Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và tham gia nhiều tổ chức thương mại, hiệp tác trong khu vực và thế giới; việc cạnh tranh giữa các quốc gia về kinh tế, thương mại và nguồn nhân lực là một xu thế tất yếu. Do vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ lao động kỹ thuật có trình độ cao, có kiến thức, kỹ năng nghề, làm chủ máy móc, công nghệ hiện đại là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết Đại hội đại biểu quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: “Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho việc xuất khẩu lao động. Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận, huyện, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và trên thế giới”, “phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng trong phát triển nguồn nhân lực, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai luôn quan tâm chỉ đạo có định hướng và giải pháp phát triển đào tạo nghề trong từng thời kỳ, tăng cường quản lý các hoạt động đào tạo nghề, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, theo báo cáo tổng kết của các ngành cũng như kết quả khảo sát, đánh giá từ các cơ quan sử dụng lao động qua đào tạo nghề, thì hiện tại thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề ở Gia Lai vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế: chưa có cơ sở đào tạo nghề đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, phát triển không đồng bộ, đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất, chương trình còn nhiều hạn chế, chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội, chưa thực sự gắn với thị trường lao động. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở đào tạo nghề cho lao động chậm phát triển: số lượng cơ sở đào tạo tuy đã được quan tâm thành lập nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, đặc biệt là cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn; đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế; chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học nghề lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu lao động qua đào tạo không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh đó, công tác quản lý các cơ sở đào tạo nghề thời gian qua cũng còn nhiều bất cập, trong đó phải kể đến việc quy hoạch, phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề chưa đồng bộ, việc thành lập mới các cơ sở đào tạo nghề còn dàn trải, chưa sát với thực tế; điều đó đòi hỏi công tác quản lý của Nhà nước về đào tạo nghề ở Gia Lai cần phải được tăng cường và nâng cao hiệu quả, cần thiết phải có sự tham gia của tất cả các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân người lao động. Một trong những vấn đề quan trọng để đạt được mục tiêu về đào tạo nghề là công tác quản lý các cơ sở đào tạo nghề để “quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp gắn với các quy hoạch về phát triển kinh tế – xã hội và nguồn nhân lực” nhằm thực hiện mục tiêu “tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới”. Công tác quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề cũng được Nhà nước quan tâm và coi đó là một nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Các cơ sở đào tạo nghề đào tạo nghề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các lý thuyết kinh tế từ trước đến nay đều khẳng định mối quan hệ chất lượng nguồn nhân lực với tăng trưởng, phát triển kinh tế – xã hội. Việc quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề là công cụ khắc phục các hạn chế đào tạo chất lượng nguồn nhân lực là đòn bẩy để tạo điều kiện cho đầu tư phát triển kinh tế. Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề là sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất các cơ sở đào tạo nghề, chương trình đào tạo nghề một cách hiệu quả; khắc phục sự lãng phí ngân sách nhà nước, lãng phí công sức và kinh phí của người học; quy mô đào tạo đa cấp, đa ngành nhằm cung cấp nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội; Gắn việc quản lý cơ sở đào tạo với sử dụng nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp nguồn nhân lực phát huy tối đa nguồn lực; chăm lo phát triển toàn diện văn hóa, nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, tăng cường khả năng quốc phòng, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Trong thời gian qua, bên cạnh những thành công và đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển đất nước thì quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Gia Lai vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, như: Hệ thống thể chế về quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề chưa được thống nhất; quá trình tái cơ cấu đầu tư các cơ sở đào tạo nghề chưa thực sự toàn diện; công tác quản lý các cơ sở đào tạo nghề vẫn còn nhiều bất cập.
Tỉnh Gia Lai có vị trí đặc biệt quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế – xã hội gắn với đảm bảo an ninh – quốc phòng của quốc gia; tuy nhiên Gia Lai vẫn là một tỉnh nghèo, trình độ dân trí còn thấp nên chính vì vậy, việc quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm để dịch chuyển cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và coi đó là một nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển kinh tế – xã hội nói chung.
Mặc dù việc quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề tại tỉnh Gia Lai nhằm dịch chuyển cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội tuy nhiên hiệu quả quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề tại tỉnh Gia Lai chỉ cơ bản đáp ứng yêu cầu các chỉ tiêu mà tỉnh đã đề ra nhưng còn ở mức độ thấp, tính hiệu quả chưa cao, còn một số tồn tại, hạn chế như: Một số cơ sở đào tạo không sát nhu cầu thực tế, chưa giải quyết được yêu cầu cấp bách, tính ưu tiên trong việc đào tạo lao động; quyết định đầu tư xây dựng chưa đồng bộ; Chất lượng đào tạo còn thấp…Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, tỉnh Gia Lai cần phải cải thiện, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn, đó là yêu cầu cấp thiết, vừa có tính thời sự, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Từ thực trạng trên cũng như những kiến thức lý luận được đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác tại Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai, với mong muốn nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương và tối ưu việc sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất tại các cơ sở đào tạo nghề một cách hiệu quả thì việc quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề ở tỉnh Gia Lai đang là một thực tiễn cần được đầu tư nghiên cứu thực trạng, đóng góp những đề xuất, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề cho địa phương. Chính vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai” làm luận văn cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế của mình.
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài sẽ phân tích thực tiễn quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Trên cơ sở nghiên cứu, cơ sở lý luận về đào tạo nghề và thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai, đưa ra các biện pháp khắc phục tồn tại, các giải pháp trong thời gian tới về nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh .
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu trên, mục tiêu cụ thể đặt ra là:
– Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề.
– Phân tích thực trạng quản lý hệ thống các cơ sở đào tạo nghề cho lao động tỉnh Gia Lai để đánh giá những thành công, cũng như hạn chế và nguyên nhân.
– Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý, phát triển các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh Gia Lai trong thời gian từ nay đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai, các hoạt động đào tạo và chất lượng đào nghề tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Thời gian: từ năm 2015 đến năm 2020. Nội dung: luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh.

4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai và để có được nhưng thông tin dữ liệu cần thiết, trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp thu thập số liệu:
Phương pháp thu thập tài liệu được sử nhằm thu thập tài liệu liên quan đến luận án gồm tài liệu từ các luật, văn bản quy phạm pháp luật, các số liệu thống kê chính thức của UBND, Sở Lao động thương binh và xã hội, Sở Nội vụ….; Các bài báo, tạp chí khoa học chuyên ngành, kết luận phân tích, đã được các học giả khác thực hiện;
Phương pháp thu thập tài liệu tại các cơ quan liên quan từ Trung ương (Bộ Lao động Thương binh và xã hội). Thực hiện thu thập tài liệu ở các cơ quan liên quan tại địa phương (Sở Nội vụ, Sở Lao động thương binh và xã hội, Sở tài chính, Cục thống kê và phòng, Ban có liên quan của các, huyện, thị xã, thành phố.). Dựa vào các tài liệu thu thập, tiến hành phân tích việc thực hiện công tác quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Các số liệu điều tra thu thập được không mang ý nghĩa thống kê mà chỉ mang ý nghĩa minh chứng cho những đánh giá về công tác quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
4.2. Phương pháp phân tích:
Để phân tích nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ niên giám thống kê và báo cáo tổng kết Chương trình của địa phương nhằm phản ánh thực trạng quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Phân tích là tổng hợp các phương pháp đo lường và trình bày số liệu; kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng, trong đó phương pháp định tính đóng vai trò chủ đạo và các phân tích định lượng đóng vai trò minh họa, hỗ trợ. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở kết hợp so sánh các phương án thực hiện, tổng hợp kết quả và rút ra những bài học kinh nghiệm, xây dựng các giải pháp mang tính chiến lược và thực tiễn cho tỉnh Gia Lai. Phương pháp phân tích thống kê mô tả được sử dụng để mô tả đặc tính của các biến trong bảng khảo sát như giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm. Các kết quả nghiên cứu sau khi được xử lý sẽ được trình bày trong luận văn dưới dạng các con số rời rạc, bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị…
4.3. Phương pháp phân tích, so sánh:
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp trong việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với cở sở đào tạo nghề, tra cứu các Luật, Nghị định, Nghị quyết, quyết định, thông tư hướng dẫn…của Nhà nước, Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội; Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ về hoạt động quản lý nhà nước đối với cở sở đào tạo nghề. So sánh với một vài tỉnh khác có cùng điều kiện tự nhiên kinh tế – xã hội, từ đó tổng hợp và rút ra các lý luận và góp ý đối với Gia Lai. Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán, có thể so sánh việc thực hiện các tiêu chí quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai giữa các năm khác nhau để đánh giá kết quả quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai … nhằm rút ra những ưu điểm, những hạn chế của đối tượng làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp.
4.4. Phương pháp nghiên cứu khác
Luận văn sử dụng những phương pháp luận nghiên cứu lý thuyết tổng quát của khoa học kinh tế như: Kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng để phân tích, tổng hợp… Thông tin định tính sẽ giúp cho việc phân tích sâu nhằm khẳng định về quan điểm, nhận thức, thái độ và khả năng của các đối tượng nghiên cứu, đồng thời làm sáng tỏ số liệu định lượng thu được. Thông tin định lƣợng sẽ giúp cho việc xác định thực trạng tìm ra tồn tại và nguyên nhân tồn tại, đồng thời làm cơ sở cho việc đƣa ra những khuyến nghị, giải pháp về hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với cở sở đào tạo nghề.
5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
6. Kết cấu dự kiến của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Chương 3: Giải pháp quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai
CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1.1 Khái niệm về nghề, đào tạo nghề.
– Nghề: Là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định như nghề mộc, nghề cơ khí…theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Nghề là một hình thức phân công lao động đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định.
– Đào tạo: là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Do đó, đào tạo nghề: có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả những nhiệm vụ liên quan đến công việc và nghề nghiệp được giao.
– Đào tạo nghề(dạy nghề) là hoạt động dạy và học tại nơi làm việc, các cơ sở dạy nghề, trung tâm đào tạo, các lớp học không chính quy nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Có thể hiểu đào tạo nghề chính là: (i) trang bị các kiến thức lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống; (ii) rèn luyện các kỹ năng thực hành nghề nghiệp; (iii) rèn luyện thái độ, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm một nghề nhất định. Đào tạo nghề không chỉ gắn với lý thuyết mà cần đảm bảo cho lao động có đầy đủ kỹ năng để tìm được một việc làm gắn liền với nghề nghiệp. Đào tạo nghề cho người lao động không chỉ liên quan đến dạy nghề mà liên quan cả đến sự phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề
– Đặc điểm về đào tạo nghề: Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau: + Dạy nghề gắn chặt với với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo để người học trở thành người lao động trong các doanh nghiệp. + Là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90-100%. + Đối tượng học nghề là những người đã trưởng thành, thậm chí đã lớn tuổi. + Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: dạy nghề dài hạn; dạy nghề ngắn hạn; dạy nghề theo modul; dạy nghề kèm cặp; dạy nghề lưu động…
Đào tạo nghề: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai”.
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về cơ sở đào tạo nghề
Khái niệm quản lý:
F.W.Taylor cho rằng “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo lý thuyết hệ thống “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”
Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu. Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành như một tất yếu khách quan. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nổ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó. Một cách chung nhất, quản lý có thể được hiểu là: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật.
Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề:
Do đó, QLNN về đào tạo nghề là quản lý theo ngành do một cơ quan Trung ương và địa phương thực hiện. Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển đào tạo nghề của đất nước phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội. QLNN trong lĩnh vực dạy nghề về bản chất là QLNN về giáo dục nhưng có đặc trưng riêng:
+ Chủ thể QLNN trong lĩnh vực dạy nghề là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương tới địa phương theo quy định của pháp luật; được quy định trong Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 của Quốc hội
+ Đối tượng QLNN trong lĩnh vực dạy nghề: là mọi hoạt động dạy nghề.
+ Mục tiêu quản lý: đi sâu vào mục tiêu đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp… đáp ứng với yêu cầu đặt ra.
Theo Nghị định 70 về Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về dạy nghề của Thủ tướng chính phủ, ban hành năm 2009, nội dung về quản lý nhà nước về dạy nghề nói chung
Quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề là một khâu trong quản lý nhà nước về dạy nghề. QLNN trong lĩnh vực dạy nghề nói chung và cơ sở đào tạo nghề nhằm đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả; đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển dạy nghề. QLNN nghề nhằm hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực dạy nghề.
Quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo nghề là một dạng quản lý do các cơ quan trong bộ máy nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối mọi hoạt động liên quan đến cơ sở đào tạo nghề như: chiến lược, quy hoạch, chính sách, tổ chức hoạt động của các cơ sở dạy nghề, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý…nhằm đảm bảo trật tự kỷ cương trong các cơ sở đào tạo nghề, thực hiện được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế; đảm bảo tính kinh tế, hiệu lực hiệu quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề.
Nhà nước quản lý các cơ sở đào tạo nghề bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở tuân thủ các quy định pháp luật; các cơ sở đào tạo nghề thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến cơ sở đào tạo nghề.
1.1.3. Ý nghĩa của quản lý nhà nước về đào tạo nghề
Dạy nghề là một phân hệ trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí và vai trò quan trọng vì nó đào tạo trực tiếp nguồn nhân lực cho xã hội; đào tạo 10 nghề có nhiệm vụ đào tạo người lao động về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề, chuyên môn ở các cấp trình độ, có đủ khả năng tìm việc làm và năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội, liên thông với các trình độ đào tạo khác. Chương trình dạy nghề được đào tạo theo các trình độ: Sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề.
– Đào tạo nghề là đào tạo lực lượng lao động có trí tuệ, kỹ năng, trình độ chuyên môn, ý thức nghề nghiệp cao trực tiếp tham gia vào quá trình CNH, HĐH địa phương và quốc gia.
– Đào tạo nghề đối trong quá trình công nghiệp hóa là tạo điều kiện nâng cao nhận thức của người lao động và toàn xã hội về học nghề, để có cơ hội việc làm hoặc tự tạo việc làm, có thu nhập vươn lên thoát nghèo và tự giải quyết các vấn đề cá nhân cũng như xã hội.
– Đào tạo nghề đối với xã hội góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế đặc biệt là các đại phương thuần nông. Quá trình đào tạo nghề đối sẽ tạo lên một đội ngũ người lao động có tay nghề đa dạng có khả năng tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm mới hay tự đứng ra tổ chức các loại hình sản xuất phù hợp với điều kiện sẵn có. Cùng với đó là sự thu hút các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, từ đó, kích thích người lao động chuyển dịch từ khu vực nông thôn sang công nghiệp, dịch vụ, dám nghĩ dám làm hơn, có động lực chuyển nghề cao hơn, qua đó làm thay đổi cơ cấu lao động cũng như làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở khu vực kinh tế nông nghiệp.
-Đào tạo nghề đối lực lượng lao động tạo cơ hội cho người dân thực hành nhiều hơn đối với nghề lựa chọn theo học. Hiện nay, lao động nước ta chủ yêu xuất phát từ nông thôn, sản xuất nghề nông nghiệp theo kiểu kế thừa, kinh nghiệm truyền thống. Chính vì vậy quan niệm làm nghề nông nghiệp không cần học tập, đào tạo đã khiến cho trình độ canh tác, sản xuất nông nghiệp vẫn ở trình độ lạc hậu, chấm tiến, năng suất, chất lượng và hiệu quả, giá trị gia tăng rất thấp. 11 Chính vì vậy, đào tạo nghề giúp cho người lao động khu vực này tăng năng xuất lao động.
– Đào tạo nghề đối góp phần nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, xã hội và đời sống tinh thần của người dân, nhất là khu vực nông thôn.
1.2. NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƠ SƠ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.2.1. Ban hành và thực thi một hệ thống các văn bản pháp luật quy định về cơ sở đào tạo nghề
Kể từ khi tái lập Tổng cục Dạy nghề đến hết năm 2006, nhiều văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề đã được xây dựng, bổ sung, sửa đổi, ban hành. Các văn bản này đã tạo nên hành lang pháp lý phát triển đào tạo nghề trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Cùng với đó, Luật Giáo dục được ban hành năm 2005 và Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09/01/2001 quy định chi tiết thi hành Bộ luật lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề; tiếp đó là Nghị định số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 hướng dẫn thực hiện Luật giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề thay thế Nghị định số 02/2001/NĐ-CP. Trên cơ sở đó, hệ thống chính sách đào tạo nghề đã được hình thành tương đối đồng bộ.
Các pháp luật và chính sách về đào tạo nghề ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt, ngày 29/11/2006, Luật Dạy nghề đã được Quốc hội khóa XI thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2007. Tiếp đó là, Nghị quyết số 03/2007/NQ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch hóa kinh tế – xã hội, đã giao cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xây dựng trình Chính phủ đề án đổi mới đào tạo nghề.
Các sở, ngành, các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, tham mưu điều chỉnh, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật bất cập so với thực tiễn; đồng thời xây dựng văn bản triển khai hướng dẫn thực hiện. Tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách tổ chức cung ứng dịch vụ trên địa bàn và trong các đơn vị dạy nghề. Bên cạnh đó, trong quản lý các cơ sở đào tạo nghề cần xây dựng Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề trên địa bàn địa phương.
Chính phủ và các cơ quan Chính phủ đã xây dựng và trình Quốc Hội ban hành các Luật, Nghị quyết trong lĩnh vực GDNN và các lĩnh vực có liên quan, gần đây nhất là Luật GDNN, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động GDNN trên phạm vi cả nước. Thực hiện chức năng quản lý thuộc thẩm quyền, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện Luật GDNN.
Theo thống kê, từ năm 2014 đến nay đã Chính phủ đã ban hành 5 Nghị quyết có liên quan đền GDNN; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 8 Quyết định có liên quan đến GDNN, trong đó có 02 Quyết định rất quan trọng là Quyết định 1981/QĐ-Ttg ngày 18/10/2016 về “Phê duyệt khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân” và Quyết định 1982/QĐ-Ttg ngày 18/10/2016 về “Phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt nam”. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, theo chức năng quản lý của mình, trong giai đoạn 2014-2020 cũng bàn hành 45 quyết định, thông tư và các văn bản khác điều hành, hướng dẫn các các hoạt động GDNN. Đây là những văn bản pháp luật rất quan trọng để triển khai Luật GDNN trong thực tiễn.
Theo đó chính sách, cơ chế có vai trò rất quan trọng không chỉ trong lĩnh vực cơ sở đào tạo nghề mà còn trong các lĩnh vực khác. Chính quyền địa phương cần ban hành và thực hiện các chính sách tốt và thực tiễn về hỗ trợ các cơ sở đào tạo nghề, chính sách hỗ trợ đất đai, hỗ trợ chi phí xây dựng, hỗ trợ chi phí tham gia các khóa hội thảo…các chính sách thu hút đầu tư xã hội hóa vào các cơ sở đào tạo nghề ở địa phương.
Việc đánh giá cần phải dựa trên các tiêu chí:
- Số lượng văn bản ban hành (văn bản )
- Số lần tuyên truyền phổ biến cho cơ sở (lần)
- Thời gian các cơ sở nhận được văn bản (ngày)
- Tỷ lệ người biết về văn bản (%)
1.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề
Bộ máy quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề bao gồm các có sở đào tạo thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổng cục dạy nghề đến các cơ sở đào tạo nghề tại địa phương (tỉnh, huyện, xã). Đồng thời, Nhà nước tiến hành phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương. Hiện nay, Nhà nước đang xúc tiến đổi mới cơ chế quản lý, nhằm hoàn thiện hơn nữa, sao cho quản lý nhà nước đối với các cở sở đào tạo nghề ngày càng đạt chất lượng và hiệu quả hơn.
Nhìn chung bộ máy quản lý nhà nước các cở sở đào tạo nghề vẫn còn nhiều bất cập, vẫn còn tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quá cồng kềnh, nhiều đầu mối hoạt động kém hiệu quả, cần phải được cũng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực đảm bảo thực thi nhiệm vụ.
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước các cơ sở đào tạo nghề cần thực hiện một số nội dung sau:
– Rà soát, sắp xếp lại các cơ sở đào tạo nghề từ trung ương đến địa phương hợp lý, xem xét việc lựa chọn sát nhập những đơn vị không cần thiết, hoạt động thiếu hiệu quả nhằm tinh gọn lại bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động.
– Xây dựng các tiêu chí cụ thể đối với từng loại đơn vị thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước đảm bảo ổn định, chấm dứt tình trạng xác nhập, chia tách nhiều dẫn đến thiếu hiệu quả trong công tác quản lý.
– Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, tránh chồng chéo tạo lỗ hỗng trong quản lý.
Các tiêu chí: (1) Tính tối ưu. Giữa các khâu và các cấp quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp đều thiết lập những mối liên hệ hợp lý với số lượng cấp quản lý phải ít nhất. Có như vậy tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp mới có tính năng động cao, luôn đi sát và thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ. (2) Tính linh hoạt. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp phải có khả năng thích ứng nhanh, linh hoạt với bất kỳ tình huống nào xảy ra trong tổ chức cũng như ngoài môi trường. (3) Tính tin cậy. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp phải đảm bảo tính chính xác nhờ đó bảo đảm sự phối hợp tốt nhất các hoạt động và nhiệm vụ của tất cả các bộ phận trong tổ chức. (4) Tính kinh tế. Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải sử dụng chi phí quản trị đạt hiệu quả cao nhất. Tiêu chuẩn xem xét mối quan hệ này là mối tương quan giữa chi phí quản lý dự định bỏ ra và kết quả sẽ thu về được.
1.2.3. Quy hoạch và quản lý quy hoạch các cơ sở đào tạo nghề
Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nghề là quy hoạch phát triển mạng lưới các trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm đào tạo nghề nhằm mục đích tổ chức hiệu quả việc quản lý nhà nước về các cơ sở đào tạo nghề cho người lao động tham gia vào các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Chất lượng quy hoạch và phân bố cơ sở giáo dục nghề nghiệp được thể hiện qua các điểm cơ bản sau đây: (1) Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển nhân lực của đất nước, của từng ngành, từng vùng, từng địa phương trong từng thời kỳ và phát huy năng lực, hiệu quả của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. (2) Quy hoạch phải tạo điều kiện thuận lợi và nhu cầu cho người học, nhất là người lao động nông thôn, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật. (3) Quy hoạch phải theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá, đảm bảo phù hợp với khả năng đầu tư của Nhà nước và khả năng huy động nguồn lực xã hội để phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Ngoài ra cần phải chú trọng hình thành mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề để phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.3.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế xã hội
Tốc độ phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động: Trước hết việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho nhóm nghề nông nghiệp là góp phần đáp ứng nguồn nhân lực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, phục vụ sự nghiệp xây dựng nông thôn mới và hƣớng tới sản xuất nông nghiệp theo hƣớng hàng hóa, bền vững. Tiếp đó, đào tạo nghề hướng tới đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp sản xuất trong nước. Do vậy có thể nhận thấy mối liên kết chặt chẽ giữa đào tạo nghề với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Thực tế cho thấy từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam đã từng bước hội nhập sâu rộng với kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên thời gian này cùng với sự khủng hoảng về kinh tế vấn đề về ngành nghề, đào tạo nghề chưa được coi trọng và gần như bỏ ngỏ. Hoặc nếu có thì chỉ là những buổi chuyển giao, tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn.. hiệu quả thấp và thiếu thực tế. Chỉ đến khi nước ta bước qua giai đoạn khủng hoảng, nền phát triển kinh tế ổn định, mức tăng trưởng khá, GDP đầu ngƣời liên tục tăng và đặc biệt là từ khi Nhà nước có chủ trương thực hiện công cuộc xây dựng nông thôn mới thì nhu cầu học nghề người lao động mới tăng lên.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo sự chuyển dịch về cơ cấu lao động, việc làm. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm thu hẹp kinh tế khu vực nông nghiệp, buộc người lao động trong lĩnh vực này phải chuyển dịch tìm kiếm cơ hội việc làm trong lĩnh vực khác. Điều này đòi hỏi ngƣời lao động khu vực nông thôn hoạt động trong các ngành nông nghiệp phải được đào tạo nhằm thích ứng tốt hơn với yêu cầu sản xuất, canh tác, chăn nuôi mới có hàm lượng khoa học công nghệ cao, sản xuất có tính tập trung, thâm canh và theo hướng thị trường. Cơ hội, thách thức và yêu cầu của hội nhập kinh tế: Trong bối cảnh nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, bên cạnh những cơ hội thì vẫn còn đó rất nhiều khó khăn trở ngại. Thực tế cho thấy rằng nước ta vẫn đang là một nước nông nghiệp trình độ thấp, chất lượng nguồn nhân lực còn quá yếu, chủ yếu lao động phổ thông, ít tiếp thu cái mới và áp dụng khoa học kỹ thuật, sản lượng , chất lượng sản phẩm kém, giá trị thấp.. những điều này dẫn tới Việt Nam gặp nhiều bất lợi trong cạnh tranh khi tham gia thị trường quốc tế.
Sự gia tăng và cơ cấu dân số: Quy mô và cơ cấu dân số là nhân tố quyết định đến sự phát triển công tác đào tạo nghề. Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương: có tác động mạnh mẽ đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn. Chính vì vậy để phát triển các địa phương đều cần phải đầu tư vào các cơ sở đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
1.3.2. Nguồn lực đầu tư và chất lượng đào tạo của các có sở đào tạo nghề
Các chính sách và nguồn lực tài chính bền vững cho các cơ sở đào tạo nghề là một yếu tố quan trọng để thực hiện chức năng của các hệ thống cơ sở đào tạo nghề.
Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề và đối tượng học nghề; Cơ sở vật chất và tài chính phục vụ đào tạo nghề; Chúng ta cần lựa chọn đội ngũ giảng dạy có chất lượng, tay nghề chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp, nhiệt tình, sáng tạo và tâm huyết với nghề. Đội ngũ này có thể là giảng viên cơ hữu, có thể là thỉnh giảng, đội ngũ quản lý từ cơ sở đào tạo đến cơ quan quản lý nhà nước. Chương trình và nội dung đào tạo nghề càng sát với mục tiêu đào tạo nghề đặt ra bao nhiêu thì càng làm cho hiệu quả đào tạo người học càng cao bấy nhiêu. Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học là nhiệm vụ không thể thiếu trong công tác đào tạo nghề. Có kiểm tra mới đánh giá đúng chất lượng của người học nghề.
Chương trình, giáo trình đào tạo nghề; Nội dung, phương pháp cho đào tạo nghề. Con người là yếu tố trung tâm của quá trình thực hiên chính sách đào tạo nghề, cấu thành nên tổ chức do đó tất cả các hoạt động trong tổ chức đều chịu sự tác động của nhân tố này. Chúng ta đều nhận thấy, con người khác với động vật là khả năng tư duy, do đó con người luôn có các nhu cầu khác nhau mà nhu cầu học tập và phát triển của người lao động ngày càng được chú trọng hơn. Nhân tố con người tác động đến đào tạo được chia ra làm hai nhân tố tác động đó là con người lao động (lao động trực tiếp) và con người quản lý (cán bộ quản lý).
Một yếu tố rất quan trọng của con người tác động đến công tác đào tạo đó là trình độ, nhận thức và khả năng tiếp nhận kiến thức của người lao động và người học. Tóm lại, người học là trung tâm của công tác đào tạo nghề, là nhân tổ ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến kết quả đào tạo và hiệu quả của chính sách đào tạo nghề.
Thái độ xã hội và nhận thức về chính sách đào tạo nghề. Nếu xã hội nhận thức được rằng giỏi nghề là một phẩm chất quý giá của người lao động, là cơ sở vững chắc để có việc làm và thu nhập ổn định thì công tác đào tạo nghề sẽ nhận được thêm nhiều nguồn lực hỗ trợ cần thiết của xã hội để phát triển mạnh hơn.
Kinh phí và các nguồn lực thực hiện chính sách: Như chúng ta đã biết nhân tố nguồn lực thực hiện chính sách là vô cùng quan trọng, muốn triển khai bất cứ một chính sách gì đều chịu ảnh hưởng của yếu tố tài chính, nếu kinh phí cho công tác đào tạo nghề được đảm bảo, ổn đinh thì có thể đem lại kết quả cao và là điều kiện để mở rộng qui mô cũng đào tạo. Ngược lại nếu nguồn lực kinh tế hạn chế, định mức chi cho đào tạo nghề thấp, thiếu ổn định sẽ dẫn tới hiệu quả chính sách không cao. Mục tiêu đào tạo nghề không chỉ tạo ra lực lượng lao động có nghề mà còn gắn chặt với vấn đề việc làm cho người lao động sau khi học nghề,. Do đó, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với máy móc phục vụ cho sản xuất bao nhiêu thì người học nghề có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với sản xuất trong doanh nghiệp bấy nhiêu.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Gia Lai
Gia Lai là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Tây Nguyên với diện tích 15.536,92 km². Dân số toàn tỉnh là 1.417.259 người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 44,8%, chủ yếu dân tộc tại chỗ Bahnar và Jrai. Toàn tỉnh có 17 đơn vị hành chính gồm 14 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố. Phía Bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Tây giáp Cam-pu-chia với 90 km là đường biên giới quốc gia, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Gia Lai có gần 500.000 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có hơn 291.000 ha đất cho cây trồng hàng năm và hơn 208.000 ha cho cây lâu năm, 1.112.452,8 ha đất lâm nghiệp. Điều kiện tự nhiên của Gia Lai có rất nhiều tiềm năng để phát triển các ngành Nông – Lâm – Công nghiệp – Dịch vụ và Du lịch làm cơ sở cho việc đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động nhất là lao động các dân tộc thiểu số. Tỉnh Gia Lai với đặc thù là phần đông lao động tham gia sản xuất nông nghiệp cá thể và lao động người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo trong dân tộc thiểu số rất cao (80%)
Theo Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai 2020, thì: “Gia Lai có 17 đơn vị hành chính, bao gồm: Thành phố Pleiku, thị xã An Khê, Thị xã AyuPa và 14 huyện. Thành phố Pleiku là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và trung tâm thương mại của tỉnh, nơi hội tụ của 2 quốc lộ chiến lược của vùng Tây Nguyên là quốc lộ 14 theo hướng Bắc Nam và quốc lộ 19 theo hướng Đông Tây, là điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển KT-XH với vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, cả nước và trung tâm khu vực tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Cam Phu Chia”.
Trong thời gian qua được sự quan tâm của Trung ương, sự lãnh đạo sâu sát của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và sự đoàn kết thống nhất trong điều hành của UBND tỉnh nên tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng đều qua các năm, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước, an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, công tác an sinh xã hội ngày càng đảm bảo. Tuy nhiên, do còn nhiều yếu tố tác động nên tình hình kinh tế – xã hội (KT-XH) tỉnh Gia Lai vẫn còn chậm phát triển. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm phát triển là do đội ngũ người lao động (NLĐ) nói chung còn thiếu về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu và chưa thực sự gắn kết với thực tiễn sản xuất và đời sống của địa phương. Do đó, nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và đồng bộ nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng cường Công nghiệp và Dịch vụ; Gắn đào tạo với sử dụng, với thị trường lao động là một đòi hỏi bức xúc, có ý nghĩa quyết định để phát triển KT – XH trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Để đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương tỉnh đã quan tâm phát triển mạng lưới cơ sở Giáo dục nghề nghiệp; hiện nay trên địa bàn tỉnh có 25 cơ sở , trong đó: có 08 Trường trung cấp, cao đẳng (05 Trường thuộc tỉnh: Cao đẳng nghề Gia Lai; Trung cấp Kinh tế – Kỹ thuật Nam Gia Lai, Trung cấp Kinh tế – Kỹ thuật Đông Gia Lai; Trung cấp Y tế, Trung cấp Trung cấp Văn hoá- Nghệ thuật; 03 Trường thuộc trung ương: Cao đẳng nghề số 21, Trung cấp nghề số 15, Trung cấp Lâm nghiệp Tây nguyên); 14 Trung tâm GDNN-GDTX cấp huyện, thị (trừ T.P Pleiku) và 03 cơ sở đào tạo lái xe. Đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) thường xuyên được bổ sung và từng bước kiện toàn về số lượng và chất lượng. Trong những năm qua, các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có những đóng góp đáng kể trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và các tỉnh lân cận.
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩn GRDP năm 2017 (theo giá so sánh 2010) 7,81%; trong đó: Nông – lâm nghiệp – thủy sản tăng 6,51%, công nghiệp – xây dựng tăng 7,94%, dịch vụ tăng 8,75%, thuế sản phẩm tăng 9,95%; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch phù hợp. GRDP bình quân đầu người đạt 41,58 triệu đồng.
Giá trị sản xuất đạt 99,1% kế hoạch, tăng 6,73% so với cùng kỳ. Tổng diện tích cây trồng 531.982ha, đạt 100% kế hoạch, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn ước thực hiện 18.957,8 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch, tăng 11,2%.
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.181 tỷ đồng, đạt 115,7% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 11,9% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 101% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 14% so với cùng kỳ.
Các chỉ tiêu Kinh tế – Xã hội được thể hiện trong bảng 2.1
| TT | Các chỉ tiêu năm 2020 | Đơn vị tính | Năm 2020 |
| 1 | Tốc độ tăng tổng sản phẩm (GRDP), giá SS2010 | % | 8,2 |
| 2 | Ngành nông lâm nghiệp – thủy sản | % | 5,36 |
| 3 | Ngành công nghiệp – xây dựng | % | 10,12 |
| 4 | Ngành dịch vụ | % | 9,02 |
| 5 | Thuế sản phẩm | % | 10,00 |
| 6 | Kim ngạch xuất khẩu | Triệu USD | 610 |
| 7 | Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn | Tỷ đồng | 5.047 |
| 8 | Tổng vốn đầu tư toàn xã hội | Tỷ đồng | 70.000 |
| 9 | Tỷ lệ tăng dân số tự nghiên | % | 1,23 |
| 10 | Số lao động tạo việc làm mới | Người | 24.225 |
| 11 | Số lao động qua đào tạo | % | 57 |
| 12 | Tỷ lệ hộ nghèo | % | 3 |
(Nguồn : Văn phòng UBND tỉnh Gia Lai)
2.1.2. Tình hình đào tạo nghề của các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh
Hoạt động điều tra khảo sát tình hình đào tạo nghề của các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Công tác điều tra được thực hiện từ các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh. Qua điều tra số lượng lao động có nhu cầu học nghề năm 2016 là 16.290 người, trong đó: Trung cấp nghề 120 người, sơ cấp nghề 300 người, đào tạo nghề dưới 3 tháng: 15.870 người. Dự báo nhu cầu đào tạo nghề giai đoạn 2011- 2015: Đào tạo nghề cho 57.000 lao động, trong đó 30.000 đào tạo nghề nông nghiệp, 27.000 người đào tạo nghề phi nông nghiệp. Nhu cầu đào tạo nghề giai đoạn 2016-2020: Đào tạo nghề cho 65.000 lao động, trong đó 29.000 đào tạo nghề nông nghiệp, 36.000 đào tạo nghề phi nông nghiệp.
Kết quả thực hiện đào tạo của các có sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Gia Lai được thể hiện trong bảng 2.2
- Bảng 2.2. Kết quả thực hiện đào tạo nghề tỉnh Gia Lai
(Đvt: người)
| Năm | Đào tạo nghề cho lao động | Ghi chú |
| 2016 | 14.700 | |
| 2017 | 17.239 | |
| 2018 | 11.754 | |
| 2019 | 13.793 | |
| 2020 | 10.298 |
(Nguồn : Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Gia Lai)
Các cơ sở dạy nghề đã quan tâm nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp. Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo, giải quyết việc làm góp phần đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, đặc biệt từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao quỹ thời gian sử dụng lao động nông thôn.
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
2.2.1. Thực trạng Ban hành và thực thi một hệ thống các văn bản pháp luật về cơ sở đào tạo nghề
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ


