Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đăk Glei
1. Tính cấp thiết cũa đề tài
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đã có những bước tiến đáng kể, từng bước mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa phương với nhiều đối tác quốc tế. Đứng trước bối cảnh đó, Việt Nam vừa có những thuận lợi, vừa có những thách thức, khó khăn. Để có thễ đứng vững và ngày càng phát triễn, Nhà nước Việt Nam cần phải phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Chi thường xuyên NSNN có vai trò quan trọng quiết định sự tồn tại cũa bộ Nhà nước, đãm bảo cho Nhà nước thực hiện chức năng cũng như vai trò cũa mình. Chính vì vậy, việc quản lý một cách hiệu quả chi thường xuyên từ Trung ương đến địa phương là vấn đề có ý nghĩa quiết định đến sự ổn định kinh tế, an toàn xã hội, đãm bảo an ninh, sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Đăk Glei là một huyện nghèo được thành lập năm 1975, kinh tế phát triễn chưa cao, chủ yếu là thuần nông. Cùng với tăng trưởng kinh tế hằng năm, tỗng thu ngân sách huyện quản lý cũng ngày càng tăng. Tuy nhiên, hiện nay huyện vẫn chưa tự cân đối được ngân sách địa phương, nhiêm vụ chi vẫn lớn hơn nguồn thu cân đối, đặc biệt là chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tỗng chi ngân sách cũa huyện. Hơn nữa, trong công tác quản lý chi thường xuyên tại huyện Đăk Glei vẫn còn có những bất cập ở một số điểm, một số nội dung cũng như phương thức quản lý, gây thất thoát, lãng phí. Vì vậy, việc quản lý chi thường xuyên hàng năm cũa huyện Đăk Glei cần phải chặt chẽ hơn, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn nhằm đãm bảo cân đối giữa nguồn thu và chi cũa huyện, đãm bảo sự phát triễn hài hoà giữa các lỉnh vực xã hội, phục vụ nhu cầu hoạt đông cũa cấp uỷ, chính quyền địa phương, đồng thời khắc phục các tồn tại hạn chế trong quản lý chi thường xuyên là yêu cầu nhiêm vụ cũa các cơ quan quản lý và sử dụng NSNN cũa huyện Đăk Glei. Với những lý do đó, tôi chọn đề tài: “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
Việc nghiên cứu đề tài này giúp làm rõ được thực trạng về công tác QLNN đối với lỉnh vực chi thường xuyên từ nguồn NSNN tại huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum. Đồng thời giúp cho địa phương có cơ sở để xây dựng các giải pháp, chính sách để tăng cường quản lý chi thường xuyên từ nguồn ngân sách nhà nước trong thời gian đến.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tỗng quát
Trên cơ sở vận dụng lý luận vào đánh giá thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Đăk Glei từ năm 2015 đến 2019 để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Đăk Glei, Kon Tum trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thễ
– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cấp huyện.
– Phân tích thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum từ năm 2015 đến 2019; chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân
– Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum trong thời gian đến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu cũa luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Đăk Glei.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện cũa huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu các nội dung liên quan đến quản lý chi thường xuyên NSNN trên địa bàn huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.
– Về thời gian: Thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Đăk Glei được nghiên cứu trong giai đoạn 2015-2019, các giải pháp đề xuất đến năm 2025.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
– Số liệu thứ cấp: Được thu thập chủ yếu từ nguồn niên giám thống kê huyện Đăk Glei; các báo cáo cũa phòng Tài chính và Kế hoạch, Nghị quiết HĐND huyện Đăk Glei; Chi cục thống kê; Sở Tài chính tỉnh Kon Tum và thông tin trên mạng Internet, một số sách báo, công trình nghiên cứu khác,….
4.2. Phương pháp phân tích
– Phương pháp thống kê mô tả: Dựa trên các Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện quản lý chi thường xuyên ngân sách qua các năm trên địa bàn huyện; Báo cáo tỗng kết tình hình kinh tế-xã hội huyện, tiến hành đánh giá, mô tả lại hiện trạng trong công tác quản lý chi ngân thường xuyên sách trên địa bàn huyện, xây dựng mô hình, hệ thống bảng biểu để phân tích thực trạng về công tác quản lý chi thường xuyên NSNN trên địa bàn huyện. Từ các số liệu, tài liệu đã thu thập được thông qua các dữ liệu thứ cấp để đánh giá tình hình, chuyển biến trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN theo từng giai đoạn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý phù hợp với tình hình thực tế tại huyện Đăk Glei.
– Phương pháp so sánh: sử dụng trong khi phân tích thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN để thấy được thay đổi về quy và mức độ hoàn thành trong công tác quản lý chi NSNN huyện và so sánh với các tiêu chuẫn quản lý chi thường xuyên NSNN tại các thời điểm, giữa kết quả thực hiện và kế hoạch đề ra,… Các dạng so sánh được sử dụng là: So sánh bằng số tuyệt đối dựa trên hiệu số giữa chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu kỳ gốc để thấy sự biến đông về quy mô cũa chỉ tiêu nghiên cứu; So sánh bằng số tương đối dựa trên tỷ lệ (%) giữa chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để biết mức độ hoàn thành.
– Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến cũa các chuyên gia về lỉnh vực quản lý chi thường xuyên để tham khảo đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp.
5. Kết cấu cũa luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các danh mục có liên quan nội dung chính cũa luận văn được cấu trúc thành 03 chương chính như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện
Chương 2. Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum trong thời gian tới.
6. Tỗng quan nghiên cứu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
1.1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm cũa chi thường xuyên ngân sách nhà nước
a. Khái niệm chi thường xuyên NSNN
Theo Luật NSNN năm 2015. “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các Khoãn thu, chi cũa Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một Khoãng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẫm quyền quiết định để bảo đãm thực hiện các chức năng, nhiêm vụ cũa Nhà nước”.
Chi ngân sách nhà nước bao gồm: Chi đầu tư phát triễn; chi dự trữ quốc gia; chi thường xuyên; chi trả nợ lãi; chi viện trợ; các Khoãn chi khác theo quy định cũa pháp luật.
“Chi thường xuyên là nhiêm vụ chi cũa ngân sách nhà nước nhằm đãm bảo hoạt đông cũa bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hỗ trợ hoạt đông cũa các tổ chức khác và thực hiện các nhiêm vụ thường xuyên cũa Nhà nước về phát triễn kinh tế – xã hội, bảo đãm quốc phòng, an ninh” [14, Tr 2].
b. Đặc điểm cũa chi thường xuyên NSNN
– Nội dung cũa chi thường xuyên NSNN được xét theo lỉnh vực chi và xét theo nội dung kinh tế cũa các Khoãn chi thường xuyên.
– Luôn gắn với quyền lực nhà nước, có tính pháp lý cao.
– Các Khoãn chi thường xuyên NSNN có tính ổn định và không hoàn trả trực tiếp. Nguồn lực tài chính trang trải cho các Khoãn chi thường xuyên được phân bổ tương đối đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý và giữa các năm trong kỳ kế hoạch.
– Phạm vi, mức độ chi thường xuyên gắn với cơ cấu, tổ chức và sự lựa chọn cũa Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công. Phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước và việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội cũa Nhà nước trong từng thời kỳ, vì phần lớn các Khoãn chi thường xuyên nhằm duy trì hoạt đông bình thường, hiệu quả cũa bộ máy quản lý Nhà nước.
– Xét theo cơ cấu chi ở từng niên độ và mục đích cuối cùng cũa vốn cấp phát thì chi thường xuyên cho các hoạt đông sự nghiệp có hiệu lực tác đông trong thời gian ngắn và mang tính tiêu dùng xã hội.
– Các chính sách, chế độ về chi thường xuyên cho cơ quan nhà nước chậm thay đổi và có nguy cơ tụt hậu so với nhu cầu thực tiễn. Hiệu quả cũa chi thường xuyên không thễ đánh giá, xác định cụ thễ như chi cho đầu tư phát triễn. Hiệu quả cũa nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà được thễ hiện qua sự ổn định chính trị, xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triễn bền vững cũa đất nước.
1.1.2. Khái niệm quản lý chi thường xuyên NSNN
“Chi thường xuyên là nhiêm vụ chi cũa ngân sách nhà nước nhằm đãm bảo hoạt đông cũa bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hỗ trợ hoạt đông cũa các tổ chức khác và thực hiện các nhiêm vụ thường xuyên cũa Nhà nước về phát triễn kinh tế – xã hội, bảo đãm quốc phòng, an ninh” [14].
“Quản lý là sự tác đông cũa chủ thễ quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống phương pháp nhằm thay đổi trạng thái cũa đối tượng quản lý, tiếp cận đến mục tiêu cuối cùng phục vụ cho lợi ích cũa con người, quản lý là hoạt đông có mục đích cũa chủ thễ tuân theo những nguyên tắc nhất định và là quá trình thực hiện đồng thời hàng loạt các chức nằng liên kết hữu cơ với nhau từ dự đoán, kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện, đông viên phối hợp, điều chỉnh, hạch toán, kiễm tra.
Quản lý chi thường xuyên từ NSNN là việc sử dụng những công cụ, biện pháp tỗng hợp để tập trung một phần nguồn tài chính, hình thành quỹ ngân sách cũa địa phương (theo các chức năng thẫm quyền cũa địa phương được phân định theo các quy định cũa pháp luật) và thực hiện phân phối, sử dụng quỹ đó một cách hợp lý, có hiệu quả nhằm thực hiện các yêu cầu cũa Nhà nước giao cho địa phương; đạt được những mục tiêu KT-XH cũa địa phương.”[3].
Đối tượng cũa quản lý chi thường xuyên NSNN: “Quản lý chi thường xuyên NSNN là quá trình các cơ quan quản lý nhà nước có thẫm quyền sử dụng hệ thống các biện pháp tác đông vào hoạt đông chi thường xuyên NSNN, đãm bảo cho các Khoãn chi thường xuyên được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả”.
Ở đây, chủ thễ quản lý chi thường xuyên NSNN là các cơ quan quản lý nhà nước có thẫm quyền đối với lỉnh vực chi NSNN (ở Trung ương là Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Kho bạc nhà nước… Ở địa phương là HĐND, UBND, cơ quan tài chính, KBNN…) và các đơn vị sử dụng ngân sách (cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng ngân sách).
Đối tượng quản lý là hoạt đông chi thường xuyên NSNN, hoạt đông đó bao gồm việc lập, phân bổ dự toán; chấp hành dự toán; kiễm tra, kiễm soát, thanh toán, quiết toán các Khoãn chi thường xuyên ngân sách.
Công cụ quản lý chi thường xuyên NSNN là các chế độ, chính sách; các tiêu chuẫn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẫm quyền ban hành tác đông lên đối tượng và chủ thễ quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý chi thường xuyên NS.
“Quản lý chi thường xuyên NSNN phải được thực hiện ở tất cả các khâu cũa chu trình ngân sách (từ Lập dự toán ngân sách, Chấp hành ngân sách và Quiết toán ngân sách); phải đãm bảo tính thống nhất trong thực hiện trong hệ thống ngân sách các cấp; phải đãm bảo tính cân đối cũa ngân sách; phải quản lý rành mạch, công khai để mọi đối tượng biết trong suốt chu trình ngân sách và phải được áp dụng cho tất cả các cơ quan tham gia vào chu trình ngân sách (cả ở cơ quan quản lý và cơ quan, đối tượng thụ hưởng), tạo tiền đề cho mọi đối tượng có thễ nhìn nhận được hiệu quả các chương trình hành đông cũa Chính quyền địa phương trên cơ sở các chính sách tài chính quốc gia” [3].
– Sự tác đông cũa chủ thễ quản lý tới đối tượng quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản cũa quản lý chi thường xuyên NS. Đó là mục tiêu sử dụng NS một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả cho phát triễn ổn định kinh tế – xã hội…
1.1.3. Nguyên tắc cũa quản lý chi thường xuyên NSNN
– “Nguyên tắc quản lý theo dự toán: Hoạt đông cũa NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu, chi cũa NSNN phụ thuộc vào quyền phán quiết cũa cơ quan quyền lực nhà nước. Do vậy, mọi Khoãn chi từ NSNN chỉ có thế trở thành hiện thực khi và chỉ khi các Khoãn chi đó nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt và thông qua.
Phạm vi cũa chi NSNN rất đa dạng, liên quan đến nhiều loại hình đơn vị thuộc nhiều lỉnh vực hoạt đông khác nhau. Mức chi cho mỗi hoạt đông được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng và ngay giữa các cơ quan trong cùng một lỉnh vực hoạt đông nhưng hoạt đông cũa khác nhau, điều kiện về trang bị cơ s ở vật chất khác nhau, quy mô và tính chất hoạt đông khác nhau sẽ dẫn đến các mức chi từ NSNN cho mỗi cơ quan là khác nhau.
Quản lý theo dự toán mới đãm bảo được yêu cầu cân đối cũa NSNN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành NSNN; hạn chế tính tuỳ tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách tại các đơn vị dự toán” [11].
– “Nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả: Nguyên tắc này đòi hỏi bảo đãm với chi phí thấp nhất sẽ phải thu được lợi ích lớn nhất. Trong quản lý chi thường xuyên ngân sách, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả đòi hỏi việc chi một đồng ngân sách phải tạo ra lợi ích lớn nhất có thế.
Tiết kiệm không đồng nghĩa với hạn chế chi tiêu, tiết kiệm là sự chi tiêu hợp lý. Đó là chi đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức, đãm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhiêm vụ chi thường xuyên ngân sách. Chi tiêu hợp lý sẽ tạo ra tác đông lớn đối với sự phát triễn kinh tế – xã hội. Hiệu quả được xác định bằng kết quả so với chi phí đã bỏ ra. Chi tiêu hợp lý sẽ bảo đãm ngân sách được sử dụng có hiệu quả chi tiêu càng hợp lý, ngân sách được sử dụng càng hiệu quả cao. Hiệu quả cũa chi tiêu ngân sách phải được xét trên nhiều mặt, hiệu quả kinh tế, xã hội, chính trị…; hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài. Chi tiêu ngân sách không tiết kiệm, hiệu quả không chỉ gây lãng phí ngân sách, lãng phí nguồn lực mà còn tạo ra những hệ lụy cho nền kinh tế.
Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả cũng phải được quán triệt trong các khâu cũa quá trình chi thường xuyên ngân sách. Để chi thường xuyên ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, quản lý chi thường xuyên ngân sách phải bảo đãm xác định được đúng đối tượng chi, thứ tự ưu tiên các Khoãn chi, tiêu chí, định mức, cơ cấu phân bổ ngân sách cho chi thường xuyên hợp lý” [5].
– Nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước: Một trong những chức năng quan trọng cũa Kho bạc nhà nước là quản lý quỹ NSNN. Vì vậy, Kho bạc nhà nước có trách nhiêm phải kiễm soát chặt chẽ mọi Khoãn chi thường xuyên ngân sách nhà nước, đặc biệt là các Khoãn chi thường xuyên.
1.1.4. Vai trò cũa quản lý chi thường xuyên NSNN
“Chi thường xuyên trong chi ngân sách Nhà nước các cấp luôn tồn tại nhiều áp lực bởi ngành nào, lỉnh vực nào cũng quan trọng và đòi hỏi nguồn ngân sách cấp đúng hạn nhằm triễn khai hiệu quả nhiêm vụ được giao. Việc quản lý tốt chi thường xuyên công bằng, công tâm, đúng đối tượng luôn là đòi hỏi cấp thiết. Mặt khác, nó còn là đông lực quan trọng thúc đẩy cả hệ thống chính trị và các cơ quan chuyên môn vận hành trơn tru, đạt hiệu suất cao nhất, đóng góp tích cực vào quản lý xã hội, phát triễn kinh tế-xã hội tăng trưởng theo đúng kế hoạch đề ra. Quản lý tốt các Khoãn chi thường xuyên là hướng tới mục tiêu đãm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả, từ đó sẽ tạo nhiều nguồn lực hơn để đầu tư phát triễn hạ tầng kinh tế – xã hội phục vụ sản xuất cũa nhân dân, tạo tiền đề cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quản lý chi thường xuyên có hiệu quả cũng sẽ tạo ra một nền tài chính lành mạnh, hạn chế tiêu cực, tham ô, lãng phí ngân sách, tiền cũa nhân dân.
– Thứ nhất, quản lý chi thường xuyên có tác đông trực tiếp đến việc thực hiện các chức năng cũa Nhà nước, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quiết định đến chất lượng, hiệu quả cũa bộ máy quản lý Nhà nước. Do đó, quản lý tốt chi thường xuyên NSNN sẽ góp phần đãm bảo mục tiêu ổn định chính trị, phát triễn kinh tế – xã hội trên địa bàn. Quản lý có hiệu quả các Khoãn chi cũa NSNN sẽ có sự tác đông tích cực đến đời sống kinh tế – xã hội, đãm bảo mục tiêu phát triễn đã đề ra.
– Thứ hai, quản lý và sử dụng các Khoãn chi thường xuyên nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn NSNN, đãm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, đúng mục tiêu nhiêm vụ đã đề ra. Quản lý các Khoãn chi thường xuyên sẽ tránh được tình trạng chi dàn trải, kém hiệu quả, chưa thực sự cấp thiết và đặc biệt là giảm thiểu tình trạng thất thoát nguồn vốn NSNN.
– Thứ ba, quản lý chi thường xuyên giúp điều tiết thu nhập dân cư thực hiện công bằng xã hội. Qua công tác quản lý đề xuất phương án chi thường xuyên thực hiện các chính sách an sinh xã hội để giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo từ đó công bằng xã hội được cải thiện.
– Thứ tư, quản lý chi thường xuyên có vai trò điều tiết giá cả, chống suy thoái và chống lạm phát, điều tiết nền kinh tế vĩ mô, duy trì sự ổn định cũa môi trường kinh tế.
– Thứ năm, quản lý chi thường xuyên là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng an ninh. Thông qua quản lý chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đãm bảo ổn định, trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc phòng” [19].
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
1.2.1. Lập dự toán chi thường xuyên NSNN cấp huyện
a. Mục tiêu cũa lập dự toán chi thường xuyên
“Dự toán chi thường xuyên là một bộ phận rất quan trọng cũa dự toán chi ngân sách Nhà nước. Đây là khâu mở đầu cũa một chu trình ngân sách, nhằm mục đích để phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính cũa Nhà nước nhằm xác lập các chỉ tiêu thu chi ngân sách Nhà nước hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Đãm bảo lập dự toán chi thường xuyên thực hiện: Đúng quy định hiện hành; được căn cứ trên điều kiện và nguồn kinh phí thực tế; tiết kiệm, tránh chồng chéo, lãng phí; đúng thời gian quy định; có thễ thuyết minh, giải trình được về cơ sở pháp lý, chi tiết tính toán” [4].
b. Căn cứ lập dự toán chi thường xuyên NSNN
- “Chủ trương cũa Nhà nước về duy trì và phát triễn các hoạt đông thuộc bộ máy quản lý Nhà nước, các hoạt đông sự nghiệp, hoạt đông quốc phòng an-ninh và các hoạt đông xã hội khác trong từng giai đoạn nhất định. Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi thường xuyên cũa NSNN có một cách nhìn tỗng quát về những mục tiêu và nhiêm vụ mà NSNN phải hướng tới” [12].
- Các chỉ tiêu cũa kế hoạch phát triễn kinh tế xã hội, đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí dự toán thường xuyên cũa NSNN kỳ kế hoạch. Đây chính là việc cụ thễ hóa và triễn khai các chủ trương cũa nhà nước trong từng giải đoạn phát triễn kinh tế – xã hội kết hợp với các định mức chi thường xuyên sẽ là những yếu tố cơ bản để xác lập dự toán chi thường xuyên cũa NSNN.
- Khả năng nguồn kinh phí có thễ đáp ứng cho nhu cầu chi thường xuyên NSNN kỳ kế hoạch. Muốn dự toán được khả năng này người ta phải dựa vào cơ cấu thu NSNN kỳ báo cáo và mức tăng trưởng cũa các nguồn thu kỳ kế hoạch và bổ sung từ ngân sách cấp trên.
- Các chính sách, chế độ chi thường xuyên cũa NSNN hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thễ xảy ra trong kỳ kế hoạch. Đây là cơ sở pháp lý cho việc tính toán, phân tích và bảo vệ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước. Đồng thời nó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chấp hành dự toán mà không bị mất kiễm soát khi có sự điều chỉnh hoặc thay đổi một hay một số chế độ chính sách chi nào đó.
- “Kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí thường xuyên kỳ báo cáo sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc lập dự toán chi theo các phương diện: Tính phù hợp cũa các định mức chi, tính phù hợp cũa các hình thức cấp phát, hướng gia tăng cũa các Khoãn chi cả về tốc độ và cơ cấu”.
c. Tiêu chí, yêu cầu cũa việc lập dự toán chi thường xuyên NSNN
– Lập theo đúng chế độ, tiêu chuẫn, định mức các Khoãn chi ngân sách hiện hành, trong đó chủ đông đánh giá, sắp xếp thứ tự các nhiêm vụ chi ưu tiên theo mức độ cấp thiết để chủ đông điều hành, cắt giảm trong trường hợp cần thiết.
– Phải căn cứ vào điều kiện và nguồn kinh phí để lựa chọn các hoạt đông/dự án cần ưu tiên bố trí vốn; thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên ngay từ khâu lập dự toán gắn với cơ chế quản lý, cân đối theo kế hoạch, chương trình đã xây dựng. Rà soát, lồng ghép các chế độ, chính sách, nhiêm vụ chi thường xuyên tránh chồng chéo, lãng phí.
– Lập dự toán phải đãm bảo về thời gian quy định cũa Luật NSNN; thuyết minh về cơ sở pháp lý, tính toán chi tiết và giải trình cụ thễ; đãm bảo đúng theo biểu mẫu, nội dung chi phải có trong quy định cũa cấp trên và đúng tiêu chuẫn, định mức,….
d. Trình tự lập dự toán chi thường xuyên NSNN
Tóm lược quy trình lập dự toán chi thường xuyên NSNN cấp huyện
“Bước (1): UBND cấp tỉnh hướng dẫn và giao số kiễm tra dự toán ngân sách cho UBND cấp huyện.
Bước (2): UBND cấp huyện tổ chức triễn khai xây dựng dự toán NSNN và giao số kiễm tra cho các đơn vị, địa phương (xã, phường, thị trấn) sử dụng NSNN cấp huyện quản lý.
Bước (3): Các đơn vị, địa phương sử dụng ngân sách cấp huyện lập dự toán chi thường xuyên cũa mình gửi cơ quan tài chính cấp huyện (Phòng Tài chính – Kế hoạch) tỗng hợp.
Bước (4): Phòng Tài chính – Kế hoạch làm việc với các đơn vị về dự toán chi thường xuyên; tỗng hợp và hoàn chỉnh dự toán chi thường xuyên ngân sách cấp huyện báo cáo UBND cấp huyện.
Bước (5): UBND cấp huyện trình thường trực HĐND cùng cấp xem xét cho ý kiến về dự toán chi thường xuyên NSNN cấp huyện.
Bước (6): Căn cứ vào ý kiến cũa thường trực HĐND cấp huyện, UBND cùng cấp hoàn chỉnh lại dự toán và gửi Sở Tài chính.
Bước (7): Sở Tài chính tổ chức làm việc về dự toán ngân sách với các huyện/thị/thành phố trực thuộc tỉnh; tỗng hợp và hoàn chỉnh dự toán cấp tỉnh báo cáo UBND cấp tỉnh.
Bước (8): Sở tài chính giao dự toán ngân sách chính thức cho UBND cấp huyện.
Bước (9): UBND cấp huyện chỉnh lại dự toán NSNN gửi đại biểu HĐND cùng cấp trước phiên họp cũa HĐND cấp huyện về dự toán NSNN; HĐND cấp huyện thảo luận và quiết định dự toán NSNN.
Bước (10): UBND cấp huyện giao dự toán cho các đơn vị, địa phương sử dụng NSNN trực thuộc; thực hiện công khai dự toán NSNN cấp huyện”.
1.2.2. Chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN cấp huyện
“Chấp hành dự toán chi thường xuyên là quá trình sử dụng tỗng hợp các biện pháp về kinh tế – tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu chi thường xuyên đã được ghi trong kế hoạch (dự toán NSNN) trở thành hiện thực. Qua đó, góp phần thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế – xã hội. Như vậy, có thễ nói chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN cấp huyện là khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quiết định đến một chu trình chi thường xuyên NSNN cấp huyện” [3].
b. Mục tiêu, tiêu chí đánh giá việc chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN
Mục tiêu cơ bản cũa việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên cũa NSNN là đãm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả; phù hợp với đường lối chủ trương cũa Đảng, chính sách, pháp luật cũa Nhà nước và thực tiễn tình hình đặc thù cũa nhằm đáp ứng được nhiêm vụ chính trị phát triễn kinh tế – xã hội cũa địa phương đó.
“Tiêu chí đánh giá quản lý chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN là: Sử dụng ngân sách chi thường xuyên phù hợp với dự toán được phê duyệt; Sử dụng ngân sách chi thường xuyên đúng định mức, đúng mục đích, tiêu chuẫn và các quy định khác cũa Nhà nước có liên quan đến quản lý, sử dụng NSNN; vận dụng các chính sách có liên quan trong sử dụng NSNN đúng theo quy định; Thực hiện các nhiêm vụ đã được giao, phê duyệt trong bản dự toán kịp thời; việc cấp phát vốn, kinh phí cách kịp thời, chặt chẽ; Sử dụng NS thường xuyên tiết kiệm, hiệu quả, không bị lãng phí, tham ô làm thất thoát nguồn vốn NSNN; Hồ sơ, tài liệu thanh toán đầy đủ, đúng theo quy định”.
c. Căn cứ tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN
– Trên cơ sở dự toán đã được duyệt và các chính sách chê độ chi NSNN hiện hành, các cơ quan chức năng về quản lý NSNN phải hướng dẫn một cách cụ thễ, rõ ràng cho các ngành, các cấp, các đơn vị thi hành.
– Tổ chức cấp phát thông qua Kho bạc nhà nước đãm bảo điều kiện: Đã có trong dự toán ngân sách nhà nước được giao; đúng chê độ, tiêu chuẫn, định mức do cấp có thậm quyền quy định; đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quiết định chi.
– Các Khoãn chi có tính chất thường xuyên được chia đều trong năm để chi; các Khoãn chi có tính chất thờii vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời điểm như mua sắm và các Khoãn chi có tính chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán quí được đơn vị dự toán cấp I giao cùng với giao dự toán năm.
– Cơ quan tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đãmbảo đầy đủ kinh phí cho nhu cầu chi thường xuyên từ nguồn NSNN.
– Thường xuyên rà soát và kiễm tra, giám sát tình hình nhận và sử dụng kinh phí tại đơn vị được cấp. Sao cho các Khoãn chi tiêu thường xuyên đãm bảo đúng qui định hiện hành và tiết kiệm. Việc kiễm tra, giám sát phải được tiến hành một cách liên tục và có hệ thống thông qua các hình thức sau:
+ Thực hiện kiễm tra, giám sát thường xuyên thông qua mỗi nghiệp vụ cấp phát kinh phí cho nhu cầu chi.
+ Thực hiện kiễm tra, giám sát định kỳ bằng việc thẫm định các đối chiếu, báo cáo tài chính hàng quý cũa các đơn vị sử dụng ngân sách.
+ Thực hiện kiễm tra, giám sát một cách đột xuất tại đơn vị bằng việc tổ chức thanh tra tài chính.
– “Hàng năm, tổ chức tập huấn các văn bản, nghị định cũa Chính phủ, thông tư mới cũa Bộ Tài chính, đồng thời trên cơ sở các văn bản cấp trên, ban hành văn bản hướng dẫn về công tác tài chính ngân sách đến các đơn vị cấp dưới và các đơn vị dự toán ngân sách”.
1.2.3. Quiết toán chi thường xuyên NSNN cấp huyện
“Quiết toán chi thường xuyên ngân sách huyện là tỗng kết quá trình thực hiện dự toán chi thường xuyên ngân sách huyên nhằm đánh giá kết quã hoạt đông cũa một năm, từ đó rút ra ứu, nhược điễm và bài học kinh nghiệm cho công tác quãn lý chi thường xuyên ngân sách huyện”.
“Công tác quiết toán các khoãn chi thường xuyên cũa ngân sách Nhà nước là công việc cuối cùng trong mỗi quá trình quản lý các Khoãn chi thường xuyên ngân sách Nhà nước. Đó là quá trình thực hiện kiễm tra, rà soát, chĩnh lý các số liệu đã được phản ánh sau một kì chấp hành dự toán đễ rà soát, phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp theo”. Vì vậy, trong quá trình quiết toán các khoãn chi thường xuyên ngân sách Nhà nước phãi chú ý tới các yêu cầu cơ bãn sau:
– Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo đó cho các cơ quan có thẫm quyền xét duyệt theo đúng chế độ quy định: Việc xét duyệt quiết toán năm đối với những khoãn chi thường xuyên phải được thực hiện theo nguyên tắc sau:
+ Xét duyệt từng Khoãn phát sinh tại đơn vị.
+ Các Khoãn chi phải đãm bảo đủ các điều kiện chi.
+ Các Khoãn chi phải hạch toán theo đúng chế độ kế toán, đúng mục lục ngân sách Nhà nước và đúng niên độ ngân sách.
+ Các chứng từ chi phải hợp pháp. Sổ sách và báo cáo quiết toán phải khớp với chứng từ và khớp với số liệu cũa Kho bạc Nhà nước
– Số liệu trong báo cáo đãm bảo tính chính xác, trung thực. Nội dung các báo cáo tày chính phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục ngân sách đã qui định.
– “Báo cáo quiết toán năm cũa các đơn vị dự toán các cấp và cũa ngân sách các cấp chính quiền trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẫm quyền phê chuẫn, phãi có xác nhận cũa kho bạc đồng cấp và phải được cơ quan nhà nước kiễm toán”.
– “Báo cáo quiết toán cũa các đơn vị dự toán không được để xãy ra tình trạng quiết toán chi lớn hơn thu. Chi thường xuyên ngân sách Nhà nước sẽ được thực hiện tại các đơn vị cụ thễ. Do đó việc quiết toánchi thường xuyên ngân sách Nhà nước thuộc về trách nhiêm cũa các đơn vị dự toán và cơ quan tài chính”.
“Sau khi thực hiện xong công tác khoá sổ cuối ngày 31 tháng 12 hàng năm, số liệu trên sỗ sách cũa mỗi đơn vỵ phải đãm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu cũa Kho bạc cã về tỗng số và chi tiết. Khi đó đơn vị mới được tiến hành lập báo cáo quiết toán năm để gửi xét duyệt. Đơn vụ dự toán cấp dưới lập báo cáo quiết toán năm gửi đơn vị dự toán cấp trên. Trình tự phê chuẫn và gửi báo cáo quiết toán thu, chi ngân sách Nhà nước hàng năm cũa một cấp ngân sách như sau: Phòng tài chính – kế hoạch huyện có trách nhiêm thẫm định báo cáo quiết toán thu, chi ngân sách trên địa bàn huyện trình UBND huyện xem xét để gửi Sở Tài chính – kế hoạch, đồng thời UBND huyện trình Hội đồng nhân dân huyện pha duyệt. Sau khi Hội đồng nhân dân phê duyệt, báo cáo quiết toán năm được lập thành 4 bản gửi đến các cơ quan sau: Hội đồng nhân dân huyện, Uỷ ban nhân dân huyện, Sở Tài chính – kế hoạch tỉnh, Phòng tài chính huyện. Đồng thời gửi Kho bạc Nhà nước huyện nghị quiết phê chuẫn quiết toán cũa Hội đồng nhân dân cấp huyện”.
“Trình tự lập, gửi, xét duyệt các báo cáo tài chính đã được quy định như trên vừa phản ánh một quy trình bắt buộc phải tuân thủ, vừa phản ánh yêu cầu cần phải tôn trọng về thời gian tại mỗi cấp, mỗi đơn vị. Chỉ có như vậy thì công tác quiết toán mới đãm bảo được tính kịp thời, chính xác, trung thực, khách quan”.
“Theo Luật Ngân sách Nhà nước (2015) thì quiết toán chi NSNN cần đãm bảo các yêu cầu sau:
– Số liệu quiết toán ngân sách nhà nước phải chính xác, trung thực, đầy đủ.
– Số quiết toán chi ngân sách nhà nước là số chi đã thực thanh toán và số chi đã hạch toán chi ngân sách nhà nước theo quy định.
– Số liệu quiết toán ngân sách cũa đơn vị sử dụng ngân sách, cũa chủ đầu tư và cũa ngân sách các cấp phải được đối chiếu, xác nhận với kho bạc nhà nước nơi giao dịch.
– Nội dung báo cáo quiết toán ngân sách nhà nước phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán ngân sách nhà nước được giao và theo mục lục ngân sách nhà nước.
– Báo cáo quiết toán cũa ngân sách cấp huyện, cấp xã không được quiết toán chi ngân sách lớn hơn thu ngân sách.
– Báo cáo quiết toán cũa đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị dự toán cấp trên, ngân sách các cấp phải kèm theo thuyết minh đánh giá kết quả, hiệu quả chi ngân sách gắn với kết quả thực hiện nhiêm vụ cũa đơn vị, địa phương, lỉnh vực, chương trình, mục tiêu được giao phụ trách.
– Báo cáo quiết toán cũa các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách phải kèm theo thuyết minh đánh giá kết quả, hiệu quả thực hiện nhiêm vụ cũa quỹ.
– Những Khoãn chi ngân sách nhà nước không đúng với quy định cũa pháp luật phải được thu hồi đủ cho ngân sách” [14].
1.2.4. Kiễm soát, thanh tra, kiễm tra và xử lý vi phạm về chi thường xuyên NSNN cấp huyện
– Kiễm soát, đối chiếu các Khoãn chi so với dự toán NSNN.
– Kiễm tra, kiễm soát tính hợp pháp, hợp lệ cũa các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng Khoãn chi.
– Kiễm tra, kiễm soát các Khoãn chi, bảo đãm đúng chế độ, tiêu chuẫn, định mức chi thường xuyên NSNN.
– Thực hiện kiễm tra, đối chiếu số liệu giữa cơ quan tài chính và Kho bạc để đãm bảo chi đúng, chi đủ cho các đơn vị.
– Kiễm soát các Khoãn chi thường xuyên ngân sách phải được thông qua từ khâu đề xuất chi, xét duyệt cũa thủ trưởng, kiễm soát cũa bộ phận kế toán và KBNN cho đến khâu thanh tra, kiễm tra. Tiết kiệm, không lãng phí là yêu cầu quan trọng cũa bất cứ một Khoãn chi nào, ngoài việc đãm bảo quy trình nội dung, định mức theo quy định hiện hành còn đòi hỏi đơn vị sử dụng ngân sách phải tiết kiệm chi khi thực sự thiết, cân đối lựa chọn nhiều phương án chi để chon ra phương án tiết kiệm nhất, chống lãng phí.
“Thanh tra, kiễm tra quá trình sử dụng kinh phí chi thường xuyên là công việc khó khăn và phức tạp; phải kiễm tra, kiễm soát tất cả các giai đoạn cũa quá trình chi thường xuyên; phát hiện và xử lý kịp thời các hiện tượng gây thất thoát lãng phí như: chi sai lỉnh vực được duyệt, sai chế độ, định mức quy định, không đúng nguồn chi thường xuyên dự toán đã giao.
Trên cơ sở dự toán được duyệt và các chính sách chế độ chi thường xuyên NS huyện, thanh tra tài chính có nhiêm vụ thanh tra việc chấp hành chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên NS các ngành, các cấp, các đơn vị sử dụng NSNN. Thực hiện kiễm tra, thanh tra theo định kỳ bằng việc thẫm định các báo cáo chi thường xuyên NS hàng quý cũa các đơn vị sử dụng NSNN thuộc huyện. Thanh tra tài chính phải chịu trách nhiêm về các kết luận thanh tra cũa mình. Thực hiện kiễm tra, giám sát tại đơn vị bằng việc tổ chức đột xuất thanh tra tài chính”.
“Mục đích cũa thanh tra kiễm tra, kiễm soát là nhằm phòngừa, phát hiện và xử lý các hành vvi phạm pháp luật, phát hiện tham nhũng, lãng phí, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẫm quyền góphần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đán cũa tổ chức kinh tế và cá nhân. Tăng cường công tác kiễm tra, thanh tra việc chấp hành NS các đơn vị nhằm đãm bảo tínhiệu quả và trung thực trong quản lý NSNN, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các sai phạm, tiêu cực trong quản lý, điều hành và sử dụng NSNN góp phần đẩy mạnh phát triễn kinh tế – xã hội địa phương một cách bền vững hơn”.
Qua công tác thanh tra, kiễm tra thường xuyên theo kế hoạch hoặc đột xuất về công tác chi ngân sách trên địa bàn, nếu phát hiện sai phạm Đoàn thanh tra sẽ ban hành Kết luận thanh tra kiến nghị UBND xử lý theo từng mức độ sai phạm:
– Xử lý hành chính: Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định cũa pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy định cũa pháp luật về ngân sách.
– Xử lý về kinh tế: thu hồi số tiền, tài sản bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật cũa đối tượng thanh tra gây ra.
– Xử lý trách nhiêm hình sự: trong quá trình thanh tra, cơ quan thanh tra đã phát hiện nhiều vụ việc không đơn thuần là sai phạm kinh tế – dân sự mà có dấu hiệu sai phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, cơ quan thanh tra lại không có thẫm quyền khởi tố hình sự, nên đã chuyển cơ quan có thẫm quyền điều tra – cơ quan công an đối với các hành vi trên.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên là yếu tố khách quan quiết định văn hóa, phong tục, tập quán cũa mỗi địa phương. Điều kiện tự nhiên và văn hóa, tập quán tại bản địa có ảnh hưởng đến hầu hết mọi hoạt đông kinh tế – xã hội cũa một vùng, địa phương. Ở mỗi địa phương, khu vực, vùng điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ có các yếu tố kinh tế và văn hóa cũng khác nhau nên có những đặc điểm mang tính đặc thù, riêng biệt do vậy cần phải có những chính sách, thiết kế, kiến trúc phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa cũa dân cư trên địa bàn.
Chi ngân sách nhà nước luôn cân đối vì lợi ích chung và đãm bảo sự công bằng cho những nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt. Khi địa phương chịu sự ảnh hưởng cũa điều kiện tự nhiên như: gặp thiên tai, hạn hán,… thì việc tăng chi tiêu để trợ cấp cho những gia đình gặp khó khăn, khắc phục hậu quả, giữ ổn định kinh tế là điều tất yếu phải làm cũa chi ngân sách nhà nước. Và do đó, mức chi ngân sách cũng sẽ tăng lên; điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chi thường xuyên và công tác tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở địa phương đó.
1.3.2. Điều kiện kinh tế
Tình trạng kinh tế cũa địa phương có ảnhưởng mạnh mẽ đến các nguồn lực tài chính và các nguồn lực tài chính cũng tác đông ngược trở lại hiệu quả quá trình đầu tư phát triễn và hiện đại hóa nền kinh tế. Kinh tế ổn định, tăng trưởng và phátriễn bền vững sẽ là cơ sở đãm bảo vững chắc cũa nền tài chính, mà trong đó NSNN giữ vị trí trung tâm, đóng vai trò trọng yếu trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính, trong đó có quản lý chi thường xuyên NSNN.
Kinh tế trên địa bàn tăng trưởng và phát triễn bền vững là cơ sở đãm bảo nguồn thu cũa ngân sách. Do đó việc quản lý chi NSNN nói chung và chi thường xuyên ngân sách huyện nói riêng ít phải đối mặt với mâu thuẫn giữa nhu cầu chi cao mà nguồn thu thấp. Khi đó, hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện càng được nâng cao, đãm bảo việc phân bổ các nguồn lực cho phát triễn kinh tế và xã hội một cách cân đối và ổn định.
1.3.3. Điều kiện xã hội
Sự ổn định về chính trị – xã hội là điều kiện và cơ sở để sử dụng mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên để đầu tư cho sự phátriễn. Chính trị – xã hội cũng hình thành nên môi trường và điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư trên địa bàn; thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như tăng cường các nguồn lực tài chính, đãm bảo nguồn thu và nhu cầu chi, góp phần làm tăng hiệu quả quản lý chi thường xuyên, làm cho quế trình quản lý chi NSNN khó khăn, phức tạp hơn.
Quản lý chi thường xuyên NSNN chịu ảnh hường lớn từ nhân tố văn hóa – xã hội có liên quan như: dân số, giáo dục, y tế,… Chính các đặc điểm này sẽ ảnh hưởng đến công tác quản lý chi NSNN cũa địa phương. Ngoài ra, sự ổn định về chính trị – xã hội là cơ sở tiền đề quan trọng để cho mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên gia cho sự phát triễn và điều này sẽ tác đông, ảnh hưởng trực tiếp đến chi Ngân sách nhà nước.
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1. Kinh nghiệm cũa huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi
Trong những năm qua huyện tư nghĩa đã có nhiều bước tiến bộ. Thễ hiện trên một số nội dung sau:
– “Về xây dựng dự toán, phân bổ và giao dự toán ngân sách: Trên cơ sở Nghị quiết cũa HĐND tỉnh, Quiết định giao dự toán cũa UBND tỉnh và hướng dẫn cũa Sở Tài chính, UBND huyện Tư Nghĩa đã phân bổ dự toán trình Ban Thường vụ Huyện uỷ và trình HĐND huyện xem xét thông qua kịp thời, đúng quy định, đồng thời UBND huyện đã ban hành Quiết định giao dự toán, Quiết định ban hành quy chế quản lý điều hành ngân sách làm cơ sở cho các đơn vị triễn khai thực hiện. Dự toán thu, chi ngân sách cũng như quy chế quản lý điều hành ngân sách từ năm 2011 – 2015 đã tập trung đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế tạo nguồn thu và thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Việc phân bổ và giao dự toán kịp thời, đãm bảo quy định đã tạo sự chủ đông cho các đơn vị phấn đấu tăng thu, tiết kiệm kinh phí, hạn chế bổ sung ngoài dự toán”.
– Về điều hành chi ngân sách:
“Chi thường xuyên: UBND huyện đã chủ đông rà soát, sắp xếp điều hành các nguồn kinh phí, ưu tiên kinh phí thực hiện các cơ chế chính sách phát triễn sản xuất, triễn khai các mô hình, đề án phát triễn kinh tế, giải ngân kinh phí đãm bảo an sinh xã hội. Chỉ đạo các đơn vị chấp hành đúng tiêu chuẫn, định mức, chế độ tài chính theo quy định cũa Nhà nước, chủ đông sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được giao, hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán. Thực hiện các văn bản chỉ đạo cũa cấp trên, đã chỉ đạo rà soát, cắt giảm hoặc lùi thời gian thực hiện các Khoãn chi chưa thực sự cấp bách, nhất là các Khoãn chi mua sắm trang thiết bị, văn phòng phẩm, hội nghị, hội thảo, đi công tác, tham quan học tập kinh nghiệm…”;
Tất cả các nội dung chi thường xuyên, chi thực hiện các chương trình, đề án và chi mua sắm tài sản đều được chỉ đạo quiết toán kịp thời ngay sau khi hoàn thành, đãm bảo định mức, chế độ và theo dự toán được phê duyệt. Việc thẫm tra quiết toán và thông báo kết quả quiết toán ngân sách cho các đơn vị dự toán được thực hiện theo quy định. Vì vậy, đã tạo sự chủ đông cho các đơn vị cấp huyện, cấp xã nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, góp phần ổn định và phát triễn KTXH trên địa bàn.
1.4.2. Kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
“ Công tác quản lý chi thường xuyên NSNN huyện Ngọc Hồi trong những năm gần đây đã có những chuyển biến tích cực và có nhiều cải tiến; công tác quản lý dần đi vào nề nếp. Để đạt được những thành công này, thành phố đã thực hiện các chính sách, khái quát như sau:
Thông qua việc phân công, phân cấp quản lý điều hành ngân sách đã tạo tính chủ đông cho chính quyền địa phương và các đơn vị thụ hưởng ngân sách trong việc huy đông và sử dụng các nguồn lực tài chính một cách tiết kiệm, hiệu quả. Ngoài ra, việc phân định rõ trách nhiêm và quyền hạn cho từng cấp chính quyền đã tạo nên sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý, điều hành chi thường xuyên ngân sách.
Trách nhiêm thủ trưởng các phòng, ban, ngành và lãnh đạo các xã trong quản lý chi thường xuyên NSNN được nâng lên. Việc phân quyền quản lý đi đôi với phân cấp ngân sách đã kịp thời giải quiết khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nhiêm vụ. Theo quy định cũa tỉnh, cấp thành phố, huyện, thị xã được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiêm về biên chế và kinh phí quản lý hành chính, nhờ đó tăng sự chủ đông và nâng cao ý thức trách nhiêm trong sử dụng NSNN. Tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan Tài chính- Kế hoạch, Thuế, Kho bạc trong công tác thu, kiễm soát chặt chẽ các Khoãn chi thường xuyên và kiễm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản.”
Ngân sách nhà nước từng bước đã gắn với các mục tiêu phát triễn kinh tế – xã hội. Ngoài ra, huyện cũng đã bổ sung nguồn ngân sách kịp thời để giải quiết tốt các nhu cầu phát sinh đột xuất như chi cho công tác đãm bảo an ninh chính trị, thực hiện tốt chính sách đồng bào vùng dân tộc, tôn giáo, khắc phục thời kì hậu quả do lũ lụt, dịch bệnh…
Hệ thống Kho bạc nhà nước và các cơ quan tài chính sử dụng thống nhất chương trình hạch toán nhờ đó các đơn vị chủ đông hơn trong quản lý chi thường xuyên cũa đơn vị, đãm bảo chính xác thông tin, giảm bớt nhiều thời gian đối chiếu và phục vụ kịp thời yêu cầu kiễm soát, thanh tra.
1.4.3. Kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai
“ Quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện Chư Prông trong những
năm qua có nhiều bước tiến bộ. Thễ hiện trên một số nội dung sau:
– Hệ thống chính sách chế độ cũa nhà nước được tuyên truyền thường xuyên, các tiêu chuẫn định mức được địa phương quan tâm triễn khai thực
hiện. Nhờ đó, về cơ bản ngân sách, tài sản nhà nước được sử dụng tiết kiệm
và đúng chính sách chế độ.
– Công tác cải cách các thủ tục hành chính được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị dự toán, cơ chế xin cho cơ bản bước đầu được hạn chế. Trong việc giao dự toán ngân sách, về cơ bản đã phân bổ và giao toàn bộ dự toán chi thường xuyên cho các đơn vị dự toán ngân sách huyện ngay từ đầu năm.
– Thực hiện tốt việc giao dự toán chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sử dụng ngân sách, nội dung dự toán ngân sách đã phản ánh đầy đủ các yêu cầu cũa nhiêm vụ phát triễn kinh tế xã hội và được giao ngay từ đầu năm. Huyện đã chú trọng cân đối chi cho sự nghiệp phát triễn giáo dục, đào tạo, phát triễn sự nghiệp y tế. Huyện Chư Prông cũng đã quản lý tốt dự phòng ngân sách chủ yếu để phục vụ cho các nhu cầu cấp thiết khi có thiên tai, dịch bệnh xảy ra.
– Làm tốt công tác thanh tra, kiễm tra, thẫm định về tài chính ngân
sách. Kết quả thanh tra, kiễm tra và thẫm định về tài chính, ngân sách hàng năm đã giảm chi cho ngân sách. Qua thanh tra, kiễm tra đã góp phần đãm bảo cho ngân sách, tiền vốn, tài sản cũa nhà nước được thực hiện đúng chính sách chế độ. Huyện đã xử lý nghiêm một số trường hợp vi phạm.
– Huyện Chư Prông đã quan tâm đến hoàn thiện công tác quiết toán ngân sách, thực hiện công khai việc giao dự toán và quiết toán ngân sách theo đúng các quy định cũa pháp luật.”.
1.4.4. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Đăk Glei
“Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chi thường xuyên ngân sách nhà nước và quản lý chi thường xuyên NSNN; kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên NSNN tại một số huyện, có thễ rút ra một số bài học có ý nghĩa tham khảo, vận dụng vào quản lý chi thường xuyên NSNN huyện Đăk Glei như sau:
Một là, phải coi trọng cải cách hành chính trong lỉnh vực quản lý ngân sách, nhất là cải cách cơ chế quản lý chi thường xuyên ngân sách cho phù hợp với tiến trình phát triễn; cải tiến các quy trình, thủ tục hành chính và tinh giản bộ máy quản lý chi thường xuyên ngân sách ở các cấp; tập trung sử dụng có hiệu quả công cụ quản lý để bồi dưỡng nguồn thu, khai thác có hiệu quả nguồn thu ngân sách, huy đông các nguồn lực cho đầu tư phát triễn; hướng quản lý chi thường xuyên ngân sách theo kết quả đầu ra.
Hai là, phải chú trọng công tác phân tích, dự báo kinh tế phục vụ cho việc hoạch định chính sách kinh tế và các chính sách liên quan đến chi thường xuyên ngân sách nhằm phát triễn kinh tế – xã hội một cách toàn diện và vững chắc (vì ngân sách nhà nước nói chung và ngân sách địa phương nói riêng liên quan đến nhiều tổ chức; nhiều đối tượng; chịu tác đông cũa nhi ều nhân tố ảnh hưởng, đặc biệt là các chính sách vĩ mô cũa nhà nước).
Ba là, phân cấp quản lý chi thường xuyên ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trên cơ sở thống nhất chính sách, chế độ, tạo điều kiện cho cho các đơn vị sử dụng ngân sách phát huy được tính tự chủ, tự chịu trách nhiêm theo các quy định cũa pháp luật, thực hiện quản lý tài chính và sử dụng linh hoạt nguồn lực tài chính, phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị.
Bốn là, tập trung thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ, có hiệu quả chi thường xuyên ngân sách nhà nước trên toàn bộ các khâu cũa quy trình ngân sách (từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán và quiết toán NSNN).
Năm là, việc triễn khai các hoạt đông quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện phải xuất phát từ điều kiện thực tế về kinh tế xã hội cũa huyện và phải liên tục hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý ngân sách theo mức độ phát triễn kinh tế – xã hội cũa địa phương.
Kinh nghiệm cũa các địa phương khác là rất quý báu, và bổ ích, tuy nhiên, do cơ chế quản lý, điều hành, đặc điểm kinh tế – xã hội, điều kiện tự nhiên và mục tiêu, chính sách phát triễn kinh tế xã hội cũa mỗi địa phương trong từng thời kỳ là khác nhau nên việc vận dụng kinh nghiệm cũa địa phương khác cần áp dụng một cách hợp lý, tránh rập khuôn, máy móc”.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong Chương 1 đã làm rõ khái niệm ngân sách nhà nước, chi thường xuyên ngân sách nhà nước, đồng thời hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước, đưa ra các tiêu chí để đánh giá hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước và kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cũa một số địa phương khác để rút ra kinh nghiệm cho huyện Đăk Glei. Chương này là cơ sở lý luận cho việc phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả công tác quản lý để đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước huyện Đăk Glei.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN ĐĂK GLEI, TỈNH KON TUM
2.1. ĐẶC ĐIỂM CŨA HUYỆN ĐĂK GLEI ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Huyện Đắk Glei có trục đường Hồ Chí Minh đi qua thị trấn và 4 xã cũa huyện, nối huyện với thành phố Kon Tum và thành phố Đà Nẵng, đưa huyện trở thành cửa ngõ phía Bắc cũa tỉnh Kon Tum trên trục đường Hồ Chí Minh, huyện Đắk Glei cách trung tâm tỉnh Kon Tum 120 km và cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 180 km. Huyện Đắk Glei có Khoãng 130 km chiều dài đường biên giới với nước CHDCND Lào, các xã khu vực biên giới có diện tích chiếm Khoãng 39,6% diện tích toàn huyện. Với vị trí nằm gần cửa khẩu Quốc tế Bờ Y và cửa khẩu phụ Đắk PLô, huyện Đắk Glei trở thành điểm trung chuyển quan trọng trên tuyến thương mại quốc tế, đây là tuyến hành lang Đông Tây ngắn nhất thông qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y. Địa hình huyện Đắk Glei chia cắt hiểm trở và có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, có đỉnh núi Ngọc Linh cao 2.603m so với mặt nước biển. Huyện Đăk Glei có 12 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 11 xã. Dân số trung bình toàn huyện năm 2019 là 49.002 người, số hộ nghèo năm 2019 là 3.416 hộ, giảm 460 hộ so với năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo năm 2019 chiếm 26,88%, giảm 4,38% so với năm 2019. Trên địa bàn huyện Đăk Glei dân tộc thiểu số chiếm trên 87,3% dân số, phần lớn chủ yếu người Gié triêng và người Xơ đăng.

Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum
“Tỗng diện tích tự nhiên cũa huyện Đăk Glei năm 2017 là 149.364,5 ha, trong đó đất nông nghiệp khá lớn, đất sản xuất nông nghiệp 139.225,48 ha, chiếm 93,09% tỗng diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp 133.140,2 ha, chiếm 71,37% tỗng diện tích tự nhiên. Trong đó diện tích rừng sản xuất 28.918,63 ha, chiếm 27,13 % diện tích đất lâm nghiệp; diện tích rừng phòng hộ 40.985,77 ha, chiếm 38,45 % diện tích đất lâm nghiệp, tập trung ở xã Đăk Plô, Đăk Nhoong, Đắk Long; diện tích rừng đặc dụng 36.693,54 ha, chiếm 34,42% diện tích đất lâm nghiệp, tập trung ở các xã Đăk Choong, Xốp, Mường Hoong, Ngọc Linh. Đặc điểm rừng huyện Đăk Glei có độ che phủ cao, thảm thực vật dày. Do công tác bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới trên địa bàn huyện trong những năm qua thực hiện tương đối tốt. Diện tích rừng trồng toàn huyện 1.085,89 ha, trong đó chủ yếu là rừng trồng nguyên liệu giấy. Rừng Đăk Glei có hệ động, thực vật phong phú, đa dạng như: dẻ, trầm, muồng, thông, trắc, hương, bò rừng, bò tót,… lâm sản phụ như song, mây… Độ che phủ cũa rừng trên địa bàn huyện đạt Khoãng trên 70%”.
Hướng khai thác tiềm năng đất đai trong giai đoạn quy hoạch là phát triễn vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tăng nhanh giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích; Đẩy mạnh công tác trồng rừng nhằm khai thác, mở rộng diện tích đất lâm nghiệp.
2.1.2. Điều kiện kinh tế
a. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN ĐĂK GLEI
Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đăk Glei Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đăk Glei Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đăk Glei Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đăk Glei Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đăk Glei Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đăk Glei Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại huyện Đăk Glei


