Quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Kon Tum
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua bao thập kỷ, Đảng và Nhà nước ta luôn xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Vì vậy, đổi mới giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt; sau Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI vào tháng 10 năm 2016, vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được xem là một trong những nội dung vừa chiến lược, vừa cấp thiết. Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước, Việt Nam đang cần một quyết sách toàn diện, căn bản, xứng tầm với lĩnh vực quan trọng hàng đầu này. Đây là sứ mệnh thiêng liêng, đồng thời cũng vô cùng nặng nề giúp Việt Nam bước vào hàng ngũ các nước phát triển. Để thực hiện được điều này, công tác quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất nhằm đảm bảo chất lượng cho hoạt động dạy và học được xem là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong kế hoạch hành động của ngành GDĐT.
Nhận thức được sứ mệnh trên, ngày 31 tháng 03 năm 2010, UBND tỉnh Kon Tum đã ban hành Quyết định số 2159/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thể ngành GDĐT tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 với các mục tiêu là:
– Xây dựng Kon Tum trở thành một trong những trung tâm giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của khu vực miền Trung và cả nước.
– Mở rộng hợp lý quy mô đào tạo, hệ thống trường, lớp học, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa và hiện đại hóa, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nhân tài.
Với mong muốn nâng cao chất lượng GDĐT để phù hợp với tình hình phát triển của xã hội, tỉnh Kon Tum đã đầu tư xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất cho các trường học trong nhiều năm qua.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây có nhiều yếu tố mới phát sinh như sự gia tăng dân số cơ học, sự hình thành các khu dân cư mới, các khu công nghiệp mới đã làm cho quy hoạch trường học tại một số địa bàn, một số vùng không còn đáp ứng với nhu cầu thực tế, cơ sở vật chất tại các trường công lập chưa đảm bảo được các hoạt động giáo dục và chất lượng giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trước bối cảnh và tình hình phát triển mới, Lãnh đạo tỉnh nhận thấy cần phải đẩy mạnh đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa lại các trường học để đáp ứng nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, nguồn ngân sách của tỉnh lại có hạn, do đó không thể hoàn thiện, đáp ứng toàn bộ nhu cầu về cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục trong một thời gian ngắn, vì vậy, các Nhà Lãnh đạo của tỉnh cần phải đề ra chiến lược, kế hoạch đầu tư dài hạn để phù hợp và kịp thời với sự phát triển của ngành GDĐT. Do đó, vai trò của công tác quản lý đầu tư xây dựng, nhằm tăng cường, hoàn thiện cơ sở vật chất cho các trường học trong thời gian tới là rất quan trọng. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Kon Tum” để nghiên cứu luận văn thạc sĩ, nhằm góp phần giải quyết vấn đề trên.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Luận văn tập trung nghiên cứu những cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Kon Tum.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
– Hệ thống hóa lý luận về quản lý đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước để làm khung cơ sở lý luận cho nghiên cứu;
– Đánh giá thực trạng quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Kon Tum;
– Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Kon Tum.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Kon Tum
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Kon Tum.
– Về thời gian: Các số liệu phân tích chủ yếu từ năm 2014 – 2019
– Về không gian nghiên cứu: Tại tỉnh Kon Tum
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp phân tích hệ thống
Phương pháp phân tích hệ thống là cách tiếp cận cơ bản trong tiến trình giải quyết vấn đề tác giả đặt ra. Phương pháp phân tích hệ thống là phương pháp nghiên cứu thường tập trung chủ yếu vào một vấn đề để phân tích, nghiên cứu và xem xét thực tiễn để rút ra kết luận nhằm đánh giá thực tiễn một cách khoa học. Mục tiêu trọng tâm của phương pháp nghiên cứu này nhằm phản ảnh một cách rõ ràng thực trạng và đề xuất một cách có hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
4.2. Phương pháp phân tích thống kê
Phương pháp phân tích thống kê là phương pháp nghiên cứu lấy con số thống kê làm tư liệu và lấy các phương pháp thống kê làm công cụ nghiên cứu. Nói một cách cụ thể, phương pháp phân tích thống kê được sử dụng để tổng hợp các dữ liệu nhằm phân tích những nội dung chủ yếu của luận văn. Nhờ vào cơ sở lý luận và nguồn số liệu thu thập được trong giai đoạn 2014 – 2019 trên địa bàn tỉnh Kon Tum, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu này để phân tích số liệu thống kê, phân tích ảnh hưởng của các nhân tố liên quan, xác định các mối liên hệ, các quy luật, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá mang tính khái quát cao làm nổi bật nội dung chính của luận văn. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê với mục đích chủ yếu cho việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong giai đoạn 2014 – 2019 và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn trong công tác quản lý đầu tư xây dựng ở tỉnh trong những năm tới.
4.3. Phương pháp phân tích so sánh
Phương pháp phân tích so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở. Trong luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích so sánh để đánh giá thực trạng quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở tỉnh Kon Tum bằng cách so sánh các chỉ số qua các năm, so sánh với kế hoạch đã đặt ra và kết quả thực hiện được.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng lồng ghép các phương pháp nghiên cứu trên để tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng cũng như đề xuất các giải pháp cho đề tài của mình.

5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quản lý đầu tư từ nguồn vốn NSNN
Chương 2. Thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Kon Tum
Chương 3. Hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TỪ NGUỒN VỐN NSNN
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Một số khái niệm
Đầu tư
Đầu tư là sự bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng với các nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó (tạo ra, khai thác, sử dụng một tài sản) nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai.
Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (tiền, của cải, công nghệ, đội ngũ lao động, trí tuệ, bí quyết công nghệ, …), để tiến hành một hoạt động nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai.
Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh doanh của từng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng, là điều kiện chủ yếu để tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Xây dựng cơ bản và đầu tư Xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản và đầu tư Xây dựng cơ bản là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định.
Đầu tư Xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy đầu tư Xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tư Xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế – xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư Xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế.
Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị) kết quả của các hoạt động Xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định.
Vốn đầu tư và vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường, việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể kinh tế, để thực hiện được điều này, các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ tích luỹ các nguồn lực. Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư.
Vậy vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
Vốn đầu tư Xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán.
Đặc điểm của quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách
Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái quát đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản. Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận cấu thành nên hoạt động đầu tư phát triển nên nó cũng mang những đặc điểm chung của đầu tư phát triển, cụ thể như:
– Khối lượng vốn bỏ ra để đầu tư các công trình lớn, tập trung chủ yếu từ nguồn vốn NSNN (thường chiếm từ 60 – 70% tổng vốn đầu tư); thời gian xây dựng kéo dài trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế mang lại cho các nhà đầu tư, chậm thu hồi vốn nên không hấp dẫn các nhà đầu tư cá nhân. Do vậy, cần phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn hợp lý, phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp, xác định tiến độ đầu tư cần phải có căn cứ khoa học, xây dựng tập trung dứt điểm, đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn nhất, tránh lãng phí nguồn lực.
Bên cạnh đó, chu kỳ hoạt động của quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, chi phí sản xuất lớn nên các nhà thầu dễ gặp phải rủi ro khi bỏ vốn không thích hợp. Vì vậy, việc lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp để giảm mức tối đa thiệt hại do ứ đọng vốn ở công trình xây dựng dở dang là một thách thức lớn đối với các nhà thầu.
– Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản thường bị tác động bởi các yếu tố tự nhiên như: Vị trí địa lý, tình hình thời tiết, khí hậu, thiên tai… Các yếu tố này có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động cũng như thời gian vận hành của quá trình đầu tư. Vì thế, để khai thác tối đa hiệu quả đầu tư cũng như nâng cao tuổi thọ của công trình, trước khi triển khai dự án, cần phải nghiên cứu cẩn thận, bố trí hợp lý địa điểm xây dựng phù hợp với kế hoạch, quy hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi và phải đảm bảo yêu cầu về quốc phòng – an ninh.
– Một công trình đầu tư xây dựng thường có rất nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương cùng tham gia thực hiện. Chính vì vậy, khi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý giữa các ngành, các cấp; đồng thời phải có sự phân công rõ ràng về quyền hạn, trách nhiệm cũng như phạm vi hoạt động của các chủ thể tham gia đầu tư.
– Riêng đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN thì đặc điểm của các công trình đầu tư này là hoạt động đầu tư thường nhằm vào các công trình mang tính chất đầu tư công, mục tiêu chung là hướng tới sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng, thường tập trung vào các lĩnh vực ít được thương mại hóa nên không thu hồi vốn ngay, ít có tính cạnh tranh, hoặc nếu có thì cũng ít khốc liệt hơn so với các khu vực đầu tư khác.
* Từ những đặc điểm trên của đầu tư xây dựng cơ bản, có thể khái quát công tác quản lý xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước gồm 04 đặc điểm cơ bản sau:
– Tính khoa học: Công tác quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông từ nguồn vốn ngân sách đòi hỏi phải mang tính khoa học, thể hiện ở trong quá trình triển khai thực hiện phải có một quá trình nghiên cứu tỉ mỉ, kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung, từng giai đoạn sao cho phù hợp với từng dự án, từng công trình. Tính khoa học còn được thể hiện trong việc phối hợp đồng bộ giữa các chủ đầu tư, nhà thầu và các đơn vị quản lý.
– Tính đồng nhất: công tác quản lý đầu tư các công trình xây dựng ngoài yêu cầu mang tính khoa học còn phải mang tính đồng nhất. Các công trình, các dự án đầu tư phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, bao gồm cả các thủ tục đầu tư. Đặc biệt, đối với các công trình đầu tư liên doanh với các công ty nước ngoài, các dự án đầu tư nước ngoài còn phải tuân thủ quy định chung mang tính quốc tế.
– Tính thực tiễn: Một trong những đặc điểm không thể thiếu trong công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là tính thực tiễn. Các nội dung của các công trình đầu tư phải được nghiên cứu, xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện tự nhiên, các đặc điểm kinh tế – xã hội của từng vùng, từng quốc gia, bởi đây là những nhân tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư.
– Tính pháp lý: Đây là một đặc điểm quan trọng trong công tác quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Mọi hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đều phải được triển khai thực hiện trên cơ sở pháp lý vững chắc và phải phù hợp với cơ chế chính sách và pháp luật của Nhà nước. Muốn vậy, trong công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, các tổ chức cũng như cá nhân trong quá trình thực hiện cần phải nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn cũng như nắm vững mọi quy định liên quan đến lĩnh vực đầu tư.
Vai trò của quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách
Đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. ĐTXDCB là một hoạt động kinh tế.
ĐTXDCB của nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong những năm qua nhà nước đã giành hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm cho ĐTXDCB. ĐTXDCB của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động ĐTXDCB của nền kinh tế ở Việt Nam. ĐTXDCB của nhà nước đã tạo ra nhiều công trình, nhà máy, đường giao thông, … quan trọng, đưa lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội thiết thực. Tuy nhiên, nhìn chung hiệu quả ĐTXDCB của nhà nước ở nước ta còn thấp thể hiện trên nhiều khía cạnh như: đầu tư sai, đầu tư khép kín, đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng …
Đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các TSCĐ. Trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động. Khác với đối tượng lao động (nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,…) các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiên vận tải,…) là những phương tiện vật chất mà con ngươì sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động là các TSCĐ. Đó là các tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc, TSCĐ vô hình….Thông thường một tư liệu lao động được coi là một TSCĐ phải đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn cơ bản: Phải có thời gian sử dụng tối thiểu và phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Tiêu chuẩn này được quy định riêng đối với từng nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả của từng thời kỳ.
Đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và đầu tư xây dựng trường học mầm non và phổ thông từ nguồn vốn NSNN nói riêng có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đầu tư xây dựng không chỉ góp phần tạo ra vốn sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất. Ngoài ra, đầu tư xây dựng trường học mầm non và phổ thông, đặc biệt là các công trình thực hiện từ nguồn vốn NSNN tạo ra nguồn vốn, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội thông qua sử dụng hệ thống thuế hiệu quả; tạo công ăn việc làm cho người lao động qua các hoạt động đầu tư xây dựng mở rộng quy mô sản xuất, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống người dân, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng.
NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ NGUỒN VỐN NSNN
Quản lý công tác xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch, chủ trương đầu tư
Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch xây dựng có vai trò rất quan trọng, đây là vấn đề vừa mang tính chiến lược, vừa là bước đầu tiên làm cơ sở cho đầu tư xây dựng các công trình. Quy hoạch xây dựng là căn cứ quan trọng cho công tác kế hoạch, quản lý đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng.
Quản lý công tác xây dựng quy hoạch được coi là nội dung đầu tiên trong quản lý đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN. Nội dung đầu tiên của quản lý quy hoạch xây dựng là quản lý công tác lập và xét duyệt quy hoạch nhằm xác lập cơ sở pháp lý và lập kế hoạch cho việc quản lý phát triển đầu tư xây dựng, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Quản lý xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch, chủ trương đầu tư các công trình trường học mầm non và phổ thông là quản lý việc lập kế hoạch, chủ trương đầu tư xây dựng các công trình xây dựng sao cho phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển của các ngành liên quan, quy hoạch sử dụng đất, trên cơ sở tuân thủ các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng và các Bộ, Ngành có liên quan. Quy hoạch chi tiết xây dựng phải phù hợp với quy hoạch chung xây dựng, bảo đảm quốc phòng – an ninh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Quản lý công tác đấu thầu các công trình
Đấu thầu là một quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu. Lợi ích của hình thức này là chọn được nhà thầu có phương án đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật của công trình và có chi phí tài chính thấp nhất.
Quản lý tiến độ thực hiện các công trình
Tiến độ thực hiện các công trình là quá trình vận hành của công trình, quá trình thực hiện công trình diễn ra nhanh hay chậm, hiệu quả hay không được căn cứ vào việc thực hiện của công trình. Tiến độ thực hiện của một dự án xây dựng cơ sở hạ tầng được xem xét qua đại lượng thời gian. Đó là khoảng thời gian từ khi lập dự án đến khi đưa dự án vào hoạt động và hoàn thiện dự án.
Quản lý tiến độ thực hiện các công trình trường học mầm non và phổ thông từ nguồn vốn NSNN nhằm mục đích thiết lập trình tự thực hiện các nhiệm vụ theo mục tiêu đã đặt ra, phù hợp với điều kiện thực hiện cụ thể, những yêu cầu nhất định về nhân lực, thiết bị, vật tư, tài chính và quy định của pháp luật để hoàn thành các công trình xây dựng với chất lượng tốt nhất, thời gian xây dựng ngắn nhất và chi phí thấp nhất.
Công tác quản lý tiến độ thi công các công trình đầu tư được quy định như sau:
– Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng. Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt.
– Đối với công trình xây dựng có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến độ xây dựng công trình phải được lập cho từng giai đoạn theo tháng, quý, năm.
– Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo đảm phù hợp với tổng tiến độ của dự án.
– Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án.
– Trường hợp xét thấy tổng tiến độ của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư để đưa ra quyết định việc điều chỉnh tổng tiến độ của dự án.
– Khuyến khích việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng trên cơ sở bảo đảm chất lượng công trình.
– Trường hợp đẩy nhanh tiến độ xây dựng đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án thì nhà thầu xây dựng được xét thưởng theo hợp đồng. Trường hợp kéo dài tiến độ xây dựng gây thiệt hại thì bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại và bị phạt vi phạm hợp đồng.
Quản lý chất lượng công trình
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định hiện hành trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về về an toàn, bền vững, kỹ thuật, mỹ thuật của công trình và phù hợp với thiết kế, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng, hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan.
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện dự án các công trình đầu tư nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng.
Công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn NSNN được tiến hành từ giai đoạn khảo sát, giai đoạn thiết kế, giai đoạn thi công, giai đoạn thanh quyết toán vốn và giai đoạn bảo hành công trình.
Công tác quản lý chất lượng và bảo trì các công trình xây dựng được thực hiện theo Nghị định số 46/2018/NĐ-CP ngày 12/5/2018 của Chính phủ, bao gồm các giai đoạn sau:
– Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng.
Ở giai đoạn này, các nhà thầu khảo sát có trách nhiệm bố trí đủ người có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện khảo sát theo quy định của hợp đồng xây dựng; đồng thời cử người có đủ điều kiện năng lực để làm chủ nhiệm khảo sát và tổ chức thực hiện biện pháp kiểm soát chất lượng quy định tại phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng.
Tùy theo từng mô hình và loại hình khảo sát, chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức giám sát khảo sát xây dựng theo các nội dung sau:
– Kiểm tra năng lực thực tế của nhà thầu khảo sát xây dựng bao gồm nhân lực, thiết bị khảo sát tại hiện trường, phòng thí nghiệm (nếu có) được sử dụng so với phương án khảo sát xây dựng được duyệt và quy định của hợp đồng xây dựng;
– Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện khảo sát xây dựng bao gồm: Vị trí khảo sát, khối lượng khảo sát, quy trình thực hiện khảo sát, lưu giữ số liệu khảo sát và mẫu thí nghiệm hiện trường; kiểm tra công tác đảm bảo an toàn lao động, an toàn môi trường trong quá trình thực hiện khảo sát.
Chủ đầu tư được quyền đình chỉ công việc khảo sát khi phát hiện nhà thầu không thực hiện đúng phương án khảo sát đã được phê duyệt hoặc các quy định của hợp đồng xây dựng.
– Quản lý chất lượng thiết kế xây dựng công trình:
Quản lý chất lượng thiết kế xây dựng công trình bao gồm các nội dung:
Bố trí đủ người có knh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện thiết kế; cử người có đủ điều kiện năng lực để làm chủ nhiệm đồ án thiết kế, chủ trì thiết kế.
Chỉ sử dụng kết quả khảo sát đáp ứng được yếu cầu của bước thiết kế và phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn được áp dụng cho công trình.
Chỉ định cá nhân, bộ phận trực thuộc tổ chức của mình hoặc thuê tổ chức, cá nhân khác đủ điều kiện, năng lực theo quy định để thực hiện công việc kiểm tra nội bộ chất lượng hồ sơ thiết kế.
Trình chủ đầu tư hồ sơ thiết kế để được thẩm định, phê duyệt theo quy định của Luật Xây dựng; tiếp thu ý kiến thẩm định và giải trình hoặc chỉnh sửa hồ sơ thiết kế theo ý kiến thẩm định.
– Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình.
Chất lượng thi công xây dựng công trình phải được kiểm soát từ công đoạn mua sắm, sản xuất, chế tạo các sản phẩm xây dựng, vật liệu xây dựng, cấu kiện và thiết bị được sử dụng vào công trình cho tới công đoạn thi công xây dựng, chạy thử và nghiệm thu đưa hạng mục công trình, công trình hoàn thành vào sử dụng.
Công trình xây dựng phải được giám sát trong quá trình thi công xây dựng theo quy định tại Khoản 1 Điều 120 Luật Xây dựng. Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện giám sát thi công xây dựng công trình hoặc thuê tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực theo quy định thực hiện giám sát một, một số hoặc toàn bộ các nội dung quy định của công trình thi công.
– Bảo trì công trình xây dựng.
Trình tự thực hiện bảo trì công trình xây dựng gồm: Lập và phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng; lập kế hoạch và dự toán kinh phí bảo trì công trình xây dựng; thực hiện bảo trì và quản lý chất lượng công việc bảo trì; đánh giá an toán chịu lực và an toàn vận hành công trình; lập và quản lý hồ sơ bảo trì công trình xây dựng.
Quản lý sử dụng vốn đầu tư
Quản lý vốn đầu tư xây dựng trường học mầm non và phổ thông từ nguồn vốn NSNN được hiểu là quá trình Nhà nước điều khiển và hướng dẫn hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN để đạt mục tiêu về cơ sở vật chất.
Căn cứ Thông tư số 08/2019/TT-BTC ngày 18/01/2019 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì việc quản lý và thanh toán vốn đầu tư các dự án sử dụng vốn NSNN phải đảm bảo đúng mục đích, đúng đối tượng, tiết kiệm, hiệu quả, chấp hành đúng quy định về quản lý tài chính đầu tư và xây dựng của pháp luật hiện hành. Công tác quản lý tình hình sử dụng các nguồn vốn NSNN để đầu tư xây dựng được thực hiện gồm các giai đoạn sau:
– Thẩm định nguồn vốn đầu tư, thẩm tra phân bổ vốn đầu tư.
+ Về thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn: Nội dung thẩm định bao gồm:
* Đối với các dự án đầu tư thuộc các Bộ, ngành Trung ương quản lý:
– Sự cần thiết đầu tư của dự án; sự đảm bảo phù hợp với mục tiêu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch được duyệt.
– Tính đầy đủ của hồ sơ đề nghị thẩm định.
– Quy mô, dự kiến tổng mức vốn đầu tư và tiến độ thực hiện.
– Về nguồn vốn và khả năng cân đối vốn.
* Đối với các dự án đầu tư thuộc cân đối ngân sách địa phương và vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương:
– Sự cần thiết đầu tư, sự đảm bảo phù hợp với mục tiêu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch được duyệt.
– Tính đầy đủ của hồ sơ đề nghị thẩm định.
– Sự phù hợp của dự án đầu tư về phạm vi, đối tượng đề nghị sử dụng vốn đầu tư công.
– Sự phù hợp của dự án đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư.
– Khả năng bồ trí vốn cho chương trình, dự án trong tổng số vốn kế hoạch đầu tư trung hạn của từng ngành, lĩnh vực, chương trình theo thứ tự ưu tiên (đối với nguồn vốn ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, gồm: vốn chương trình mục tiêu quốc gia, vốn chương trình mục tiêu và các khoản bổ sung có mục tiêu khác).
+ Về thẩm tra phân bổ vốn đầu tư:
Đối với nguồn vốn trong cân đối ngân sách địa phương, vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và vốn Chương trình mục tiêu quốc gia. Sau khi nhận được được phân bổ kế hoạch vốn đầu tư của UBND các cấp, Sở Tài chính, phòng Tài chính – Kế hoạch trong thời hạn tối đa 15 ngày thực hiện thẩm tra phân bổ vốn đầu tư theo nội dung quy định và có ý kiến thẩm tra phân bổ gửi UBND (tỉnh, huyện) để báo cáo, cơ quan kế hoạch và đầu tư để phối hợp; đồng thời gửi Kho bạc Nhà nước (tỉnh, huyện) để kiểm soát thanh toán với các dự án đã đủ điều kiện thanh toán vốn theo quy định. Trong trường hợp còn dự án chưa đủ điều kiện thanh toán, đề nghị UBND cùng cấp phân bổ lại theo quy định.
– Thanh toán vốn đầu tư.
Chất lượng quản lý vốn ngân sách nhà nước phụ thuộc vào quá trình cấp phát và thanh toán vốn đầu tư. Quá trình này được tiến hành bởi quy trình: cơ quan tài chính cấp vốn sang cơ quan Kho bạc nhà nước để thanh toán cho khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành cho các dự án có vốn đủ điều kiện thanh toán. Kho bạc nhà nước là cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước.
Vấn đề có tính chất quan trọng trong công tác quản lý vốn ngân sách nhà nước là công tác thanh toán vốn cho dự án. Đây chính là bước mà các doanh nghiệp xây dựng, thi công, tư vấn… được rút tiền từ ngân sách nhà nước để trang trải các chi phí đã ứng trước cho công tác thi công. Do vậy, ở khâu này đòi hỏi cơ quan thanh toán nói chung và Kho bạc nhà nước nói riêng phải hết sức lưu ý. Đó là vừa đảm bảo đúng nguyên tắc quản lý tài chính, vừa chấp hành đúng quy chế quản lý đầu tư xây dựng và phải đảm bảo đúng tiến độ cho các dự án.
– Điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư.
Để đảm bảo cho các dự án thực hiện mục tiêu theo kế hoạch, hạn chế việc kéo dài thời gian thực hiện sang năm sau. Căn cứ tình hình thực tế, các Bộ, UBND các cấp rà soát tiến độ thực hiện và mục tiêu đầu tư của các dự án trong năm để trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư, điều chuyển vốn từ các dự án không có khả năng thực hiện sang các dự án có khả năng thực hiện trong năm kế hoạch, bảo đảm không được vượt quá tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn của từng dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định.
Trước khi gửi kế hoạch điều chỉnh vốn đầu tư từng dự án, các Bộ và UBND các cấp chỉ đạo chủ đầu tư xác định số liệu thanh toán cho dự án, xác định số vốn còn dư do không thực hiện được, đảm bảo cho kế hoạch của dự án sau khi điều chỉnh không thấp hơn số vốn Kho bạc Nhà nước đã thanh toán. Các Bộ, UBND các cấp chịu trách nhiệm về số liệu giải ngân và số kế hoạch vốn điều chỉnh.
– Báo cáo, kiểm tra, quyết toán vốn.
Đây là công việc cuối cùng trong công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và nguồn vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng nói riêng. Quyết toán vốn đầu tư đối với công trình xây dựng cơ bản hoàn thành là một việc làm cần thiết và mang tính nguyên tắc trong quản lý đầu tư xây dựng.
Việc quản lý quyết toán vốn đầu tư xây dựng phải xác định đầy đủ, chính xác tổng mức đầu tư đã thực hiện, phân định rõ nguồn vốn đầu tư, vốn đầu tư chuyển thành tài sản cố định, tài sản lưu động hoặc chi phí không thành tài sản của dự án. Thông qua công tác quyết toán vốn đầu tư khẳng định được số lượng, năng lực sản xuất, giá trị tài sản cố định mới do đầu tư mang lại đề có kế hoạch huy động sử dụng kịp thời và phát huy hiệu quả đầu tư của dự án. Qua đó đánh giá trách nhiệm của chủ đầu tư, đánh giá kết quả đầu tư, rút kinh nghiệm nhằm tăng cường công tác quản lý trong đầu tư xây dựng.
Công tác giám sát và đánh giá kết quả đầu tư
Giám sát đầu tư là hoạt động theo dõi, kiểm tra đầu tư gồm giám sát chương trình, dự án đầu tư và giám sát tổng thể đầu tư. Đánh giá chương trình, dự án đầu tư (bao gồm: đánh giá ban đầu, đánh giá giữa kỳ hoặc giai đoạn, đánh giá kết thúc, đánh giá tác động và đánh giá đột xuất) là hoạt động định kỳ theo kế hoạch hoặc đột xuất nhằm xác định mức độ đạt được theo mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể so với quyết định đầu tư hoặc tiêu chuẩn đánh giá quy định của nhà nước tại một thời điểm nhất định.
Giám sát, đánh giá kết quả đầu tư là một trong những nội dung quan trọng, không thể thiếu trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn NSNN. Về nguyên tắc giám sát, đánh giá đầu tư, Nghị định số 84/2018/NĐ-CP ngày 30/9/2018 của Chính phủ quy định: giám sát đánh giá đầu tư phải đúng đối tượng, phạm vi, nội dung; không gây cản trở công việc của các đối tượng chịu sự giám sát và đánh giá đầu tư; các thông tin phục vụ công tác giám sát, đánh giá đầu tư phải đầy đủ, kịp thời, chuẩn xá, trung thực và minh bạch; phải xem xét toàn diện, đồng bộ các vấn đề liên quan đến quá trình đầu tư; kết quả giám sát, đánh giá phải được xử lý và phản hồi tích cực và phải được lưu trữ một cách hệ thống…
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC TRƯỜNG HỌC MẦM NON VÀ PHỔ THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NSNN
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Các nhân tố này có thể là chủ quan, có thể là khách quan. Đó là các yếu tố do tự nhiên mang lại, các loại rủi ro có thể lường trước, không lường trước; là các yếu tố do con người mang lại như: trình độ chuyên môn của các nhà quản lý đầu tư, các điều chỉnh về văn bản quy phạm pháp luật…
Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên của một vùng bao gồm các yếu tố về địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật… Trong quá trình phát triển thì đất đai đóng vai trò rất quan trọng, vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt. Đất đai có vai trò như chỗ dựa, địa điểm để xây dựng. Đất đai ở mỗi vùng lãnh thổ khác nhau có cấu tạo thổ nhưỡng khác nhau nên có tác động trực tiếp đến phát triển cơ sở hạ tầng, là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý đầu tư xây dựng các công trình.
Bên cạnh đó, khí hậu, thủy văn cũng là một trong những nhân tố rất quan trọng tác động đến quá trình quản lý thực hiện các công trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong quá trình thực hiện, hoạt động xây dựng thường được tiến hành ngoài trời nên thường chịu ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết, khí hậu. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện khác nhau thì các kiểu kiến trúc được hình thành với các cấu trúc phù hợp với điều kiện thực tế. Các hiện tượng lũ lụt, mưa bão, động đất… có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của hạ tầng kỹ thuật, nó phá vỡ và làm gián đoạn đến cả quá trình hoạt động của một công trình.
Điều kiện kinh tế – xã hội
Quá trình tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội có tác động không nhỏ đến quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, đặc biệt là các công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Sự phát triển kinh tế – xã hội sẽ làm tăng nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Vì vậy, có thể nói chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là một trong những nhân tố quan trọng, tác động không nhỏ đến quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Đối với nước ta, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là hệ thống quan điểm định hướng của Đảng, của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội theo ngành, theo vùng kinh tế trong từng giai đoạn. Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam đến năm 2020 là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Cùng với chính sách kinh tế và pháp luật kinh tế, hoạt động đầu tư của Nhà nước nói chung và hoạt động đầu tư XDCB nói riêng là biện pháp kinh tế nhằm tạo môi trường và hành lang cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đi theo qũy đạo của kế hoạch vĩ mô.
Ngoài ra, công tác quản lý về đầu tư xây dựng không chỉ phụ thuộc vào trình độ, quy mô phát triển sản xuất, dịch vụ, mật độ dân cư mà còn phụ thuộc vào các phương tiên đi lại, các thiết bị sinh hoạt của dân cư. Đây là nguyên tắc hệ thống để làm sao cho các công trình đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện một cách hiệu quả.
Năng lực của bộ máy quản lý
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước là trình độ quản lý của cán bộ quản lý và thực hiện đầu tư tại địa phương. Năng lực chuyên môn của các cơ quan tư vấn về đầu tư xây dựng cơ bản ở nơi nào còn hạn chế thì ở địa phương đó chất lượng thiết kế các công trình chưa đạt yêu cầu, tiến độ thực hiện chậm, hiệu quả sẽ không cao.
Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến công tác xây dựng cơ bản. Hoạt động đầu tư rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Vì vậy, đội ngũ cán bộ quản lý trong lĩnh vực xây dựng cần phải có khả năng, đào tạo kỹ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Cơ chế chính sách về quản lý đầu tư xây dựng
Việc xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách là một trong những yếu tố quan trọng, có tác động trực tiếp đến quá trình quản lý đầu tư. Trên thực tế, Việt Nam đã có rất nhiều cơ chế, chính sách cho lĩnh vực quản lý đầu tư phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn ngân sách có tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta như: các chính sách về thuế, tài chính, tín dụng; chính sách đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh; chính sách phát triển nguồn nhân lực; chính sách thu hút đầu tư; chính sách khoa học – công nghệ.
Các chính sách, đặc biệt là chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý đầu tư xây dựng. Đó là các chính sách dịch vụ thương mại, chính sách đầu tư, một số chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, vi mô như chính sách tài khóa (chủ yếu là chính sách thuế và chính sách chi tiêu của Chính phủ), chính sách tiền tệ (công cụ chính sách lãi suất và mức cung tiền), chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách khấu hao… Các chính sách kinh tế này tác động vào lĩnh vực đầu tư góp phần tạo ra một cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý hay không hợp lý cũng như tác động làm tăng hoặc giảm thất thoát vốn đầu tư, theo đó mà công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được thực hiện hiệu quả hay không có hiệu quả.
Trong quản lý đầu tư, yếu tố môi trường pháp lý và kinh tế tác động trên nhiều phương diện. Môi trường pháp lý có thể tạo ra những điều kiện để hình thành nên các hệ thống cơ sở hạ tầng và tạo ra sự gắn kết giữa cơ sở hạ tầng chung của cả nước với hệ thống hạ tầng của địa phương. Trong khi đó, Môi trường pháp lý tạo những điều kiện huy động các nguồn lực cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kể cả nguồn vốn ngân sách, nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân.
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động đầu tư thiết yếu vì nó tạo ra tư liệu sản xuất cơ bản cho nền kinh tế xã hội. Xây dựng cơ bản, trong đó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước góp phần tạo ra hệ thống đường xá, nhà cửa phục vụ đời sống, tạo ra các công trình thủy lợi phục vụ nông lâm ngư nghiệp, tạo ra các nhà xưởng phục vụ hoạt động công nghiệp…, đóng vai trò làm nền cho mọi hoạt động đời sống cũng như sản xuất kinh doanh.
Quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trải qua ba giai đoạn là: lập kế hoạch đầu tư, điều phối thực hiện đầu tư và giám sát. Mỗi giai đoạn gồm nhiều bước công việc khác nhau được tiến hành liên tục. Quá trình quản lý đầu tư theo các công trình cũng là quá trình quản lý trong từng bước, từng giai đoạn của nó.
Ở chương này, luận văn đã khái quát được khái niệm, những đặc điểm cơ bản cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN; đồng thời phân tích các nội dung chủ yếu của quản lý các công trình đầu tư xây dựng cơ bản sở từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, bao gồm: Quản lý công tác xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch đầu tư; quản lý tiến độ thực hiện các công trình; quản lý chất lượng công trình; quản lý sử dụng vốn đầu tư; công tác giám sát và đánh giá kết quả đầu tư.
Để thực hiện tốt công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, ngoài việc phải theo suốt tiến trình dự án, công tác quản lý, giám sát phải thường xuyên kịp thời nhằm thực hiện tốt nhất những mục tiêu đã đề ra và giảm thiểu rủi ro, thất thoát, lãng phí nguồn lực xã hội, mà còn cần phải phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản lý như: điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế – xã hội, năng lực của bộ máy quản lý và cơ chế chính sách. Và tất cả những vấn đề đó đã được tác giả giải quyết trong chương này.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC TRƯỜNG HỌC MẦM NON VÀ PHỔ THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NSNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH KON TUM
Đặc điểm tự nhiên
Kon Tum là trung tâm kinh tế và là một trong những trung tâm văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miền Trung – Tây Nguyên, là tỉnh lớn thứ 4 của Việt Nam, sau tỉnh Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng. Tỉnh nằm dọc theo vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Kon Tum trong lịch sử có những tên gọi khác: Vì nằm ở cửa sông Hàn nên còn được gọi là Cửa Hàn, người Pháp gọi Kon Tum là Tourane. Tại kỳ họp thứ X Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị quyết tách tỉnh Quảng Nam – Kon Tum thành tỉnh Quảng Nam và tỉnh Kon Tum tỉnh trực thuộc Trung ương.
Kon Tum có điều kiện tự nhiên, địa hình thuận lợi để phát triển các ngành Nông nghiệp, Công nghiệp, Du lịch và Dịch vụ, là một tỉnh vừa có đồng bằng duyên hải vừa có đồi núi. Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.

Tiềm năng du lịch ở Kon Tum là rất to lớn: Thiên nhiên ưu đãi cho Kon Tum nằm giữa vùng kế cận ba di sản văn hoá thế giới: Cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn, chính vị trí này đã làm nổi rõ vai trò của tỉnh Kon Tum trong khu vực, đó là nơi: đón tiếp, phục vụ, trung chuyển khách. Không chỉ là tâm điểm của ba di sản văn hoá thế giới, tỉnh Kon Tum còn có nhiều danh thắng tuyệt đẹp như khu du lịch Bà Nà, bãi biển Mỹ Khê… du khách khó có thể quên được sau khi đã đến thăm tỉnh
Đặc điểm kinh tế – xã hội
– Tỉnh Kon Tum có diện tích tự nhiên là 1.284,88 km2; gồm 6 quận nội thành, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 246,7 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.038,18km2. Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc – Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Ngoài ra, Kon Tum còn là trung điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, tỉnh Kon Tum là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa. Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, tỉnh Kon Tum có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững.
– Từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Kon Tum đã đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, khai thác tiềm năng, lợi thế, huy động nội lực, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để xây dựng và phát triển tỉnh đạt được nhiều thành tựu, trong một số lĩnh vực đã có cách làm sáng tạo và có những mô hình tốt.
Kinh tế phát triển tương đối toàn diện, đạt tốc độ tăng trưởng khá, hiệu quả và sức cạnh tranh được nâng lên một bước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng “dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp” phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX).
Kết cấu hạ tầng phát triển cả về quy mô và tốc độ, tạo nền tảng phát triển các lĩnh vực khác; công tác quản lý đô thị, tài nguyên và bảo vệ môi trường có chuyển biến tích cực. Các chủ trương về khai thác quỹ đất, tạo vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cùng với công tác đền bù, giải toả, tái định cư được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả.
– Kon Tum đang bước vào nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự điều tiết với một vị thế mới. Đây là tiền đề cơ bản nhất định hướng sự phát triển kinh tế xã hội cũng như giáo dục đào tạo. Kon Tum là đơn vị đô thị loại 1 cấp quốc gia. Với vị trí địa lý là trung điểm miền Trung và Tây Nguyên, với địa thế thuận lợi cho các mối giao lưu kinh tế-văn hóa nội hạt và quốc tế, Kon Tum vừa có nhu cầu và trách nhiệm vừa có triển vọng phát triển hệ thống đào tạo cho địa phương và cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao; một số ngành, lĩnh vực phát triển chưa thật bền vững; vai trò động lực, sự hợp tác, liên kết khu vực và sức lan tỏa còn hạn chế. Kết cấu hạ tầng đô thị chưa thật đồng bộ. Lĩnh vực văn hoá, xã hội vẫn còn những mặt hạn chế.
– Cùng với cả nước, tỉnh Kon Tum đang phát triển nền kinh tế mở, tăng cường hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước. Kinh tế mở cửa hòa nhập mở ra triển vọng thu hút ngoại lực để phát triển kinh tế – xã hội. Theo đó giáo dục – đào tạo có cơ hội phát triển, nhưng cũng đặt giáo dục – đào tạo trước những thử thách mới. Trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Kon Tum đến năm 2020, cơ cấu kinh tế được xác định là: “Công nghiệp – Thương mại, Du lịch và Dịch vụ Thủy sản, Nông – Lâm Nghiệp”.
TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC TRƯỜNG HỌC MẦM NON VÀ PHỔ THÔNG BẰNG NGUỒN VỐN NSNN TẠI TỈNH KON TUM
BỐ CỤC PHẢI NHƯ ĐÃ SỬA TRONG LẦN TRƯỚC
Về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị của từng cấp học và triển khai các chương trình, đề án liên quan đến lĩnh vực giáo dục
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
Quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Kon Tum
Quản lý đầu tư xây dựng các trường học mầm non và phổ thông bằng nguồn vốn ngân sách tại tỉnh Kon Tum


