Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum

Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum

Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng”. Đất đai là tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, không thể thay thế được và di chuyển chủ quan theo ý chí của con người. Chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng tài nguyên quý giá này một cách hợp lý không những có ý nghĩa quyết định đến sự pháttriển kinh tế của đất nước mà còn đảm bảo cho mục tiêu chính trị và phát triển xã hội. Đất đai là yếu tố không thể thiếu đối với bất cứ một quốc gia nào. Song song với những tiến bộ của nền khoa học, kỹ thuật, kinh tế, chính trị……Khi xã hội càng phát triển thì giá đất càng cao và luôn giữ được vị trí quan trọng như Mác đã khẳng định: “Lao động là cha, đất đai là mẹ sinh ra của cải vật chất”. Do đó, việc quản lý nhà nước về đất đai luôn là mục tiêu quốc gia của mọi thời đại nhằm nắm chắc và quản lý chặt chẽ quỹ đất đảm bảo việc sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả.

Xã hội càng phát triển, dân số ngày càng tăng, tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và biến đổi khí hậu ngày một phức tạp theo chiều hướng xấu do đó đòi hỏi công tác quản lý và sử dụng đất càng phải có hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên không thể tái tạo này. QLNN về đất đai ngày càng trở nên cần thiết và là nhiệm vụ quan trọng trong công tác QLNN.

Huyện Kon Rẫy là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Kon Tum. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, huyện Kon Rẫy cũng chuyển mình phát triển do đó nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, mở rộng đô thị ngày càng lớn đồng thời với sự phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi công tác QLNN về đất đai trên địa bàn phải theo kịp và làm động lực cho sự phát triển của kinh tế xã hội của huyện.

Nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên đất, góp phần vào công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội cần thiết phải tìm hiểu, đánh giá chi tiết công tác QLNN về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy để công tác quản lý và sử dụng đất đai ngày càng hoàn thiện, đi vào chiều sâu, chuyển dịch cơ cấu một cách bền vững, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum”.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm hoàn

thiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai tại địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh

Quảng Nam.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa các cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về đất đai.

– Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

– Giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai nhằm mục tiêu quy hoạch, sử dụng đất bền vững tại địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Quản lý Nhà nước về đất đai có nội dung rất rộng, theo quy định tại Điều 22, Luật Đất đai 2013 có 15 nội dung về quản lý và sử dụng đất. Tuy nhiên luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu về 3 hoạt động quản lý cụ thể là: Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất; đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ đó, có thể xác định rõ phương hướng và có những giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

+ Về thời gian: đề tài nghiên cứu công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum số liệu từ năm 2016 đến năm 2019.

+ Về không gian: Hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn

huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu về: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Kon Rẫy. Tìm hiểu các văn bản pháp luật như: Luật, Nghị định, Thông tư… về quản lý Nhà nước về đất đai trong các lĩnh vực trên do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Các báo cáo tổng hợp về đất đai của Phòng Tài Nguyên – Môi trường huyện Kon Rẫy từ năm 2015 đến năm 2019.

+ Phương pháp phân tích số liệu: Phương pháp này dùng để thể hiện số liệu qua hệ thống bảng biểu và phân tích số liệu.

+ Phương pháp thống kê, so sánh: Xử lý số liệu thu thập bằng phương pháp thống kê, so sánh và sử dụng phần mềm Excel. Trong công tác quản lý đất đai các cơ quan quản lý sử dụng phương pháp thống kê để nắm được tình hình số lượng cũng như chất lượng đất đai, việc nắm bắt đầy đủ các thông tin về đất đai cho phép các cơ quan có kế hoạch đúng đắn về quản lý đất đai.

+ Phương pháp kế thừa: Ngoài những phương pháp nêu trên, tác giả còn kế thừa, tham khảo những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý Nhà nước về đất đai.

5. Ý nghĩa khoa học của đề tài

– Về mặt lý luận: Luận văn cung cấp cơ sở lý luận chung nhất về quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể trên địa bàn cấp huyện với các nội dung như khái niệm, vai trò, đặc điểm, nguyên tắc, sự cần thiết của quản lý nhà nước về đất đai; nội dung của quản lý nhà nước về đất đai; công cụ, nguyên tắc về quản lý nhà nước về đất đai.

– Về mặt thực tiễn: Sau khi luận văn hoàn thành có thể cung cấp cho Ban quản lý của UBND huyện Kon Rẫy, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kon Rẫy cũng như các cơ quan chuyên môn có liên quan đến công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum cái nhìn chung nhất, cụ thể nhất về thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum và các giải pháp khả thi mà các cơ quan, ban ngành có thẩm quyền có thể áp dụng vào thực tiễn để hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.

6. Sơ lược tài liệu nghiên cứu chính sử dụng trong nghiên cứu

7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

9. Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau:

– Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đất đai

– Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum

– Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum
Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum

CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ

NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

1.1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

1.1.1. Một số khái niệm

a. Khái niệm đất đai

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 14/2012/TT-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường:

“Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người”.

Đất đai được hình thành do tạo hóa, là vật tặng tự nhiên dành cho con người. Từ hàng triệu năm qua, đất đai đã được coi là tài nguyên vô cùng quý giá. Đất đai là “giang sơn gấm vóc” của mỗi quốc gia, là điều kiện để tồn tại, phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, “đất đai nhốm máu cha ông” và mỗi “tấc đất” trở thành “tấc vàng”, vô cùng thiêng liêng, khó lấy thước đo nào định giá được.

Ngày nay dưới tác động của con người, xét trong góc độ kinh tế thị trường, đất đai trở thành hàng hóa đặc biệt. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Trong nông nghiệp, đất đai là chỗ tựa, chỗ đứng, là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng. Trong công nghiệp, đất đai là nền tảng, làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh…Đúng như William Petty đã nói “lao động là cha của của cải vật chất còn đất đai là mẹ”.

Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.”[7, tr. 11]

“Đất đai là một trong những của cải quý nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của động vật, thực vật và con người trên trái đất”. Đây là lời khẳng định trong Hội nghị Bộ trưởng các nước Châu Âu họp tại Luân Đôn năm 1973. Lời khẳng định này phần nào đã nói lên được vai trò, vị trí của đất đai đối với loài người và sinh vật sống trên trái đất. Đất là một tài sản của tự nhiên ban tặng loài người. Bằng sự sáng tạo và trí thông minh của mình, con người đã biết đón nhận đất đai và khai thác nguồn lợi mà thiên nhiên đã ban tặng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng của con người.

Như vậy, đất đai là tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất.

b. Vai trò của đất đai

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia, đóng vai trò quan trọng và cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất.

c. Quản lý Nhà nước về đất đai

Đất đai luôn là một trong những lĩnh vực quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Chính vì vậy việc quản lý Nhà nước về đất đai trở thành vấn đề sống còn của mỗi dân tộc.

Quản lý Nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước về đất đai; đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất; trong việc phân phối và phân phối lại vốn đất đai theo quy hoạch; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 22 Luật đất đai 2013, nội dung quản lý Nhà nước về đất đai gồm:

1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.

2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.

3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.

4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích

sử dụng đất.

6. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.

7. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

8. Thống kê, kiểm kê đất đai.

9. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.

10. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.

11. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

12. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

13. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.

14. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.

15. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.

1.1.2. Vai trò của quản lý Nhà nước về đất đai

Đất đai được Nhà nước thống nhất quản lý nhằm:

Đảm bảo việc sử dụng đất đai tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả. Đất được sử dụng để phục vụ hoạt động sống của con người, tuy hạn chế về mặt diện tích nhưng sẽ trở thành năng lực sản xuất vô hạn nếu biết sử dụng hợp lý. Nhà nước thông qua chiến lược, chủ trương đã được ban hành xây dựng kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất nhằm điều tiết các hoạt động liên quan đến việc quản lý và sử dụng tài nguyên này đúng mục đích, hợp lý và hiệu quả.

Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất, nhà nước nắm được cơ cấu từng loại và quỹ đất tổng thể. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp cụ thể để sử dụng đất có hiệu quả. Ngoài ra, việc ban hành các chính sách, các quy định về đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng, đảm bảo lợi ích chính đáng cho người sử dụng và lợi ích của nhà nước trong việc quản lý đất đai.

Thông qua việc kiểm tra, giám sát, nhà nước nắm bắt được tình hình biến động trong việc sử dụng từng loại đất phát hiện những mặt tích cực trong công tác quản lý, điều chỉnh và giải quyết kịp thời các sai phạm. Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước về đất đai là nhân tố quan trọng giúp Nhà nước ban hành các chính sách, quy định, thể chế, bổ sung và điều chỉnh những chính sách còn chưa phù hợp, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống.

Như vậy, quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam là nhu cầu khách quan, là công cụ bảo vệ và điều tiết các lợi ích gắn liền với đất, và quan trọng nhất là bảo vệ chế độ sở hữu về đất đai. Nhiệm vụ này cần được đổi mới một cách cụ thể và phù hợp để đáp ứng các yêu cầu quản lý và tương xứng với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.

1.1.3. Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai

Trong quản lý Nhà nước về đất đai cần chú ý các nguyên tắc sau:

a. Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước

Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Do đó, không có cá nhân hay tổ chức nào được phép chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được. Chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân là Nhà nước mới có toàn quyền trong việc quyết định tình trạng pháp lý của đất đai. Qua đó, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Vấn đề này được quy định tại Điều 53, Hiến pháp 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.[7, tr. 11]

b. Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người sử dụng

Đất đai phản ánh mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân, tập thể, cộng đồng xã hội. Đây là yếu tố quan trọng trong sản xuất, vậy nên, trước hết phải đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất.

Mặt khác, đất đai là tài nguyên quốc gia nên phải được đảm bảo lợi ích chung của xã hội. Kết hợp hài hòa 03 lợi ích trên có nghĩa là phải chú ý phát huy đồng thời cả ba lợi ích, không để lợi ích này lấn át hay triệt tiêu lợi ích khác.

Việc đảm bảo hài hòa 03 lợi ích được thực hiện thông qua quy hoạch hoặc các quy định tài chính về đất đai. Cùng các chính sách về quyền, nghĩa vụ của nhà nước và người sử dụng đất.

Theo Điều 158 Luật dân sự năm 2015 thì “quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai”.[1, tr. 40] Theo Điều 189 Luật Dân sự năm 2015 thì “quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất đai. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.”[1, tr. 46]

Điều 4 Luật Đất đai 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”[9, tr. 4] Như vậy, chỉ có Nhà nước mới có quyền sở hữu đất đai và Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Đồng thời, Nhà nước thu thuế, thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ… từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai. Để phát huy vai trò của đất đai Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước.

Vấn đề này được thể hiện ở Điều 3, Luật Đất đai 2013:

7. Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.

8. Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.

9. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định.[9, tr. 2]

c. Tiết kiệm và hiệu quả

Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế. Thực chất quản lý đất đai cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên cũng phải tuân theo nguyên tắc này. Tiết kiệm là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả. Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng việc: Xây dựng tốt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tính toán và lựa chọn các dự án có tính khả thi cao; Quản lý và giám sát tốt việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giúp cho đất đai được sử dụng một cách tiết kiệm mà vẫn đạt hiệu quả cao. Có như vậy, quản lý Nhà nước về đất đai mới phục vụ tốt cho chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

1.2.1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó

Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai chính là tạo ra một hành lang pháp lý để cho các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai và những người sử dụng đất thực hiện. Luật quy định những nguyên tắc lớn, những chính sách quan trọng và giao Chính phủ, Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định những chính sách cụ thể phù hợp với từng vùng, từng địa phương.

UBND cấp huyện ban hành các văn bản về quản lý, sử dụng đất theo thẩm quyền như quyết định về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trên địa bàn…..

Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai là việc đưa những văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai áp dụng vào thực tiễn.

Tiêu chí đánh giá

– Số văn bản đã ban hành.

– Số buổi tuyên truyền.

– Tính đa dạng, phù hợp của hình thức, nội dung tuyên truyền.

1.2.2. Triển khai công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính

Công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính là hệ thống các công tác kỹ

thuật và nghiệp vụ liên quan đến việc xác định giá trị thực sự của một mảnh đất. Công tác này gồm công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; Công tác khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất; Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Địa giới hành chính là ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo địa danh và một số yếu tố chính về tự nhiên, kinh tế, xã hội. Địa giới hành chính được xác định bằng các mốc giới cụ thể thể hiện toạ độ vị trí đó.

Theo quy định tại Điều 29 Luật đất đai 2013:

1. Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính các cấp.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế – kỹ thuật trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp.

2. Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên thực địa và lập hồ sơ về địa giới hành chính trong phạm vi địa phương.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý mốc địa giới hành chính trên thực địa tại địa phương; trường hợp mốc địa giới hành chính bị mất, xê dịch hoặc hư hỏng phải kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện).

3. Hồ sơ địa giới hành chính bao gồm tài liệu dạng giấy, dạng số thể hiện thông tin về việc thành lập, điều chỉnh đơn vị hành chính và các mốc địa giới, đường địa giới của đơn vị hành chính đó.

Hồ sơ địa giới hành chính cấp dưới do Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp xác nhận; hồ sơ địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Bộ Nội vụ xác nhận.

Hồ sơ địa giới hành chính cấp nào được lưu trữ tại Ủy ban nhân dân cấp đó và Ủy ban nhân dân cấp trên, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường.[9, tr. 13-14]

Việc xác định, lập và quản lý các mốc địa giới hành chính hết sức quan trọng, nó góp phần giữ ổn định biên giới giữa các đơn vị hành chính, đảm bảo cho công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện nhanh chóng. Trong quản lý hành chính nhà nước, nếu Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện tốt nội dung này sẽ tránh được tình trạng tranh chấp địa giới hành chính giữa các bên có liên quan.

Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất là biện pháp đầu tiên trong quản lý Nhà nước nhằm nắm chắc chất lượng và số lượng đất đai, thông qua việc đánh giá đất để nhận biết khả năng sinh lợi của từng thửa đất. Thực hiện tốt những nội dung này sẽ tạo cơ sở cho việc quản lý đất, phân bố đất vào nhu cầu sử dụng của xã hội và có căn cứ để theo dõi biến động đất đai, giải quyết các tranh chấp, tố cáo và khiếu nại liên quan đến đất đai.

Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định:

15. Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối

với một thửa đất vào hồ sơ địa chính.

16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.[9, tr. 2-3]

Đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là một biện pháp quan trọng để xác định quyền sử dụng đất, quản lý biến động về đất đai.

Tiêu chí đánh giá

– Số lượng xã được hoàn thành đo đạc.

– Số lượng lần đo đạc, khảo sát được thực hiện.

– Sự phù hợp và kịp thời của công tác lập bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch sử dụng đất.

– Diện tích đất được đo đạc.

– Số lượng Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất được cấp.

1.2.3. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định:

2. Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế – xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.

3. Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất

theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất.[9, tr. 1-2]

Thực hiện Luật Đất đai năm 2013, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập định kỳ 10 năm 1 lần, riêng kế hoạch sử dụng đất được lập hàng năm.

Quy hoạch đất đai đảm bảo cho việc sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất phù hợp với các điều kiện về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và từng ngành sản xuất. Kế hoạch hoá đất đai chính là việc xác định các biện pháp, các thời gian để sử dụng đất theo quy hoạch.

Quy hoạch sử dụng đất chi tiết là quy hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với từng thửa đất. Trong quá trình lập quy hoạch sử đụng đất chi tiết, cơ quan tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Kế hoạch sử dụng đất chi tiết là kế hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với từng thửa đất.

Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Đối với Nhà nước, nó đảm bảo việc sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, đạt các mục đích nhất định và phù hợp với các quy định của Nhà nước. Đồng thời, giúp cho Nhà nước theo dõi, giám sát được quá trình sử dụng đất. Quy hoạch và kế hoạch hoá đất đai là công việc của tất cả các cơ quan quản lý đất đai và các tổ chức, cá nhân sử dụng đất của Nhà nước. Đồng thời, thông qua quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại địa phương, người sử dụng đất chủ động tuân thủ và thực hiện đúng các thủ tục về đất đai khi có nhu cầu. Từ đó khắc phục tình trạng hộ gia đình, cá nhân tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, đặc biệt trong tình hình thực tế về nhu cầu sử dụng đất trên địa bàn tỉnh tăng nhanh như hiện nay. Việc lập và phê duyệt đầy đủ kế hoạch sử dụng đất hàng năm góp phần tạo điều kiện thuận lợi và cơ sở pháp lý cho huyện trong việc quản lý đất đai, đặc biệt là trong công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện các công trình, dự án.

Phát triển kinh tế – xã hội từ nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực từ đất đai là không nhỏ. Phương án quy hoạch sử dụng đất khai thác đất đai theo hướng phát triển mạnh về công nghiệp, thương mại, dịch vụ, phát triển đô thị và quá trình đô thị hóa nông thôn một cách rõ nét. Cùng với nhu cầu đầu tư phát triển các cụm công nghiệp, phát triển các khu đô thị, thương mại dịch vụ của huyện, nhu cầu khai thác quỹ đất ngày càng có hiệu quả kinh tế, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của huyện. Đây là nguồn thu đáng kể để đầu tư, nâng cấp, làm mới hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện, đặc biệt là hệ thống giao thông, các công trình xử lý vệ sinh môi trường trong các cụm công nghiệp, khu đô thị của huyện. Ngoài ra với việc cho các doanh nghiệp thuê đất trên địa bàn huyện hàng năm còn tạo ra nguồn việc làm mới giải quyết nhu cầu về việc làm cho số lao động mới phát sinh của huyện.

Tiêu chí đánh giá

– Tính kịp thời của các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

– Số lượng xã được thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

– Tính tuân thủ theo quy định của pháp luật.

1.2.4. Công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi và bồi thường.

Theo quy định tại Điều 3 Luật Đất đai 2013:

7. Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.

8. Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.

….

11. Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.

12. Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất.

……

14. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.[9, tr. 2]

Nhà nước giao đất, cho thuê đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng. Các hoạt động này đều nhằm:

Đảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng đất, kể cả trong nước và nước ngoài.

Xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng làm cơ sở để giải quyết mọi mối quan hệ về đất đai và người sử dụng yên tâm thực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó.

Sau khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực, đến nay, công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã có chuyển biến rõ rệt, hạn chế tối đa việc thu hồi đất “tùy tiện”, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong trường hợp cần thiết, Nhà

nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia; lợi ích công cộng và các mục đích phát triển kinh tế thì người bị thu hồi đất được bồi  thường, hỗ trợ và tái định cư.

Các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại Điều 74, Điều 88 Luật Đất Đai 2013, hướng dẫn thực hiện tại Nghị định 47/2014/NĐ-CP.

Có thể thấy rằng, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất là một trong nội dung quan trọng trong thời gian qua các ngành, các cấp tập trung thực hiện, Nhà nước ta đã ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dành cho người bị thu hồi đất, từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống và sản xuất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, việc khiếu nại, so bì trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của người có đất bị thu hồi và những người có liên quan vẫn xảy ra thường xuyên.

Tiêu chí đánh giá

– Diện tích đất được giao.

– Diện tích đất được thuê.

– Diện tích đất được thu hồi.

– Tính kịp thời của các diện tích đất được giao đất, cho thuê, thu hồi đất.

– Số dự án đầu tư trên địa bàn huyện.

– Số quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

1.2.5. Công tác tài chính về đất đai và giá đất

Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất.”[9, tr. 3]

Quản lý tài chính về đất đai là việc Nhà nước sử dụng công cụ tài chính

như giá đất, thuế, tiền thuê đất… để quản lý đất đai. Nội dung quản lý tài chính về đất đai gồm các công tác quản lý thuế và tiền thuê đất.

Quản lý tài chính về đất đai không chỉ đơn thuần là quản lý giá đất, quản lý các khoản thu từ đất để tăng thu cho ngân sách Nhà nước, mà còn là công cụ để Nhà nước khuyến khích sử dụng đất một cách hợp lý, tiết kiệm và ngày càng hiệu quả; đồng thời điều tiết và quản lý thị trường quyền sử dụng đất nói riêng, thị trường bất động sản nói chung nhằm phát triển thị trường này một cách lành mạnh, hiệu quả và bền vững, góp phần ngăn chặn nạn đầu cơ đất đai, đảm bảo công bằng về tài chính trong sử dụng đất và phân phối nguồn tài nguyên đất đai trong xã hội.

Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Thực chất nội dung này là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm quản lý chặt chẽ, uốn nắn kịp thời các sai sót, vi phạm trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Trong quá trình quản lý giám sát việc thực hiện các quyền chung của người sử dụng đất, cán bộ địa chính phường, thị trấn cần nắm được các quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 166, Luật Đất đai 2013 như sau:

1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.

3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.

4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

6. Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử

dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.[9, tr. 97]

Tiêu chí đánh giá

– Tính đa dạng từ các nguồn tiền liên quan đến đất.

– Nguồn thu từ đất.

– Tăng/giảm trong nguồn thu từ đất.

1.2.6. Giám sát, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Theo Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013 thì “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.[9, tr. 3]

Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai là việc cơ quan có thẩm quyền xem xét, xác minh, kết luận và ra quyết định về tính đúng đắn của các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có khiếu nại của người sử dụng đất về quyết định, hành vi đó.

Giải quyết tố cáo về đất đai là việc cơ quan có thẩm quyền xác minh, kết luận về nội dung tố cáo liên quan tới quản lý và sử dụng đất đai từ đó đưa ra quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo.

Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo nói chung, khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng đất đai nói riêng.

Xử lý vi phạm về đất đai là biện pháp giải quyết của cơ quan Nhà nước khi có hành vi vi phạm trong quản lý và sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 206 Luật Đất đai năm 2013:

Điều 206. Xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai

1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

2. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại.”[9, tr. 121]

Tiêu chí đánh giá

– Diện tích đất vi phạm.

– Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo.

– Số vụ được giải quyết.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

1.3.1. Điều kiện tự nhiên

Là sản phẩm của tự nhiên, do đó, đất đai luôn bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên như: khí hậu, địa hình,… Nó ảnh hưởng lớn đến công tác điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá đất. Công tác đo đạc, khảo sát, đánh giá đất được thực hiện trên thực địa, nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, nó sẽ được tiến hành nhanh chóng, chính xác và đặc biệt là tiết kiệm được kinh phí cho nhà nước. Do tính chất cố định của đất đai và mỗi vùng miền lại có một đặc điểm điều kiện tự nhiên khác nhau, vì vậy khi tiến hành điều tra, khảo sát đo đạc đất đai cần phải nghiên cứu điều kiện tự nhiên của từng địa phương để đưa ra phương án thực hiện có hiệu quả nhất.

1.3.2. Điều kiện kinh tế

Phát triển kinh tế làm cho cơ cấu sử dụng các loại đất có sự thay đổi. Khi nhu cầu sử dụng loại đất này tăng lên sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng loại đất kia, đồng thời sẽ có loại đất khác được khai thác để bù đắp vào sự giảm đi của loại đất đó. Sự luân chuyển đất đai thuận lợi sẽ là tiền đề cho các hoạt động kinh tế diễn ra. Quản lý nhà nước về đất đai từ đó cũng phải đổi mới để phù hợp với cơ cấu kinh tế mới, đáp ứng được yêu cầu tình hình thực tế.

Với sự phát triển nhanh các lĩnh vực kinh tế đã tạo nên áp lực đối với đất đai. Hàng năm diện tích đất được đưa vào sử dụng cho các dự án công trình khá lớn, tăng nhiều lần so với giai đoạn trước. Trong đó tập trung cho xây dựng các cụm công nghiệp, các khu du lịch – dịch vụ, các cơ sở sản xuất kinh doanh,…. Diện tích đất nông nghiệp được trưng dụng ngày càng nhiều cho các mục đích phi nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế.

Do vậy cần xây dựng kế hoạch khai thác sử dụng hợp lý quỹ đất đai cho các mục đích, giải quyết hài hòa các mối quan hệ về đất đai, nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai trong trong sự phát triển bền vững, lâu dài.

1.3.3. Điều kiện xã hội

Yếu tố văn hóa xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức điều hành quản lý xã hội và tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước về mọi lĩnh vực nói chung cũng như lĩnh vực đất đai nói riêng. Các yếu tố như việc làm, dân số, môi trường, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn … ảnh hưởng rất lớn đến công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi, giao đất và công tác thanh tra, kiểm tra giải quyết tranh chấp, vi phạm đất đai.

1.3.4. Tình hình sử dụng đất trên địa bàn

Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước về đất đai. Việc sử dụng đất đai sẽ quyết định đến tình hình phân bổ đất, diện tích sử dụng đất của từng loại đất. Nếu diện tích đất được sử dụng nhiều theo các hình thức thuê, mua, giao đất, công tác quản lý nhà nước về đất đai sẽ phức tạp hơn, liên quan đến nhiều vấn đề hơn. Tuy nhiên, nếu nhiều diện tích đất là đất để phục vụ công tác an ninh quốc phòng hay đất rừng, việc quản lý sẽ đơn giản hơn, do nhà nước chỉ tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định và có thể lấy lại bất cứ khi nào cần.

Quy mô và cơ cấu diện tích đất lớn, đáp ứng đủ nhu cầu của người dân trong việc sử dụng đất, nguồn thu từ đất cũng tăng lên. Quy mô, cơ câu diện tích lớn nên nhà nước cũng cần nhiều nguồn lực quản lý hơn; công tác quản lý nhà nước về đất đai cũng khó khăn hơn. Tuy nhiên, quy mô, cơ cấu diện tích đất ít, nguồn lực quản lý nhà nước về đất đai cũng cần ít hơn, dễ dàng hơn.

Tiềm năng đất chưa sử dụng nhiều, địa phương sẽ cần quy hoạch nhiều hơn, tuyên truyền vận động người dân sử dụng đất. Tuy nhiên, tiềm năng đất chưa sử dụng ít, công tác quản lý nhà nước về đất đai sẽ khó khăn hơn, vất vả hơn, cần nhiều nguồn lực quản lý hơn.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quản lý Nhà nước về đất đai là tất cả các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để quản lý và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai. Hoạt động này rất quan trọng nhằm giúp Nhà nước đảm bảo việc sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.

Khi quản lý Nhà nước về đất đai, cần phải chú ý đến 6 nội dung đó là: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; triển khai công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính; xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tổ chức việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, tiến hành việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; công tác tài chính về đất đai và giá đất; giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai. Đồng thời, để công tác quản lý Nhà nước về đất đai đạt hiệu quả cao, cần chú ý đến một số nhân tố như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội và tình hình sử dụng đất đai tại địa phương.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM

2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI CỦA HUYỆN KON RẪY

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

a. Vị trí địa lý

Huyện Kon Rẫy là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam tỉnh Kon Tum. Trung tâm hành chính của huyện đặt tại Đăk Ruồng – Tân Lập. Trung tâm huyện lỵ Đăk Ruồng – Tân Lập cách thành phố Kon Tum khoảng 30 km theo Quốc lộ 24.

– Vị trí địa lý:

+ Phía Bắc giáp: Huyện Kon PLông và Đăk Hà

+ Phía Nam giáp: Tỉnh Gia Lai

+ Phía Đông giáp: Huyện Kon PLông và tỉnh Gia Lai.

+ Phía Tây giáp: Thành phố Kon Tum và huyện Đăk Hà.

– Tọa độ địa lý:

+ Vĩ độ Bắc: Từ 14019’55’’ đến 14046’10’’.

+ Kinh độ Đông: Từ 108003’45’’ đến 108022’40’’

Về đất đai, trên địa bàn huyện Kon Rẫy có tổng diện tích tự nhiên 91.390,34 ha, với 6 xã và 01 thị trấn, ranh giới, địa giới hành chính của huyện được lấy theo Chỉ thị 364/CT, ngày 6/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) và Nghị định số 14/2002/NĐ- CP ngày 31/01/2002 của Chính phủ về chia tách huyện KonPLông, tỉnh Kon Tum thành hai huyện Kon Plông và huyện Kon Rẫy. Trong đó: Đất nông nghiệp: 78.234,84 ha chiếm 85,61%; đất phi nông nghiệp: 3.449,88 ha chiếm 3,77%; đất chưa sử dụng: 9.705,61 ha chiếm 10,62%.

Hình 2.1: Bản đồ đơn vị hành chính huyện Kon Rẫy

b. Địa hình, địa mạo

Huyện Kon Rẫy có địa hình nhìn chung là bậc núi thấp với dạng địa hình núi trung bình. Toàn huyện chia làm 3 dạng địa hình chính:

– Địa hình núi cao dốc: Chiếm 82,76% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố chủ yếu ở các xã Đăk PNe, Đăk Kôi, xã Đăk Tơ Lung và phía Bắc xã Đăk Ruồng. Độ cao trung bình 900 – 1.200 m, độ dốc trên 200. Đây là dạng địa hình hiểm trở với những đỉnh núi cao gần 2.000 m. Dạng địa hình này chủ yếu thích hợp phát triển nguồn tài nguyên rừng.

– Địa hình đồi gò: Chiếm 11,72% tổng diện tích tự nhiên của huyện. Đây là dạng địa hình tiếp giáp giữa dạng địa hình núi cao và địa hình thung lũng đồng bằng thuộc địa bàn: Phía Tây xã Đăk Ruồng, phía Bắc xã Đăk Tơ Re, xã Tân Lập,phía Nam xã Đăk Tơ Lung độ dốc 80 – 150 thích hợp cho phát triển các loại cây công nghiệp.

– Địa hình thung lũng đồng bằng: Chiếm 5,52% tổng diện tích tự nhiên, phân bố rải dọc theo hệ thống các sông Đăk Blà, Đăk AKôi, Đăk SNghé, Đăk PNe. Dạng địa hình này chủ yếu ở độ cao 580 – 620 m, độ dốc < 80, diện tích không lớn nhưng có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất là lúa nước và bố trí dân cư.

c. Khí hậu

Theo số liệu quan trắc của cơ quan khí tượng tỉnh Kon Tum, đặc điểm khí hậu khu vực huyện Kon Rẫy như sau:

– Nhiệt độ không khí: Chế độ nhiệt tại huyện Kon Rẫy là chế độ nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Nền nhiệt trung bình trong năm (8.000 – 8.5000C), nhưng có sự phân hóa rõ rệt giữa các vùng theo độ cao, thông thường khi lên cao 100m, nhiệt độ không khí giảm từ 0,5-0,6oC. Nhiệt độ không khí tại huyện Kon Rẫy thấp nhất vào tháng 12, tháng 1 (trung bình 19oC); đạt cao nhất vào tháng 3, 4, 5.

– Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 05 đến tháng 10 là do tác động của gió mùa Tây Nam mang lại. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau do tác động trực tiếp của gió mùa Đông Bắc là mùa khô. Lượng mưa tại các khu vực có địa hình khác nhau cũng khác nhau. Tại khu vực Đông Bắc huyện, do có địa hình núi cao đón gió Tây Nam, do vậy lượng mưa lớn hơn phổ biến đạt trên 2.000 mm. Khu vực còn lại của huyện phổ biến là địa hình núi thấp, thung lũng, có độ cao 600-800m, có lượng mưa phổ biến là 1.900-2.000mm.

– Độ ẩm không khí: Tại huyện Kon Rẫy, khu vực Đông Bắc có địa hình núi cao, mưa nhiều, do vậy có độ ẩm lớn hơn khu vực phía Tây Nam huyện. Độ ẩm thấp nhất xảy ra vào tháng 3, phổ biến từ 72-73%, cao nhất xảy ra vào các tháng 7, 8, 9, 10; phổ biến là 89-90%.

– Tổng số giờ nắng: Tại khu vực Đông Bắc huyện do địa hình núi cao nên sương mù, mây nhiều do vậy có số giờ nắng thấp hơn (khoảng 2.000-2.100 giờ/năm), khu vực phía còn lại của huyện có số giờ nắng cao hơn (khoảng 2.100-2.200 giờ/năm).

d. Thuỷ văn

Trên địa bàn huyện Kon Rẫy có sông Đăk Blà là một nhánh sông chính của hệ thống sông Sê San chảy qua địa bàn các xã Đăk Ruồng, Đăk Tơ Re. Sông Đăk Blà có 3 nhánh lớn.

– Nhánh Đăk PNe gồm nhiều suối nhỏ chảy qua địa bàn các xã Đăk PNe, Tân Lập và thị trấn Đăk Rve.

– Nhánh Đăk SNghé chảy qua địa bàn xã Đăk Ruồng.

– Nhánh Đăk A Kôi chảy qua địa bàn xã Đăk Kôi và Đăk Ruồng.

Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn rất nhiều suối nhỏ phân bố khắp huyện.

Như vậy, hệ thống thủy văn trên địa bàn huyện phân bố khá đồng đều với lượng nước cung cấp tương đối dồi dào. Tuy nhiên, do hạn chế về địa hình và sự phân bố lượng mưa không đồng đều theo mùa nên gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất và đời sống nhân dân.

Về đất đai, tính đến năm 2019, tổng diện tích đất trên địa bàn huyện Kon Rẫy là 30.924,08 ha. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm khoảng 70,73%, đất phi nông nghiệp chiếm khoảng 25,66%, đất chưa sử dụng chiếm khoảng 3,61%. Số liệu cụ thể được trình bày trong Bảng 2.1 dưới đây:

Bảng 2.1: Tình hình phân bổ đất đai tại huyện Kon Rẫy

Loại đấtDiện tích (ha)
2016201720182019
Đất nông nghiệp78.568,0778.308,0578.248,6378.238,14
Đất phi nông nghiệp3.099,723.373,053.432,943.446,61
Đất chưa sử dụng9.679,409.709,249.708,769.705,59
Tổng cộng91.390,3491.390,3491.390,3491.390,34

“Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Kon Rẫy”

Dựa vào Bảng 2.1 ta thấy, trong giai đoạn từ năm 2016 – 2019, diện tích đất nông nghiệp đã giảm 330,42 ha, từ 78.568,56 ha xuống còn 78.238,14 ha.

Diện tích đất phi nông nghiệp tăng 347,38 ha, từ 3099,23 ha trong năm 2016 lên 3.446,61 ha năm 2019.

2.1.2. Đặc điểm kinh tế

Tình hình kinh tế xã hội huyện Kon Rẫy từ năm 2015 đến năm 2019 luôn có những chuyển biến tích cực. Cụ thể được trình bày trong Bảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế huyện Kon Rẫy

Chỉ tiêuĐơn vị20152016201720182019
Tổng giá trị sản xuấtTỷ đồng40704182448546575234
Tốc độ tăng trưởng%7,78,38,99,19,3
Thu nhập bình quân đầu ngườiTriệu đồng/người22,625,127,328,831,1

“Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội huyện Kon Rẫy”

Qua bảng số liệu ta thấy tổng giá trị sản xuất tăng đều qua các năm và giữ vững tốc độ tăng trưởng ổn định 8,9%. Đồng thời, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 22,6 triệu đồng/người năm 2015 lên 31,1 triệu đồng/người năm 2019. Điều đó cho thấy các nhà lãnh đạo đã có những chủ trương đúng đắn để phát triển kinh tế xã hội của huyện.

Về cơ cấu kinh tế, những năm gần đây, huyện đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông – lâm – thủy sản, số liệu được trình bày ở Bảng 2.3:

Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế của huyện Kon Rẫy

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu2016201720182019
Nông – lâm – thủy sản46,7544,4643,4541,88
Công nghiệp – xây dựng37,1638,2238,7139,11
Dịch vụ16,0917,3217,8419,01

“Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội huyện Kon Rẫy”

Qua bảng số liệu ta thấy, tỷ trọng ngành nông – lâm – thủy sản giảm đáng kể 4,87% trong bốn năm. Tỷ trọng ngành Công nghiệp – xây dựng có tăng nhẹ từ 37,16% trong năm 2016 lên 39,11% trong năm 2019. Tỷ trong ngành dịch vụ tăng từ 16,09% trong năm 2016 lên 19,01% trong năm 2019. Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu của huyện theo đúng chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, giảm tỷ trọng ngành nông – lâm – thủy sản, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ.

Kon Rẫy là một huyện có kinh tế phát triển, diện tích đất được đưa vào sử dụng cho các dự án công trình khá lớn. Trong đó tập trung cho xây dựng các cụm công nghiệp, các khu du lịch – dịch vụ, các cơ sở sản xuất kinh doanh,…. Diện tích đất nông nghiệp được trưng dụng ngày càng nhiều cho các mục đích phi nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Do đó, công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện khá phức tạp, đòi hỏi sự cân nhắc, tính toán kỹ càng của các nhà quản lý để việc sử dụng đất có hiệu quả cao nhất.

2.1.3. Đặc điểm xã hội

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QLNN VỀ ĐẤT ĐAI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *