Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới

Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới

PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Tính cấp thiết của đề tài

Đường lối đổi mới và mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã mang đến những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội, làm thay đổi căn bản hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Toàn cầu hoá kinh tế chính là một xu hướng tất yếu khách quan tạo ra cơ hội phát triển kinh tế với tốc độ cao cho các quốc gia, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, trước hết là nguồn nhân lực, tạo ra nhiều công ăn việc làm, giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Muốn sự phát triển được bền vững thì yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển của đất nước, sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Quảng Bình là một tỉnh ven biển miền trung Việt Nam, là nơi hẹp nhất, chịu nhiều thiên tai và có điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt. Điều kiện để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh không mấy thuận lợi, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid 19 diễn ra nền kinh tế của tỉnh Quảng Bình lại càng gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp không thể tiếp tục sản xuất, kinh doanh, buộc phải giải thể, phá sản, số lượng người lao động mất việc làm càng gia tăng, nhất trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội.

Do tác động của dịch Covid-19 nên nhiều chỉ tiêu kinh tế trong quý III và 9 tháng năm 2020 của tỉnh đạt thấp so với cùng kỳ và so với kế hoạch; nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất – kinh doanh vừa vực dậy sau đợt dịch Covid-19 hồi đầu năm, chưa kịp phục hồi tăng trưởng thì sau đó tiếp tục rơi vào khó khăn vì dịch bùng phát trở lại; mặc dù nhiều đối tượng bị ảnh hưởng dịch Covid-19 được Nhà nước hỗ trợ kịp thời, nhưng nhìn chung đời sống của người lao động vẫn còn nhiều khó khăn do mất việc làm hoặc thiếu việc làm,… Tuy vậy, phát triển kinh tế – xã hội 9 tháng năm 2020 vẫn có những điểm sáng, đó là: Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản phát triển ổn định; thực hiện vốn đầu tư, thu ngân sách tăng khá; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định.

Theo báo cáo của Sở Lao động – TB&XH tỉnh, tình hình lao động thiếu việc làm, thất nghiệp, thu nhập và giảm nghèo của người dân trong tỉnh tiếp tục bị ảnh hưởng do tác động của đại dịch Covid -19 và sau 2 trận mưa lũ lịch sử. Ước tính giải quyết việc làm năm 2020 toàn tỉnh là 28.945 lao động (đạt 80,4% kế hoạch năm), trong đó: số người được tạo việc làm là 16.619 người (đạt 87,4% kế hoạch năm), số lao động thiếu việc làm được tạo thêm việc làm là 12.326 người (đạt 72,5% kế hoạch năm). Đối với hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong năm có khoảng 2.100 lao động được xuất cảnh đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng (đạt 57,1% kế hoạch năm), chủ yếu đến các thị trường như: Nhật Bản (450 lao động), Đài Loan (690 lao động),… Số lượng lao động xuất cảnh đến làm việc tại Hàn Quốc giảm đáng kể so với năm trước do Hàn Quốc là nước có số ca nhiễm Covid-19 rất cao nên các đơn vị, tổ chức hạn chế đưa người lao động sang làm việc.; tổ chức 08 lớp tập huấn thu thập, lưu trữ, tổng hợp thông tin thị trường lao động; tham mưu UBND tỉnh ban hành các Quyết định phê duyệt danh sách cho 11.633 đối tượng người lao động, hộ kinh doanh gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 với tổng số tiền gần 12,51 tỷ đồng; trình UBND tỉnh ban hành Kế hoạch tiếp nhận, vận chuyển công dân tỉnh Quảng Bình đang tạm trú tại các tỉnh phía Nam do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 có nguyện vọng chính đáng được trở về tỉnh Quảng Bình. Trong 9 tháng đầu năm, Trung tâm Dịch vụ việc làm đã tổ chức 27 phiên giao dịch việc làm; có 18.944 lượt người lao động được tư vấn; 2.873 lượt người đăng ký tìm việc làm; 1.022 người được tuyển dụng do Trung tâm giới thiệu; giải quyết trợ cấp thất nghiệp hàng tháng 3.058 người; hỗ trợ học nghề 50 người.[1]

Hiện nay các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn và những thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp là không nhỏ. Số doanh nghiệp được thành lập ít hơn quy mô số dân của thành phố, số doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, tăng thêm vốn và lao động chưa nhiều. Mặc dù đã có nhiều doanh nghiệp hoạt động hiệu quả , có hình thức kinh doanh phù hợp, thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường… nhưng sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đồng Hới tuy đã có nhiều thay đổi nhưng còn chậm và chưa ổn định. Công tác đánh giá ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh và biện pháp ứng phó của doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn nhiều hạn chế, trở ngại. Nhiều quy định pháp luật vẫn chưa tương thích với hệ thống luật pháp quốc tế làm hạn chế tiềm năng và năng lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chính sách, biện pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn ở dạng văn bản, giấy tờ chưa đi vào cuộc sống của cộng đồng doanh nghiệp. Đây là những rào cản cản trở sự phát huy tiềm lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam nói chung và Đồng Hới nói riêng. Chính vì vậy, hoàn thiện đánh giá ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh và biện pháp ứng phó của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Do ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này nên tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới” làm luận văn Thạc sỹ

2.Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh và biện pháp ứng phó của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam kết hợp với kinh nghiệm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước trên thế giới.

Đánh giá thực trạng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Đồng Hới, công tác hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của thành phố trong giai đoạn 2020-2022 khi diễn ra đại dịch Covid 2019.

Đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện đánh giá ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh và biện pháp ứng phó của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Đồng Hới trong giai đoạn hiện nay.

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu công tác đánh giá ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh và biện pháp ứng phó của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực kinh tế tư nhân nhằm xác định tính cấp thiết, phương hướng và giải pháp hoàn thiện đánh giá ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh và biện pháp ứng phó của doanh nghiệp nhỏ và vừ.

Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới
Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới

3.2.Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi không gian: Do hạn chế về mặt thời gian và khả năng tiếp cận số liệu luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khu vực kinh tế tư nhân, thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, bao gồm các loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Đồng Hới

+ Phạm vi thời gian: Số liệu thực trạng phân tích từ năm 2020-2022. Giải pháp đề xuất tới năm 2030

4.Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp thu thập số liệu

  • Số liệu thứ cấp

Số liệu từ Các tổ chức thống kê như Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình, Sở hoạch và Đầu tư, Sở Công thương, và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có thể cung cấp thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình lao động, số liệu về doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp, và các chỉ số kinh tế khác. Các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức thương mại và các nguồn tin thương mại khác có thể cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới. Các báo cáo từ các hiệp hội ngành, các cuộc khảo sát, và các bài viết từ các chuyên gia cũng có thể là nguồn thông tin hữu ích.

  • Số liệu sơ cấp

Tác giả có thể thiết kế và tiến hành cuộc khảo sát trực tuyến hoặc bằng phiếu để thu thập ý kiến ​​của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới về ảnh hưởng của COVID-19 và biện pháp ứng phó của họ. Cuộc khảo sát này có thể cung cấp thông tin cụ thể và định lượng về tình hình thực tế của các doanh nghiệp trong địa phương. Số mẫu dự kiến là 250 mẫu.

4.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích – tổng hợp các tài liệu lý luận khoa học; phương pháp trừu tượng hóa.

4.3. Công cụ xử lý dữ liệu

Để xử lý dữ liệu trong nghiên cứu của bạn về ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh và biện pháp ứng phó của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới, bạn có thể sử dụng các công cụ phần mềm thống kê như SPSS20.0 để phân tích dữ liệu. Phần mềm này cung cấp các công cụ và thuật toán để thực hiện các phép tính thống kê về tần số, tỷ lệ phần trăm, chỉ số trung bình (Mean) nhằm đánh giá thực trạng ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới.

PHẦN II – NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    1. Thực trạng dịch bệnh Covid 19 trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.1.Thực trạng dịch bệnh Covid 19 trên thế giới (giai đoạn 2019-2022)

Dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi-rút Cô-rô-na (Covid-19) khởi phát tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, miền Trung Trung Quốc. Bệnh nhân đầu tiên được phát hiện vào ngày 08/12/2019, sau đó diễn biến rất phức tạp do tốc độ lây lan của dịch bệnh tăng theo cấp số mũ. Đến ngày 31/12/2019, Trung Quốc chính thức thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về bùng phát dịch. Đến 06/02/2020, số người chết do bệnh viêm phổi cấp lên tới 565, trong đó có 563 người ở Trung Quốc đại lục, một người ở Phi-líp-pin, một người ở Hồng Công; số ca nhiễm bệnh cũng tăng lên 28.276 trên toàn cầu.

Trước tình hình này, ngày 31/01/2020, WHO tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu đối với dịch viêm phổi cấp do vi-rút Cô-rô-na chủng mới gây ra. Ngày 11/3/2020, tổ chức Y tế thế giới (WHO) chính thức công bố dịch Covid-19 do vi-rút Cô-rô-na chủng mới (SARS-CoV-2) là đại dịch toàn cầu.

Tính đến thời điểm 17h ngày 30/3/2020, ở gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có hơn 735.000 ca nhiễm, hơn 34.000 người tử vong. Mỹ hiện trở thành vùng dịch lớn nhất thế giới với tổng số hơn 140.000 trường hợp mắc Covid-19 và hơn 2.000 trường hợp tử vong, trong đó, thành phố New York có số ca tử vong nhiều nhất nước Mỹ với hơn 700 ca chiếm khoảng 1/3 nước Mỹ.

Tại châu Âu, Italia tiếp tục là vùng dịch lớn nhất liệu đến ngày 30/3/2020 với tổng số 97.689 ca nhiễm và gần 11.000 ca tử vong.Tây Ban Nha là vùng dịch lớn thứ hai châu Âu với 80.110 ca nhiễm và 7.340 ca tử vong.

Châu Á, Iran tiếp tục là vùng dịch lớn thứ hai, sau Trung Quốc đại lục.tính đến ngày 30/3/2020 với 38.309 ca nhiễm và 2.640 ca tử vong – một trong những nước có tỷ lệ tử vong cao (7,7%). Hàn Quốc, số liệu đến ngày 29/3/2020 đã có tổng số ca nhiễm tại nước này lên 9.478 ca và 114 ca tử vong[2].

Tại Đông Nam Á, tính đến ngày 30/3/2020, Ma-lai-xi-a tiếp tục là vùng dịch lớn nhất khu vực với 2470 ca nhiễm và 35 ca tử vong. In-đô-nê-xi-a với 1285 ca nhiễm và 114 ca tử vong.

Chỉ trong tháng 9/2020 thế giới đã ghi nhận hơn 170.000 ca tử vong liên quan đến COVID-19, số lượng ca tử vong vì COVID-19 vẫn được coi là cao so với các bệnh truyền nhiễm về đường hô hấp khác. Trong vòng 28 ngày từ ngày 09/01 – 05/02/2023, toàn cầu có thêm gần 10,5 triệu ca mắc mới (giảm 89%) và trên 90.000 ca tử vong (giảm 8%) so với 28 ngày trước đó. Trung Quốc là quốc gia có số ca mắc cao nhất trong 28 ngày qua với 3.485.265 ca mắc giảm 96% so với giai đoạn trước, sau đó là Nhật Bản với 2.429.215 ca mắc giảm 42%, Mỹ với 1.328.654 ca giảm 27%, Hàn Quốc 736.811 ca giảm 59%. Số ca tử vong cao nhất trong 28 ngày qua là tại Trung Quốc (40.812 ca giảm 11% so với giai đoạn trước), Mỹ (15.294 ca tăng 40%), Nhật (9.874 ca tăng 28%), Anh (2.761 ca giảm 32%). Tổ chức Y tế thế giới cho rằng số lượng ca nhiễm ghi nhận thấp hơn số thực tế điều tra, do đó cần cẩn trọng khi phân tích các số liệu này.

Biến thể Omicron XBB.1.5 đã được phát hiện tại 38 quốc gia, hầu hết đến từ Mỹ (82,2%), Anh (8,1%) và Đan Mạch (2,2%). Dựa vào các đặc điểm di truyền và tốc độ lây lan, Tổ chức Y tế thế giới đánh giá biến thể XBB.1.5 có tốc độ lây lan nhanh, tuy nhiên đây mới chỉ là đánh giá sơ bộ do chỉ dựa vào dữ liệu của Mỹ cung cấp. Tổ chức Y tế thế giới cũng cho rằng chưa có bất cứ dữ liệu nào về mức độ nghiêm trọng của XBB.1.5.

Tính đến ngày 09/02/2023 toàn thế giới có hơn 755 triệu ca nhiễm và hơn 6,8 triệu trường hợp tử vong. Từ giữa tháng 9/2022 đến nay, trung bình mỗi tuần trên toàn cầu có khoảng 10.000-14.000 ca tử vong do COVID-19 được ngi nhận. Trong bài phát biểu, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới cho rằng “thế giới không thể chấp nhận con số tử vong này khi đã có trong tay nhiều công cụ phòng, chống”.

Bên cạnh đó thế giới đồng thời phải chống chọi với các dịch bệnh khác như cúm mùa hay vi rút hợp bào hô hấp (RVS), trong khi lượng bác sĩ ngày càng thiếu hụt. Các nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt người cao tuổi và nhân viên y tế tại các nước thu nhập thấp và trung bình tiếp tục gặp khó khăn trong việc tiếp cận các sản phẩm y tế như vắc xin, các biện pháp chẩn đoán và điều trị. Đến nay tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận vắc xin vẫn tiếp diễn, chỉ 1/5 người ở các nước thu nhập thấp được tiêm chủng. WHO cũng lo ngại về việc dù đã thúc đẩy để 15 nước được chọn để tiếp cận công nghệ sản xuất vắc xin mRNA nhưng đến nay các nhà sản xuất lớn vẫn chưa cấp phép cho trung tâm tiếp nhận công nghệ chính đặt tại Nam Phi.

Theo WHO, nhiều quốc gia tạm ngừng theo dõi và báo cáo số lượng ca nhiễm, nhập viện và tử vong vì COVID-19, giảm giải trình tự gien các ca bệnh, buông lỏng các biện pháp phòng ngừa nơi công cộng như đeo khẩu trang và giãn cách xã hội. Trong khi đó, việc nhiều người dân do dự không tiêm vắc xin và thông tin giả cũng gây cản trở cho các biện pháp phòng, chống dịch.

Từ tình hình trên, Ủy ban tình trạng khẩn cấp về đại dịch COVID-19 cho rằng COVID-19 tiếp tục là một dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng gây ra thiệt hại lớn đến sức khỏe người dân và hệ thống y tế. Tổng giám đốc WHO đã đồng ý với khuyến nghị của Ủy ban, quyết định COVID-19 tiếp tục là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe toàn cầu[3].

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), tâm dịch Covid-19 hiện nay đã chuyển từ châu Á sang châu Âu. Lý giải về sự bùng phát mạnh mẽ ở châu Âu, một số nhà khoa học hiện nay cho rằng:

Thứ nhất, châu Âu và Mỹ là nơi có khí hậu lạnh, mà khí hậu lạnh lại rất thích hợp với sự phát triển của Covid-19.

Thứ hai, so với các nước ở châu Á, các nước ở phương Tây nhìn chung dân số già hóa, tỷ lệ người già cao, mà qua thống kê số người tử vong vì bệnh Covid-19, những người già thường khó qua khỏi so với người trẻ tuổi.

Thứ ba, hệ thống y tế công cộng ở một số nước châu Âu như: Italia, Pháp vấp phải sự quá tải, thiếu thốn nhân lực, tài lực và thiết bị.

Thứ tư, tâm lý chủ quan, khinh suất ở châu Âu rất lớn. Lãnh đạo các nước châu Âu cho rằng dịch bệnh Covid-19 chỉ là cúm mùa thể nặng đã gây tử vong cho nhiều người dân châu Âu trong nhiều năm qua, Vì vậy, họ coi dịch Covid-19 là rất bình thường. Thậm chí chính phủ Anh còn cho rằng nước Anh có cách tiếp cận “miễn dịch cộng đồng”, người dân “tự do phóng nhiễm” (không can thiệp, để thả tự do)… Khi dịch bệnh đã lây lan nhanh chóng khắp các nước châu Âu, một số giới chức lãnh đạo ở châu Âu còn tỏ ra thụ động phòng chống dịch bệnh, không quyết tâm ngăn chặn dịch bệnh mà chỉ chủ trương “từ từ làm chậm đà phát triển của dịch”. Các nước châu Âu còn thiếu biện pháp kiểm soát dịch bệnh đang tràn lan…

Thứ năm, Hiệp ước tự do đi lại (Hiệp ước Schengen) của EU cho phép người dân các nước trong Liên minh châu Âu được tự do đi lại, cư trú, mà Covid-19 là loại bệnh truyền nhiễm, dễ lây lan do tiếp xúc thông thường.

Thứ sáu, châu Âu luôn đề cao quyền riêng tư và tự do cá nhân, trong khi châu Á luôn đề cao tính cộng đồng, yếu tố tập thể hơn, vì vậy theo phong tục tập quán ở phương Tây, châu Âu sẽ rất khó có những hành động quyết liệt trong việc chống lại dịch bệnh vi-rút chủng mới Covid-19, bởi vì các biện pháp chống dịch được thực hiện sẽ hạn chế sự thoải mái và sự tự do cá nhân của người dân châu Âu.

Thứ bảy, các nước châu Âu dường như chú trọng vào yếu tố kinh tế và chính trị nhiều hơn, họ lo ngại, nếu mạnh tay chống dịch sẽ làm tổn thương đến kinh tế và động chạm đến các vấn đề chính trị nhạy cảm.

Theo các chuyên gia, hiện nay, việc xét nghiệm cho tất cả các đối tượng nghi lây nhiễm Covid-19 là thách thức với mọi quốc gia vì trong thời gian đầu không có kít thử, sau này có kít thì các nước đang phát triển không có đủ phòng xét nghiệm. Việc điều trị đến nay chưa có thuốc đặc hiệu và phác đồ điều trị chuẩn. Việc nghiên cứu vắc xin rất khẩn trương, tuy nhiên, để có thể đưa vắc xin vào sử dụng phải mất tối thiểu 01 năm. Đặc biệt, do sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội nên tình trạng khủng hoảng tâm lý xã hội; khủng hoảng trang thiết bị, vật tư y tế liên quan đến chống dịch trong đó có khẩu trang, máy thở, kit thử… diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới. Vì vậy, tất cả các nước đều phải đứng trước sự tính toán, cân nhắc giữa việc ưu tiên các biện pháp phòng, chống dịch, đặc biệt là kiểm soát, hạn chế giao lưu với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đối ngoại trong thời kỳ toàn cầu hóa.

1.1.2. Thực trạng dịch bệnh Covid 19 tại Việt Nam (giai đoạn 2019-2022)

Đại dịch Covid-19 còn được gọi là dịch viêm phổi cấp do chủng mới của virus corona hay dịch virus corona Vũ Hán, là một đại dịch truyền nhiễm gây ra bởi virus SARS-CoV-2. Dịch bắt đầu bùng phát từ tháng 12/2019 tại thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc ở miền Trung Trung Quốc sau đó lây lan ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngày 11/02/2020, Ủy ban quốc tế về phân loại virus đã đặt tên chính thức cho chủng virus corona mới này là SARS CoV-2. Ngày 11/3/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chính thức tuyên bố dịch Covid-19 là đại dịch toàn cầu. Tại Việt Nam ngày 01/4/2020 Thủ tướng chính phủ công bố dịch COVID-19 bệnh truyền nhiễm nhóm A trên phạm vi cả nước. Thời gian xảy ra dịch bệnh từ ngày 23/01/2020, khi có ca mắc đầu tiên tại Việt Nam.[4]

Ở Việt Nam, ngày 23/01/2020 ghi nhận trường hợp mắc Covid-19 đầu tiên, sau đó tiếp tục ghi nhận thêm 15 trường hợp. Tất cả 16 trường hợp này đều được chữa khỏi hoàn toàn. Sau 22 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới, ngày 06/3/2020, Việt Nam phát hiện ca nhiễm bệnh đầu tiên từ châu Âu, cuộc chiến phòng, chống dịch bắt đầu bước sang một giai đoạn mới (dịch thâm nhập từ nhiều hướng và đã tiềm ẩn trong cộng đồng). Tính đến ngày 01/4/2020, Việt Nam đã ghi nhận có tổng số 212 ca nhiễm mắc mới, trong đó 63 trường hợp đã được chữa khỏi và chưa có trường hợp nào tử vong.

Ngay từ khi phát hiện dịch bệnh Covid-19, Việt Nam đã tiến hành các giải pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi dịch bệnh, nhưng dịch bệnh rất khốc liệt, nó đã cướp đi sinh mạng của biết bao người, đây là một tổn thất nặng nề làm cho nhiều gia đình con mất cha mẹ, vợ mất chồng, chồng mất vợ, anh mất em,… nỗi đau này không gì có thể bù đắp được.

Đặc biệt hơn, kinh tế bị suy giảm, sản xuất kinh doanh bị đình trệ, tình trạng thất nghiệp kéo dài, một số doanh nghiệp dừng hoạt động, cắt giảm lực lượng lao động, sức khỏe của người dân bị đe dọa nghiêm trọng…Đảng, Nhà nước xác định phòng, chống dịch bệnh Covid-19 là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, huy động sự tham gia tích cực, quyết liệt của các ngành, địa phương và toàn thể Nhân dân. Do đó, việc phòng, chống dịch bệnh là trách nhiệm chung của cả cộng đồng và cũng được quy định rõ trong Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007.

Dịch bệnh Covid-19 xuất hiện trong gần 2 năm qua đã gây ra bao nhiêu tổn thất cho đất nước, cho xã hội. Kinh tế bị thiệt hại nặng nề, thu ngân sách giảm, nạn thất nghiệp tăng; các dịch vụ, kinh doanh khác mất thu nhập,…dịch bệnh đã ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tính mạng của Nhân dân và an ninh, trật tự xã hội… Trong thời gian qua, MTTQ Việt Nam, các ban, ngành, địa phương, sự đồng lòng của Nhân dân đã thực hiện quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo các cấp. Kể từ đầu dịch đến nay Việt Nam có trên một triệu người nhiễm, trên 22.700 người tử vong. Bến Tre đợt dịch thứ tư đến nay đã có gần 5 ngàn ca bệnh, 58 ca tử vong. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam, các ngành, các cấp trong thời gian qua đã được tập trung thực hiện, bảo đảm thực hiện mục tiêu kép, vừa chống dịch, vừa chăm lo phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện NQ đại hội đảng các cấp đã đề ra.

Hiện nay sống trong trạng thái “bình thường mới” chúng ta phải làm gì để thích nghi? Để giảm những thiệt hại về người và của, góp phần khôi phục và phát triển kinh tế đất nước? đó là trách nhiệm của mỗi người chúng ta chứ không phải là trách nhiệm của nhà nước hay của một ngành nào. Muốn như thế thì công tác tuyên truyền phải được tập trung quyết liệt hơn bao giờ hết với tinh thần “chống dịch như chống giặc” và ý thức của mỗi người phải cao hơn.

1.2. Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 đến các doanh nghiệp

1.2.1. Ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trên thế giới

Tác động tiêu cực từ các biện pháp ngăn chặn đại dịch. Hai yếu tố này tác động rất lớn đến kinh tế toàn cầu, từ tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng, quan hệ cung – cầu, đến việc giảm nhu cầu, thay đổi thói quen chi tiêu, đi lại của người tiêu dùng, dẫn đến sản xuất đình trệ, thất nghiệp gia tăng, kéo theo nguy cơ vỡ nợ, phá sản của doanh nghiệp và tâm lý lo ngại rủi ro, thậm chí hoảng sợ của các nhà đầu tư tài chính.

Việc các nước lần lượt phong tỏa, hạn chế đi lại cũng làm giảm khả năng hợp tác, phối hợp quốc tế trong ứng phó với đại dịch. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, dịch bệnh xuất hiện đầu năm 2020 tạo nên một sự cộng hưởng các yếu tố dẫn đến những biến động sâu rộng trên thị trường hàng hóa và tài chính toàn cầu. Chỉ số chứng khoán của các nền kinh tế lớn Mỹ, EU, châu Á liên tục sụt giảm4; giá dầu thế giới giảm 26% xuống mức thấp nhất trong 18 năm qua5; nhiều ngành kinh tế chủ chốt, trong đó có hàng không chịu thiệt hại nặng6; hoạt động sản xuất và dịch vụ tại nhiều nước bị “tê liệt”, có thể làm 25 triệu người mất việc làm. Kinh tế thế giới được dự báo sớm rơi vào suy thoái. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020 chỉ ở mức 2,4%, giảm 0,5% so với dự báo trước đó. Theo Bloomberg, trong kịch bản xấu nhất, GDP toàn cầu có thể giảm về 0% năm 2020. Ước tính, cần tới 26.000 tỷ USD, tương đương 30% GDP toàn cầu, để khôi phục kinh tế thế giới. Mỹ, EU, Nhật Bản và các định chế tài chính quốc tế đã công bố các gói hỗ trợ tài chính giúp các nước ứng phó dịch bệnh và khôi phục kinh tế7.

Dịch Covid-19 đã, đang và sẽ còn gây ra nhiều cuộc vỡ nợ tại mỗi nước, cũng như trên thế giới và kéo theo đó là việc giảm tổng nhu cầu xã hội và tăng tỷ lệ thất nghiệp, gây sức ép lớn lên việc đảm bảo đời sống, thu nhập, việc làm theo cả cấp độ khu vực và quốc tế. Trong tình hình trên, nhiều nước đã đưa ra những khoản viện trợ giá trị nhiều tỷ USD nhằm giúp doanh nghiệp cùng người lao động vươn lên khó khăn hiện tại. ..

Theo Bản báo cáo chung của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Covid-19 và thị trường việc làm: Tác động và giải pháp”, cuộc khủng hoảng kinh tế và lao động mà dịch Covid-19 gây ra có thể khiến tăng thêm 25 triệu người thất nghiệp trên thế giới, tương đương với số người thất nghiệp sẵn có là 188 triệu trong năm 2019. Hàng triệu người lao động sẽ bị lâm vào cảnh thất nghiệp, mất việc làm, giảm thời gian lao động và thu nhập, thậm chí rơi xuống dưới ngưỡng nghèo. Nhóm lao động đi làm tại những nước đang tăng trưởng, vốn dĩ chỉ là lớp lót giúp làm dịu đi độ rung của những tác động từ các biến đổi bất ngờ đem tới, thì lúc này sẽ không có tác động do các giới hạn đi lại giữa người dân và hàng hoá. Giảm số việc làm tương đương với sự mất đi nguồn thu nhập đáng kể cho người lao động, ước tính chi phí sẽ dao động khoảng 860 tỷ USD – 3,4 nghìn tỷ USD trong năm 2020. ILO ước tính, sẽ có thêm khoảng 8,8 – 35 triệu người lao động lâm cảnh nghèo đói trên toàn nhân loại, vượt quá ước tính ban đầu cho năm 2020 (là giảm 14 triệu người). Ngoài ra, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế việc làm đối với một số nhóm lao động sẽ không đồng đều mà còn gây tăng bất bình đẳng. Những người bị tác động chính là nhóm người được đảm bảo kém hơn và làm các nghề được chi trả lương thấp, kể cả lao động nữ và lao động lớn tuổi. Phụ nữ và lao động nhập cư cũng thuộc nhóm này. Lao động nhập cư dễ dàng bị tổn thương bởi vì họ sẽ không được đảm bảo các quyền lợi lao động và an sinh xã hội. Trong số họ, nữ giới cũng chiếm số lượng đông đối với nhóm những việc làm lương thấp và những ngành nghề kinh tế bị tác động do dịch bệnh.

ILO cũng khuyến nghị áp dụng những giải pháp cấp bách, quyết liệt; trên phạm vi rộng lớn và toàn diện trên tất cả ba lĩnh vực: hỗ trợ người lao động ở chỗ làm việc, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và việc làm, và hỗ trợ việc làm và thu nhập. Những giải pháp này gồm: tăng cường an sinh xã hội, hỗ trợ kỹ năng duy trì việc làm (bao gồm giảm giờ làm việc, nghỉ có lương, và những hỗ trợ khác), giảm thuế thu nhập và hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và trung bình. hỗ trợ cho vay và hỗ trợ tín dụng trong một số lĩnh vực kinh tế nhất định; tăng cường giao tiếp xã hội – trò chuyện với người lao động, người sử dụng lao động và những bên liên quan của họ để xây dựng lòng tin cậy của xã hội và áp dụng tiêu chuẩn lao động quốc tế mới. ..

Theo Công ty nghiên cứu Gavekal Dragonomics tỷ lệ thất nghiệp do dịch Covid-19 tại Trung Quốc đã tăng từ 5,2% lên 6,2%, tương đương 5 triệu người bị mất việc làm. Con số trên không tính những người lao động di cư, người lao động không thể tiếp tục làm việc, vì không có hợp đồng chính thức. Cty trên ước tính dịch Covid-19 có thể làm cho người lao động di cư tại Trung Quốc thiệt hại đến 800 tỷ NDT (115 tỷ USD) do không có thu nhập. Tổng cầu là xã hội của Trung Quốc đang và sẽ giảm mạnh vì tình trạng bất ổn đối với nguồn thu nhập của người lao động mất việc, cũng như gia tăng tâm lý lo lắng liên quan đến tăng chi tiêu “phòng cơ” của người dân. Theo một cuộc thăm dò của Rong360.com, 64,4% người cho biết sẽ giảm tiêu dùng sau khi dịch kết thúc, chỉ có 31,4% người không đổi thói quen tiêu dùng. Nền kinh tế Trung Quốc dự kiến quí I/2020 sẽ suy giảm kỉ lục lần đầu tính từ năm 1976. Đây là một cú shock, một cuộc khủng hoảng biến thành một Trung Quốc khác thường sau đợt đỉnh điểm của dịch, nhiều doanh nghiệp có thể đạt sản lượng 70%, 80% hoặc 90%, nhưng nguồn cung ứng trở nên thừa do không có đủ cầu trên thị trường kể cả trong nước và nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã bị đối tác yêu cầu trì hoãn giao dịch hoặc cắt giảm, huỷ bỏ đơn hàng. Điều này tương đương với đóng cửa thị trường việc làm tương lai của vài chục triệu lao động Trung Quốc tại các nước. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) đưa ra một loạt biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, bao gồm hướng lãi suất thị trường xuống ngưỡng thấp hơn nữa và hỗ trợ thanh khoản nhằm giúp những doanh nghiệp bị tác động do dịch và hỗ trợ thêm thanh khoản cho một vài nhà băng qua việc tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc (RRR). Ngày 20/02, Trung Quốc đã hạ lãi suất cho vay căn bản thời hạn một năm thêm 0,1%, xuống 4,05%, còn giảm lãi suất cho vay thời hạn 5 năm xuống 4,75%[5].

Với kinh tế khu vực, các chuyên gia đánh giá các nền kinh tế trong khu vực đều chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19: kinh tế Trung Quốc có thể tăng trưởng âm trong Quý 1/2020 do các thị trường đầu ra của ngành sản xuất Trung Quốc như Mỹ, EU đang chịu ảnh hưởng của dịch bệnh; theo đó, OECD nhận định các đối tác có quan hệ thương mại chặt chẽ với Trung Quốc như Hàn Quốc, Australia và Nhật Bản sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. CNBC cho rằng suy giảm sản xuất tại Trung Quốc sẽ ảnh hưởng các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, Singapore và Hàn Quốc.

ASEAN chịu tác động lớn khi hoạt động giao thương, du lịch với Trung Quốc, Mỹ, EU bị gián đoạn. Một số bài báo tại Mỹ trích dẫn các số liệu, nhận định ngành du lịch Việt Nam sẽ thiệt hại nặng do lượng du khách quốc tế giảm đột ngột. Hoạt động sản xuất công nghiệp, bán lẻ và xuất khẩu cũng sẽ chậm lại. Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào khu vực sẽ giảm đáng kể do nhu cầu rút vốn của các quỹ đầu tư nước ngoài trong bối cảnh lo ngại về dịch bệnh và suy thoái toàn cầu vẫn tiếp diễn.

1.2.2. Ảnh hưởng đối với các doanh nghiệp Việt Nam

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới\LUẬN VĂN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *