Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới

Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước với phương châm chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua những đổi mới kịp thời đó, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành quả đáng khích lệ như: tăng trưởng kinh tế cao, quan hệ quốc tế mở rộng, ổn định chính trị và xã hội, kim ngạch xuất khẩu bình quân tăng cao…. Đạt được những thành quả đó là nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta nói chung và của các thành phần kinh tế nói riêng. Những thành quả ấy có sự đóng góp không nhỏ của loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là bước đi thích hợp và thật sự quan trọng bởi nó góp phần tạo ra được nhiều việc làm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, cũng như của thành phố Đồng Hới. Nhà nước đã định hướng, tạo môi trường để các doanh nghiệp phát triển và hoạt động có hiệu quả theo cơ chế thị trường. Nhờ những nỗ lực trong đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, nên công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ngày càng được hoàn thiện. Khung pháp luật, cơ chế, chính sách đã được đổi mới và bổ sung. Việc tổ chức thực hiện pháp luật và hành vi ứng xử của bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đã có sự thay đổi để phù hợp hơn với cơ chế thị trường, với xu thế mở cửa và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Những nỗ lực đó đã và đang góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tính đến ngày 31-12-2011, Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, với số vốn khoảng 6 triệu tỷ đồng. Trong tổng số doanh nghiệp đó, có gần 97% quy mô vừa và nhỏ. Trong nhiều năm tới, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn là động cơ chạy chính cho nền kinh tế Việt Nam.

Đồng Hới là một thành phố năng động, là trung tâm phát triển mạnh mẽ nhất của khu vực miền Trung và Tây nguyên và sự phát triển của nó kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Hiện nay các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn và những thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp là không nhỏ. Số doanh nghiệp được thành lập ít hơn quy mô số dân của thành phố, số doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, tăng thêm vốn và lao động chưa nhiều. Mặc dù đã có nhiều doanh nghiệp hoạt động hiệu quả , có hình thức kinh doanh phù hợp, thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường… nhưng sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đồng Hới tuy đã có nhiều thay đổi nhưng còn chậm và chưa ổn định. Công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn nhiều hạn chế, trở ngại. Nhiều quy định pháp luật vẫn chưa tương thích với hệ thống luật pháp quốc tế làm hạn chế tiềm năng và năng lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chính sách, biện pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn ở dạng văn bản, giấy tờ chưa đi vào cuộc sống của cộng đồng doanh nghiệp. Đây là những rào cản cản trở sự phát huy tiềm lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam nói chung và Đồng Hới nói riêng. Chính vì vậy, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Do ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này nên tôi chọn đề tài “ Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới” làm luận văn Thạc sỹ Quản lý công.

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam kết hợp với kinh nghiệm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước trên thế giới.

Đánh giá thực trạng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Đồng Hới, công tác hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của thành phố.

Đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Đồng Hới trong giai đoạn hiện nay.

Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới
Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.

Làm rõ thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa và các vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa từ khi có Luật doanh nghiệp năm 1999 đến nay.

Đưa ra những phương hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực kinh tế tư nhân nhằm xác định tính cấp thiết, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn hiện nay.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về mặt thời gian và kiến thức chưa được sâu rộng nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực kinh tế tư nhân, thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, bao gồm các loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Đồng Hới từ khi có Luật doanh nghiệp 1999 đến nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận

Luận văn xuất phát từ những cơ sở của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý doanh nghiệp. Ngoài ra, luận văn còn kế thừa và sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích – tổng hợp các tài liệu lý luận khoa học; phương pháp trừu tượng hóa.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Từ việc nghiên cứu quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tác giả vận dụng vào để chỉ ra thực trạng và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh hiện nay.

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo đối với việc giảng dạy, nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời có ý nghĩa tham khảo thiết thực cho các cơ quan quản lý nhà nước quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

– Chương 1: Cơ sở khoa học của sự quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

– Chương 2: Thực trạng Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Đồng Hới.

– Chương 3: Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp hoàn thiện Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1. Những căn cứ khoa học của doanh nghiệp nhỏ và vừa

      1. . Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa không phải là mới, nó đã được biết đến trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ XX, và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa được các nước quan tâm phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX. Theo bách khoa toàn thư mở tiếng Việt thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô, đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.

Khi phân tích về doanh nghiệp nhỏ và vừa thì thấy rằng có hai tiêu chí phổ biến để phân loại là: Số lượng lao động sử dụng và số vốn. Tiêu chí về số lượng lao động được đa số các nước áp dụng để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, số lượng lao động để phân loại không những khác nhau ở mỗi nước mà còn khác nhau ở các địa bàn cũng như trong mỗi ngành nghề. Ngoài ra, tiêu chí lao động cũng có thể thay đổi theo thời gian. Việc phân chia khác nhau này dựa trên cơ sở điều kiện phát triển của từng nước, từng vùng, ngành và trong từng thời điểm. Ở một số nước, tiêu chí về số vốn được đưa vào như là tiêu chí thứ hai để xác định quy mô của doanh nghiệp. Tiêu chí về số vốn được xác định dựa vào vốn kinh doanh mà doanh nghiệp đăng ký hoặc ghi trong điều lệ,… Ở Hàn Quốc: Tiêu thức phân loại doanh nghiệp chủ yếu dựa vào số lao động và phân biệt theo hai lĩnh vực sản xuất và dịch vụ: Trong lĩnh vực sản suất dưới 1000 lao động, trong lĩnh vực dịch vụ dưới 20 lao động là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ở Indonesia: Tổng cục thống kê nước này phân loại dựa vào số lao động: Doanh nghiệp có dưới 19 lao động được coi là nhỏ, doanh nghiệp có trên 20 lao động được coi là vừa và lớn. Bộ công nghiệp xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên vốn đầu tư vào máy móc: dưới 70 triệu rupi và tính bình quân trên một lao động có dưới 625 nghìn rupi là doanh nghiệp nhỏ. Còn ngân hàng Indonesia coi doanh nghiệp có tài sản dưới 100 triệu rupi là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ở Đài Loan: doanh nghiệp có số lao động dưới 300 người và vốn đầu tư dưới 1,5 triệu USD là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ở Thái Lan: doanh nghiệp có số lao động tối đa là 250 người và vốn đầu tư không quá 99.500 USD là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ở Việt Nam: Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa vừa mới được biết đến từ những năm 1990 đến nay. Trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp nhà nước được chia thành doanh nghiệp loại 1, doanh nghiệp loại 2, doanh nghiệp loại 3 với tiêu chí phân loại chủ yếu là số lao động trong biên chế và theo phân cấp Trung ương – Địa phương. Theo thông tư liên bộ số 21/LĐTT ngày 17 tháng 06 năm 1993 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính, các doanh nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành 5 hạng : hạng đặc biệt, hạng 1,2,3,4 dựa trên độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh với 8 tiêu chí rất phức tạp như vốn, công nghệ, lao động, lợi nhuận, doanh thu,… Đối tượng phân loại chủ yếu chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp nhà nước với mục đích chủ yếu là để xếp lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp.

Cũng cần nhắn đến một cách phân loại doanh nghiệp nữa là căn cứ vào các thành phần sở hữu, theo đó có các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được điều chỉnh bằng những chính sách và pháp luật khác nhau. Từ khi gia nhập WTO, dưới sức ép của nguyên tắc đối xử quốc gia mà Việt Nam đã cam kết thực hiện, cách phân loại này ngày càng trở nên không phù hợp vì các chính phủ nước ngoài dễ dàng lấy cớ Việt Nam phân biệt đối xử không công bằng với các doanh nghiệp nước ngoài để hạn chế việc bán sản phẩm Việt Nam vào thị trường nước họ.

Ngày 20 tháng 06 năm 1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KTN về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người. Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, ngành, lĩnh vực. Đây có thể được coi là văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.

Ngày 23 tháng 11 năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo nghị định này, doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.

Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Bảng 1.1: Xác định quy mô doanh nghiệp

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏDoanh nghiệp nhỏDoanh nghiệp vừa
Số lao độngTổng nguồn vốnSố lao độngTổng nguồn vốnSố lao động
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản10 người trở xuống20 tỷ đồng trở xuốngtừ trên 10 người đến 200 ngườitừ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồngtừ trên 200 người đến 300 người
II. Công nghiệp và xây dựng10 người trở xuống20 tỷ đồng trở xuốngtừ trên 10 người đến 200 ngườitừ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồngtừ trên 200 người đến 300 người
III. Thương mại và dịch vụ10 người trở xuống10 tỷ đồng trở xuốngtừ trên 10 người đến 50 ngườitừ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồngtừ trên 50 người đến 100 người

(Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ : Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa)

Nghị định này áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các tổ chức trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

      1. . Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Doanh nghiệp nhỏ và vừa đã và đang trở thành một bộ phận trong nền kinh tế Việt Nam. Với số lượng chiếm 96% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong nước cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có những đặc điểm sau:

– Là những doanh nghiệp có quy mô vốn và lao động nhỏ, đây thường là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Với quy mô nhỏ và vừa các doanh nghiệp này rất linh hoạt, ứng biến nhanh nhạy với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường, thích hợp với điều kiện sử dụng các trình độ kỹ thuật khác nhau như thủ công, nửa cơ khí, cơ khí để sản xuất ra những sản phẩm thích ứng với yêu cầu của nhiều tầng lớp dân cư có thu nhập khác nhau.

– Dễ khởi nghiệp, phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, thông thường để thành lập một doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ cần vốn đầu tư ban đầu không lớn, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng vừa phải. Đặc điểm này làm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động, phát triển ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề, nó lấp vào khoảng trống thiếu vắng của các doanh nghiệp lớn, tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân khai thác mọi tiềm năng, tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn.

– Là trụ cột của kinh tế địa phương, nếu như các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách, sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.

– Khai thác và huy động các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của các địa phương và các nguồn tài chính của dân cư trong vùng. Việc thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Điều đó sẽ tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư, việc đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động vốn sử dụng các khoản tiền đang phân tán, nằm im trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh.

– Khả năng quản lý của chủ doanh nghiệp và trình độ tay nghề của người lao động chưa cao, quản trị nội bộ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường mang tính gia đình, người chủ sở hữu thường đồng thời là người quản lý, là người quản đốc, là người cán bộ kỹ thuật… của doanh nghiệp. Nói cách khác người chủ sở hữu trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta cùng một lúc thực hiện hàng loạt chức năng và vai trò khác nhau trong tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài quan hệ góp vốn kinh doanh, học còn có quan hệ huyết thống, họ hàng, bạn bè hết sức thân thiết. Vì vậy, kỹ năng quản lý nội bộ rất yếu kém, thiếu cơ bản, chỉ dựa vào kinh nghiệm kinh doanh của bản thân. Lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo cơ bản, thiếu kỹ năng, trình độ văn hóa thấp, đặc biệt với các doanh nghiệp quy mô nhỏ.

– Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho công tác nghiên cứu, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có những công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây chuyền công nghệ thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu. Điều này tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tồn tại trên thị trường.

– Khả năng tiếp cận thị trường yếu, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing còn hạn chế và họ cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn.

1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trên thế giới người ta đã thừa nhận khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước mà vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng được thể hiện khác nhau.

Đối với các nước công nghiệp phát triển cao như Cộng hòa liên bang Đức, Nhật Bản, Mỹ mặc dù có những công ty cực lớn, nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế.

Đối với các nước châu Á như: Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonexia doanh nghiệp nhỏ va vừa có vai trò cực lớn làm giảm các tiêu cực trong các cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ, góp phần đáng kể vào sự ổn định kinh tế – xã hội và từng bước khôi phục nền kinh tế.

Kể từ khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời (thay thế Luật công ty & Luật Doanh nghiệp tư nhân) thì số lượng các doanh nghiệp nhỏ & vừa thuộc khu vực kinh tế dân doanh được thành lập tăng lên nhanh chóng. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần quan trọng trong việc giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy được nội lực vào xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội. Góp phần đáng kể vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách, tạo nhiều việc làm, xóa đói giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội khác. Vì vậy vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng lớn đối với nền kinh tế – xã hội của Việt Nam và được thể hiện các mặt sau:

Thứ nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP do số lượng doanh nghiệp ngày càng nhiều và phân bổ rộng khắp trong hầu hết các ngành, các lĩnh vực và địa phương. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc, trong đó phần lớn là doanh nghiệp dân doanh. Đóng góp khoảng 26% tổng sản phẩm xã hội, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng sản xuất của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thường cao hơn so với các khu vực doanh nghiệp khác. Nếu tính theo doanh thu của các doanh nghiệp cả nước, tỷ trọng doanh thu của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy mô lao động ( dưới 300 người ) năm 2002 – 2004 là 81,5% – 86,5%. Điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp nhỏ và vừa có đóng góp lớn vào việc gia tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việc nhiều doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập tại các vùng nông, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa sẽ làm giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Điều này sẽ giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ.

Thứ ba, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần xóa đói giảm nghèo. Việt Nam là một nước đang phát triển, có mật độ dân số cao, lực lượng lao động tăng nhanh, quy mô vốn tích lũy nhỏ vì vậy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta là một lựa chọn đúng đắn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các doanh nghiệp lớn trong việc tạo ra các công việc. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại là những đối tượng tạo ra nhiều việc làm cho xã hội.

Số doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập kết hợp với số doanh nghiệp mở rộng quy mô và địa bàn kinh doanh trong gần sáu năm qua đã tạo thêm gần 2 triệu chỗ làm việc mới, đưa tổng số lao động làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân và hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng 6 triệu người và chiếm khoảng 17% lực lượng lao động. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã trở thành nguồn cung chủ yếu về chỗ làm việc mới cho người lao động. Khi những doanh nghiệp nhỏ và vừa làm ăn phát đạt và thuê nhiều nhân công, nền kinh tế sẽ phát triển và ngược lại, khi họ thua lỗ và sa thải nhân công, nền kinh tế sẽ rơi vào suy thoái. Do đó phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa phải giữ vai trò then chốt.

Thứ tư, làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Sự ra đời của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế. Với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải liên tục đổi mới để có thể tồn tại và phát triển. Với tính linh hoạt của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng sẽ tạo sức ép cạnh tranh thậm chí với các công ty lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia. Đồng thời nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn đóng vai trò là vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động trong sản xuất, làm tăng hiệu quả của chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như của doanh nghiệp hợp tác.

Thứ năm, đóng góp quá trình tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới. Với sự linh hoạt của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là người đi tiên phong trong việc áp dụng các phát minh mới về công nghệ mới cũng như sáng kiến về kỹ thuật. Do áp lực cạnh tranh nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xuyên phải cải tiến công nghệ, tạo sự khác biệt để có thể cạnh tranh thành công. Mặc dù không tạo ra những phát minh, sáng kiến mang tính đột phá nhưng nó là những tiền đề cho sự thay đổi về công nghệ.

Thứ sáu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng hợp tác với các doanh nghiệp lớn. Quá trình thay đổi nhanh chóng về công nghệ trong những năm qua cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa đã thúc đẩy sự hợp tác và kết hợp chặt chẽ giữa các cộng đồng doanh nghiệp: lớn, nhỏ và vừa dưới nhiều hình thức khác nhau. Thứ nhất là liên kết doanh nghiệp theo hình thức mạng lưới, thường được xây dựng trên cơ sở chuyên môn hóa các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh bắt đầu từ khâu cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, các giai đoạn của quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ, phân phối sản phẩm. Mạng lưới liên kết các doanh nghiệp từ quy mô nhỏ, vừa đến doanh nghiệp lớn thông qua quan hệ trao đổi thông tin, quan hệ giao dịch thương mại, quan hệ thầu phụ công nghiệp, quan hệ mạng lưới phân phối tiêu thụ hàng hóa…. Thứ hai liên kết doanh nghiệp theo hình thức cụm công nghiệp, khu công nghiệp. Đây là hình thức liên kết dựa trên yếu tố gần gũi về địa lý giữa các doanh nghiệp trong cùng một khu vực. Nhà nước có vai trò đưa ra các chính sách khuyến khích, chủ động phát triển cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp là tiền đề quan trọng cho việc hình thành các kết cấu công nghiệp theo khu vực địa lý dạng này. Thứ ba là dạng liên kết dưới hình thức đối tác kinh doanh chiến lược. Hình thức liên kết này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao trình độ quản lý và phát triển được năng lực công nghệ.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn là tiền đề tạo ra các doanh nghiệp lớn, đồng thời làm lành mạnh môi trường đầu tư và kinh doanh. Với những doanh nghiệp thành công, quy mô của doanh nghiệp sẽ được mở rộng và nhiều doanh nghiệp trong số này dần dần trở thành doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế. Ngoài ra với số lượng lớn, rào cản tham gia thị trường không lớn thì sẽ luôn có nhiều doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường, đồng thời cũng có nhiều doanh nghiệp sẽ bị phá sản do hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ thì việc rút lui sẽ không gây tác động đến nền kinh tế, nhưng đối với doanh nghiệp lớn hay một tập đoàn thì việc rút lui này lại có tác động rất lớn, cả về mặt kinh tế và xã hội.

Ngoài ra, các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn là tiền đề để tạo ra môi trường văn hóa kinh doanh mang tính kinh tế thị trường, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi. Đây là điều rất cần thiết đối với Việt Nam hiện nay. Chúng ta đã ở trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung khá lâu, vì vậy môi trường văn hóa kinh doanh mang tính thị trường gần như không tồn tại, hoặc không có cơ hội phát triển, đội ngũ doanh nhân giỏi, có khả năng điều hành các doanh nghiệp trong điều kiện quốc tế hóa và hội nhập kinh tế quốc tế rất hạn chế. Vì vậy, việc tạo ra một môi trường văn hóa kinh doanh mang tính thị trường cũng như một đội ngũ các nhà kinh doanh giỏi là điều kiện cực kỳ quan trọng để Việt Nam có thể hội nhập thành công.

1.2. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quản lý nhà nước là tổng thể các phương thức và biện pháp sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ và hoạt động trong xã hội theo mục tiêu của nhà nước.

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước và thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế với các công cụ kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực phát triển kinh tế, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đã đặt ra.

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là sự tác động của cơ quan quyền lực nhà nước bằng các phương thức công quyền đối với quá trình hình thành, hoạt động và chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp còn được hiểu là việc sử dụng quyền lực nhà nước để can thiệp và điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp. Việc can thiệp và điều chỉnh của nhà nước được thực hiện bằng công cụ pháp luật (ban hành quy định pháp luật và tổ chức thực hiện); chính sách (ban hành chính sách và tổ chức thực hiện); chiến lược, quy hoạch và kế hoạch (ban hành chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện); bộ máy cơ quan quản lý nhà nước (thực hiện hay ứng xử của cán bộ, công chức nhà nước).

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây ở nước ta, quản lý doanh nghiệp bằng phương thức công quyền thể hiện ở chỗ Nhà nước sử dụng công cụ quản lý chủ yếu là kế hoạch, mệnh lệnh, các quyết định hành chính. Việc thành lập doanh nghiệp do Nhà nước quyết định, phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Trong đó chỉ có hai loại doanh nghiệp được phép thành lập là doanh nghiệp nhà nước (hay còn gọi là xí nghiệp quốc doanh) và hợp tác xã. Hoạt động của doanh nghiệp cũng được quản lý bằng các công cụ do Nhà nước áp đặt – đó là kế hoạch, quy hoạch, mệnh lệnh, các quyết định hành chính. Việc chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào Nhà nước, với hình thức duy nhất là giải thể.

Chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thực thể kinh tế (trong đó các doanh nghiệp là chính) tham gia vào các thị trường theo các quy luật của thị trường. Các doanh nghiệp tự chủ quyết định sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật. Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đề cao.

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có những đặc điểm sau:

Một là, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, lấy cơ chế thị trường làm nền tảng để định hướng cho việc áp dụng các công cụ quản lý.

Hai là, việc quản lý đối với doanh nghiệp được tiến hành theo các phương pháp và với những công cụ khác với phương pháp và công cụ quản lý ở giai đoạn trước đó, pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước đối với kinh tế được tăng cường. Do nền kinh tế nước ta đã được đa dạng hóa về hình thức sở hữu và chuyển sang cơ chế thị trường. Với đối tượng này, Nhà nước không thể không quản lý bằng pháp luật. Tình trạng buông lỏng kỷ luật, kỷ cương, sự hữu khuynh trong chức năng tổ chức, giáo dục, chức năng chuyên chính của nhiều cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, tình trạng xem nhẹ pháp chế trong hoạt động kinh tế của nhiều doanh nhân đã làm cho trật tự kinh tế của nước ta trong những năm qua có nhiếu rối loạn, gây tổn thất không nhỏ cho đất nước nói chung, Nhà nước nói riêng, làm giảm sút nghiêm trọng uy tín và làm lu mờ quyền lực của Nhà nước ta. Để khắc phục tình trạng trên, cần phải tăng cường lập pháp và tư pháp. Về lập pháp phải từng bước đưa mọi quan hệ xã hội trên lĩnh vực kinh tế vào khuôn khổ pháp luật, các đạo luật phải được xây dựng đồng bộ, chính xác, có chế tài rõ ràng và đúng mức. Trong tư pháp, mọi việc phải nghiêm, từ khâu giám sát, phát hiện, điều tra, công tố đến khâu xét xử, thi hành án, không để xảy ra tình trạng lọt tội phạm, có tội phạm không bắt, bắt rồi không xét xử hoặc xử nhẹ, rồi xử không thi hành án, thi hành án nữa vời,…

Ba là, nước ta đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, WTO. Ký nhiều hiệp định song phương và đa phương (Hiệp định thương mại Việt Nam – Hòa Kỳ, Việt Nam – EU, ký và triển khai thực hiện AFTA,…).

Chức năng chính của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng là định hướng về mặt chiến lược cho sựu phát triển của các doanh nghiệp được thực hiện gián tiếp qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, công cụ pháp luật; hình thành môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp mà cơ bản là môi trường pháp lý và thể chế; hỗ trợ và điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp bằng các công cụ kinh tế vĩ mô; kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp; tham gia khắc phục những khuyết tật của thị trường. Nhà nước phải đặc biệt coi trọng và thực hiện tốt chức năng hỗ trợ công dân lập thân, lập nghiệp về kinh tế, coi đó là một trong những nét đặc thù của sự thay đổi mới chức năng quản lý nhà nước về kinh tế so với trước thời kỳ đổi mới.

Mục tiêu chủ yếu của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng là nhằm tạo môi trường hoạt động thuận lợi, bình đẳng, cạnh tranh; đảm bảo để doanh nghiệp tuân thủ pháp luật; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

1.2.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Sự tác động của nhà nước vào thị trường, hay quản lý nhà nước về kinh tế mà trước hết và chủ yếu là các doanh nghiệp – hệ thống tế bào sinh sản của nền kinh tế, đã và đang xuất hiện tại tất cả các nền kinh tế trên thế giới. Sự can thiệp của nhà nước chỉ chấm dứt khi hình thành một thị trường hoàn hảo đủ khả năng tự điều chỉnh và thực hiện tất cả các chức năng can thiệp của nhà nước. Nhà nước can thiệp một mặt là để ngăn chặn, hạn chế các tác hại do các hoạt động của doanh nghiệp gây ra, mặt khác can thiệp để giúp đỡ các doanh nghiệp, doanh nhân thành đạt trong doanh nghiệp của họ, nhờ đó mà quốc gia cũng hùng mạnh theo tinh thần “ dân giàu, nước mạnh “.

– Vai trò quan trọng của nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh hiện nay. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay, thì vai trò của nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết, do đó nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, từ việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi bao gồm xây dựng và ban hành các luật về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo thuận lợi trong cấp giấy phép, tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh đến cung cấp thông tin, hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ về tín dụng và đào tạo nguồn nhân lực quản lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Nhà nước cần phải tập trung nỗ lực tạo đà, tạo thế cho doanh nghiệp, tạo môi trường pháp lý, quyết định thể chế, chính sách khuyến khích, trợ giúp; tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hết lòng phục vụ doanh nghiệp, chăm lo cho doanh nghiệp bảo đảm mọi thể chế, chính sách đều hướng về doanh nghiệp mà phục vụ, nâng cao hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp.

– Sự mâu thuẫn quyết liệt giữa các doanh nhân trên thị trường. Thương trường là chiến trường. Cuộc cạnh tranh này không kém phần quyết liệt. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nhân tham gia nhiều mối quan hệ lợi ích. Các quan hệ này có khả năng dẫn tới xung đột mà chỉ có Nhà nước mới xử lý thăng bằng các xung đột đó. Bản chất của kinh doanh là kiếm lời. Do đó mâu thuẫn giữa các doanh nhân với nhau và các đối tác khác, có quan hệ với các doanh nhân là lẽ thường tình. Thường có các quan hệ sau:

Thứ nhất, quan hệ giữa các doanh nhân với nhau. Thuộc các đối tác này có nhiều nội dung quan hệ cụ thể: quan hệ hàng – tiền với rất nhiều chi tiết liên quan đến hàng; quan hệ cổ phần, cổ phiếu trong việc chia lời lãi; quan hệ tranh chấp tài nguyên môi trường khi hoạt động liền kề nhau.

Thứ hai, quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp. Thuộc quan hệ này cũng có nhiều nội dung cụ thể, nhưng tựu chung là quan hệ lao động – tiền công – điều kiện việc làm – thái độ ứng xử của chủ doanh nghiệp đối với thợ – sự tuân thủ hợp đồng và thỏa ước lao động tập thể của đôi bên.

Thứ ba, quan hệ giữa doanh nhân với xã hội nói chung thông qua hành vi của họ trong việc sử dụng tài nguyên, môi trường, đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo vệ bí mật quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, …

– Sự hữu hạn của các doanh nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc xử lý các vấn đề sản xuất kinh doanh của họ. Để tiến hành sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, các doanh nhân phải giải quyết hàng loạt vấn đề, trong đó có những vấn đề doanh nhân không đủ khả năng giải quyết. Nội dung cụ thể của các vấn đề mà mỗi doanh nhân không giải quyết nổi có thể rất đa dạng, có thể là vấn đề ý chí, tri thức, vốn liếng, phương hướng, diễn biến chính sự có liên quan đến kinh tế.

1.2.3. Những vấn đề riêng có của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình sản xuất kinh doanh cần được Nhà nước quản lý

Những vấn đề riêng có của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình sản xuất kinh doanh xuất phát từ chính các đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dưới đây sẽ phân tích một số khó khăn, hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình sản xuất kinh doanh cần được Nhà nước can thiệp.

Thứ nhất, thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh. Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều rất hạn chế về vốn tự có, nên nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh là rất lớn. Tuy nhiên, việc vay vốn từ các ngân hàng quỹ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất khó khăn. Ngoài những khó khăn như vốn ít, kinh nghiệm quản lý và công nghệ sản xuất chưa ngang bằng khu vực kèm theo sự thiếu minh bạch về tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì trên thực tế các quy định của pháp luật về thủ tục cầm cố, thế chấp, về xử lý tài sản đảm bảo đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa rõ ràng, đồng bộ, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng và doanh nghiệp nhỏ và vừa tìm được điểm chung. Vấn đề ở đây là cần một hệ thống pháp luật theo hướng xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Việc hình thành một nguồn vốn cho khu vực này là một yêu cầu bức xúc.

Thứ hai, khó khăn về mặt bằng sản xuất, kinh doanh. Để có mặt bằng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Các thủ tục để có mặt bằng sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cho thấy, đến nay việc cập nhật thông tin, lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy, trụ sở, cửa hàng cũng như việc tiến hành bồi thường, giải phóng mặt bằng thông qua cơ chế thỏa thuận để có đất sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều trở ngại khó khăn. Nguyên nhân của tình trạng trên cũng là do hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng ở nhiều địa phương không có hoặc có thì không chắc chắn; quy hoạch còn chung chung nên việc bố trí mặt bằng cho các doanh nghiệp chưa được quan tâm; thậm chí không công khai quy hoạch dẫn đến tình trạng doanh nghiệp thiếu thông tin, khó khăn tiếp cận với đất. Một nguyên nhân nữa cũng cần nhắc đến là chúng ta chưa có một hệ thống đăng ký đất đai thống nhất trên toàn quốc, do đó việc đăng ký đất đai còn nhiều khó khăn; thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặc biệt là ở các khu đô thị rất phức tạp. Ngoài ra, trong quá trình tiến hành bồi thường để có mặt bằng sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều rơi vào tình trạng tự thỏa thuận với dân nên họ chịu rất nhiều thiệt thòi, tốn kém về thời gian và tiền bạc, nhưng không phải sự thỏa thuận nào cũng thành công nên nhiều doanh nghiệp phải bỏ dở công trình. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận với đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh là một việc làm hết sức cần thiết trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ ba, khó khăn về các yếu tố đầu vào, nguyên vật liệu, chi phí trong hoạt động kinh doanh. Qua khảo sát cho thấy, chi phí cho đầu vào nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong thành phẩm. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu dựa vào yếu tố lao động hoặc điều kiện tự nhiên, nên nguồn nguyên liệu thường không ổn định. Hơn nữa, phần lớn các đầu vào cho sản xuất chủ yếu từ nhập khẩu gây tổn phí cho doanh nghiệp về tiền bạc cũng như thời gian. Sự chậm trễ trong việc giao nhận các đầu vào nhập khẩu luôn đe dọa khả năng giao nộp sản phẩm do các nhà nhập khẩu hầu như không thể kiểm soát được thời gian đầu vào. Ngoài ra, các doanh nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế để tìm nguồn nguyên liệu, do đó sẽ không xác định được chính xác và duy trì các thị trường cho sản phẩm của mình hay phát triển những sản phẩm mới theo thị hiếu người tiêu dùng luôn thay đổi.

Chi phí kinh doanh là những khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi để sản xuất và bán những cho sản phẩm hay dịch vụ của mình. Các chi phí hoạt động kinh doanh như: chi phí nhân công, chí phí vận chuyển, giá cước điện thoại, giá bốc xếp ở cảng, chi phí nhà xưởng, đất đai, các loại thuế, giá của các sản phẩm độc quyền,… của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực vẫn còn ở mức cao bất hợp lý khiến cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy lợi thế so sánh trên trường quốc tế và không thể chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp cũng như tay nghề cho người lao động. Chưa kể các doanh nghiệp còn phải chịu nhiều tiêu cực phí như qua các trạm kiểm soát dọc đường, khi xe vào cảng hay khi hàng lên tàu,… Kết quả là nhiều doanh nghiệp có chi phí đầu vào khá cao.

Thứ tư, khó khăn về thị trường đầu ra của doanh nghiệp. Mặc dù trong khoảng 15 năm qua, tính từ 1990 trở lại đây, hàng hóa Việt Nam đã lan tỏa đi khắp thế giới, Việt Nam đã có quan hệ bạn hàng với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, song khả năng chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng chưa thực sự vững chắc. Theo điều tra của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chỉ có 26,9% số doanh nghiệp giành ưu thế chiếm lĩnh thị trường trong nước, 58,8% chiếm được thị trường song chưa thật vững chắc và có đến 14,3% số doanh nghiệp hoàn toàn không có khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước.

Thứ năm, công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp. Các vấn đề kỹ thuật và công nghệ là những yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường mà đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, cũng như với các doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt với tình trạng trang thiết bị máy móc, công nghệ lạc hậu, què quặt.

Thứ sáu, thiếu tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ trợ. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp rất nhiều khó khăn trong việc được đáp ứng nhu cầu thông tin từ thị trường bao gồm thông tin về thị trường sản phẩm và thông tin về đánh giá chất lượng sản phẩm. Thông tin về thị trường sản phẩm là vấn đề cốt yếu mà doanh nghiệp cần phải quan tâm nhiều nhất, bởi nó trực tiếp ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các cuộc điều tra của Phòng Thương Mại & Công Nghiệp Việt Nam năm 2003 đã đưa ra kết luận rằng “ Doanh nghiệp Việt Nam thiếu nhiều thông tin về thị trường hiện có và cả về thị trường tiềm năng đối với sản phẩm của mình “, một kết luận tương tự trong cuộc điều tra của Viện kinh tế thế giới năm 2001 là “ Phần lớn các doanh nghiệp còn hiểu biết về thị trường quá ít và chưa đánh giá đầy đủ vai trò và thị phần của mình trên thị trường “. Do đó, cần phải có các biện pháp tuyên truyền, hướng dẫn, triển khai cụ thể từ chính phủ, mà đặc biệt là hệ thống cung cấp thông tin cần tích cực hơn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc nắm bắt thông tin một cách đầy đủ, kịp thời giúp cho doanh nghiệp đưa ra được những chiến lược tối ưu.

Thông tin về cơ chế chính sách, khuôn khổ pháp lý. Một trong các loại thông tin mà doanh nghiệp tỏ ra hết sức quan tâm đó là thông tin về chính sách khuôn khổ pháp lý như: Thông tin về cơ chế chính sách, thông tin về thủ tục hành chính và thông tin về đất đai cũng như Luật Đất Đai. Vấn đề thông tin về cơ chế chính sách là vấn đề mà hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam rất quan tâm. Theo số liệu của Cục Phát Triển doanh nghiệp nhỏ và vừa – Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư điều tra thì các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đến các thông tin về cơ chế, chính sách liên quan đến doanh nghiệp. Do đó, cần phải đẩy mạnh việc nâng cao nhận thức cũng như cung cấp tốt loại thông tin về cơ chế, chính sách liên quan đến doanh nghiệp cho các chủ doanh nghiệp Việt Nam.

Tóm lại, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay đang rơi vào tình trạng cái gì cũng khó và thiếu. Thiếu vốn, thiếu mặt bằng kinh doanh, thiếu thông tin về hội nhập, máy móc công nghệ, nguyên vật liệu, nhân lực, công nghệ quản lý, khả năng tiếp cận thị trường và nhất là việc mở rộng xuất khẩu ra các thị trường nước ngoài. Các dịch vụ hạ tầng vừa thiếu, chất lượng thấp, gái cả đắt đỏ: điện, nước, xăng dầu, bưu điện, dịch vụ kho bãi, chi phí vận chuyển cao…. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết của việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dưới đây sẽ phân tích những nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng.

1.2.4. Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nội dung quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp nói chung và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng có liên quan đến ba giai đoạn của vòng đời doanh nghiệp, bao gồm giai đoạn gia nhập thị trường; giai đoạn doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh và giai đoạn chấm dứt hoạt động, rút khỏi thị trường.

– Giai đoạn gia nhập thị trường. Đây là giai đoạn đầu tiên bắt đầu vòng đời của doanh nghiệp, đặc điểm của giai đoạn này là sự hình thành hay khai sinh của doanh nghiệp. Tại giai đoạn này, doanh nghiệp được thành lập, đăng ký kinh doanh, chuẩn bị các điều kiện để bắt đầu chuyển sang hoạt động kinh doanh. Vì thế đó là giai đoạn xác lập địa vị pháp lý để doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh.

– Giai đoạn doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Đối với mỗi sản phẩm, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lại bao gồm nhiều hoạt động trong các lĩnh vực có liên quan như đầu tư tài chính, thương mại, tổ chức quản lý, lao động và các vấn đề xã hội, đất đai, tài nguyên, môi trường, khoa học và công nghệ, ….

– Giai đoạn chấm dứt, rút khỏi thị trường. Đó là giai đoạn kết thúc vòng đời hay chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp. Có nhiều lý do của việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, có thể phân thành ba nhóm lý do: i) Do doanh nghiệp tự quyết định, do hết thời hạn hoạt động trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,…; ii) Cơ quan quản lý nhà nước quyết định chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp (do vi phạm pháp luật, bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh); và iii) thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ, bị phá sản. Đối với các doanh nghiệp chấm dứt hoạt động với cả ba nhóm lý do trên, đều cần đến vai trò quản lý nhà nước.

Nội dung quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm các nội dung cụ thể chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, xây dựng và ban hành pháp luật. Để can thiệp bằng pháp luật vào các hoạt động của doanh nghiệp, công tác lập pháp phải đề cập đến các mặt sau:

– Mặt tổ chức doanh nghiệp. Thuộc phương diện này, pháp luật phải đề cập đến các mặt sau: i) Khái niệm loại hình doanh nghiệp được định thế; ii) Địa vị pháp lý của chúng; iii) Chức năng nhiệm vụ của chúng; iv) Thiết chế tổ chức quản lý chúng; v) Điều kiện và thủ tục thành lập mỗi loại hình doanh nghiệp; iv) Cơ chế vận hành quản lý của bộ máy doanh nghiệp.

– Mặt hoạt động của doanh nghiệp. Thuộc phương diện này, pháp luật quản lý các doanh nghiệp phải đề cập đến các mặt sau: i) Định chế hoạt động liên quan đến việc sử dụng mọi nguồn lực (tài nguyên, môi trường, lao động, tài chính, tiền tệ,…); ii) Định chế liên quan đến việc phân phối thành quả lao động (tiền công, thuế, phí, …); iii) Định chế liên quan đến việc nghiệp vụ quản trị kinh doanh chế độ kế toán, thống kê, hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động, …

Thứ hai, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dùng để làm tài liệu định hướng, tuyên truyền, thuyết phục các doanh nhân làm theo chỉ đạo của Nhà nước.

Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật, chiến lược, kế hoạch và quy hoạch. Đó là việc áp dụng pháp luật để thúc đẩy, hướng dẫn, cưỡng chế, hỗ trợ,…các doanh nghiệp ra đời theo đúng quy định của pháp luật và hoạt động có hiệu quả trên thương trường.

Thứ tư, định hướng, điều chỉnh hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp. Có nhiều hoạt động quản lý cụ thể thông qua nhiều hình thức hoạt động phong phú khác nhau như: i) Thông tin tuyền truyền bằng hệ thống truyền thông đại chúng; ii) Công tác vận động của các nghiệp đoàn do Đảng và Nhà nước lãnh đạo, hỗ trợ, tạo điều kiện hoạt động. Sự tiếp cận của quan chức nhà nước với giới kinh doanh hàng đầu của từng ngành, thông qua các hiệp hội, câu lạc bộ doanh nghiệp, các diễn đàn, các hội nghị, …

Thứ năm, kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các doanh nhân, doanh nghiệp. Sự kiểm tra có thể tập trung vào một số hoạt động chủ yếu sau: i) Kiểm tra tính hợp pháp của sự tồn tại doanh nghiệp; ii) Kiểm tra khả năng tiếp tục tồn tại của doanh nghiệp; iii) Kiểm tra định kỳ theo chế độ nhằm nhắc nhở các doanh nghiệp chấp hành pháp luật; iv) Thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; v) Thanh tra, kiểm tra khi có đơn thư tố cáo, khiếu kiện.

Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc thành phần kinh tế tư nhân cũng bao hàm các nội dung đã trình bày trên đây, tuy nhiên, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh hiện nay có một số nét đặc thù sau:

Một là, nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổ chức đăng ký kinh doanh cần đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm; bảo đảm để doanh nghiệp tuân thủ, thực hiện các điều kiện kinh doanh. Quyền tự do kinh doanh đã được hiến pháp quy định, nó được coi là quyền tự nhiên của doanh nghiệp. Quyền này phải được pháp luật bảo hộ và được thể chế và quản lý. Theo nguyên tắc này, Nhà nước phải từ bỏ cơ chế Xin – Cho. Nhà nước tạo ra khuôn khổ thể chế khuyến khích doanh nghiệp tự do phát triển kinh doanh trong những ngành nghề mà doanh nghiệp đã đủ điều kiện kinh doanh.

Hai là, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, ổn định, thông thoáng và minh bạch để huy động các nguồn vào đầu tư kinh doanh, khuyến khích phát triển sức sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ba là, thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là một nội dung thật sự quan trọng và nặng nề của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Để thực hiện nội dung quản lý to lớn này, nhà nước cần phải tiến hành hàng loạt các công việc sau:

– Xây dựng những ngân hàng đầu tư ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các địa phương, góp phần tích cực giải quyết nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

– Xây dựng các chương trình xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chương trình xúc tiến thương mại nhằm các mục tiêu chủ yếu sau: i) Tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận với thị trường xuất khẩu; ii) Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu; iii) Nâng cao hiểu biết và kỹ năng tiếp thị xuất khẩu; iv) Đa dạng hóa mặt hàng, cải thiện cơ cấu hàng hóa và thâm nhập mở rộng thị trường xuất khẩu và tuyên truyền cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

– Xây dựng chương trinh trợ giúp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trước hết là các thông tin cơ bản về đăng ký kinh doanh, khắc dấu, cấp mã số thuế, bán hóa đơn; thông tin về thị trường xuất khẩu sản phẩm, về đối tác liên doanh hợp tác về đầu tư Việt Nam và ra nước ngoài. Hình thành các trung tâm thông tin nhằm thu thập và phổ biến thông tin về thị trường, phục vụ cho công tác dự báo; giúp cho việc định hướng sản xuất, kinh doanh; cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị, các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

– Xây dựng các chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khảo sát thị trường, tìm kiếm đối tác, quảng bá tiếp thị sản phẩm ở nước ngoài. Chương trình trợ giúp về đào tạo nguồn nhân lực, trợ giúp về công nghệ, kỹ thuật để nâng cao năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

– Xây dựng các loại hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, hiện đại, hình thành đồng bộ các loại thị trường: Thị trường hàng hóa thông tin, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thị trường sản phẩm khoa học và công nghệ, … quản lý các loại thị trường đó để các doanh nhân có được môi trường thuận lợi trong giao lưu kinh tế.

– Xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung quy hoạch, quy chế quản lý, khai thác sử dụng diện tích đất của các khu, cụm công nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh.

1.3. Kinh nghiệm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước

+ Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc là một trong những quốc gia dành sự quan tâm rất lớn cho việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Năm 1980, Chính phủ Hàn Quốc mới bắt đầu chú ý xây dựng các đạo luật và biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Năm 1986, Hàn Quốc đã ban hành Luật “tăng cường hình thành doanh nghiệp nhỏ và vừa” làm cơ sở pháp lý để phát triển khu vực này.

Kế hoạch dài hạn về phát triển công nghiệp nhỏ và vừa được thực hiện từ năm 1982 nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sử dụng lao động của khu vực này. Liên đoàn xúc tiến công nghiệp nhỏ và vừa (Small and Medium Industry Promotion Corporation – SMIPC) là một tổ chức giữ vai trò trung tâm điều phối và triển khai các hoạt động hỗ trợ cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính phủ cũng vừa thành lập một quỹ xúc tiến công nghiệp nhỏ và vừa (Small and Medium Industries Promotion Fund) để cung cấp những khoản tín dụng dài hạn, lãi suất thấp. Ngân hàng thương mại quốc gia phải dành một tỉ lệ nhất định là 25% tín dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Có thể khái quát toàn bộ quá trình hình thành các chính sách và biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hàn Quốc như sau:

Chính phủ tập trung vào các nội dung sau:

– Phát triển thầu phụ công nghiệp: Trước hết ban hành đạo luật khuyến khích hệ thống hợp đồng thầu phụ để bảo vệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong mối quan hệ với doanh nghiệp lớn. Chính phủ quy định bắt buộc các bên ký hợp đồng sản xuất và mua sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thanh toán bằng tiền mặt ngay sau khi được giao hàng. Đối với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ sẽ được vay 50% vốn. Những doanh nghiệp giao hợp đồng phụ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được giảm thuế 10% nếu đầu tư vào các dự án thử nghiệm hoặc đầu tư vào nâng cao kỹ thuật của doanh nghiệp thực hiện hợp đồng phụ.

– Hỗ trợ phát triển, thương mại hóa sản phẩm mới và công nghệ mới: Chính phủ hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng kỹ thuật hiện đại. Thành lập ba tổ chức tài chính khuyến khích phát minh và sáng chế công nghệ là “ Tổ chức hợp tác phát triển công nghệ Hàn Quốc”, “Tổ chức hợp tác đầu tư phát triển” và “Tổ chức hợp tác tài chính công nghệ”. Chính phủ bảo đảm cho các tổ chức này nhận được 70% vốn vay của ngân hàng để làm dịch vụ hỗ trợ.

– Hỗ trợ phát triển thị trường: Nhà nước hỗ trợ thị trường bằng cách công bố những mặt hàng độc quyền sản xuất dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Số lượng các mặt hàng này tăng dần từ 103 lên 205 vào tháng 12/1984.

– Các biện pháp hỗ trợ vốn, tín dụng, thuế: Thông qua chính sách cho vay, ngân hàng phải dành 35% toàn bộ vốn vay của mình cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đối với ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính bảo hiểm là 25% và 75% đối với các ngân hàng địa phương.

– Thông qua quỹ bảo lãnh tín dụng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất ưu đãi là 1% so với 1,5% của các doanh nghiệp lớn trong hạn mức 1 tỷ won.

+ Kinh nghiệm của Philippines

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp ở Philippines, thu hút hơn 55% lực lượng lao động của cả nước và đóng góp khoản 28,1% tống sản phẩm xã hội. Khoản 60% các công ty xuất khẩu của Philippines là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những con số trên cho thấy tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Philippines.

Chính phủ Philippines cũng nhận thức được tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc phát triển những ngành mới và tạo công ăn việc làm cho người lao động ở khu vực ngoại ô. Do đó, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trở thành một chiến lược đối với Philippines trong việc đem lại sự cân bằng cho các ngành công – nông nghiệp và tạo sự công bằng trong thu nhập.

Trong các thập kỷ trước, nguồn vốn dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất hạn chế, đặc biệt là nguồn vốn ngân hàng. Chính phủ Philippines đã đưa ra hàng loạt các chính sách quy định các tổ chức tài chính, đặc biệt là ngân hàng phải dành một tỉ lệ nhất định trong tổng vốn đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay. Trọng tâm đưa ra của các chính sách này là Luật Magna Carta. Theo luật này, các ngân hàng phải dành 10% trong tổng số các khoản cho vay cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ở Philippines, nhiều kế hoạch tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa được đưa ra. Phòng thương mại và công nghiệp Philippines thống kê được 156 chương trình tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những chương trình tín dụng này thuộc các tổ chức của cả Chính phủ và tư nhân, trong đó có cả tổ chức phi chính phủ.

Dịch vụ của các chương trình này gồm cả các dự án cho vay trực tiếp đến bảo lãnh tín dụng. Có những chương trình dành tất cả cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; có những chương trình chỉ dành cho doanh nghiệp nhỏ hoặc hộ kinh doanh, tổ hợp kinh doanh…

Vai trò của Phòng thương mại và công nghiệp Philippines (PCCI) không chỉ giới hạn trong việc thực hiện các chương trình hỗ trợ mà còn tham gia vào quá trình hoạch định các đường lối, cũng như tiến hành các biện pháp tư vấn trong suốt quá trình thực hiện các chương trình nói trên. Cách thức tổ chức là để các đại diện của doanh nghiệp tham gia vào các tổ chức do Chính phủ lập ra nhằm hoạch định và đảm bảo việc thực hiện các chương trình nói trên. Vì thế, ở các chương trình ở cấp quốc gia hay địa phương, nơi có đại diện thì Phòng thương mại và công nghiệp đều tham gia.

Trong việc thực hiện các chương trình tài chính, Phòng thương mại và công nghiệp Philippines khi thì đóng vai trò như một cơ quan hướng dẫn các cơ quan chính phủ, khi thì trực tiếp cho vay hay chỉ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các nguồn vốn của các ngân hàng và các tổ chức tài chính.

Một vấn đề khác mà Phòng thương mại và công nghiệp Philippines đã làm là giúp các doanh nghiệp nhỏ nâng cao khả năng tín chấp thông qua các chương trình, nhằm tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được thị trường và các nguồn công nghệ.

+ Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Nhà nước cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân nhỏ và tiến hành bảo trợ tiền vay thông qua một cơ quan đặc biệt. Từ năm 1953, Mỹ đã lập ra Ủy ban những vấn đề kinh doanh nhỏ (APSB – Agency for Promotion of Small Business) với các chi nhánh ở tất cả các bang và các thành phố lớn. Việc trợ giúp cho kinh doanh ở Mỹ được thực hiện thông qua các chương trình tín dụng có mục tiêu, mỗi năm có 15 chương trình tương tự.

Khả năng tín dụng và bảo lãnh của APSB tại Mỹ phục thuộc vào các khoản bố trí phân bố hàng năm của Quốc hội. Sau khi được phê duyệt các khoản kinh phí được cấp về, APSB tiến hành trợ giúp tài chính cho các chủ thể có khả năng chi trả bằng cách cho vay trực tiếp hoặc cung cấp bảo lãnh theo các hướng ưu tiên mà Quốc hội đã phê duyệt đúng thủ tục, trình tự và quy tắc của mình.

Kinh nghiệm ở Mỹ cho thấy, việc bảo lãnh cho các khỏan vay là một trong các hình thức hỗ trợ có hiệu quả nhất của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính hình thức này cho phép làm năng động các nguồn tài chính, sử dụng được sáng kiến của các doanh nghiệp mà không làm sinh ra thái độ dựa dẫm, chờ đợi. Trên toàn nước Mỹ, chỉ trong năm 1997, theo chương trình APSB người ta đã cung cấp các khoản bảo lãnh lên đến 10,9 tỷ USD, riêng khối lượng bảo lãnh cho các khoản vay là 29 tỷ USD. Hệ thống hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển kinh doanh nhỏ và vừa được soạn thảo rất kỹ lưỡng và đơn giản, đặc biệt là biện pháp tối thiểu hóa số giai đoạn phải trải qua đối với đơn xin vay và sự nhanh chóng của việc đề ra quyết định. Điều này cũng được thúc đẩy bới cách tổ chức phi tập trung của hệ thống chi nhánh APSB với các thẩm quyền tương ứng. Ở đây cũng phát triển mạnh nhất sự công khai: công bố báo cáo hàng năm về các chỉ tiêu tổng hợp và danh mục các khoản tín dụng cũng như bảo lãnh tương ứng theo các bang và chi nhánh địa phương.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới\CHUYỂN VÙNG/ LUẬN VĂN- H.TRANG CH17E

Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới  Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới  Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới  Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới  Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Đồng Hới

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *