đề nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ đối với HTX nông nghiệp không làm ảnh hưởng đến sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, cũng như các doanh nghiệp. Nhà nước thực hiện các chính sách hỗ trợ cho HTX không ngoài mục đích nhằm bảo đảm địa vị pháp lý và điều kiện để HTX có thể thực sự bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của HTX nông nghiệp[17, tr 55, 56].

– Các chính sách của nhà nước hỗ trợ đối với HTX nông nghiệp cần nhằm vào các lĩnh vực: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường; ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới; tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp; tạo điều kiện tham gia các chương trình mục tiêu; thành lập mới HTX [17, tr 56].

– Với đặc thù hoạt động của mình, HTX nông nghiệp có nhiều rủi ro do thiên tai, lợi nhuận thấp, nhưng có vai trò to lớn. Do đó, ngoài chính sách hỗ trợ nêu trên, Nhà nước còn có chính sách ưu đãi đối với HTX nông nghiệp. Bao gồm: chính sách ưu đãi về tín dụng, hỗ trợ vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh và hỗ trợ chế biến sản phẩm… Để thực hiện các chính sách này có hiệu quả, các cơ quan QLNN cần phải ban hành các văn bản và hướng dẫn thực hiện chính sách giúp HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả. Dễ thấy, trong những năm qua, các cơ quan chuyên môn đã thực hiện công tác hướng dẫn về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX; về mức hỗ trợ và cơ chế tài chính hỗ trợ bồi dưỡng nguồn nhân lực của HTX, thành lập mới HTX, tổ chức lại hoạt động của HTX; hướng dẫn về đăng ký HTX và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của HTX theo Thông tư 03/2014/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch đầu tư; hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với HTX theo Thông tư 83/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính; hướng dẫn điều kiện và tiêu chí thụ hưởng hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đối với HTX nông nghiệp theo Thông tư số 15/2016/TT-BNNPHNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

– Tiêu chí đánh giá.

+ Thái độ làm việc của các cán bộ khi làm việc, hướng dẫn thực hiện chính sách.

+ Tính công khai, minh bạch của quy trình thực hiện kế hoạch, chính sách phát triển HTX.

1.2.5. Công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm của HTX nông nghiệp

Vấn đề giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm là một chức năng rất quan trọng trong hoạt động QLNN, nhờ đó phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, cũng như các chủ thể hoạt sản xuất, kinh doanh trong các hình thức, loại hình HTX nông nghiệp… Qua đó, áp dụng các biện pháp xử lý, khắc phục những thiếu sót nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN.

Đây là nội dung hoạt động quan trọng góp phần đánh giá hiệu quả HTX nông nghiệp, nội dung tập trung chủ yếu vào việc thanh tra việc chấp hành các quy định về góp vốn, thành lập, đăng ký, thay đổi nội dung đăng ký HTX, liên hiệp HTX. Thanh tra việc chấp hành các quy định về điều kiện trở thành thành viên HTX, liên hiệp HTX. Thanh tra việc chấp hành các quy định về chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể HTX, liên hiệp HTX. Thanh tra việc chấp hành các quy định khác của pháp luật về HTX, liên hiệp HTX.

Công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra là một khâu quan trọng của quá trình QLNN. Giám sát, kiểm tra, thanh tra một mặt giúp cho cơ quan QLNN đối với HTX nông nghiệp phát hiện kịp thời những sai phạm trong tổ chức và hoạt động của các HTX nông nghiệp. Mặt khác, đây cũng chính là kênh để cơ quan QLNN đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật, chính sách đối với HTX, qua đó có được những thông tin xác thực, từ đó hoàn thiện khung thể chế, chính sách phát triển kinh tế tập thể, HTX. Hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm của HTX nông nghiệp còn là công cụ tạo áp lực cho các tổ chức, cá nhân trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện các quy định của nhà nước về phát triển HTX nông nghiệp.

Giám sát hoạt động của HTX nông nghiệp là việc đánh giá hiệu quả, năng lực hoạt động của các HTX nông nghiệp trong việc tổ chức và hoạt động tuân thủ đúng pháp luật, và giám sát việc thực thi các chính sách ữu đãi, hỗ trợ của nhà nước về phát triển HTX nông nghiệp.

Kiểm tra, thanh tra hoạt động của HTX nông nghiệp là quá trình xem xét, đánh giá việc thực hiện các văn bản của cơ quan QLNN đối với HTX nông nghiệp trong phạm vi quản lý của mình. Hoạt động kiểm tra được tiến hành thường xuyên hoặc theo chuyên đề tùy thuộc vào cơ quan quản lý.

Như vậy, hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động của HTX nông nghiệp được thực hiện nhằm các mục đích:

Thứ nhất, công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra giúp các cơ quan QLNN có thông tin về tính hợp lý, tính khả thi của các quy định pháp luật và thông qua sự phản hồi từ thực tiễn là cơ sở để hoàn thiện thể chế QLNN đối với HTX nông nghiệp.

Thứ hai, thông qua giám sát kiểm tra, thanh tra để đánh giá về hiệu lực, hiệu quả của thể chế, cơ chế QLNN đối với HTX nông nghiệp.

Thứ ba, giúp phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật trong hoạt động của HTX nông nghiệp như: địa vị pháp lý, việc thực hiện các chính sách và hỗ trợ các HTX nông nghiệp; mối quan hệ của HTX nông nghiệp…

– Nội dung công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong hoạt động của HTX nông nghiệp đó là “việc thực hiện pháp luật trong tổ chức và hoạt động của HTX nông nghiệp; việc thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp và xử lý các vi phạm về đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động của HTX nông nghiệp”[17, tr 59].

– Tiêu chí đánh giá: kết quả thực hiện giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm lĩnh trong QLNN về HTX nông nghiệp; Tính thường xuyên và chặt chẽ của hệ thống, quy trình giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1.3.1. Nhóm nhân tố khách quan

a. Yêu cầu của phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại

Quản lý nhà nước đối với HTX nông nghiệp cần có cách tiếp cận từ yêu cầu quản lý một loại hình tổ chức kinh tế xã hội đặc thù trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Do đó, trong quá trình sản xuất, kinh doanh đòi hỏi các HTX phải nâng cao năng lực cạnh tranh mang tính quốc tế về hàng hóa và dịch vụ của mình cung ứng. Vì vậy, nhà nước cần phải định hướng lại mục tiêu của HTX nông nghiệp. Đồng thời, trong QLNN đối với HTX nông nghiệp, Nhà nước cũng cần tăng cường vai trò của mình trong xây dựng và bàn hành cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ cho các loại hình HTX nông nghiệp đủ tiềm lực, năng lực cạnh tranh. Nhờ đó, HTX thực hiện tốt chức năng của mình giúp kinh tế hộ thành viên vượt qua thách thức, hạn chế, yếu kém về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất nâng cao năng lực cạnh tranh một cách có hiệu quả. Đồng thời, giúp các hộ thành viên sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu tại chỗ, lao động, tiêu thụ sản phẩm và tiếp nhận những thông tin áp dụng vào sản xuất, góp phần giảm chi phí, tăng thu nhập cho thành viên và hộ nông dân.

b. Trách nhiệm của các HTX nông nghiệp

Xét về mặt KT – XH, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, đảm bảo cho hệ thống tồn tại và phát triển hiệu quả. Hiệu quả QLNN phụ thuộc vào hiệu quả của sự tác động vào đối tượng quản lý. Nhà nước thặc hiện chức năng, vai trò QLNN đối với HTX nông nghiệp, nhưng hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp luôn gắn liền với điều kiện cụ thể của từng loại hình HTX. Việc các HTX nông nghiệp chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật và luôn tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và Điều lệ HTX thì nó sẽ góp phần khẳng định hiệu quả QLNN đối với HTX nông nghiệp. Ngược lại, khi các HTX nông nghiệp thực hiện việc chấp hành các quy định của pháp luật và tuân thủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và Điều lệ HTX mang tính đối phó, hình thức thì hiệu quả QLNN đối với HTX nông nghiệp sẽ không đạt mục tiêu, dẫn đến quản lý kém. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với HTX nông nghiệp, Nhà nước phải xây dựng một cơ chế để duy trì và nâng cao trách nhiệm của HTX nông nghiệp, yêu cầu cho các loại hình HTX nông nghiệp chấp hành và tuân thủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và Điều lệ HTX theo quy định của pháp.

1.3.2. Nhóm nhân tố chủ quan

a. Năng lực xây dựng, thực hiện thể chế, chính sách của nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp

Năng lực QLNN đối với HTX nông nghiệp nó thể hiểu là năng lực của các cơ quan nhà nước hoàn thành các chức năng nhiệm vụ của mình. Năng lực xây dựng thể chế, chính sách được thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó nhấn mạnh đến năng lực xây dựng và thực hiện thành công thể chế chính sách đó là xây dựng hệ thống văn bản pháp luật, chính sách quy định nội dung, phương thức QLNN đối với HTX nông nghiệp. Quá trình này đồng thời gắn liền với việc tổ chức hợp lý bộ máy và bảo đảm hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước.

Từ góc độ khác, xây dựng khung thể chế, chính sách là sự cụ thể hoá đường lối, chính sách, kế hoạch, định hướng phát triển HTX nông nghiệp. Khi xây dựng đồng bộ khung thể chế, chính sách QLNN đối với HTX nông nghiệp có tác động trực tiếp đến sự phát triển lành mạnh của HTX nông nghiệp, bảo đảm sự vận động của các HTX nông nghiệp theo hướng chất lượng, hiệu quả. Cùng với năng lực xây dựng thể chế, chính sách, thì năng lực thực hiện thể chế, chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức cũng rất quan trọng, nghĩa là năng lực của đội ngũ làm công tác QLNN đối với HTX nông nghiệp. Cán bộ, công chức chính là chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng các chính sách, pháp luật liên quan đến phát triển HTX nông nghiệp, đồng thời là chủ thể hướng dẫn chính sách, pháp luật này trong thực tiễn. Khi Nhà nước có một hệ thống thể chế, chính sách đồng bộ, hợp lý và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý HTX nông nghiệp tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ sẽ đảm bảo hiệu quả quản lý, thúc đẩy sự phát triển HTX nông nghiệp đúng hướng, đúng mục tiêu. Ngược lại, hệ thống chính sách thiếu đồng bộ, nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn và năng lực quản lý yếu kém thì hiệu quả QLNN đối với HTX nông nghiệp sẽ bị hạn chế.

b. Phương thức, cách thức quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp

Phương thức quản lý là nhân tố tác động đến hiệu quả QLNN đối với HTX nông nghiệp trên nhiều phương diện. Việc lựa chọn phương thức quản lý là rất quan trọng, nó tác động đến tổ chức bộ máy, khung thể chế QLNN. Thực tế nước ta trước đổi mới (1986), các cơ quan QLNN bằng phương thức, cách thức dựa trên hệ thống chỉ tiêu, áp đặt từ trên xuống, can thiệp sâu vào hoạt động của các HTX nông nghiệp, với cách quản lý theo kiểu quyết định các vấn đề của sản xuất, kinh doanh, phục vụ của HTX nông nghiệp, thì tổ chức bộ máy sẽ cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, kém năng động, hiệu quả. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, các thức quản lý sẽ có sự khác biệt khi Nhà nước đổi mới phương thức quản lý các HTX nông nghiệp thông qua việc giảm tối đa các can thiệp quá sâu bằng mệnh lệnh hành chính, trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động hoạt động của các HTX. Thay vào đó, phương thức quản lý, điều hành gián tiếp, có tính định hướng và giám sát nhiều hơn, tập trung vào quản lý kinh tế vĩ mô bằng pháp luật và sử dụng biện pháp kinh tế là chủ yếu. Hoạch định chính sách, định hướng phát triển các loại hình HTX nông nghiệp bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước. Điều này, có thể đem đến những điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý hiệu quả hơn đối với HTX nông nghiệp.

1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở ĐẮK LẮK VÀ BÀI HỌC CHO TỈNH KON TUM

1.4.1. Kinh nghiệp quản lý nhà nước đối với các hợp tác của tỉnh Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk thực hiện QLNN đối với HTX nông nghiệp với nhiều nội dung, nhiệm vụ sau:

– Công tác quản lý và hỗ trợ từ cac cơ quan QLNN nhằm thúc đẩy HTX nông nghiêp phát triển:

+ Tỉnh chú trọng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền  địa phương, sự phối hợp của các sở, ban ngành, các tổ chức chính trị – xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng thúc đẩy kinh tế hợp tác, HTX phát triển.

+ Làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế tập thể, HTX, tạo môi trường tâm lý thuận lợi cho sự phát triển của loại hình kinh tế này; đồng thời khơi dậy nhu cầu hợp tác đa dạng trong nhân dân.

+ Không ngừng nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Liên minh HTX tỉnh. Bám sát chương trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh để đề ra chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ phát triển kinh tế hợp tác, HTX phù hợp trong từng giai đoạn.

+ Bản Chỉ đạo phát triển kinh tế HTX của tỉnh thực hiện tốt công tác phối hợp chặt chẽ với các sở, ban ngành, đoàn thể, mặt trận địa phương triển khai thực hiện hiệu quả các nhóm cơ chế chính sách của Trung ương và của tỉnh về đào tạo, thu hút nguồn nhân lực; đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật; nguồn vốn; ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển thị trường; chế độ cho đội ngũ quản lý HTX… để hỗ trợ các HTX phát triển.

+ Xác định đúng đắn nhu cầu và vai trò của thành viên trong việc tham gia HTX. Xây dựng HTX phải bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, chăm lo lợi ích của thành viên. Lấy lợi ích kinh tế xã hội của thành viên làm mục tiêu phấn đấu của HTX, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên với HTX.

– Sự chấp hành chính sách, pháp luật từ các chủ thể HTX nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động:

+ Thực hiện Quyết định 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển HTX giai đoạn 2015 – 2020 và Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐND, UBND tỉnh Quyết định 3521/QĐ-UBND năm 2016 về phát triển kinh tế tập thể tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016 – 2020. Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05 /7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và Quyết định số 710/QĐ-BNN-KTHT ngày 10/4/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc “Phê duyệt Kế hoạch Đổi mới, phát triển các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp”, UBND tỉnh Đắk Lắk Ban hành Quyết định 807/QĐ-UBND ngày 20/4/2018 về “Kế hoạch đổi mới, phát triển hình thức tổ chức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp gắn với thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp”. Theo đó, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tiến hành phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai rà soát, đánh giá thực trạng của các HTX nông nghiệp và phân loại theo nhóm để có giải pháp củng cố, phát triển phù hợp.

+ Triển khai Thông tư số 15/2016/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn điều kiện và tiêu chí thụ hưởng hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đối với HTX nông nghiệp; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Văn bản số 1136/SNN-PTNT ngày 13/7/2016 đề nghị UBND các huyện, thị xã, thành phố hướng dẫn các HTX nông nghiệp trên địa bàn đăng ký lại nhu cầu hỗ trợ theo Quyết định 2261/QĐ-TTg.

+ Chủ động nâng cao nhận thức về HTX kiểu mới và Luật HTX cho cán bộ cơ sở và thành viên thật. Thực hiện tốt các nguyên tắc HTX kiểu mới, tạo sự đồng thuận giữa thành viên với HTX, nghĩa vụ và quyền lợi giữa các thành viên với HTX ngày càng gắn kết với nhau.

+ Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và nâng cao trình độ quản lý, điều hành của ban quản trị HTX thông qua các hoạt động cụ thể của HTX.

Như vậy, những kinh nghiệm QLNN của tỉnh Đắk Lắk đối với HTX nói chung, HTX nông nghiệp nói riêng, cho thấy không những tác động đến việc nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động của HTX mà các thành viên còn chấp hành luật HTX. Nắm bắt, vận dụng các chính sách của Chính phủ trong quá trình hoạt động. Từ đó, các HTX xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi, phù hợp với năng lực. Chủ động tiếp cận các nguồn vốn kích cầu của Chính phủ và các nguồn vốn khác để đầu tư vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đến nay, toàn tỉnh có 321 HTX nông nghiệp, chiếm 60,11% trong tổng số HTX (tỉnh có 534 HTX và bốn liên hiệp HTX), với tổng giá trị tài sản hơn 239 tỷ đồng, doanh thu bình quân của mỗi HTX là hơn 2,5 tỷ đồng, lợi nhuận bình quân 130 triệu đồng. So với trước đây, các HTX nông nghiệp hiện nay đều đổi mới mô hình hoạt động, cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh.

1.4.2. Bài học rút ra trong quản lý nhà nước đối với HTX nông nghiệp của tỉnh Kon Tum

Từ những kinh nghiệm QLNN đối với HTX nông nghiệp đã được đúc kết từ thực tiễn của tỉnh Đắk Lắk, có thể rút ra bài học kinh nghiệm:

Công tác chỉ đạo, điều hành

– Sau khi có những chủ trương, chính sách của Chính phủ, Tỉnh ủy Kon Tum cần sớm ban hành chủ trương, định hướng phát triển kinh tế tập thể cho tỉnh. HĐND tỉnh thông qua nhiều chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển HTX nói chung, trong đó có HTX nông nghiệp; UBND tỉnh ban hành kế hoạch, đề án thực hiện các chủ trương trên.

– Ngoài ra, UBND tỉnh học hỏi những kinh nghiệm trong chỉ đạo các sở, ban ngành liên quan, UBND huyện tập trung nguồn lực để hỗ trợ phát triển kinh tế HTX. Trong đó, giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh làm đầu mối tổng hợp, tham mưu báo cáo UBND tỉnh.

– Đối với lĩnh vực HTX nông nghiệp; theo hướng dẫn của Chính phủ, các bộ ngành ở Trung ương về các chính sách hỗ trợ, UBND tỉnh sớm triển khai, chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện.

Công tác tham mưu, triển khai thực hiện các kế hoạch, chính sách

UBND tỉnh Kon Tum tiếp tục chỉ đạo các sở, ban ngành, các địa phương đẩy mạnh thực hiện kế hoạch đổi mới các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp. Trong đó tập trung rà soát, đánh giá lại các HTX nông nghiệp; xây dựng phương án củng cố, hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thể các HTX nông nghiệp phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.

Ngoài ra, UBND tỉnh chỉ chỉ đạo các cơ quan chuyên môn với chức năng nhiệm vụ được giao, tham mưu nhiều văn bản cho UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương đôn đốc thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến hoạt động HTX nông nghiệp. Từng bước hướng dẫn, hỗ trợ các HTX hoạt động theo Luật HTX 2012, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy các HTX nông nghiệp phát triển. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các HTX nông nghiệp để kịp thời chấn chỉnh các sai sót.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, luận văn đưa ra những cơ sở lý luận về HTX nông nghiệp, một số khái niệm cơ bản, đặc điểm về QLNN đối với HTX nông nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra những kinh nghiệm QLNN đối với các HTX nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk là địa phương có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, cũng như điều kiện tự nhiên, KT – XH tương đồng với tỉnh Kon Tum và rút ra kinh nghiệm QLNN đối với các HTX nông nghiệp của tỉnh Kon Tum trong thời gian qua để làm cơ sở đề xuất các giải pháp về QLNN đối với HTX nông nghiệp ở tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH KON TUM

2.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA TỈNH KON TUM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

2.1.1. Điều kiện tự nhiên (Hình 2.1 – phụ lục bản đồ hành chính)

a. Vị trí địa lý

Kon Tum là một tỉnh miền núi vùng cao, nằm phía cực bắc Tây Nguyên, trong tọa độ địa lý kéo dài từ 107020’15” đến 108032’30” kinh độ đông; từ 13055’10” đến 15027’15” vĩ độ bắc và độ cao trung bình từ 550-716 m so với mặt nước biển. Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.676,55 km2. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam: có chiều dài ranh giới 142 km; Phía Nam giáp tỉnh Gia Lai: có chiều dài ranh giới 203 km; Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi: có chiều dài ranh giới 74 km; Phía Tây giáp hai nước Lào và Campuchia: có chung đường biên giới dài 275 km và một ngã ba biên giới Đông Dương tiếp giáp tại cửa khẩu Quốc tế Bờ Y. Kon Tum là một địa bàn chiến lược quan trọng của Việt Nam về an ninh – quốc phòng, có lợi thế phát triển kinh tế hàng hóa nông nghiệp, lâm nghiệp, đáp ứng yêu cầu thị trường cho công nghiệp chế biến [32].

b. Đặc điểm địa hình – địa chất

Địa hình Kon Tum phần lớn nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, có độ dốc từ phía bắc và thấp dần từ bắc xuống nam, từ đông sang tây. Địa hình có thể khái quát thành 3 dạng chính, cụ thể: địa hình đồi núi chiếm khoảng 40,4% diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 trở lên, phân bố chủ yếu ở phía bắc tây bắc chạy sang phía đông tỉnh Kon Tum; tập trung chủ yếu ở huyện Sa Thầy, xen giữa vùng đồi là dãy núi Chưmoray. Các núi như núi Ngọc Linh cao 2.598 m, Ngọc Kring cao 2.066 m – nơi thượng nguồn hình thành nhiều con sông chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng có sông Thu Bồn và sông Vu Gia; chảy về Quảng Ngãi có sông Trà Khúc. Địa hình thung lũng, chiếm khoảng 17,3% diện tích toàn tỉnh, nằm dọc theo sông Pô Kô và sông Đăk Bla, tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối và có dạng lòng máng thấp dần về phía nam, vùng Thành phố Kon Tum có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc từ 50 – 70, thích hợp cho phát triển đô thị và sản xuất nông nghiệp. Địa hình cao nguyên, chiếm khoảng 42,3% diện tích toàn tỉnh, nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh tạo thành cao nguyên Konplong, đây là cao nguyên nhỏ, phát triển theo hướng tây bắc – đông nam, có độ cao 1.100 – 1.300 m [32].

c. Đặc điểm tài nguyên

– Thổ nhưỡng tỉnh Kon Tum có tổng diện tích là 967.655 ha, trong đó: diện tích đất dùng vào nông nghiệp 106.686 ha, chiếm 11,02%; diện tích đất lâm nghiệp 651.635 ha, chiếm 67,34%; đất chuyên dùng 17.179 ha, chiếm 1,77%; đất khu dân cư 5.078 ha, chiếm 0,52%; đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 397 ha, chiếm 0,04%; đất chưa sử dụng 186.680 ha, chiếm 19,29%. Như vậy, từ số liệu đất dùng vào lâm nghiệp chiếm 67,34%, cho thấy: kinh tế lâm nghiệp và phát triển lâm nghiệp là thế mạnh chủ lực gắn trực tiếp với nông dân. Nhưng điều đáng quan tâm, tài nguyên rừng đã và đang chịu sức ép nghiêm trọng bởi các tác nhân do lâm tặc, do vô ý làm cháy rừng, đốt rừng làm nương rẫy, làm cho tài nguyên đất, nước, khí hậu mất cân bằng, môi trường sinh thái bị biến đổi, gây ảnh hưởng đến đời sống KT – XH.

– Rừng tỉnh Kon Tum còn khoảng 651.635 ha, trong đó: rừng sản xuất là 378.984 ha, chiếm 58,16%; rừng phòng hộ là 194.429 ha, chiếm 29,84%; rừng đặc dụng là 78.222 ha, chiếm 12,00%. Tài nguyên rừng, theo kết quả điều tra bước đầu thực vật có khoảng 300 loài, thuộc 180 chi và 75 họ thực vật có hoa. Cây hạt trần có 12 loài, 5 chi, 4 họ; cây hạt kín 305 loài, 175 chi, 71 họ. Nhìn chung thảm thực vật rất đa dạng, thể hiện nhiều loại rừng trong nền sinh cảnh khí hậu nhiệt đới gió mùa; rừng có 3 đai cao thấp khác nhau: 600 m trở xuống; 600 – 1.600 m và trên 1.600 m . Ngoài những tiềm năng về rừng và động thực vật, còn có các loại khoáng sản như: sắt, crôm, vàng, bôxit; nguyên liệu chịu lửa; đá quý có rubi, saphia; kim loại phóng xạ, đất hiếm [32].

– Tài nguyên nước chủ yếu là hệ thống sông Sê San, có hai nhánh lớn hợp thành là nhánh Pô Kô dài 121 km bắt nguồn từ phía nam núi Ngọc Linh và Đăkbla dài 144 km bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Krinh. Sông Sa Thầy bắt nguồn từ vùng núi Cơ Lung Cơ Luy ở độ cao 1.511m, có chiều dài 91 km; sông chảy theo hướng bắc nam và đổ vào dòng chính Sê San gần biên giới giữa Việt Nam và Campuchia.

Hệ thống sông Kon Tum được đánh giá là nguồn cung cấp lượng nước lớn cho nhiều công trình như: thuỷ lợi Thạch Nham và nguồn thuỷ năng lớn thứ 3 trong cả nước (sau sông Đà, sông Đồng Nai), có trữ lượng thuỷ năng khoảng 2.700 MW. Ngoài thuỷ điện Yaly, Plei Krông đang hoà điện quốc gia, còn có các công trình đã, đang xây dựng như: thuỷ điện Thượng Kon Tum, Sê San 3, Sê San 3A, Sên San 4, Sê San 4A với tổng công suất 1.740 MW và tương lai xây dựng 49 công trình có công suất từ 01MW đến 70 MW Nguồn nước ngầm có trữ lượng là 3.135.254 m3/ngày, đáp ứng nhu cầu khai thác sử dụng cho nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư. Ngoài ra, ở huyện Đăk Tô và Kon Plông phát hiện 9 điểm nước khoáng nóng có giá trị khai thác, sử dụng làm nước giải khát và chữa bệnh. Có thể nói, chất lượng nước, thế năng… của nguồn nước ngầm và nước mặt rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi vừa và nhỏ phục vụ cho yêu cầu phát triển KT – HX của tỉnh. [32].

d. Đặc điểm khí hậu

Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Cao Nguyên, nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220-23,50C, biên độ dao động trong ngày 80-90C. Nhìn chung Kon Tum đều có tính bốn mùa, nhưng tính chất hai mùa rõ rệt hơn là mùa mưa và mùa khô; mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Hàng năm lượng mưa trung bình khoảng 2.121 mm, lượng mưa cao nhất trong năm là tháng 8. Mùa khô, gió chủ yếu theo hướng đông bắc, mùa mưa gió chủ yếu theo hướng tây nam. Độ ẩm trung bình hàng năm dao động khoảng 78-87% [12].

2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội

a. Dân số và chất lượng nguồn nhân lực

Hiện nay, tỉnh gồm có 10 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm Thành phố Kon Tum và 9 huyện: Đăk Hà, Đăk Tô, Ngọc Hồi, ĐăkGlei, Sa Thầy, Kon Rẫy, KonPlong, Tu Mơ Rông và Ia H’Drai, với tổng thể có 102 xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã), trong đó có 10 xã biên giới giáp Lào và Campuchia. Dân số Kon Tum tính đến năm 2019 là 540.438 người, trong đó đồng bào dân tộc ít người, chiếm 53,63%­ [6]. Toàn tỉnh có 28 dân tộc anh em cùng sinh sống; trong đó, có 7 dân tộc tại chỗ lâu đời, đó là Ba Na, Brâu, Sê Đăng, Rờmâm, Jarai, Jẻ Triêng và HRê.

Cơ cấu nhân lực của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng nhanh tỷ lệ lao động làm việc trong ngành công nghiệp và dịch vụ từ 23,49% năm 2006 lên 30,67% năm 2010 và tăng lên 40,5% năm 2015; và giảm lao động làm việc trong ngành nông nghiệp từ 76,58% năm 2006 xuống 69,33% năm 2010 và giảm còn 59,5% năm 2015. Chất lượng nhân lực của tỉnh đang được cải thiện và tăng dần trình độ chuyên môn – kỹ thuật, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 33,5% năm 2010, tăng lên 42% năm 2015 và đến năm 2020 là 52%. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng. Hoạt động sáng kiến và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có bước phát triển. Các đề tài nghiên cứu khoa học, mô hình sản xuất tiên tiến được ứng dụng và nhân rộng [44].

b. Tình hình phát triển kinh tế – xã hội

– Về cơ sở hạ tầng KT – XH: Hệ thống giao thông gồm có quốc lộ 14 C, đường Hồ Chí Minh chạy từ phía tây tỉnh Quảng Nam qua các huyện lỵ của tỉnh Kon Tum nối với quốc lộ 19 ở tỉnh Gia Lai; quốc lộ 24 nối Kon Tum với tỉnh Quảng Ngãi; quốc lộ 40 ở thị trấn Plei Kần huyện Ngọc Hồi nối với tỉnh Rattanakiri (Campuchia) và tỉnh Atôpư (Lào) tạo thành cửa khẩu Bờ Y giữa 3 nước Việt Nam, Campuchia và Lào. Trong tương lai cửa khẩu Bờ Y trở thành trung tâm giao dịch thương mại lớn nhất giữa 3 nước Đông dương. Tỉnh lộ 672 và 673 đã nâng cấp; tỉnh lộ 669, 676,677, 678 … đang được nâng cấp. Hiện nay, 100% xã có hệ thống đường liên xã và giao thông nông thôn cơ bản lưu thông thuận lợi, thông suốt hai mùa. Các công trình thủy lợi được thực hiện thường xuyên, đảm bảo cấp nước và an toàn hồ chứa; điện lưới đã đến 98,66% thôn, tổ dân phố và trên 98,68% số hộ được sử dụng điện; trên 86% hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; hệ thống trường lớp, thiết bị dạy và học được chuẩn hóa, cơ bản đáp ứng yêu cầu [44].

– Công nghiệp xây dựng: tỉnh Kon Tum đã đang tiến hành đầu tư các hạ tầng thiết yếu của các khu, cụm công nghiệp Hòa Bình, Sao Mai, Đăk La; đang xúc tiến đầu tư khu đô thị mới phía nam cầu Đăk Bla.

– Thương mại, dịch vụ hàng hóa: thương mại đã hình thành phát triển nhiều trung tâm thương mại lớn như khu thương mại Thành phố Kon Tum, trung tâm thương mại Duy Tân, siêu thị Co.opmart, siêu thị Vinmart, siêu thị Điện máy dịch vụ Công nghiệp và Nội thất, ngoài ra còn có các trung tâm thương mại ở thị trấn các huyện trong Tỉnh.

– Hệ thống giáo dục và đào tạo: toàn tỉnh có 480 trường, bao gồm: trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung tâm học tập cộng đồng. Ngoài ra, tỉnh có trường Cao đẳng cộng đồng và Phân hiệu Đại học Đà Nẵng. Trước yêu cầu phát triển mới về KT – XH của tỉnh hiện nay, các trường dạy nghề cần phải đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ (thầy) có chuyên môn thì mới đáp ứng được quy mô đào tạo nguồn nhân lực đa ngành, đa nghề của tỉnh [44].

– Hệ thống y tế cơ sở: Bệnh viện Đa khoa tỉnh và các bệnh viện tuyến tỉnh được đầu tư mở rộng, trang thiết bị hiện đại, các trung tâm y tế huyện và y tế tuyến xã được quan tâm đầu tư đảm bảo yêu cầu khám chữa bệnh cho Nhân dân ngay tại tuyến xã [44].

– Phát thanh, truyền hình, các công trình văn hóa, phúc lợi xã hội đã được đầu tư xây dựng tại trung tâm xã. Hạ tầng công nghệ thông tin phát triển nhanh, mạng lưới thông tin phủ sóng rộng khắp; thiết chế văn hóa, công trình thể thao và các công trình phúc lợi xã hội được quan tâm đầu tư từ ngân sách và xã hội hóa đầu tư.

Tuy nhiên, ở các xã vùng sâu, vùng xa biên giới kết cấu hạ tầng KT – XH vừa yếu, vừa thiếu đồng bộ, kỹ thuật thấp kém đã tác động không nhỏ đến đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Họ ít có cơ hội giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng để học hỏi kinh nghiệm và chưa tiếp cận đầy đủ các thông tin, điều kiện sản xuất, các dịch vụ y tế, giáo dục, đào tạo nghề.

– Tiềm lực kinh tế – xã hội

Kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ phát triển khá, các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực bước đầu được hình thành. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 13,94%, giá trị tổng sản phẩm tăng gần gấp đôi so với đầu nhiệm kỳ. Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng các ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 24,32% (năm 2010) lên 27,17% (năm 2015), thương mại-dịch vụ tăng từ 34,44% (năm 2010) lên 38,11% (năm 2015). Thu ngân sách nhà nước tại địa bàn liên tục tăng qua các năm và đến năm 2015 đạt 2.134 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 289 USD năm 2005 lên 718 USD năm 2010 và lên 1.555 USD năm 2015 [44].

– Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được tăng cường về đội ngũ y, bác sĩ; tổng số cán bộ y tế xã bình quân có hơn 5 cán bộ/trạm; 60,4% số xã có cán bộ làm công tác dược, 100% số xã có y sỹ, bác sỹ và có nữ hộ sinh. Các trang thiết bị dược được hỗ trợ đến các trạm y tế xã. Công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình được duy trì, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 2,1%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2015 giảm còn 28,3%, giảm 8,9% so với (năm 2010 là 33,2%).

– Ngành giáo dục tiếp tục phát triển và đạt nhiều kết quả, tỷ lệ học sinh huy động đến lớp đạt cao; chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên, duy trì tốt kết quả xoá mù chữ, đến nay toàn tỉnh có 102/102 xã, phường, thị trấn và 10/10 huyện, thành phố tiếp tục duy trì đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 1. Tính đến hết năm 2016, tỷ lệ người biết chữ mức độ 2 các độ tuổi từ 15 đến 25 đạt 98,53%; từ 15 đến 35 đạt 95,93%. Công tác đào tạo nghề được triển khai tích cực, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chung từ 33% lên 42%. Đã tích cực tạo việc làm cho lao động nông thôn và sinh viên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp [44]. Tuy nhiên, đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh còn quá mỏng, thiếu cơ sở để chủ động đào tạo trung học, cao đẳng và đại học đa ngành nghề để đáp ứng yêu cầu phát triển KT – XH. Hiện nay, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học chủ yếu thông qua liên kết với các trường đại học ngoài tỉnh. Quy mô đào tạo còn chắp vá trong tình trạng một số ngành nghề vừa thừa, vừa thiếu; một số ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu thị trường lao động, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT – XH của tỉnh. Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh thấp, năng lực ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế là nguyên nhân trực tiếp làm ảnh hưởng đến khả năng huy động các nguồn vốn, lao động, năng lực hợp tác trong các ngành, lĩnh vực của HTX nông nghiệp hiện nay.

2.1.3. Tình hình phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QLNN về HTX

Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *