Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam

Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam

Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam liên tục tăng cao từ năm 2012 đến nay, dòng vốn nước ngoài liên tục đổ vào trong nước, các tổ chức quốc tế đánh giá cao triển vọng kinh tế trong nước… là những yếu tố làm tăng kỳ vọng vào thu nhập trong tương lai của người dân và qua đó làm tăng nhu cầu vay tiêu dùng. Hiểu được xu thế phát triển hiện nay, hầu hết các ngân hàng thương mại đều tiến hành cho vay tiêu dùng và có xu hướng mở rộng hoạt động này. Việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng có thể góp phần đáng kể trong chính sách kích cầu của Nhà nước, nó cũng giúp Nhà nước đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, như là tăng mức sống cho dân cư, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, tăng GDP, tăng thu nhập bình quân đầu người, giảm tỷ lệ thất nghiệp và các tệ nạn xã hội. … Ngoài ra, hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển sẽ giúp ngân hàng mở rộng đối tượng khách hàng, gia tăng thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh, ổn định hoạt động, tạo lập nguồn vốn và thu nhập ổn định cho ngân hàng.

Là ngành kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế nên rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng thường rất nhiều và cao. Trong đó, rủi ro cơ bản nhất, và có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng nếu xảy ra, ảnh hưởng trước hết thu nhập, nguồn vốn của ngân hàng, sau đó đến uy tín, thậm chí phá sản ngân hàng, không một nhà quản lý kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra với các khoản tín dụng của mình. Chính vì thế mà công tác kiểm soát rủi ro tín dụng ngày càng hoàn thiện, và được các NHTM chú trọng và trở thành vấn đề cấp thiết.

Hơn ba thập kỷ bám rễ địa bàn nông nghiệp nông thôn, Agribank thấu hiểu hơn hết đặc thù của sản xuất nông nghiệp cũng như nguồn thu nhập của các hộ gia đình, nông dân ở khu vực này phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố mùa vụ, do đó, nhu cầu vay vốn để đáp ứng yêu cầu chi tiêu sinh hoạt, nhu cầu đời sống ở khu vực nông thôn là rất lớn. Chính vì vậy, bên cạnh việc phục vụ nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn với những ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, trong kế hoạch tăng trưởng tín dụng hàng năm, Agribank luôn chủ động dành một tỷ lệ vốn nhất định để đáp ứng nhu cầu vay phục vụ đời sống sinh hoạt, tiêu dùng của người dân. Đặc biệt, trong cho vay tiêu dùng, với đặc thù là số lượng khách hàng khổng lồ với các món vay nhỏ lẻ, mục đích sử dụng vốn đa dạng thì công tác kiểm soát rủi ro tín dụng gặp rất nhiều khó khăn.

Theo xu hướng đó, hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam đã góp một vai trò quan trọng, đòi hỏi phải tiến hành phân tích các khía cạnh khác nhau, nhằm tiếp tục hoàn thiện hoạt động này, để đạt được các mục tiêu đề ra về quy mô, chất lượng và hiệu quả thì việc kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng là vấn đề luôn đi song hành luôn, cần được quân tâm và chú trọng. Tuy nhiên, do hoạt động tín dụng tại Agribank chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam từ trước đến nay chủ yếu cung cấp vốn cho các cá nhân sản xuất kinh doanh, và doanh nghiệp nên khi mở rộng hơn nữa hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình thì hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng cho vay tiêu dùng của đơn vị vẫn còn nhiều bất cập, chưa được quan tâm, chú trọng, kiểm soát tốt .Chính vì vậy, để công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng được quan tâm quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo việc mở rộng cho vay tiêu dùng cũng như đảm bảo an toàn tín dụng, đảm bảo chất lượng tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được.

Xuất phát từ những thực tế trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ là “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam”

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Đề tài nghiên cứu thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Từ đó, đúc kết những thành công và hạn chế trong hoạt động này và đề xuất một số khuyến nghị nhằm góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát RRTD trong CVTD của NHTM.

– Phân tích thực trạng kiểm soát RRTD trong CVTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

– Đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát RRTD trong CVTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

2.3. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu trên, cụ thể luận văn cần phải cụ thể hóa các nhiệm vụ nghiên cứu thành các câu hỏi nghiên cứu sau:

– Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của NHTM bao gồm những nội dung gì? Có thể sử dụng những chỉ tiêu chí gì để đánh giá kết quả kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng?

– Công tác kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam đã đạt những thành công, những hạn chế nào cần được khắc phục?

– Để hoàn thiện hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng, các giải pháp đề xuất để Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam thực hiện là gì?

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Thực tiễn hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

– Về đối tượng khảo sát cụ thể:

+ Phòng kinh doanh và các Phòng giao dịch trực thuộc.

+ Khách hàng cá nhân vay vốn nhu cầu tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

+ Các cán bộ quản lý khoản vay.

+ Cán bộ kiểm soát.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2017-2019.

+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

+ Nội dung nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về thực tiễn hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ các câu hỏi nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp sau:

– Phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu: Ở nội dung chương 1, đã đưa ra các tài liệu của các tác giả đi trước từ đó tổng hợp để chuẩn bị nội dung cơ sở lý luận và hệ thống hoá thành phần cơ sở lý luận hoàn chỉnh nhất. Và từ những những phân tích đánh giá ở chương 2 để đưa ra các khuyến nghị phù hợp với định hướng, mục tiêu của chi nhánh về iểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng ở chương 3. Từ các dữ liệu chọn lọc được, thông qua các phương pháp so sánh theo chiều dọc và theo chiều ngang, phương pháp thống kê, phân tích, đối chiếu các dữ liệu qua các năm để làm rõ thực trạng kiểm soát RRTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

– Phương pháp thống kê được sử dụng bao gồm: Số bình quân, số tương đối, phân tích sự biến động theo thời gian; phân tích kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam trong 03 năm 2017-2019. Từ đó phân tích , đánh giá thực trạng hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng trên địa bàn huyện Thăng Bình trong thời gian qua.

– Phương pháp thu thập dữ liệu: tác giả sử dụng các phƣơng pháp thu thập dữ liệu như sau:

+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: thu thập các số liệu từ các báo cáo tổng kết hoạt động, báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Agribank chi nhánh huyện Thăng Bình, các tạp chí kinh tế…

+ Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp khảo sát trực tiếp, qua email, phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại đối với các khách hàng đang vay tiêu dùng tại Agribank chi nhánh huyện Thăng Bình.

– Phương pháp so sánh, phân tích: Trên cơ sở các dữ liệu thu nhập được từ các báo cáo tổng hợp ngân hàng, tác giả tiến hành so sánh, phân tích dữ liệu nhằm đưa ra các kết quả nghiên cứu cho đề tài.

5. Bố cục dự kiến

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan, danh mục bảng biểu sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

Chương 3: Khuyến nghị hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

6. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam
Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

a. Khái niệm cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng; bao gồm cá nhân và hộ gia đình.

Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng trang trải nhu cầu nhà ở, mua sắm đồ dùng gia đình, xe cộ, giáo dục, y tế và các dịch vụ khác nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng. Với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định. Do đó yêu cầu khách hàng phải có nguồn thu nợ độc lập với phương án sử dụng vốn vay.

b. Đặc điểm cho vay tiêu dùng

– Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ: Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng, mọi người lạc quan về tương lai, họ sẽ chi tiêu nhiều hơn, nhu cầu vay tiêu dùng cũng tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng lên thì người dân sẽ có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn, theo đó nhu cầu vay tiêu dùng cũng giảm.

– Quy mô tiêu dùng nhỏ: Số lượng các khoản vay lớn nhưng quy mô của các khoản vay nhỏ vì cho vay tiêu dùng thường để đáp ứng các nhu cầu về chi tiêu hàng ngày.

– Chất lượng thông tin khách hàng cung cấp không cao: Đối tượng của vay tiêu dùng là mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, do đó tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay .

– Lãi suất cho vay tiêu dùng cao: Do phần lớn khoản vay tiêu dùng có quy mô nhỏ, trong khi đó các TCTD vẫn phải tiến hành theo đủ mọi thủ tục cho vay bao gồm thẩm định hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân, kiểm soát sau khi cho vay… dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.

– Nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến đổi lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ. Nếu khách hàng là người buôn bán thì thu nhập của họ có thể cao bất thường nhưng không ổn định. Chỉ cần một sự biến động không tốt về giá cả những mặt hàng kinh doanh của họ có thể dẫn đến những con số thiệt hại rất lớn, làm giảm khả năng trả nợ của họ.

– Các khoản cho vay tiêu dùng thường có rủi ro lớn. Do tình hình tài chính của khách hàng có thể gặp biến động dẫn đến khách hàng mất khả năng thanh toán, hoặc rủi ro do khách hàng sau khi tiêu dùng sản phẩm không muốn trả tiền. Mặt khác, trong trường hợp khách hàng gặp sự cố về sức khỏe dẫn đến không còn đủ năng lực hành vi dân sự thì việc thu hồi nợ là rất khó khăn. Do đó, các khoản CVTD thường được quản lý một cách chặt chẽ và linh hoạt.

c. Phân loại cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

* Căn cứ vào mục đích vay:

Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cá nhân hoặc hộ gia đình.

Cho vay tiêu dùng không cư trú: Là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành hoặc giải trí…

* Căn cứ vào phương thức hoàn trả: Căn cứ vào phương thức hoàn trả có thể phân loại cho vay tiêu dùng được chia làm 3 loại:

– Vay tiêu dùng trả góp là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay vốn sẽ trả nợ (gốc + lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng đối với các khoản vay trả góp có giá trị lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ để có thể thanh toán hết một lần số nợ vay.

– Vay tiêu dùng phi trả góp là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó tiền vay vốn sẽ được khách hàng thanh toán chỉ một lần khi đến hạn cho ngân hàng. Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.

– Vay tiêu dùng tuần hoàn là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc cho phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Ở phương thức cho vay này, thời gian tín dụng sẽ được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu cũng như thu nhập kiếm được từng thời kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay với một hạn mức tín dụng và được trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn.

* Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ:

Vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng.

Vay tiêu dùng trực tiếp: Là khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này.

* Căn cứ vào thời hạn cho vay:

– Cho vay tiêu dùng ngắn hạn:Là các khoản vay có thời hạn nhỏ hơn 12 tháng, chủ yếu sử dụng phục vụ cho nhu cầu mang tính cấp thiết, nhất thời cho nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình.

– Cho vay tiêu dùng trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng, thường được sử dụng chủ yếu để tài trợ đầu tư tài sản cố định.

– Cho vay tiêu dùng dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn 60 tháng trở lên, thường nhằm đáp ứng nhu cầu vốn về xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất.

* Căn cứ vào hình thức đảm bảo tiền vay:

– Cho vay tiêu dùng bảo đảm bằng tài sản: Là loại cho vay mà ngoài uy tín, năng lực, triển vọng tài chính, tính khả thi, hiệu quả mục đích vay vốn của mà khách hàng còn phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, với tài sản đảm bảo thường là giấy tờ có giá, phương tiện vận chuyển, hàng hóa trong kho,đất đai, nhà cửa…. nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng khi khách hàng mất khả năng trả được nợ .

– Cho vay tiêu dùng bảo đảm không bằng tài sản: Là loại cho vay mà nghĩa vụ trả nợ vay của khách hàng được đảm bảo bằng uy tín, năng lực và triển vọng tài chính của khách hàng vay, không đảm bảo bằng tài sản mà các biện pháp bảo đảm có thể là bảo lãnh của NH khác, cho vay tín chấp,…. Hình thức cho vay không có đảm bảo bằng tài sản chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng dư nợ cho vay của các NH.

1.1.2. Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

a. Khái niệm rủi ro

Được hiểu là một sự không chắc chắn, tiềm ẩn một nguy cơ tổn thất. Rủi ro không thể hoàn toàn bị loại bỏ mà chỉ có thể sử dụng các biện pháp kiểm soát nhằm giảm thiểu khả năng tổn thất xảy ra và hạn chế những hậu quả bất lợi.

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm, khái niệm về rủi ro khác nhau để định nghĩa rủi ro tùy vào cách diễn diễn khác nhau, tùy thuộc vào những ứng dụng đặc thù và bối cảnh, cách tiếp cận tích cực hay tiêu cực, có thể kể đến như:

Rủi ro là khả năng xảy ra một sự kiện có tác động đến sự thành đạt mục tiêu.

Rủi ro là mức thiệt hại có thể bị gánh chịu do hậu quả của một sự kiện nhất định và khả năng xảy ra sự kiện đó.

b. Khái niệm rủi ro tín dụng

Có nhiều quan niệm, quan điểm, khái niệm về rủi ro khác nhau, thì rủi ro tín dụng cũng có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau được chuẩn hóa để phù hợp từng bối cảnh và cách tiếp cận vấn đề cụ thể, tuy có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng hiểu một cách chung nhất là

Rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc, hoặc cả hai) từ các khoản cấp tín dụng và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ.

Hay, Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.

1.1.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng

– RRTD mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. RRTD xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên RRTD của ngân hàng.

– RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý RRTD phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do RRTD đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.

– RRTD có tính tất yếu, tức là luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM. Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.

1.1.4. Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng

a. Nguyên nhân

* Nguyên nhân chủ quan:

– Về phía khách hàng:

+ Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích: Khách hàng có thể lập dự án để xin vay vốn nhưng khi giải ngân lại sử dụng cho mục đích khác, đầu tư những dự án thiếu an toàn. Điều này khiến cho nguồn trả nợ của khách hàng sẽ không an toàn, có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán.

+ Bản thân khách hàng có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn của ngân hàng: Lợi dụng điểm sơ hở trong khâu thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng, nhiều khách hàng lập hồ sơ giả, phương án kinh doanh giả để vay vốn, cũng có thể đi vay ở nhiều ngân hàng khác nhau với cùng một bộ hồ sơ.

+ Khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay: Khi đến hạn trả nợ, nhiều khách hàng cố tình trốn tránh nghĩa vụ, gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong quá trình thu nợ, khiến cho ngân hàng tốn kém chi phí và có khả năng thất thoát vốn.

+ Tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch: Những thông tin tài chính mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính hình thức nên việc thẩm định, phân tích tài chính khách hàng thiếu thực tế.

+ Trình độ kinh doanh yếu kém, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo còn hạn chế: Nhiều khách hàng có trình độ quản lý yếu kém dẫn đến sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.

– Về phía ngân hàng:

+ Trình độ phân tích, thẩm định, đánh giá khách hàng và các dự án vay vốn của các cán bộ còn hạn chế. Quá trình phân tích và thẩm định tín dụng không kỹ lưỡng dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Ngoài ra, việc thiếu kiểm tra kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích nhưng ngân hàng không phát hiện kịp thời để ngăn chặn

+ Do sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa các NHTM khiến cho việc thẩm định hồ sơ khách hàng trở nên sơ sài. Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng quá chú trọng lợi nhuận mà sẵn sàng chấp nhận cho vay những khoản không lành mạnh, thiếu khả thi và đầy rủi ro

+ Rủi ro do cán bộ nhân viên ngân hàng thoái hóa, thiếu đạo đức. Một số cán bộ ngân hàng vì tư lợi cá nhân, cấu kết với khách hàng dẫn đến tiêu cực, khiến cho rủi ro của khoản vay rất cao.

* Nguyên nhân khách quan:

– Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do nền kinh tế không ổn định…. khiến cho cả Ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp. Chẳng hạn những thay đổi môi trường kinh doanh không thể lường trước được (như sự thay đổi về giá cả, nhu cầu thị trường…), chính sách của Chính phủ khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được, mà điều này ảnh hưởng đển khả năng trả nợ vay ngân hàng

– Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng.

– Do sự biến động về chính trị – xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho Ngân hàng.

– Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN. Việc thực hiện thanh tra ngân hàng còn khá thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro. Có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu mà đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp.

b. Hậu quả của rủi ro tín dụng

Ngân hàng phải gánh chịu những rủi ro không những do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro do khách hàng hay môi trường bên ngoài gây ra. Vì vậy, “rủi ro tín dụng của ngân hàng không những là cấp số cộng mà còn là cấp số nhân rủi ro của nền kinh tế”.

– Tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Khi rủi ro xảy ra, trước hết lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng, Khi các ngân hàng cho vay xuất hiện những khoản nợ quá hạn, việc đầu tiên là các ngân hàng phải tìm cách thu hồi nợ. Việc thu hồi nợ quá hạn vừa làm mất thời gian của cán bộ cho vay, vừa làm tăng khoản chi phí về đi lại để lấy nợ. Nếu các khoản nợ này có liên quan đến nhiều bên thì ngân hàng phải chi phí về cả thời gian lẫn tiền cho công việc thương lượng, gặp gỡ các bên trong quá trình xử lý nợ. Bên cạnh đó các ngân hàng phải bỏ ra chi phí cơ hội rất lớn do các khoản nợ quá hạn làm chậm lại vòng quay vốn tín dụng, làm mất đi các khoản đầu tư khác của mình, đó là chưa kể đến sự ảnh hưởng lớn của nợ quá hạn với tâm lý của cán bộ tín dụng. Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì ngân hàng có thể bù đắp bằng khoản dự phòng rủi ro và lợi nhuận thu được trong kỳ. Tuy nhiên, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời và mở rộng kinh doanh của ngân hàng, giảm thu nhập tiềm ẩn và làm tăng chi phí cho các ngân hàng, từ đó làm ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nghiêm trọng hơn, khi rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ lớn, dự phòng không đủ bù đắp, vốn khả dụng bị thiếu, lòng tin khách hàng giảm. Không những thế, một NHTM có tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ lớn, có những thông tin về việc ngân hàng có nhiều món vay không thu hồi được hoặc ngân hàng đó bị Ngân hàng Nhà nước đưa vào diện kiểm soát đặc biệt thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm sút nghiêm trọng. Thêm nữa, RRTD xảy ra sẽ làm giảm khả năng thanh toán của NHTM đối với các nguồn tiền gửi.

– Tác động đến nền kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến nhiều thành phần kinh tế, từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho đến các tổ chức tín dụng khác Một khi RRTD xảy ra, không chỉ ngân hàng không thu hồi được vốn, mà mục tiêu sử dụng vốn của khách hàng cũng khó đảm bảo, đồng thời gây khó khăn cho những lần vay vốn tiếp theo, cùng với đó uy tín và khả năng thanh toán của ngân hàng ảnh hưởng đầu tiên. Người dân và các tổ chức đang có tiền gửi tại ngân hàng kéo đến ồ ạt đến rút tiền và chấm dứt quan hệ. Hiện nay, dư nợ cho vay chiếm phần lớn trong dư nợ tín dụng của ngân hàng thương mại và phi ngân hàng, đây sẽ là hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng thương mại, là điều kiện cần phát triển trong nền kinh tế, việc các ngân hàng thương mại gặp rủi ro, bị tổn thất sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống ngân hàng và gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, sản xuất và lưu thông hàng hóa có thể bị đình trệ.

1.1.5. Rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

a. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng

Rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng được coi là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cho vay tiêu dùng khi khi khách hàng vay tiêu dùng không trả được cả gốc và lãi đúng hạn hoặc bên cho vay chỉ thu được một phần gốc và lãi hoặc không thu được cả gốc và lãi của khoản vay đó như đã thỏa thuận trong hợp đồng.

b. Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng

RRTD trong cho vay tiêu dùng rất đa dạng và phức tạp, đối tượng khách hàng cũng như mục đích vay rất đa dạng, nhiều trường hợp, vì vậy việc đảm bảo an toàn hiệu quả trong hoạt động cho vay tiêu dùng thì nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng là rất cần thiết và hữu ích. Những hình thức biểu hiện, nguyên nhân phát sinh rủi ro và các yếu tố khách quan, chủ quan dẫn đến xảy ra rủi ro tín dụng được phân loại theo các hình thức như sau:

* Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro:

– Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, địch hoạ, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay.

– Rủi ro chủ quan là do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn, cán bộ tín dụng chưa đủ trình độ nghiệp vụ…

* Căn cứ nguyên nhân phát sinh rủi ro: Có thể chia thành hai loại chính:

– Rủi ro giao dịch: Là rủi ro liên quan đến từng khoản cấp tín dụng cho từng khách hàng vay, phát sinh do sai sót ở quy trình đánh giá, thẩm định và xét duyệt khi cho vay, kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay, do đánh giá tài sản, khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ:

+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án, dự án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng.

+ Rủi ro bảo đảm là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm…

+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.

– Rủi ro danh mục: Là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng được phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

– Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế, đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.

– Rủi ro tập trung: là khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, cho vay nhiều khách hàng trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; một vùng địa lý nhất định; loại hình cho vay có rủi ro cao.

c. Đặc điểm rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng

– RRTD trong cho vay tiêu dùng thường rất nhỏ lẻ, thông thường một khoản vay tiêu dùng đơn lẻ xảy ra tổn thất sẽ không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, vốn cho vay được phân bổ cho nhiều khách hàng do đó rủi ro của một vài khách hàng cá thể hầu như không có tác động đáng kể đối với tình tài chính của TCTD. Rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng mang tính tất yếu bởi luôn đi kèm với rủi ro.

– RRTD trong cho vay tiêu dùng rất đa dạng và phức tạp: đối tượng khách hàng cũng như mục đích vay rất đa dạng, nhiều trường hợp nên việc thu thập, theo dõi, quản lý các thông tin đối với từng khách hàng vô cùng khó khăn cho các ngân hàng. Do đó, rủi ro trong cho vay tiêu dùng cũng rất đa dạng, mỗi đối tượng khách hàng sẽ tồn tại những rủi ro riêng, với nhiều nguyên nhân khác nhau. Chính vì thế, cũng đòi hỏi CBTĐ phải có sự nhạy bén và kỹ năng để phát hiện những sai sót trong quá trình thẩm định, hạn chế rủi ro trước, trong và sau khi cho vay.

d. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng

Chủ động phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng được hiệu quả thì nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng là rất cần thiết và hữu ích. Những hình thức biểu hiện, nguyên nhân của rủi ro trong cho vay tiêu dùng bao gồm nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan của 2 chủ thể Ngân hàng và khác hàng, kể cà nguyên nhân từ môi trường bên ngoài tác động vào.

* Nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay:

– Công tác kiểm tra nội bộ lỏng lẻo: Kiểm tra nội bộ được tiến hành không thường xuyên, trong mọi vấn đề, mọi bộ phận, lãnh đạo ngân hàng không thể sớm phát hiện được rủi ro, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục phù hợp, sẽ không nhận biết được sớm những sai sót của cán bộ quản lý tín dụng tại các cấp do lợi ích cá nhân hay trình độ non kém, khiến ngân hàng phải chịu những tổn thất lớn, thậm chí khó vượt qua.

– Cán bộ thiếu đạo đức hoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ kém: Nguồn lực là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của một Doanh nghiệp, vì vậy đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ ngân hàng không có đạo đức có thể cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản đảm bảo Trình độ cán bộ kém cũng có thể gây ra những sai sót chết người mà khách hàng có thể lợi dụng để chiếm dụng vốn ngân hàng để sử dụng sai mục đích hay trì hoãn trả nợ, Không có khả năng phân tích thẩm định nên nhiều khi cho vay mà không đánh giá được năng lực thật sự của khách hàng.

– Thiếu sự giám sát và quản lý sau khi vay: Cán bộ tín dụng thường có thói quen tập trung nhiều cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Tuy nhiên, đây lại là nút thắt quan trọng bởi trong quá trình sử dụng vốn khách hàng có thể không sử dụng vốn đúng mục đích, do vậy không giám sát khoản vay thì không đảm bảo sự tuân thủ nghiêm ngặt các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng và tìm ra những cơ hội kinh doanh mới.

– Sự hợp tác của các ngân hàng thương mại thiếu chặt chẽ: Nếu thiếu trao đổi thông tin, nhiều ngân hàng có thể cùng cho vay một khách hàng mà không được thường xuyên cập nhật thông tin, hoặc phải gia tăng chi phí để có cùng một thông tin. Nhưng khi rủi ro xảy ra, tổn thất có thể đến với bất cứ ngân hàng nào. Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng, quá chú trọng đến lợi nhuận giữa các ngân hàng khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên sơ sài và qua loa hơn.

* Nguyên nhân từ phía khách hàng vay: Các yếu tố chủ quan từ phía bên đi vay chính gây ra tổn thất trong hoạt động tín dụng cho ngân hàng, có thể do khách hàng cố ý lừa đảo hay do họ gặp khó khăn khách quan trong quá trình sử dụng vốn vay: Cố tình Sử dụng vốn sai mục đích,Khả năng quản lý kinh doanh kém, thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay. Đối với hoạt động cho vay tiêu dùng vấn đề liên quan đến đạo đức và thiện chí trả nợ của người đi vay được quan tâm hàng đầu, thẩm định một khách hàng cố tình lừa đảo sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với một khách hàng tìm đến ngân hàng với nhu cầu sử dụng tiền vay thật sự, vì khách hàng đã chủ đích lừa đảo để chiếm dụng vốn của ngân hàng, họ sẽ rất tinh vi che đậy các chứng cứ và dấu hiệu lừa đảo, những trường hợp này thường sẽ dễ tạo được niềm tin nhiều nhất với ngân hàng.

* Nguyên nhân từ môi trường: Cũng như hoạt động của các chủ thể kinh tế khác, hoạt động cho vay nói chung của NHTM cũng như hoạt động cho vay tiêu dùng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan từ môi trường kinh tế, môi trường chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội, môi trường pháp lý và các tác động chung của khu vực và địa phương…

e. Tác động của rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng

– Đối với ngân hàng: Giảm lợi nhuận Ngân hàng: Khi rủi ro tín dụng xảy ra từ việc không thu hồi được hoặc thu hồi không đủ nợ, trong khi đó bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay, ngân hàng vẫn phải trả các chi phí hoạt động, trả chi phí sử dụng vốn. Điều này làm cho khoản lợi nhuận của Ngân hàng giả do thu nhập giảm và chi phí phải trả tăng do phát sinh thêm chi phí giám sát, xử lý và thu hồi các khoản nợ trên. Không những bị thất thoát vốn mà Ngân hàng còn phải dùng nguồn vốn tự có để trích lập dự phòng và chi trả các chi phí phát sinh. Làm mất cân đối giữa hai dòng tiền vào và dòng tiền ra, do đó khả năng chi trả của ngân hàng sẽ bị hạn chế, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán các nguồn tiền gửi, làm ảnh hưởng quy mô hoạt động và gây ra rủi ro thanh khoản và rủi ro vỡ nợ đối với ngân hàng. Khi mất khả năng thanh khoản sẽ dễ làm mất uy tín và niềm tin đối với dân cư và việc huy động vốn trong dân cư và tổ chức kinh tế cũng khó khăn, phải vay vốn trên thị trường liên ngân hàng.

– Tác động đến nền kinh tế: Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó liên quan đến mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, là khâu cốt yếu cung cấp vốn cho nền kinh tế, có ảnh hưởng lớn đến chính sách tiền tệ, đến công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước. Nếu rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ nghiêm trọng gây thất thoát lớn trong hoạt động tín dụng dù chỉ ở một ngân hàng cho vay trực thuộc, không khắc phục kịp thời thì có thể gây nên “phản ứng dây truyền” đe doạ đến an toàn và ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây hậu quả rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế như làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, khủng hoảng tài chính, xã hội mất ổn định.

1.2. KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1. Khái niệm kiểm soát rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

Quản trị RRTD được hiểu là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đánh giá, kiểm soát, và tối thiểu hóa những tác động bất lợi của rủi ro. Quá trình quản trị rủi ro gồm 4 bước chắt chẽ: nhận dạng rủi ro, đánh giá rủi ro, kiểm soát rủi ro, tài trơ rủi ro thì kiểm soát rủi ro đây là bước quan trọng không thể thiếu trong công tác quản trị rủi ro của NHTM. Quản trị rủi ro tín dụng tốt là nhân tố chủ yếu quyết định thành công của NHTM. Ngược lại, thất bại của các NHTM phần khá lớn bắt nguồn từ những vấn đề về tín dụng.

Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của NHTM là việc ngân hàng sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và những quá trình nhằm chủ động điều khiển, nhằm biến đổi rủi ro tín dụng thông qua việc né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu, phân tán, chuyển giao bằng cách khống chế xác suất xảy ra, khống chế mức độ thiệt hại khi rủi ro trong cho vay tiêu dùng xảy ra và giảm thiểu nếu rủi ro xảy ra, giám sát các khoản cho vay tiêu dùng sau cho vay, hoặc nếu tổn thất xảy ra NHTM chuyển giao tổn thất cho bên thứ 3 như chuyển giao nội bộ, lập quỹ dự phòng tài chính, chuyển giao bên ngoài như mua bảo hiểm.

1.2.2. Nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

Căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính và khả năng chấp nhận rủi ro mà có những kỹ thuật phòng chống khác nhau nhằm làm giảm mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra. Cụ thể như sau:

Né tránh rủi ro: là chủ động né tránh những hoạt động, con người, tài sản hoặc những nguyên nhân, hoạt động có nguy cơ tạo phát sinh rủi ro dẫn đến xảy ra tổn thất, mất mát lớn.

Né tránh rủi ro là biện pháp hữu hiệu, an toàn, triệt để và đơn giản nhất mà cũng ít tốn chi phí nhất trong kiểm soát rủi ro tín dụng, nhằm giúp loại bỏ những nguyên nhân gây ra tổn thất có thể ngay từ đầu hoặc loại bỏ những nguyên nhân gây ra tổn thất đã thừa nhận. Trong công tác thẩm định trước khi cho vay, ngân hàng tiến hành tìm hiểu, xếp loại, sàn lọc những khách hàng có kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng thấp, khả năng thanh toán thấp, nguồn thu nhập hàng tháng không ổn đinh, TSBĐ có tính thanh khoản không cao….cùng với những đánh giá, nhận định của CBTD, đã thấy được những khác hàng có chứa đựng tiềm ẩn rủi ro lớn, không phù hợp với những chính sách cho vay thì từ biện pháp tốt nhất giúp Ngân hàng tránh những rủi ro tín dụng là từ chối cấp tín dụng ngay từ đầu.

Ngăn ngừa rủi ro: là việc tìm cách giảm bớt hoặc ngăn ngừa khả năng xảy ra rủi ro để hạn chế tối đa tổn thất xảy ra hoặc loại bỏ tổn thất hoàn toàn.

Với những khoản cho vay có thể xác định được yếu tố rủi ro nhưng mức độ xảy ra rủi ro không cao và có thể khắc phục được thì ngân hàng có thể xem xét, cân nhắc cho vay và thực hiện giám sát và sử dụng các biện pháp ngừa tổn thất như: Xây dựng qui trình thu thập, phân tích thông tin khách hàng vay vốn cụ thể nhằm giảm bớt thông tin bất đối xứng, thực hiện đúng quy trình tín dụng giúp dễ dàng phát hiện những biểu hiện và kiểm soát được những nguyên nhân dẫn đến rủi ro cao cho ngân hàng, đặc biệt là nâng cao hiệu quả công tác thẩm định trước khi cho vay và trong khi cho vay, giám sát chặt chẽ sau quá trình giải ngân để ngăn ngừa trường hợp khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích, nguồn thu nhập chính của khách hàng bị thay đổi, sụt giảm…..

Giảm thiểu rủi ro: là biện pháp tác động trực tiếp vào rủi ro để nhằm khống chế xác suất xảy ra, và khống chế được độ thiệt hại cũng như giảm thiểu tổn thất khi rủi ro xảy ra. Biện pháp giảm thiểu tổn thất phải được dự kiến, xác định trước khi có tổn thất xảy cùng với những tính toán kỹ lưỡng để phát huy tác dụng một cách tốt nhất. Do những đặc trưng riêng trong cho vay tiêu dùng mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nhưng quy mô hợp đồng thường nhỏ dẫn đến số lượng khách hàng CVTD lớn, dễ bị tác động bởi các yếu tố khách quan bên ngoài như thiên tai, thất nghiệp, làm ăn thua lỗ … hay từ tâm lý chủ quan của khách hàng không muốn trả. Các biện pháp giảm thiểu tổn thất như xây dựng quy trình cho vay khoa hoc, chặt chẽ, tuyển nhân viên có kinh nghiệm, có sự am hiểu thị trường nhất định, kỹ năng giao tiếp, thu thập thông tin tốt và nắm bắt nhanh nhạy các mối quan hệ của khách hàng, bởi vì cho vay tiêu dùng không có nhiều số liệu để phân tích quan trọng là khả năng đánh giá, nhận định tốt năng lực kinh doanh, tình hình tài chính và tiềm lực thực sự của khách hàng trên thị trường, áp dụng công nghệ hiện đại và phù hợp với trình độ để phục vụ công tác kiểm tra, rà soát, phân tích, biết được các giao dịch vượt quá thẩm quyền với những hạn mức đã được thiết lập sẵn, cảnh báo giao dịch với các khách hàng đáng ngờ thông qua danh sách khách hàng cảnh báo được cài đặt trên toàn hệ thống, phải có tài sản bảo đảm để nâng cao trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ, TSBĐ cũng là biện pháp nâng cao trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ, tài sản phải đảm bảo tính thanh khoản và giá trị tài sản đủ đảm bảo cho dư nợ vay, hợp đồng bảo đảm tiền vay; Định giá khoản vay có phần bù rủi ro thông qua yếu tố lãi suất, phí, thực hiện trích lập dự phòng để phân tán tổn thất cho nhiều kỳ.

Ưu điểm: Giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất, giúp Ngân hàng có khả năng kiếm được một phần lợi nhuận khi áp dụng các biện pháp giảm thiểu rủi ro mà không loại bỏ hoàn toàn cơ hội kinh doanh.

Nhược điểm: là hoạt động giảm thiểu tổn thất chứ không ngăn ngừa được hoàn toàn tổn thất xảy ra.

Chuyển giao rủi ro: Là biện pháp chuyển giao tổn thất cho bên thứ 3, gồm: chuyển giao nội bộ, lập quỹ dự phòng tài chính,chuyển giao bên ngoài như mua bảo hiểm. Chuyển giao rủi ro giúp cho NHTM giảm áp lực gánh chịu tổn thất khi rủi ro xảy ra, giảm tác động đến toàn bộ tổ chức.Chuyển giao kiểm soát rủi ro có thể thực hiện bằng hai cách:

Chuyển giao tài sản và hoạt động rủi ro đến một người hoặc nhóm người.

Chuyển giao bằng hợp đồng giao ước đó là chỉ chuyển giao rủi ro, không chuyển giao tài sản và hoạt động của nó đến người nhận rủi ro.

Đa dạng hóa rủi ro: Là việc ngân hàng thực hiện đa dạng hóa các danh mục đầu tư, đối tượng đầu tư, không tập trung quá nhiều vốn vào một lĩnh vực, một đối tượng khách hàng hoặc nhóm khách hàng có liên quan để phân tán và trung hòa rủi ro.

Khi sử dụng biện pháp đa dạng hóa trong đầu tư tín dụng sẽ làm cho xác suất rủi ro toàn bộ tài sản giảm đi, mức độ tổn thất trên tổng thể cũng sẽ giảm nhiều khi có rủi ro xảy ra. Có 3 loại đa dạng hóa là đa dạng hóa theo chủ thể vay, Đa dạng hóa theo khu vực địa lý, Đa dạng hóa theo ngành.

1.2.3. Tiêu chí phản ánh kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

Để kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của NHTM đạt hiệu quả cao thì ngân hàng thì việc đưa ra tiêu chí kiểm soát, mỗi một tiêu chí đều có ưu nhược điểm riêng biệt nên việc đánh giá tốt nhất kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng cần kết hợp tất cả các tiêu chí:

a. Sự cải thiện cơ cấu nhóm nợ

Là việc ngân hàng thay đổi tỷ trọng dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 trên tổng dư nợ qua các thời điểm theo hướng tăng tỷ trọng nợ có mức rủi ro thấp nhưng giảm tỷ trọng của nhóm nợ có mức rủi ro cao. Tỷ trọng nợ nhóm 1 càng cao, các nhóm nợ còn lại càng thấp cho thấy chất lượng tín dụng càng tốt; nợ xấu thấp, rủi ro càng thấp và ngược lại.

Ở Việt Nam, theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 25/04/2005 của NHNN Việt Nam, nợ vay được phân thành 05 nhóm nợ sau:

– Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn

– Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý

– Nợ nhóm 3; Nợ dưới tiêu chuẩn

– Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ

– Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn.

Nếu ngân hàng có chỉ tiêu: Số dư nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng/ Tổng dư nợ, Số khách hàng có nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng/Tổng số khách hàng đang có dư nợ lớn thì ngân hàng đó có mức rủi ro cao trong hoạt động cho vay tiêu dùng. Từ đó, giúp ngân hàng điều chỉnh lại cơ chế cho vay, tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát để có giải pháp phù hợp.

b. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay tiêu dùng

Nợ xấu: là các khoản cho khác hàng vay mà khó có thể thu hồi từ 90 ngày trờ lên, do khách hàng mất khả năng thanh toán, lăm ăn thua lỗ, phá sản, không có việc làm tạo ra thu nhập….Nợ xấu là nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).

Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng:

= x 100%

Tỷ lệ nợ xấu cho vay tiêu dùng trên VCSH:

= x 100%

Tỷ lệ nợ xấu cho vay tiêu dùng trên QDP tổn thất:

= x 100%

Đây là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một cách rõ nét kết quả hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng tại NHTM. Chỉ tiêu này cho thấy tình hình nợ xấu của ngân hàng tại một thời điểm, sự biến động nợ xấu có ảnh hưởng đến tỏng dư nợ, vốn chữ sở hữu hay quỹ dự phòng tổn thất của ngân hàng từ đó đưa ra biện pháp để kiểm soát RRTD một cách tốt nhất.

c. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

Việc sử dụng dự phòng rủi ro của một ngân hàng là nhằm bù đắp tổn thất đối với những khoản nợ của ngân hàng xảy ra trong trường hợp khách hàng không có khả năng chi trả do bệnh tật, chết, mất tích, bỏ đi khỏi địa phương hoặc khi khoản nợ được xếp vào nhóm 5.

Dự phòng cụ thể là để bảo hiểm, dự phòng rủi ro cụ thể cho từng khoản vay

Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của NHNN Việt Nam quy định cụ thể . Số tiền dự phòng cụ thể phải trích đối với từng khách hàng như sau:

R = max [0, ( A – C )] x r.

Trong đó:

R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A: Giá trị của khoản nợ

C: Giá trị tài sản đảm bảo

r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể

Đối với từng nhóm nợ cụ thể, sẽ có tỷ lệ trích lập dự phòng tương ứng với mức độ rủi ro của từng khoản vay.

  • Nợ nhóm 1: r = 0% ;
  • Nợ nhóm 2: r = 5% ;
  • Nợ nhóm 3: r = 20 % ;
  • Nợ nhóm 4: r = 50% ;
  • Nợ nhóm 5: r = 100%.
Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể=Số đã trích lập dự phòng cụ thể (R)× 100%
Tổng dư nợ

Số trích lập dự phòng cụ thể không chỉ dựa trên giá trị khoản nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng, mà còn dựa trên giá trị TSĐB. Khi mức tỷ lệ dự phòng giảm nghĩa là NHTM đã giảm được một khoản chi phí, tăng thêm lợi nhuận, đây là kết quả có được từ việc áp dụng các quy trình hoạt động kiểm soát RRTD đối với khách hàng cá nhân vay tiêu dùng đã đem lại hiệu quả và ngược lại. Chỉ tiêu tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể cũng thể hiện tình hình bảo đảm nợ vay, chất lượng TSBĐ khoản vay của các NHTM.

d. Tỷ lệ xóa nợ ròng trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

Nợ xóa (hay còn gọi là nợ đã xử lý rủi ro, nợ xử lý ngoại bảng) là nợ xấu trong một thời gian theo quy định và khách hàng không còn khả năng chi trả nên ngân hàng phải xóa nợ bằng cách sử dụng nguồn dự phòng rủi ro đã trích để thực hiện xóa nợ và thực hiện thu khi có điều kiện .

Tỷ lệ xóa nợ ròng = x 100%

Chỉ tiêu này thể hiện mức độ rủi ro rõ ràng hơn do phản ánh mức tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu, cũng phản ánh khả năng thu nợ từ các khoản nợ đã chuyển ra ngoại bản. Nếu một NHTM có tỷ lệ xóa nợ cao chứng tỏ chất lượng tín dụng cho vay tại chi nhánh đó không tốt.

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

a. Nhóm nhân tố bên trong ngân hàng

Chiến lược kinh doanh: Chiến lược kinh doanh liên quan đến khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường. Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra các cơ hội mới,…Đây là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến kiểm soát rủi ro tín dụng . 

Chính sách tín dụng: Là những quy định, chính sách của ngân hàng trong hoạt động tín dụng, có tác động rất lớn đến chất lượng tín dụng khách hàng cho vay tiêu dùng đối với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình phục vụ nhu cầu đời sống tuỳ từng mục đích vay vốn sẽ có những chính sách phù hợp nhằm mục tiêu phát triển bền vững, hiệu quả. Từ đó, tạo ra một định hướng, khung hướng dẫn tổng quát giúp cán bộ của NHTM có định hướng để đưa ra các quyết định tín dụng đúng đắn.

Năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ và lãnh đạo: Năng lực chuyên môn và kinh nghiệ làm việc của CBTĐ ảnh hướng rất nhiều đến chất lượng kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng của NHTM. Do vậy, cán bộ phải có kiến thức chuyên môn tốt, khả năng nghiệp vụ, khả năng tổng hợp, phân tích, đánh giá, phán đoán và nhận diện khách hàng ,có trách nhiệm và kinh nghiệm và nhạy bén trong công việc, trên cơ sở đó lựa chọn được những khách hàng có đủ năng lực pháp lý, có đủ năng lực tài chính, có tư cách đạo đức tốt. Năng lực quản trị, điều hành cũng là điều quan trọng đối trong hoạt động ngân hàng, khi ngân hàng có bộ máy quản lý điều hành tốt, đưa ra được những định hướng, chính sách và các chiến lược phù hợp đối với từng khách hàng, từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau thì mới duy trì được lượng khách hàng ổn định bền vững, đồng thời sẽ thu hút khách hàng mới giúp phát triển mở rộng thị phần, phân tán rủi ro. Đạo đức nghề nghiệp cũng là một yếu tố không thể thiếu đối vơi một người cán bộ ngân hàng, đa phần các tổn thất lớn của các NHTM đều xuất phát từ vấn đề đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng.

Công tác thông tin: Trên cơ sở nguồn thông tin nhận được, NHTM thực hiện phân tích tín dụng để đánh giá khả năng hiện tại và tiềm năng của khách hàng về sử dụng vốn, cũng như khả năng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng. NHTM sẽ tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng và tiên lượng khả năng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng về các rủi ro đó, dự kiến biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra.

Công nghệ của ngân hàng: Công nghệ hiện đại giúp cho NHTM cung cấp dịch vụ hiện đại, phong phú, phục vụ nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của khách hàng. Trong khi đó, đặc thù của hoạt động cho vay tiêu dùng là khách hàng cá nhân là giao dịch với số lượng khách hàng đông và đa dạng, NHTM phải thực hiện một số lượng lớn các hợp đồng cho vay. Do đó, hệ thống công nghệ của ngân hàng hiện đại vừa tiết kiệm được thời gian công sức của cán bộ tín dụng góp phần rất nhiều trong việc quản lý hồ sơ khách hàng, cập nhật thông tin khách hàng kịp thời, cho phép ngân hàng theo dõi, tìm hiểu thông tin về khách hàng dễ dàng, thuận lợi hơn, vừa nhằm hạn chế tối đa sự nhầm lẫn, sai sót trong quá trình giao dịch với khách hàng. Qua đó, ngân hàng có thể kiểm soát rủi ro một cách hiệu quả, tiết kiệm hơn.

b. Nhóm nhân tố từ khách hàng

Năng lực tài chính của khách hàng: Các yếu tố về công việc, thu nhập hàng tháng, các vấn đề liên quan đến nguồn trả nợ của khách hàng,… các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến việc khách hàng có thanh toán nợ vay cho ngân hàng đầy đủ và đúng hạn hay không. Với mỗi cán bộ tín dụng vấn đề quan tâm đầu tiên về khách hàng của mình là khả năng trả nợ. Một khoản vay vốn được NHTM chấp nhận khi khách hàng đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về năng lực tài chính đủ lớn và lành mạnh để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng cần xem xét kỹ lưỡng những nguồn trả nợ nghi ngờ về tính lành mạnh hoặc nguồn đủ mạnh nhưng không ổn định.

Nhu cầu, thói quen và đạo đức khách hàng:  Ngoài những nhân tố trên còn kể đến nhân tố khách quan bên ngoài ngân hàng cũng ảnh hưởng tới cho vay KHCN, đó là đạo đức khách hàng. Nếu như khách hàng là người có ý thức thiện chí trả nợ tốt, kiểm soát rủi ro tín dụng thấp thì sẽ kích thích ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay, các quy định cũng không quá khắt khe, khách hàng không hợp tác với ngân hàng, tự giác trả nợ vay thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác kiểm soát RRTD.

c. Nhóm các nhân tố khác

Môi trường kinh tế, chính trị: có ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân và hộ gia đình. Nếu nền kinh tế phát triển tốt, thu nhập bình quân đầu người cao và môi trường chính trị ổn định thì hoạt động cho vay đối với khác hàng các nhân cũng sẽ diễn ra thông suốt, nhu cầu vay vốn tiêu dùng của người dân cao, thu nhập ổn định hơn và khả năng thanh toán nợ vay cũng đảm bảo hơn, phát triển vững chắc và hạn chế rắc rối xảy ra. Tuy nhiên, khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập của người tiêu dùng không ổn định, nhu cầu vay vốn để tiêu dùng cũng vì thế mà giảm đi, khả năng thanh toán gốc và lãi vay trở nên khó khăn hơn và hoạt động cho vay của NHTM sẽ gặp nhiều khó khăn dẫn đến khó khăn trong công tác kiểm soát rủi ro tín dụng.

Môi trường thông tin: Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng là quan hệ kinh tế, vì vậy phát sinh nhu cầu trao đổi và thu thập thông tin giữa các bên. Tuy nhiên, do thông tin bất cân xứng NH thường không có đầy đủ thông tin của khách hàng. Việc khai thác thông tin khách hàng chủ yếu từ thông tin CIC của NHNN nên vẫn chưa đủ để đáp ứng quá trình khai thác thông tin của các NHTM dẫn đến công tác kiểm soát rủi ro cũng khó khăn, vì vậy lựa chọn những khách hàng có khả năng trả nợ, ngân hàng lại cho vay những khách hàng có khả năng trả nợ cho ngân hàng thấp, gây rủi ro cho ngân hàng, gây rủi ro cho ngân hàng và tác động đến công tác kiểm soát rủi ro tín dụng.

Môi trường pháp lý: Những văn bản quy định về việc kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng được sửa đổi, bổ sung thường xuyên để phù hợp với từng thời kỳ do đó các cán bộ tín dụng khó khăn trong việc cập nhật và thực hiện. Ngoài ra, thời gian khiếu kiện, thụ lý vụ án kéo dài không phù hợp gây cản trở rất nhiều dẫn đến giảm chất lượng, giá trị của tài sản đảm bảo dẫn đến ngân hàng không thu hồi đủ các khoản nợ vay, dẫn đến công tác kiểm soát rủi ro cũng khó khăn.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, với mục tiêu chủ yếu là hệ thống hoá những cơ sở lý luận chung, cơ bản về hoạt động cho vay tiêu dùng, RRTD trong cho vay tiêu dùng, kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng của NHTM, đưa ra được các tiêu chí đánh giá để xác định kết quả hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của NHTM và nêu ra những nhân tố ảnh hưởng công tác kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng. Đây sẽ là những chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá thực trạng cụ thể về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại Agribank chi nhánh Thăng Bình ở chương 2, đồng thời là căn cứ để đưa ra các khuyến nghị hoàn thiện hoạt động CVTD ở Chương 03.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HUYỆN THĂNG BÌNH, QUẢNG NAM

2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HUYỆN THĂNG BÌNH, QUẢNG NAM

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Agribank chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

Theo quyết định số 340/QĐ-NHN0-02, ngày 19/06/1998 của Tổng giám đốc Agribank, thành lập Agribank chi nhánh huyện Thăng Bình, là chi nhánh cấp 2 dưới sự quản lý trực tiếp và trực thuộc Agribank chi nhánh tỉnh Quảng Nam- chi nhánh cấp 1

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Thăng Bình là chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Nam của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, hoạt động theo Luật Các tổ chức Tín dụng, Điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam ( ban hành ngày 23/4/2012 theo Quyết định số 600/QĐ-HĐTV và các định chế pháp luật khác có liên quan.

Agribank chi nhánh huyện Thăng Bình hiện nay có trụ sở đặt tại số 22 Nguyễn Hoàng huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Với vị thế đặt tại trung tâm thị trấn Hà Lam cùng với 3 phòng giao dịch trải đều trên địa bàn huyện Thăng Bình với đội ngũ cán bộ viên chức dưới sự chỉ đạo kịp thời của Ban lãnh đạo. Agribank chi nhánh huyện Thăng Bình đã không ngừng nỗ lực, vượt qua khó khăn, phấn đấu hoạt động tốt, tăng khả năng cạnh tranh với các NHTM khác, NH không ngừng mở rộng tiếp thị các đối tượng khách hàng là hộ gia đình, cá nhân, tổ chức giúp Chi nhánh không ngừng gia tăng số lượng khách hàng và địa bàn hoạt động, vì thế đã đạt được nhiều thành tích trong hoạt động kinh doanh , phát triển cả về dư nợ và nguồn vốn đưa chi nhánh nằm trong danh sách các ngân hàng có nguồn vốn đạt trên 2.000 tỷ đồng.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ

a. Cơ cấu tổ chức

Hình 2.1. Sơ đồ bộ máy quản lý tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thồn – chi nhánh huyện Thăng Bình, Quảng Nam

Mỗi phòng ban thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo sự phân công và chỉ đạo của Ban Giám đốc.

b. Chức năng, nhiệm vụ mỗi bộ phận

– Giám đốc: là người đứng đầu của chi nhánh, người tổ chức quản lý mọi hoạt động kinh doanh của chi nhánh, phụ trách về công tác cán bộ, chỉ đạo hoạt động của các phòng ban, chịu trách nhiệm chung về hoạt động của cả chi nhánh, là người chịu trách nhiệm cao nhất trước Giám đốc NHNo&PTNN chi nhánh tỉnh Quảng Nam và Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam

– Phó giám đốc: là người được uỷ quyền về một số nghiệp vụ cụ thể theo sự phân công của giám đốc , điều hành hoạt động kinh doanh trợ giúp cho giám đốc, thực hiện các công tác khi giám đốc vắng mặt và chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về những công việc mình đã quyết định.

– Phòng Kế toán Ngân Quỹ: có trách nhiệm giao dịch với khách hàng, huy động vốn của các tổ chức kinh tế và cá nhân, chi trả kiều hối, thu chi tiền mặt, chuyển tiền và các dịch vụ thanh toán khác… Thực hiện công tác kế toán, tài chính cho hoạt động của chi nhánh. Trực tiếp quản lý tài khoản trên cân đối tại chi nhánh, xây dựng chứng từ sổ sách và đóng tập chứng từ theo quy định hiện hành của Agribank….

– Phòng Kế hoạch kinh doanh: là bộ phận trực tiếp giao dịch với các khách hàng vay vốn ở địa bàn thị Trấn Hà Lam, xã Bình Phục, xã Bình Nguyên , tiếp nhận hồ sơ vay vốn hướng dẫn khách hàng làm thủ tục, hồ sơ xin vay và có trách nhiệm kiểm tra trước, sau khi cho vay để không xảy ra tổn thất, rủi ro cho chi nhánh. Và các món vay vượt hạn mức phê duyệt ở các phòng giao dịch trực thuộc trước khi trình giám đốc phê duyệt. Lập kế hoạch kinh doanh, thực hiện tính toán đưa ra phương hướng phát triển cho toàn chi nhánh và lập các báo cáo, thống kê về quản trị tín dụng theo qui định.

– Phòng giao dịch Bình Quý: có địa chỉ tại tổ 2B, thôn Quý Thạnh, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

Thực hiện các nghiệp vụ NH do Giám đốc chi nhánh ủy quyền như: huy động vốn các thành phần kinh tế, thực hiện cấp tín dụng, thực hiện các nghiệp vụ dịch vụ NH để tạo điều kiện thuận lợi phục vụ khách hàng ở 6 xã phía tây huyện Thăng Bình bao gồm: xã Bình Quý, xã Bình Phú, xã Bình Định Bắc, xã Bình Định Nam, xã Bình Phú, xã Bình Trị, xã Bình Lãnh.

– Phòng giao dịch Chợ Được: được đặt tại Thôn 3, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam.

Thực hiện các nghiệp vụ NH do Giám đốc chi nhánh ủy quyền như: huy động vốn các thành phần kinh tế, thực hiện cấp tín dụng, thực hiện các nghiệp vụ dịch vụ NH để tạo điều kiện thuận lợi phục vụ khách hàng ở 6 xã phía xã phía đông huyện Thăng Bình gồm: xã Bình Đào, xã Bình Triều, xã Bình Minh, xã Bình Dương, xã Bình Hải, xã Bình Giang.

– Phòng giao dịch Kế Xuyên: có địa chỉ tại thôn Kế Xuyên, xã Bình Trung, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

Thực hiện các chức năng tương tự phòng giao dịch Bình Quý. Phòng giao dịch Kế Xuyên tham gia phục vụ chủ yếu 7 xã phía Nam huyện Thăng Bình gồm: xã Bình Trung, xã Bình An, xã Bình Tú, xã Bình Chánh, xã Bình Quế, xã Bình Sa, xã Bình Nam.

2.1.3. Tình hình HĐKD của Chi nhánh Agribank chi nhánh huyện Thăng Bình giai đoạn từ năm 2017-2019

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QTRR TÍN DỤNG CVTD

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *