Pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đăng ký và quản lý hộ tịch là một trong những nhiệm vụ quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, việc thực hiện tốt hoạt động này, tạo cơ sở pháp lý để người dân thực hiện quyền con người, bên cạnh việc bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch giúp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạt định chính sách phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước.

Công tác đăng ký, quản lý trong thời gian qua góp phần quan trọng vào sự ổn định, trật tự an toàn xã hội; hệ thống cơ quan quản lý, đăn ký hộ tịch và đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch từ trung ương đến cấp cơ sở luôn được củng cố, kiện toàn; hệ thống sổ sách về hộ tịch được lưu trữ, sử dụng tài liệu; thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch có sự cải cách một bước, ngày càng thuận lợi cho người dân; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch được triển khai ở một số địa phương đặc biệt đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài có chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng quyền con người, quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện ở mức cao hơn…, nên công tác đăng ký và quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã bộ lộ nhiều hạn chế, bất cập. Về thể chế, hệ thống quy phạm pháp lý chưa cao. Về thủ tục, thẩm quyền và phương thức đăng ký hộ tịch còn phức tạp, chưa tạo thuận lợi nhiều cho người dân (phương thức còn thủ công, người dân phải xuất trình/ nộp nhiều loại giấy tờ, thủ tục hành chính phức tạp, thẩm quyền còn tản mát ở cả ba cấp, chi phí xã hội lớn…..).

1

Nhằm tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định và thống nhất cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, khắc phục nguyên nhân gây ra những bất cập, hạn chế nêu trên, nhất là trong bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy định mới đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác này theo hướng từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài ” làm luận văn.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài: 3.1. Mục tiêu tổng quát

Việc nghiên cứu Luận văn nhằm mục đích phân tích và đưa ra khái

niệm toàn diện về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, phân tích thực trạng thủ tục đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, từ đó tìm ra những điểm còn tồn tại và đưa những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định trong pháp luật Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài
Pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

3.2. Mục tiêu cụ thể

Thức nhất: Hệ thống hóa kiến thức lý luận về hộ tịch có yếu tố nước ngoài và quản lý nhà nước về hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Thứ hai: Phân tích, đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Thứ ba: Đề xuất và đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, luận văn tập trung vào một số vấn đề sau:

Về mặt thời gian: Luận văn nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký Hộ tịch có yếu tố nước ngoài trong một số văn bản pháp luậtđược ban hành từ năm 2014, như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và các văn bản khác có liên quan. Nhưng chủ yếu tập trung đi sâu nghiên cứu những quy định đăng ký Hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Luật Hộ tịch năm 2014 và vấn đề thủ tục đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam.

Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam và thực tiễn công tác đăng ký hộ tịch trên địa bàn cả nước trong đó có đăng ký hộ tịch yếu tố nước ngoài tại một số địa phương như Hà Nội, Bình Dương.

Về đối tượng nghiên cứu: Để nghiên cứu vấn đề hộ tịch có yếu tố nước ngoài, luận văn không thể nghiên cứu tất cả các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài mà chỉ tập trung vào nghiên cứu những vấn đề chính của đăng ký hộ

3

tịch có yếu tố nước ngoài bao gồm: Đăng ký khai sinh; Khai tử;Kết hôn; Giám hộ; Đăng ký nhận cha mẹ con; Thay đổi hộ tịch, cải chính hộ tịch có yếu tố nước ngoài và đăng ký nuôi con nuôi; Ghi vào sổ tịch việc thay đổi hội tịch có yếu tố nước ngoài, Ghi vào sổ hộ tịch sự kiện khai sinh, kết hôn,ly hôn, hủy việc kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi, thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam.

Từ việc phân tích các việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài hiện nay.

  • Những đóng góp của Luận văn

Đóng góp quan trọng và có giá trị của luận văn là nêu tổng quan và cụ thể những quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài cũng như vai trò của đăng ký hộ tịch và pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; góp phần thúc đẩy hội nhập và hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó luận văn phân tích các thủ tục đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài và việc vận dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký hộ tịch. Nêu ra thực trạng công tác đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài trên địa bàn cả nước và một số tỉnh, thành phố, từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Tính mới của luận văn: Luận văn đề cao vai trò hết sức quan trọng của công tác đăng ký hộ tịch nhất là việc cấp mã số định danh cá nhân cho người được khai sinh khi đi đăng ký khai sinh từ đó xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để lưu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đề tài còn nêu ra những vấn đền liên quan đến cải cách mạnh mẽ về

4

trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch, tạo thuận lợi tối đa cho người dân khi đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài (như: đơn giản hóa và cắt giảm nhiều giấy tờ không cần thiết khi đăng ký hộ tịch; cải tiến phương thức nộp hồ sơ để người dân lựa chọn- nộp trức tiếp, gửi qua bưu chính hoặc qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến cấp độ 3 và cấp độ 4; giảm thời hạn đăng ký đối với hầu hết các việc hộ tịch).

Ngoài ra đề tài còn nêu ra vấn đề phân cấp mạnh mẽ về thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho chính quyền địa phương đặc biệt là việc chuyển thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài từ Sở Tư pháp cho UBND cấp huyện giải quyết toàn bộ các việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

7. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Chương 2: Các quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

Chương 3: Thực trạng thực thi và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài.

5

CHƢƠNG 1

NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI

1.1. Khái quát chungvề đăng ký hộ tịch có yếu tố nƣớc ngoài

1.1.1. Khái niệm đăng ký hộ tịch

Xét về khía cạnh ngôn ngữ “Hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập. Theo đó từ “hộ” có nghĩa là “dân cư” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số gồm những người cùng ăn ở với nhau, còn từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”.Tuy nhiên có nhiều cách giải nghĩa từ “Hộ tịch” khác nhau như

Tác giả Nguyễn Văn Khôn đã nêu khái niệm “Hộ tịch” trong cuốn Hán -Việt từ điển xuất bản năm 1960 như sau: “Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [21, tr.404] hay tác giả Nguyễn Lân cũng trình bày giải nghĩa từ “Hộ tịch” trong cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt xuất bản năm 1989 “ Hộ tịch: quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [22, tr.321]. Có thể nhận thấy theo cách giải nghĩa từ “Hộ tịch” của các tác giả Nguyễn Văn Khôn, Nguyễn Lân tuy rằng khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều giải nghĩa “Hộ tịch” có nét khá tương đồng, “Hộ tịch” là quyển sổ chứa đựng các thông tin cơ bản của cá nhân.

Một cách hiểu khác về “Hộ tịch” trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998 đã được tác giả Nguyễn Như Ý trình bày đó là: “Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [43, tr 835] hay“Hộ tịch: Quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần”[14, tr.385]của

6

tác giả Nguyễn Văn Đạm trong cuốn từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt, xuất bản năm 1999.

Về phía cạnh pháp lý, thuật ngữ “Hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau:

Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người đầu tiên trình bày quan niệm “Hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 như sau: “Hộ tịch – còn gọi là nhân thế bộ – là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử” [36, tr.7].

Các tác giả Vũ Văn Mẫu – Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về khái niệm “Hộ tịch” trong cuốn Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật xuất bản năm 1968: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử”.[24, tr.111].

Trong văn bản pháp lý đầu tiên về đăng ký hộ tịch của Việt Nam là Nghị định số 764-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 8/5/1956 ban hành điều lệ đăng ký hộ tịch chưa đưa ra khái niệm đăng ký hộ tịch là gì, tuy nhiên tại Điều 1 Nghị định số 764-TTg đã đưa ra mang tính liệt kê các sự kiện đăng ký hộ tịch bao gồm: “ Đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch và cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy”.

Sau đó tại Điều 1 Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký, quản lý hộ tịch và Điều 1 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch đều đưa ra khái niệm Hộ tịch như sau “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Công tác hộ tịch bao gồm hoạt

7

động đăng ký hộ tịch, quản lý hộ tịch và những hoạt động khác có liên quan đến quản lý hộ tịch và đăng ký hộ tịch. Trong đó đăng ký hộ tịch là việc cơ quan có thẩm quyền: “ Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; Căn cứ vào quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi”.

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Hộ tịch năm 2014 cũng giống như Nghị định 158/2005/NĐ-CP, có hai nhóm hành vi với tính chất khác nhau trong đăng ký hộ tịch:

  • Hành vi xác nhận vào sổ hộ tịch các sự kiện: Đối với các sự kiện tại khoản 1 Điều 3 của Luật Hộ tịch, cơ quan đăng ký hộ tịch xác nhận bằng cách đăng ký vào sổ dành riêng cho từng loại việc đồng thời cấp cho đương sự giấy chứng nhận, trích lục hộ tịch về việc đó như Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, trích lục cải chính…Hành vi xác nhân của cơ quan đăng ký hộ tịch đã làm phát sinh hiệu lực pháp lý của các sự kiện được đăng ký. Chỉ sau khi đăng ký các sư kiện đó mới phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của cá nhân.
  • Hành vi ghi vào sổ hộ tịch khác với hành vi xác nhận, là đối với các loại việc hộ tịch này, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành ghi chú việc đó vào Sổ hộ tịch. Điểm phân biệt cơ bản giữa hành vi này với nhóm hành vi xác nhận là hành vi phát sinh sau và không làm phát sinh hiệu lực pháp lý.

Như vậy sự kết hợp giữa cách hiểu “Hộ tịch” và “Đăng ký hộ tịch” mới có thể mang lại cách hiểu đầy đủ nhất về khái niệm “Hộ tịch”.

8

1.1.2. Khái niệm về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại khoản 2 Điều 663 Bộ luật dân sự 2015, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
  • Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
  • Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

Vậy quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài dưa trên 3 yếu tố, chủ thể là người nước ngoài, đối tượng của quan hệ là tài sản ở nước ngoài hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài.

Để hiểu thể nào là yếu tố nước ngoài trong đăng ký hộ tịch được xem xét trên các khía cạnh sau

*Yếu tố chủ thể: Hộ tịch mang yếu tố về nhân thân vì vậy chủ thể trong đăng ký hộ tich là cá nhân.

Theo khoản 2 Điều 663 của Bộ luật dân sự năm 2015 “Có ít nhất một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài”

Cá nhân nước ngoài: Bao gồm người mang quốc tịch nước ngoài và

người không quốc tịch (Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, sửa đổi bổ sung 2014). Nhưng theo quy định Luật hộ tịch thì “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” được coi là có yếu tố nước ngoài trong đăng ký hộ tịch.

Ví dụ: Theo quy định tại khoản 1, Điều 37 của Luật Hộ tịch có quy định “Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở

9

nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài”

Vậy chủ thể trong đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài được xác định như sau:

  • Đượng sự là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và các sự kiện hộ tịch phát sinh ở Việt Nam, ví dụ như: Việc sinh, tử của người nước ngoài tại Việt Nam. Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam
  • Một bên đương sự là người Việt Nam còn bên kia là người nước ngoài
  • Giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài.
  • Giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau
  • Giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.

* Yếu tố sự kiện pháp lý: Sự kiện đăng ký hộ tịch giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài.

Ví dụ: Việc khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài về cư trú tại Việt Nam; Ghi vào sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

* Việc đăng ký hộ tịch giữa công dân Việt Nam nhưng đối tượng quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. Đối tượng ở đây không chỉ là tài sản mà còn có thể là các hành vi thực hiện ở nước ngoài (như thực hiện công việc ở nước ngoài).

Qua phân tích trên và căn cứ vào Điều 3 của Luật Hộ tịch có thể hiểu

đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài là việc cơ quan có thẩm quyền xác nhận và ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài của cá nhân,

10

như khai sinh; khai tử; kết hôn; giám hộ; nhận cha mẹ con; thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; bổ sung thông tin hộ tịch; Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinhh, kết hôn, ly hôn, hủy việt kết hôn; giám hộ, nhận cha mẹ con, xác định cha, mẹ, con, nuôi con nuôi, thay đổi hộ tịch, khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài.

Tuy Luật hộ tịch không quy định về vấn đề đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhưng tại Khoản 2 Điều 1 của Luật Hộ tịch có quy định “Thẩm quyền, thủ tục giải quyết các việc về nuôi con nuôi được thực hiện theo quy định của Luật nuôi con nuôi” .

1.2. Đặc điểm, vai trò của đăng ký hộ tịch có yếu tố nƣớc ngoài

Đăng ký và quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm thực hiện. Hoạt động này còn là cơ sở để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân, đồng thời có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của đất nước. Tại hầu hết các nước, các sự kiện hộ tịch của con người từ khi sinh ra đến khi chết như khai sinh, kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, khai tử… đều được đăng ký và được quản lý chặt chẽ.

Hoạt động đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài là cơ sở để Nhà nước thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản của công dân Việt Nam, người nước ngoài đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự, ví dụ như quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, quyền được nuôi con nuôi và được nhận làm con nuôi…..Bên cạnh đó việc đăng ký hộ tich cũng thể hiện việc

nhà nước công nhận một con người tồn tại với tất cả đầy đủ tính pháp lý, mà qua đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có năng lực, điều kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định hay không.Đặc

11

biệt là Nhà nước ta đảm bảo quyền nhân thân của người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc “không phân biệt đối xử giữa công dân Việt Nam (nước Sở tại) và người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam”. Với ý ghĩa như vậy, việc Nhà nước tổ chức quản lý, đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài chính là sự bảo hộ đối với việc thực hiện các quyền của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam.

Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch không những liên quan đến nhân thân mà nó còn là cơ sở để Nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, đối ngoại, văn hóa, xã hội, kế hoạch hóa gia đình của đất nước. Một hệ thống quản lý dữ liệu hộ tịch đầy đủ, chính xác, được cập nhật kịp thời các thông tin về cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, tỷ suất sinh, chết … và các thông tin cơ bản về tình hình người nước ngoài nói riêng sẽ là cơ sở vứng chắc cho việc hoạch định các chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi và tiết kiệm chi phí xã hội.Ngoài ra trên cơ sở theo dõi biến động về hộ tịch mà các cơ quan nhà nước có định hướng phù hợp trong việc xây dựng cơ sở y tế, trường học, bố trí giáo viên…, chăm sóc sức khỏe trong nhân dân, đảm bảo cân bằng giới tính phục vụ an ninh quốc phòng…

Việc thực hiện pháp luật hộ tịch của các cơ quan nhà nước còn có vai trò to lớn đối với việc đảm bảo trật tự xã hội. Đặc biệt sau khi Luật Hộ tịch ra đời, hệ thống cơ sở dữ liệu hộ tịchlà những phương tiện, công cụ để lưu trữ các thông tin cá nhân vì thể có thể giúp truy tìm nguồn gốc của cá nhân một cách dễ dàng.

Ví dụ: Để xác định một cá nhân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự hay không thì giấy khai sinh của cá nhân chính là căn cứ để chứng minh về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

12

Xét từ phương diện khoa học quản lý Nhà nước thì đăng ký hộ tịch giúp Nhà nước thực hiện tốt nhất hoạt động quản lý dân cư.Có thể nói đây là lĩnh vực quan trọng của nền hành chính mà mọi quốc gia đều quan tâm, sự vững mạnh của một quốc gia liên quan mật thiết với hiệu quả của hoạt động quản lý dân cư.Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch Quốc Hội đã ban hành Luật Hộ tịch năm 2014 để điều chỉnh công tác đăng ký và quản lý hộ tịch nói chung và đăng ký và quản lý hộ tịch nước ngoài nói riêng.

1.3. Pháp luật về đăng ký hộ tịch có yếu tố nƣớc ngoài

1.3.1. Pháp luật trong nước

Luật hộ tịch số 60/2014/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 20/11/2014 là văn bản có giá trị cao nhất điều chỉnh lĩnh vực Hộ tịch. Ngoài ra còn có các văn bản hướng dẫn cụ thể về đăng ký hộ tịch gồm Nghị định 123/2015/NĐ-CP, ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số biện pháp thi hành luật Hộ tịch;Thông tư 15/2015/TT-BTP, ngày 16/11/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

Luật Hộ tịch gồm 7 chương và 77 điều gồm những nội dung cơ bản như sau: Luật quy định về phạm vi điều chỉnh, khái niệm hộ tịch và nội dung đăng ký hộ tịch, quy định về đảm bảo quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của cá nhân. Luật hộ tịch đã dành riêng một Điều (Điều 6) để xác định quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của công dân. Theo đó, các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam, công dân nước ngoài thường trú tại Việt Nam đều phải được cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký hộ tịch. Ngoài ra Luật Hộ tịch còn quy định các hành vi nghiêm cấm đối với cá nhân khi đăng ký hộ tịch và việc áp dụng khoa học

13

công nghệ trong đăng ký và quản lý hộ tịch, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân, Luật Hộ tịch đã quy định các phương thức đăng ký hộ tịch hết sức linh hoạt. Theo đó, cá nhân có yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch có thể trực tiếp nộp hồ sơ, gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính và khi điều kiện cho phép có thể gửi qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến.

Đặc biệt Luật Hộ tịch đã giành cả chương III(gồm 7 Mục, 18 điều, từ Điều 35 đến Điều 52) để quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký các loại việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện bao gồm: Đăng ký khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc, ghi vào sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Trước đây việc điều chỉnh việc đăng ký hộ tịch, đặc biệt là đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài nằm rải rác trong nhiều văn bản khác nhau như Nghị định 158/2005/NĐ-CP; Nghị định 68/2002/ NĐ-CP Hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định 69/2006/NĐ-CP sửa đổi nghị định 68/2002/NĐ-CP hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và Nghị định 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Sự tản mạn của các quy phạm pháp luật về quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài như trên đã ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về hộ tịch nói chung và đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài nói riêng. Ngoài ra, quy định của pháp luật hiện hành về phân cấp quản lý, đăng ký hộ tịch còn nhiều bất cập. Việc thẩm quyền đăng ký hộ tịch còn chồng chéo, không rõ ràng giữa chức năng quản lý và đăng ký hộ tịch. Trình tự, thủ tục đăng ký các việc hộ tịch còn rườm rà, bất cập, nhiều quy định còn thiên về việc tạo thuận

14

lợi cho cơ quan quản lý nhà nước hơn là tạo thuận lợi cho người dân.Việc tồn tại nhiều loại sổ sách, giấy tờ về hộ tịch đã gây bất lợi, tạo nhiều áp lực cho cả cơ quan nhà nước và người dân trong việc lưu giữ, bảo quản, sử dụng.Bên cạnh đó việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký, quản lý hộ tịch chưa được quan tâm. Tuy nhiên từ khi Luật Hộ tịch ra đời đã tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định và thống nhất cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, khắc phục nguyên nhân gây ra những bất cập, hạn chế như trên, nhất là trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng và việctriển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy định mới đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng bộ, thống nhất với các luật liên quan (như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Quốc tịch, Luật Nuôi con nuôi, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Luật Căn cước công dân).

Liên quan đến vấn đề đăng ký hộ tịch, đặc biệt là đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài hiện nay ngoài Luật Hộ tịch năm 2014 còn được điều chỉnh theo một số văn bản pháp luật khác.

Bộ luật Dân sự năm 2015: Có thể nói, Bộ luật Dân sự là văn bản nền tảng, văn bản gốc có giá trị pháp lý cao nhất quy định một cách có hệ thống về quyền nhân thân trong đó đăng ký hộ tịch là một trong quyền nhân thân mà Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định cho cá nhân như: Quyền được khai sinh, khai tử, quyền thay đổi họ, tên, quyền được xác định lại dân tộc… Đặc biệt pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại phần thứ năm của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối với lĩnh vực Hôn nhân và gia đình: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị định 126/2014/NĐ-CP, ngày 31/12/2014 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình. Luật hôn nhân và gia đình quy định cụ thể chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử

15

giữa các thành viên gia đình, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình và ngoài ra Luật cũng có các điềuquy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại chương VIII gồm từ điều 121 đến 130của Luật.

Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 và được sửa đổi, bổ sung năm 2014: Luật này có mỗi quan hệ với Luật Hộ tịch về thủ tục đăng ký hộ tịch đặc biệt là trong lĩnh vực khai sinh có yếu tố nước ngoài tại Điều 36 Luật Hộ tịch quy định: “Trường hợp cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là người nước ngoài thì phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc chọn quốc tịch cho con. Trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân đồng ý cho nhận quốc tịch”

Đối với lĩnh vực nuôi con nuôi: Luật Nuôi con nuôi 2010, Nghị định 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi; Thông tư 12/2011/TT-BTP ngày 27/06/2011 về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi; Thông tư 24/2014/TT-BTP ngày 29/12/2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 12/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép lưu trữ và sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi và Nghị định 24/2019/NĐ-CP ngày 05/3/2019 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi. Luật Nuôi con nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc nuôi con nuôi và tại chương III của Luật từ điều 28 đến điều 43 có quy định về việc đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

16

1.3.2. Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và các nguồn khác.

Trong các điều ước đa phương là nguồn của tư pháp quốc tế thì các điều ước trong khuôn khổ của Hội nghị Lahaye về tư pháp quốc tế có ý nghĩa rất quan trong. Nội dung của các điều ước quốc tế này điều chỉnh nhiều lĩnh vực khác nhau của tư pháp quốc tế như:

* Điều ước quốc tế đa phương.

Công ước LaHaye 1993 được thông qua ngày 29/05/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi giữa các nước có hiệu lực từ ngày 01/5/1995 và ngày 18/7/2011 Chủ tịch nước ra Quyết định số 1103/2011/QĐ-CTN phê chuẩn toàn văn Công ước và có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/02/2012.

Ngoài ra còn một số điều ước quốc tế khác giám tiếp điều chỉnh về lĩnh vực hộ tịch như.

Mặt khác một số công ước quốc tế điều chỉnh những nội dung trong lĩnh vực hộ tịch mà Việt Nam không phải là nước thành viên nhưng cũng có thể là nguồn dẫn chứng trong việc giải quyết hồ sơ liên quan đến công tác đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài như Công ước Lahaye 1902 về giải quyết xung đột phát luật liên quan tới hôn nhân (Convention of relating to the settlement of the conflict of the laws concerning marriage).Công ước được thông qua tại Hội nghị La Haye về Tư pháp quốc tế được tổ chức lần thứ ba.

* Các Hiệp định tương trợ tư pháp.

Ngoài các điều ước quốc tế đa phương là nguồn điều chỉnh trong lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài thì các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký với các nước cũng là nguồn luật cơ bản để giải quyết các thủ tục đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài như Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Lào, ký kết ngày 06/7/1998, có hiệu lực ngày 19/02/2000; Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam với Liên Bang Nga được ký kết ngày 25/8/1998, có hiệu

17

lực ngày 27/08/2012; Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Việt Nam với Bun-ga-ri được ký kết ngày 03/10/1986, có hiệu lực ngày 05/07/1987….

18

CHƢƠNG 2

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ HỘ

TỊCH CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI

2.1. Đăng ký khai sinh có yếu tố nƣớc ngoài

Đăng ký khai sinh là một loại sự kiện đăng ký hộ tịch, là sự kiện đăng ký đầu tiên có liên quan đến nhân thân của một người từ khi mới sinh ra nó xác định những thông tin về bản thân người được đăng ký khai sinh như họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh và thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh và là cơ sở pháp lý chứng minh quyền, nghĩa vụ của cá nhân đó trong các mối quan hệ xã hội (như quan hệ cha mẹ con; các quyền thừa kế…). Vậy việc đăng ký khai sinh có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân.

Theo quy định tại Điều 6 của Nghị Định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 về quy định chi tết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch thì giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với giấy khai sinh của người đó. Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong giấy khai sinh của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong giấy khai sinh.

Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 35 của Luật Hộ tịch và Điều 29 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 và Điều 6 của Thông tư 15/2015/TT-TP ngày 16/11/2015.

Theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 thì thủ tục đăng ký khai sinh nói chung và khai sinh có yếu tố nước ngoài nói riêng có nhiều điểm mới so với Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 với việc quy định cấp mã

19

số định danh cho người đăng ký khai sinh. Số định danh cá nhân được cấp cho mỗi công dân Việt Nam nhằm mã hóa những thông tin cơ bản của công dân, không lặp lại ở người khác, được quản lý trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đối với người dưới 14 tuổi, số định danh cá nhân được ghi vào giấy khai sinh và đây chính là số thẻ căn cước công dân của người đó khi đủ tuổi được cấp căn cước công dân.

Thẩm quyền đăng ký khai sinh, Luật mới cho phép Ủy ban nhân dân nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ đều thực hiện đăng ký khai sinh được, thay cho quy định như trước đây về việc ưu tiên cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người mẹ, nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha mới được thực hiện. Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân khi tiến hành các thủ tục về hộ tịch mà còn thể hiện tính chất công bằng nhất định trong quá trình cải cách tư pháp.

2.1.1. Thẩm quyền đăng ký khai sinh

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em trong các trường hợp sau đây:

  • Trẻ em được sinh ra tại Việt Nam:
  • Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch;
  • Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
  • Có cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
  • Có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch;
  • Trẻ em được sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh về cư trú tại Việt Nam:

+ Có cha và mẹ là công dân Việt Nam; + Có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam.

20

2.1.2. Thành phần hồ sơ

  • Tờ khai theo mẫu quy định
  • Giấy chứng sinh. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh có thực; nếu không có giấy chứng sinh thì phải có giấy cam đoan về việc sinh. Đối với hồ sơ khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài về cư trú tại Việt Nam thì Giấy khai sinh hoặc giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp xác nhận về việc trẻ em sinh ra ở nước ngoài và quan hệ mẹ- con nếu có.

Trường hợp cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là người nước ngoài thì phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc chọn quốc tịch cho con.Trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân.

Lưu ý: Đối với hồ sơ khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài về cư trú tại Việt Nam thì ngoài giấy tờ quy định ở trên thì cần bổ sung thêm giấy tờ chứng minh việc trẻ em đã nhập cảnh vào Việt Nam (như hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế có dấu xác nhận nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh) và văn bản xác nhận của cơ quan công an có thẩm quyền về việc trẻ em đang cư trú tại Việt Nam

Nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật Hộ tịch và Khoản 1 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015. Về việc đặt tên quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định “Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ”

2.1.3. Thủ tục đăng ký khai sinh

Công dân nộp hồ sơ tại bộ phận “Một Cửa” của UBND cấp quận, huyện. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định, cán bộ “ Một Cửa”

chuyển vào phòng chuyên môn.

21

Nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức làm công tác hộ tịch ghi nội dung khai sinh và công chức làm công tác hộ tịch, người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.

Lƣu ý: Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới đăng ký khai sinh cho trẻ sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó còn mẹ hoặc cha là công dân nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú (Điều 17 của Nghị định 123/215/NĐ-CP)

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ LUẬT HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI – Pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *