Phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh trong dạy học nội dung “biến dạng của vật rắn

Phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh trong dạy học nội dung “biến dạng của vật rắn

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là xu thế tất yếu của nền kinh tế tri thức đã tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, để phù hợp với sự phát triển của đất nước thì người lao động không chỉ đơn thuần là có kiến thức mà còn phải năng động sáng tạo, có kiến thức kĩ năng mang tính chuyên nghiệp, có năng lực giải quyết vấn đề một cách linh hoạt trước các tình huống khó khăn, phức tạp của công việc và cuộc sống. Những phẩm chất, năng lực đó phần lớn được hình thành và phát triển trong quá trình học tập và trải nghiệm trong cuộc sống. Do đó ngành giáo dục nước ta không ngừng đổi mới, trong đó cần quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học, tạo cơ hội để học sinh hứng thú trong hoạt động nhận thức, trải nghiệm và xâm nhập vào thực tế, chủ động và tích cực vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn, từ đó dễ dàng hình dung được nghề nghiệp phù hợp với mình trong tương lai. Điều đó hoàn toàn phù hợp với tinh thần nghị quyết số 29 – NQ/TW là học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn, nhà trường gắn với xã hội.

Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông 2018 cũng thể hiện rõ [3]:

Thực hiện giáo dục tích hợp, đặt biệt là giáo dục tích hợp khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán ( giáo dục STEM); giáo dục tích hợp bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của xã hội.

Giáo dục STEM giúp học sinh liên  kết các kiến thức khoa học và toán học để áp dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn . Học tập theo mô hình giáo dục STEM giúp học sinh tư duy, giải quyết vấn đề dựa trên sơ sở khoa học chặt chẽ và có tính ứng dụng thực tế cao. Khi tham gia các hoạt động học tập trong giáo dục STEM, năng lực định hướng nghề nghiệp của HS sẽ dần được hình thành và phát triển.

Hiện nay ở các trường phổ thông, việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh chưa thực sự được quan tâm, việc định hướng nghề nghiệp chỉ mới dừng lại ở một buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, đồng thời hình thức tổ chức cũng như nội dung hướng nghiệp và chất lượng của đội ngũ giáo viên làm công tác hướng nghiệp chưa cao . Thống kê của tuoitre.vn đã chỉ ra [4] : “Theo thống kê, năm 2021, số sinh viên tốt nghiệp làm đúng ngành đào tạo là 56%, số còn lại chỉ liên quan đến ngành đào tạo là 25%, thậm chí không liên quan đến ngành đào tạo là 19%.

Thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong quý 2 năm 2022, xu hướng tuyển dụng của thị trường lao động đối với nhân lực trình độ đại học là 49,7%, cao đẳng và trung cấp là 30,5%; trong khi đó, nhu cầu của người tìm việc có trình độ đại học là 61,1%, cao đẳng và trung cấp là 33%… 

Các con số thống kê cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa cung và cầu lao động cả về cơ cấu trình độ và chuyên môn đào tạo. Điều này phần nào phản ánh những bất cập trong công tác hướng nghiệp, phân luồng trong các cơ sở giáo dục cũng như quá trình tự định hướng và lựa chọn nghề nghiệp của người học.

Ông Bùi Văn Linh (Vụ Trưởng Vụ Công tác học sinh- sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng: Việc học sai ngành, chọn sai trường, thiếu việc làm, thiếu kỹ năng làm việc… là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giới trẻ ra trường sẽ thất nghiệp hay khó tìm việc làm tốt. Nếu học sinh, sinh viên không được hỗ trợ hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp đúng đắn, vấn đề này có thể trở thành “quả bom hẹn giờ” tác động tiêu cực tới nền kinh tế, cũng như sự ổn định và phát triển ở mỗi quốc gia.”

Từ những vấn đề trên cho thấy việc hình thành và phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh là rất cần thiết, thông qua tổ chức hoạt động trải nghiệm STEM sẽ giúp học sinh xác định chính xác năng lực và sở trường của bản thân, giúp HS xác định các lĩnh vực nghề nghiệp trong xã hội, các đặc điểm, yêu cầu và nhu cầu nghề nghiệp trong hiện tại và tương lai. Đó cũng là vấn đề hết sức thiết thực và mang tính thời sự trong giáo dục hiện nay.

Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: Phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh trong dạy học nội dung “biến dạng của vật rắn” – vật lí 10 theo mô hình giáo dục STEM .

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

3. Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất được tiến trình tổ chức dạy học chủ đề STEM theo hướng phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh và vận dụng được vào trong dạy học một số kiến thức thuộc nội dung “Biến dạng của vật rắn – Vật lí 10”

4. Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được tiến trình tổ chức dạy học chủ đề STEM và vận dụng vào trong dạy học một số kiến thức thuộc nội dung “Biến dạng dạng của vật rắn – Vật lí 10 thì sẽ phát triển được năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1. Đối tượng nghiên cứu

+ Quá trình dạy học một số kiến thức thuộc nội dung “Biến dạng của vật rắn” – Vật lí 10 nhằm phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh theo mô hình giáo dục STEM.

+ Vận dụng mô hình giáo dục STEM trong dạy Vật lí THPT.

5.2. Phạm vi nghiên cứu:

+ Nội dung kiến thức “Biến dạng của vật rắn” – Vật lí 10 theo định hướng nghề nghiệp thông qua việc tổ chức theo mô hình giáo dục STEM

+ Học sinh lớp 10A7 trường THPT Hoàng Văn Thụ tỉnh Quảng Ngãi.

+ Thời gian từ 15/4/2023 đến 15/05/2023.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn cho đề tài

+ Cơ sở lí luận của hoạt động trải nghiệm STEM

+ Cơ sở lí luận về năng lực định hướng nghề nghiệp của HS

+ Thực trạng giáo dục STEM theo hướng phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp ở trường THPT.

– Phân tích yêu cầu cần đạt nội dung “Biến dạng của vật rắn” – Vật lí 10

– Tìm hiểu về các ngành nghề vận dụng nhiều kiến thức Vật lí liên quan đến nội dung “Biến dạng của vật rắn ” – Vật lí 10

– Thiết kế chủ đề STEM trong dạy học một số kiến thức thuộc nội dung “Biến dạng của vật rắn” – Vật lí 10 nhằm phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT.

– Xây dựng công cụ đánh giá năng lực định hướng nghề nghiệp của HS trung học phổ thông trong dạy học theo giáo dục STEM.

– Tiến hành thực nghiệm sư phạm

– Phân tích, xử lí số liệu, nhận xét kết quả thực nghiệm, nhận xét chung về kết quả đạt được trong hoạt động dạy học chủ đề STEM.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận

– Nghiên cứu văn kiện của Đảng, luật Giáo dục, tạp chí Giáo dục, các luận văn, luận án liên quan đến đề tài nghiên cứu …

– Nghiên cứu chương trình GDPT mới, chương trình nội dung sách giáo khoa , sách GV, cơ sở lí luận về việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, dạy học chủ đề STEM.

Phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh trong dạy học nội dung “biến dạng của vật rắn
Phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh trong dạy học nội dung “biến dạng của vật rắn

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Thiết kế phiếu khảo sát, điều tra, phỏng vấn, quan sát việc tổ chức theo mô hình giáo dục STEM, năng lực định hướng nghề nghiệp của HS

7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

– Tiến hành dạy thực nghiệm ở trường phổ thông.

– Phương tiện: Dụng cụ trình chiếu, ghi hình, ghi chép

8. Đóng góp của đề tài

– Hệ thống hóa cơ sở lí luận về năng lực định hướng nghề nghiệp của HS trong dạy học Vật lí trung học phổ thông theo mô hình giáo dục STEM.

– Thiết kế chủ đề STEM theo hướng phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh trong dạy học Vật lí 10 nội dung “Biến dạng của vật rắn”.

– Xây dựng hai tiến trình dạy học chủ đề STEM nhằm phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh.

– Tài liệu tham khảo cho giáo viên trong dạy học nội dung “Biến dạng của vật rắn” – Vật lí 10 theo hướng phát triển NL ĐHNN của HS.

9. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH GIÁO STEM .

Chương 2 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH GIÁO DỤC STEM THUỘC NỘI DUNG “BIẾN DẠNG CỦA VẬT RẮN” – VẬT LÍ 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH GIÁO STEM .

Năng lực định hướng nghiệp của HS ở trường trung học phổ thông

. Khái niệm năng lực

Năng lực (Competence, Ability, Capability, Efficency, Capacity, Potentiality,..) được hiểu theo nhiều nghĩa cụ thể, gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong tình huống và ngữ cảnh riêng biệt. Hơn nữa năng lực lại rất gần nghĩa với một số từ khác như tiềm năng, khả năng, kĩ năng,… Do vậy, nếu chỉ nói chung chung thì sẽ rất phức tạp và khó xác định. Tuy nhiên từ năng lực có nghĩa gốc chung mà Từ điển Tiếng Việt đã nêu lên là a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào; b) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Một số cách hiểu về khái niệm năng lực được sử dụng trong các văn bản chương trình giáo dục phổ thông nhiều nước như:[3]

The Québec Program, MOE Canada, 2004: “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của học sinh; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác”

Chương trình giáo dục phổ thông của New Zealand nêu một cách ngắn gọn: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là tự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó”

Có rất nhiều chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục đã cố gắng định nghĩa khái niệm năng lực. F.E. Weiner cho rằng: “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể” còn theo J. Coolahan thì năng lực được xem như là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục”

Có thể thấy đủ cách phát biểu (câu chữ) có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu. Tất nhiên hành động (làm) hay thực hiện ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làm một cách máy móc, mù quáng.

Tiếp thu quan niệm về năng lực của các nước phát triển, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 – Chương trình tổng thể của Việt Nam đã xác định:

– Năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.

Trong luận văn khái niệm năng lực chúng tôi hiểu theo khái niệm năng lực của bộ giáo dục đưa ra trong chương trình GDPT 2018.

. Khái niệm năng lực định hướng nghề nghiệp.

Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, tháng 12 năm 2018 đã định nghĩa “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” (Bộ giáo dục và đào tạo, 2018).

Theo chương trình Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp định nghĩa “Năng lực định hướng nghề nghiệp là lựa chọn được hướng học tập hoặc nghề nghiệp phù hợp với sở thích, hứng thú, phẩm chất và năng lực của bản thân dựa trên những hiểu biết về nghề hoặc nhóm nghề và có kế hoạch hoàn thiện bản thân để đáp ứng yêu cầu của định hướng nghề nghiệp.” (Bộ giáo dục và đào tạo, 2018)

Như vậy, có thể hiểu NL ĐHNN là khả năng xác định và lựa chọn nghề nghiệp tương lai phù hợp với bản thân, dựa trên cơ sở hiểu biết về nghề nghiệp, đánh giá được NL, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của thị trường lao động cũng như điều kiện hoàn cảnh gia đình.

Trong luận văn khái niệm năng lực định hướng nghề nghiệp được hiểu như sau:

Năng lực định hướng nghề nghiệp là khả năng lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp với bản thân dựa trên sở thích, hứng thú và sự phù hợp giữa năng lực, phẩm chất của bản thân với những hiểu biết về yêu cầu của ngành nghề trong xã hội, từ đó học sinh lập ra kế hoạch học tập, rèn luyện để thích ứng với nghề nghiệp tương lai.

. Cấu trúc năng lực định hướng nghề nghiệp của HS THPT.

Theo Chương trình GDPT môn Vật lí 2018, kết hợp với việc tham khảo một số tài liệu của các tác giả Nguyễn Hoàng Lam,Nguyễn Thị Diên nghiên cứu về NL ĐHNN, để phù hợp với hướng đi của đề tài, chúng tôi đề xuất cấu trúc của NL ĐHNN như bảng sau:

Bảng 1.1. Cấu trúc của năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT

Năng lực thành tốChỉ số hành vi
1.Nhận thức nghề1.1. Giới thiệu được cơ sở đào tạo, trường đại học đào tạo ngành nghề.
1.2. Trình bày được nhu cầu thị trường lao động ở hiện tại và tương lai của ngành nghề
Trải nghiệm nghề2.1.Tìm hiểu một số sản phẩm của ngành nghề trên thị trường.
2.2. Đề xuất ý tưởng về sản phẩm của ngành nghề.
2.3. Lập được bản thiết kế sản phẩm của ngành nghề.
2.4. Tìm kiếm nguyên vật liệu cho sản phẩm.
2.5. Chế tạo sản phẩm
2.6. Vận hành được sản phẩm.
3. Đánh giá nghề3.1. Giá trị của ngành nghề .
3.2. Sự phù hợp với bản thân.
3.3. Yêu cầu về an toàn đối với ngành nghề.
3.4. Lập được kế hoạch phát triển nghề nghiệp.

. Một số ngành nghề trong nước và biện pháp phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của HS THPT

. Một số ngành nghề trong nước có thể được định hướng trong chủ đề

Trên cơ sở phân tích kiến thức nội dung “Biến dạng của vật rắn” chúng tôi đề xuất một số ngành nghề liên quan đến nội dung để tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của HS được thể hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2. Một số gợi ý về ngành nghề gắn với nội dung Biến dạng của vật rắn

Nội dungMột số ngành nghề chủ yếu
Biến dạng của vật rắnThiết kế nội thất(Hoạt động thiết kế chuyên dụng)

Mã ngành: 741 – 7410 – 74100

Sản xuất thiết bị đo lường (Sản xuất thiết bị đo lường, kiểm tra, định hướng và điều khiển)

Mã ngành: 2651 – 26510

. Biện pháp phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của HS THPT

Việc phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông cần được thực hiện một cách toàn diện và đa dạng để giúp các em có được sự chuẩn bị tốt nhất cho tương lai của mình. Dưới đây là một số biện pháp có thể được áp dụng:

1. Tạo ra các chương trình dạy học hữu ích về nghề nghiệp cho học sinh: Như các buổi thuyết trình, trò chơi trực tuyến, các hoạt động cộng đồng, giúp học sinh hiểu rõ hơn về các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau.

2. Tăng cường chương trình tư vấn hướng nghiệp: Các cố vấn nghiệp vụ và giáo viên có thể hướng dẫn học sinh về những lĩnh vực công việc cụ thể, cung cấp thông tin hữu ích đối với tương lai học tập và sự nghiệp.

3. Thực tập thực tế: Học sinh có thể thực tập hoặc đi thực địa ở các doanh nghiệp, tổ chức hay trường đại học để tiếp cận với môi trường nghề nghiệp.

4. Tổ chức các hoạt động hoạt động định hướng nghề nghiệp: Trường có thể tổ chức các cuộc thi hoặc sự kiện quảng bá về nghề nghiệp nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn về những lĩnh vực nghề nghiệp.

5. Sử dụng các công cụ định hướng nghề nghiệp hiệu quả: Các công cụ như bài kiểm tra sở thích và năng lực, hướng nghiệp bao gồm tư vấn cá nhân và các bài kiểm tra kỹ năng có thể giúp học sinh xác định một nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích của mình.

Những biện pháp này sẽ giúp học sinh trung học phổ thông có một khả năng định hướng nghề nghiệp tốt hơn để chuẩn bị cho tương lai của mình.

Giáo dục STEM ở trường THPT

      1. 1.2.1. Thuật ngữ STEM

STEM là cách viết lấy chữ cái đầu tiên trong tiếng Anh của các từ: Science, Technology, Engineering, Maths.

Science (Khoa học): gồm các kiến thức về Vật lý, Hóa học, Sinh học và Khoa học trái đất nhằm giúp học sinh hiểu về thế giới tự nhiên và vận dụng kiến thức đó để giải quyết các vấn đề khoa học trong cuộc sống hàng ngày.

Technology (Công nghệ): phát triển khả năng sử dụng. quản lý, hiểu và đánh giá công nghệ của học sinh, tạo cơ hội để học sinh hiểu về công nghệ được phát triển như thế nào, ảnh hưởng của công nghệ mới tới cuộc sống.

Engineering (Kỹ thuật): phát triển sự hiểu biết ở học sinh về cách công nghệ đang phát triển thông qua quá trình thiết kế kỹ thuật, tạo cơ hội để tích hợp kiến thức của nhiều môn học, giúp cho những khái niệm liên quan trở nên dễ hiểu. Kỹ thuật cũng cung cấp cho học sinh những kỹ năng để vận dụng sáng tạo cơ sở Khoa học và Toán học trong quá trình thiết kế các đối tượng, các hệ thống hay xây dựng các quy trình sản xuất.

Maths (Toán học): là môn học nhằm phát triển ở học sinh khả năng phân tích, biện luận và truyền đạt ý tưởng một cách hiệu quả thông qua việc tính toán, giải thích, các giải pháp giải quyết các vấn đề toán học trong các tình huống đặt ra.[4]

Thuật ngữ STEM được dùng trong hai ngữ cảnh khác nhau đó là ngữ cảnh giáo dục và ngữ cảnh nghề nghiệp

– Đối với ngữ cảnh giáo dục, STEM nhấn mạnh đến sự quan tâm của nền giáo dục đối với các môn Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học. Quan tâm đến việc tích hợp các môn học trên gắn với thực tiễn để nâng cao năng lực cho người học. Giáo dục STEM có thể được hiểu và diễn giải ở nhiều cấp độ như: chính sách STEM, chương trình STEM, nhà trường STEM, môn học STEM, bài học STEM, hoạt động STEM.

– Đối với ngữ cảnh nghề nghiệp, STEM được hiểu là nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học.

      1. 1.2.2. Khái niệm giáo dục STEM

Có ba cách hiểu chính về giáo dục STEM như sau:

  1. Quan tâm đến các môn Khoa học, Công nghệ. Kỹ thuật và Toán học

Đây cũng là quan niệm về giáo dục STEM của Bộ giáo dục Mỹ, giáo dục STEM là một chương trình nhằm cung cấp hỗ trợ, tăng cường, giáo dục Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học ở tiểu học và trung học cho đến bậc sau đại học. Đây là nghĩa rộng khi nói về giáo dục STEM.

  1. Tích hợp của bốn lĩnh vực Khoa học, Công nghệ. Kỹ thuật và Toán học

Kiến thức hàn lâm được kết hợp chặt chẽ với các bài học thực tế thông qua việc học sinh được áp dụng những kiến thức Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học vào trong những bối cảnh cụ thể nhằm tạo nên một kết nối giữa nhà trường, cộng đồng và các doanh nghiệp.

  1. Tích hợp từ hai lĩnh vực về Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học trở lên

Giáo dục STEM là phương pháp tiếp cận, khám phá trong giảng dạy và học tập giữa hai hay nhiều hơn các môn học STEM, hoặc giữa một chủ đề STEM và một hoặc nhiều môn học khác trong nhà trường.

      1. 1.2.3. Mục tiêu giáo dục STEM.
Định hướng nghề nghiệp

Phát triển năng lực đặc thù STEM

Phát triển năng lực cốt lõi

Mục tiêu giáo dục STEM

Hình 1.1. Mục tiêu giáo dục STEM [7]

  • Phát triển các năng lực đặc thù của các môn học thuộc về STEM cho học sinh

Đó là những kiến thức, kỹ năng liên quan đến các môn học Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học. Trong đó học sinh biết liên kết các kiến thức Khoa học, Toán học để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Học sinh biết sử dụng, quản lý và truy cập Công nghệ. Học sinh biết về quy trình thiết kế và chế tạo ra các sản phẩm.

  • Phát triển các năng lực cốt lõi cho học sinh

Giáo dục STEM nhằm chuẩn bị cho học sinh những cơ hội cũng như thách thức trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu của thế kỷ 21. Bên cạnh những hiểu biết về các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học, học sinh sẽ được phát triển tư duy phê phán, khả năng hợp tác để thành công.

  • Định hướng nghề nghiệp cho học sinh

Giáo dục STEM sẽ tạo cho học sinh có những kiến thức, kỹ năng mang tính nền tảng cho việc học tập ở các bậc học cao hơn cũng như cho nghề nghiệp trong tương lai của học sinh. Từ đó, góp phần xây dựng lực lượng lao động có năng lực, phẩm chất tốt, đặc biệt là lao động trong lĩnh vực STEM nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước.

Tăng cường trang bị cho học sinh phổ thông những kỹ năng về STEM, tăng cường số lượng học sinh sẽ theo đuổi và nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực STEM.

      1. 1.2.4. Các hình thức giáo dục STEM ở trường THPT

Giáo dục STEM là một phương thức giáo dục nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học gắn liền với ứng dụng của chúng trong thực tiễn.

Nội dung bài học theo chủ đề (sau đây gọi chung bài học) STEM gắn với việc giải quyết tương đối trọn vẹn một vấn đề, trong đó học sinh được tổ chức tham gia học tập một cách tích cực, chủ động và biết vận dụng kiến thức vừa học để giải quyết vấn đề đặt ra; thông qua đó góp phần hình thành phẩm chất năng lực cho học sinh.

Tùy thuộc vào đặc thù từng môn học và điều kiện cơ sở vật chất, các trường có thể áp dụng linh hoạt các hình thức tổ chức giáo dục STEM như sau:

  1. Dạy học các môn khoa học theo bài học STEM

Đây là hình thức tổ chức giáo dục STEM chủ yếu trong nhà trường trung học. Giáo viên thiết kế các bài học STEM để triển khai trong quá trình dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận tích hợp nội môn hoặc tích hợp liên môn.

– Nội dung bài học STEM bám sát nội dung chương trình của các môn học nhằm thực hiện chương trình giáo dục phổ thông theo thời lượng quy định của các môn học trong chương trình.

Học sinh thực hiện bài học STEM được chủ động nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu học tập để tiếp nhận và vận dụng kiến thức thông qua các hoạt động: lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề; thực hành thiết kế, chế tạo, thử nghiệm mẫu thiết kế; chia sẻ, thảo luận, hoàn thiện hoặc điều chỉnh mẫu thiết kế dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

  1. Tổ chức hoạt động trải nghiệm STEM

– Hoạt động trải nghiệm STEM được tổ chức thông qua hình thức câu lạc bộ hoặc các hoạt động trải nghiệm thực tế; được tổ chức thực hiện theo sở thích, năng khiếu và lựa chọn của học sinh một cách tự nguyện. Nhà trường có thể tổ chức các không gian trải nghiệm STEM trong nhà trường; giới thiệu thư viện học liệu số, thí nghiệm ảo, mô phỏng, phần mềm học tập để học sinh tìm hiểu, khám phá các thí nghiệm, ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong thực tiễn đời sống.

– Hoạt động trải nghiệm STEM được tổ chức theo kế hoạch giáo dục hàng năm của nhà trường; nội dung mỗi buổi trải nghiệm được thiết kế thành bài học cụ thể, mô tả rõ mục đích, yêu cầu, tiến trình trải nghiệm và dự kiến kết quả. Ưu tiên những hoạt động liên quan, hoạt động tiếp nối ở mức vận dụng (thiết kế, thử nghiệm, thảo luận và chỉnh sửa) của các hoạt động trong bài học STEM theo kế hoạch dạy học của nhà trường.

– Tăng cường sự hợp tác giữa trường trung học với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, các thành phần kinh tế – xã hội khác và gia đình để tổ chức có hiệu quả các hoạt động trải nghiệm STEM phù hợp với các quy định hiện hành.

  1. Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, kĩ thuật

– Hoạt động này dành cho những học sinh có năng lực, sở thích và hứng thú với các hoạt động tìm tòi, khám phá khoa học, kỹ thuật giải quyết các vấn đề thực tiễn; thông qua quá trình tổ chức dạy học các bài học STEM và hoạt động trải nghiệm STEM phát hiện các học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi học sinh tham gia nghiên cứu khoa học, kĩ thuật.

– Hoạt động nghiên cứu khoa học, kĩ thuật được thực hiện dưới dạng một đề tài/dự án nghiên cứu bởi một cá nhân hoặc nhóm hai thành viên, dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc nhà khoa học có chuyên môn phù hợp.

– Dựa trên tình hình thực tiễn, có thể định kỳ tổ chức ngày hội STEM hoặc cuộc thi khoa học, kỹ thuật tại đơn vị để đánh giá, biểu dương nỗ lực của giáo viên và học sinh trong việc tổ chức dạy và học, đồng thời lựa chọn các đề tài/dự án nghiên cứu gửi tham gia Cuộc thi khoa học, kỹ thuật cấp trên.

1.3. Thực trạng tổ chức dạy học theo mô hình giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh ở trường trung học phổ thông

      1. 1.3.1. Mục đích điều tra

Khảo sát thực trạng tổ chức các hoạt động STEM và phát triển NL ĐHNN của HS ở trường THPT Hoàng Văn Thụ. Từ đó đề xuất giải pháp phát triển NL ĐHNN của HS trong hoạt động dạy học ở trường THPT.

      1. 1.3.2. Nội dung điều tra

Điều tra thực trạng tổ chức dạy học chủ đề STEM.

Điều tra thực trạng tổ chức các hoạt động nhằm phát triển NL ĐHNN của HS.

Điều tra thực trạng tổ chức dạy học chủ đề STEM nhằm phát triển NL ĐHNN của HS.

      1. 1.3.3. Phương pháp điều tra

Sử dụng các phiếu khảo sát kết hợp việc phỏng vấn trực tiếp với GV và HS

      1. 1.3.4. Kết quả điều tra

Khi khảo sát công tác tổ chức dạy học chủ đề STEM nhằm phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh ở trường phổ thông

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG CHI TIET\PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG “BIẾN DẠNG CỦA VẬT RẮN” – VẬT LÍ 10 THEO MÔ HÌNH GIÁO DỤC STEM.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *