Pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng

Pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng

Pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

“Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta” và “Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững”[1].

Đó là quan điểm của Nghị quyết 41 NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về việc bảo vệ môi trường (BVMT) trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu hiện nay, Hội nghị Trung ương 7 Khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT. Quan điểm về BVMT một lần nữa được khẳng định “Môi trường là vấn đề toàn cầu. BVMT vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững.

Việc BVMT bao gồm: Giải quyết ô nhiễm do những nguồn nước thải, ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp sinh học, các chất thải trong y tế, v.v… Để xử lý các loại chất thải trên là một vấn đề thật sự khó khăn và nan giải. Với mỗi loại chất thải đều phải cần có những biện pháp xử lý khác nhau từ những khâu thu gom đến tiêu hủy cuối cùng. Một trong số các chất thải cần phải đặc biệt quan tâm đó là các chất thải y tế (CTYT) vì tính đa dạng và phức tạp của chúng, khi có rất nhiều cơ sở y tế (CSYT) trở thành nguồn gây ô nhiễm môi trường.

Chất thải nguy hại, trong đó có chất thải y tế (CTYT) đã và đang trở thành một trong những vấn đề pháp lý xã hội cấp bách ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung, khi có rất nhiều cơ sở y tế trở thành nguồn gây ô nhiễm môi trường. CTYT chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, độc hại ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng.CTYT chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, độc hại ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng.

Trong những năm qua, cùng với việc định hướng phát triển kinh tế, vấn đề chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn luôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra. Bên cạnh đó, việc xử lý CTYT đặt ra nhiều thách thức ở nước ta, đặc biệt là hai ngành môi trường và y tếGiải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều vì có rất nhiều khó khăn như nguồn kinh phí đầu tư cho xử lý CTYT lớn, chưa kể chi phí cho sử dụng đất, phương tiện thu gom, vận chuyển, kinh phí vận hành và bảo trì; nhận thức về công tác thực hiện xử lý chất thải của nhân viên làm công tác xử lý chất thải chưa cao; các giải pháp về xử lý CTYT chưa đồng bộ, v.v.. Mặt khác, tuy đã có Luật BVMT cùng với các Nghị định, Thông tư , Quy chế về quản lý chất thải nguy hại (CTNH) được ban hành nhưng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chưa đồng bộ, việc ban hành văn bản về BVMT, văn bản hướng dẫn dưới Luật đôi lúc còn chậm, một số nội dung còn bất cập khó thực hiện hoặc thực hiện hiệu quả chưa cao.

Theo thống kê của Cục quản lý Môi trường Y tế (Bộ Y tế), hiện cả nước có khoảng 13. 511 cơ sở khám chữa bệnh và hệ dự phòng từ cấp Trung ương đến địa phương với lượng chất thải rắn phát sinh vào khoảng 450 tấn/ngày, lượng nước thải phát sinh khoảng 125.000 m3/ngày[2]. Hiện nay, tình hình khí thải nguy hại hầu như không được xử lý, chủ yếu phát sinh từ các phòng thí nghiệm để phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo y dược. Quá trình thiết kế và xây dựng các bệnh viện ở nước ta nói chung đều nằm trong giai đoạn đất nước đang trên đà phát triển, chiến tranh đã qua đi con người đang bước vào một giai đoạn phát triển mới nhưng nhận thức của chúng về vấn đề môi trường vẫn còn nhiều hạn chế do vậy quy trình xử lý chất thải còn khá lỏng lẻo, chưa nghiêm túc trong đó có CTYT.

Bối cảnh nêu trên là phổ biến ở các địa phương trên cả nước ta, trong đó có thành phố Đà Nẵng, và đặt ra những yêu cầu cấp bách cần nghiên cứu tìm ra giải pháp khắc phục.

Đối với thành phố Đà Nẵng, mặc dù trong thời gian qua pháp luật về xử lý CTYT được triển khai mạnh mẽ, các ban ngành liên quan đã triển khai các hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý những vụ việc vi phạm. Với sự năng động của một thành phố trẻ đang trên đà phát triển, việc quản lý CTNH, trong đó có CTYT là việc làm cần được quan tâm một cách đúng mức và có quy trình xử lý đạt tiêu chuẩn thân thiện với môi trường.

Từ những lý do trên, với mong muốn giải quyết các vấn đề trên, góp phần BVMT tại địa phương cũng như trên địa bàn cả nước, tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu và thực hiện luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu pháp luật về xử lý CTYT cũng như thực tiễn thi hành tại các CSYT, công tác thu gom, vận chuyển, xử lý của đơn vị cung ứng dịch vụ xử lý CTYT nhằm đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý CTYT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

– Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật xử lý CTYT ở Việt Nam, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, vai trò xã hội, mục tiêu của việc xử lý CTYT; chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện, công tác tuyên truyền vận động và các yếu tố tác động đến việc xử lý CTYT hiện nay;

– Nghiên cứu phân tích, đánh giá các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật hiện hành của Nhà nước Việt Nam về xử lý CTYT đang được triển khai thực hiện ở thành phố Đà Nẵng.

– Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý CTYT ở thành phố Đà Nẵng trong khoảng 05 năm gần đây, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân;

– Đề xuất các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật về xử lý CTYT từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, pháp luật và thực trạng về xử lý chất thải y tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng .

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu pháp luật về xử lý CTYT ở thành phố Đà Nẵng, không mở rộng ra các địa phương khác ở trong hay ngoài Việt Nam.

Về thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu tình hình xử lý về CTYT ở thành phố Đà Nẵng trong khoảng 05 năm gần đây.

Về nội dung, luận văn chỉ nghiên cứu pháp luật về xử lý CTYT, không mở rộng sang các loại chất thải khác mà đã được nêu trong pháp luật về môi trường.

Pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng
Pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Liên hợp quốc và của Đảng, Nhà nước Việt Nam về QLNN về BVMT.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra:

– Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu hiện có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật xử lý với CTYT ở nước ta hiện nay (ở Chương 1).

– Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu, báo cáo chuyên môn của cơ quan công an địa phương và phương pháp quan sát thực tế để đánh giá thực trạng xử lý với CTYT ở thành phố Đà Nẵng trong 5 năm gần đây (ở Chương 2).

– Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về xử lý với CTYT ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới (ở Chương 3).

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về pháp luật xử lý với CTYT ở thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây. Luận văn cũng là một trong số ít công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về vấn đề quản lý Nhà nước với môi trường từ trước đến nay.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp nhiều kiến thức, thông tin, luận điểm và đề xuất mới có giá trị tham khảo với các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương trong việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế để nâng cao hiệu quả xử lý về CTYT không chỉ ở thành phố Đà Nẵng mà còn ở các địa phương khác của nước ta trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu các chuyên ngành luật hiến pháp, luật hành chính ở Học viện Khoa học Xã hội và các cơ sở đào tạo luật khác của nước ta.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các bảng, biểu, luận văn được kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1: Khái quát về xử lý chất thải y tế và pháp luật về xử lý chất thải y tế .

Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý chất thải y tế và thực tiễn thi hành ở thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ PHÁP LUẬT

VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

    1. 1.1. Khái quát về xử lý chất thải y tế

1.1.1. Khái quát về chất thải y tế

Khái niệm và phân loại chất thải y tế

Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác[3]. Chất thải tồn tại trong thực tế rất đa dạng và phong phú. Việc phân loại chất thải tuỳ thuộc vào tiêu chí khác nhau mà có những loại chất thải tương ứng.

– Nếu dựa vào dạng tồn tại của chất thải thì có thể chia chất thải thành chất thải tồn tại dưới dạng rắn (chất thải rắn), lỏng (nước thải), khí (khí thải);

– Nếu dựa vào độ độc hại của chất thải thì có CTNH và chất thải thông thường. CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác[4].

– Nếu dựa vào địa điểm sản sinh chất thải thì có chất thải sinh hoạt, CTYT, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp.v.v…

Theo Tổ chức Y tế thế giới, CTYT là tất cả các loại chất thải phát sinh trong các CSYT, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và các hoạt động y tế tại nhà.

Ở Mỹ, Quốc hội thông qua đạo luật theo dõi CTYT Đạo luật Theo dõi Chất thải Y tế năm 1988 định nghĩa CTYT là chất thải phát sinh trong quá trình nghiên cứu y học, xét nghiệm, chẩn đoán, tiêm chủng, hoặc điều trị cho người hoặc động vật. Một số ví dụ như thủy tinh, băng gạc, găng tay, các vật dụng sắc nhọn đã bị loại bỏ như kim hoặc dao mổ, gạc và khăn giấy.

Ở Việt Nam, theo Quy chế Quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định CTYT  “là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các CSYT bao gồm CTYT nguy hại và chất thải thông thường” [5].

Hiện nay, theo quy định mới tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và môi trường (TN&MT) quy định về quản lý CTYT (gọi tắt là TTLT 58/2015) thì CTYT là “chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các CSYT, bao gồm CTYT nguy hại, CTYT thông thường và nước thải y tế”[6]. Thông tư cũng quy định “CSYT bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); CSYT dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học” [7].

Chất thải y tế nguy hại là CTYT chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng CTNH, bao gồm chất thải lây nhiễm và CTNH không lây nhiễm[8], CTYT nguy hại chiếm từ 10-25% tổng lượng CTYT[9]. Trong đó:

– Chất thải lây nhiễm bao gồm:

+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng như kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, kim chọc dò, kim châm cứu, lưỡi dao mổ, đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác;

+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn như chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly;

+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao như mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm;

+ Chất thải giải phẫu như mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm[10].

– Chất thải nguy hại không lây nhiễm như:

+ Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;

+ Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất;

+ Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng;

+ Chất hàn răng amalgam thải bỏ;

+ Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ trưởng Bộ TN&MT về quản lý CTNH (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT)[11].

Chất thải y tế thông thường là CTYT không gây ra những vấn đề nguy hiểm đặc biệt cho sức khỏe con người và môi trường, chiếm từ 75-90% tổng lượng CTYT[12], bao gồm:

+ Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong CSYT;

+ Chất thải rắn thông thường phát sinh từ CSYT không thuộc Danh mục CTYT nguy hại hoặc thuộc Danh mục CTYT nguy hại quy định tại điểm a Khoản 4 điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng CTNH; Sản phẩm thải lỏng không nguy hại[13].

Nước thải y tế là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất, là dung dịch thải từ cơ sở khám, chữa bệnh, chứa các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc, đồng vị phóng xạ như nước thải sinh hoạt của cán bộ viên chức, của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, nước lau sàn nhà, bể phốt của các khu điều trị (ô nhiễm hữu cơ), nước trong mùa mưa còn có thể nhiễm những hóa chất phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh như các chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các đồng vị phóng xạ, các khu xét nghiệm, phòng mổ.

Tóm lại, CTYT là bất kỳ chất thải nào có chứa chất nhiễm trùng (hoặc vật liệu có khả năng truyền nhiễm). Bao gồm chất thải phát sinh từ các CSYT như văn phòng bác sĩ, bệnh viện, phòng khám nha khoa, phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu y khoa và phòng khám thú y, CTYT có thể chứa chất lỏng cơ thể như máu hoặc các chất gây ô nhiễm khác. CTYT có các đặc điểm đặc trưng như sau:

  • Chất thải y tế là những vật chất bị thải bỏ, mang toàn bộ đặc điểm chung của chất thải, tồn tại dưới dạng vật chất ở dạng rắn (chất thải rắn y tế), dạng lỏng (nước thải y tế), dạng khí (khí thải y tế);
  • Nguồn gốc phát sinh CTYT là những vật chất được thải ra từ hoạt động y tế, từ khu vực khám, chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng, giám định y khoa, pháp y, y dược cổ truyền. Bên cạnh đó, CTYT cũng có thể phát sinh trong các hoạt động y tế dự phòng, an toàn vệ sinh thực phẩm, dân số kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản; Kiểm nghiệm dược phẩm, mỹ phẩm, sản xuất thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế; Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, phòng xét nghiệm, nhà hộ sinh, trạm y tế, v.v… Đây là đặc điểm phân biệt giữa CTYT với các chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt khác.
  • Thành phần CTYT gồm:

+ Thành phần vật lý: Bông vải sợi: Gồm bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải, v.v… Giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh. Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng. Thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm. Kim loại: Dao kéo mổ, kim tiêm. Thành phần tách ra từ cơ thể: Máu mủ từ băng gạc, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ.

+ Thành phần hóa học: Vô cơ: Hóa chất, thuốc thử, v.v…Hữu cơ: Đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc, v.v… Thành phần sinh học: Máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ, v.v…

Có nhiều cách phân loại CTYT tùy theo từng quan điểm khác nhau:

  • Theo nguồn gốc phát sinh CTYT được chia thành 03 loại: CTYT từ phòng thí nghiệm, chất thải dược phẩm và chất thải bệnh phẩm. Nhóm CTYT từ phòng thí nghiệm gồm găng tay, ống nghiệm, các vật cấy, cất giữ các chất gây bệnh, túi máu và các chất thải khác từ phòng thí nghiệm để nghiên cứu bệnh tật, huyết học, truyền máu, vi sinh học, nghiên cứu mô học, v,v … Chất thải dược phẩm gồm thuốc quá hạn sử dụng hoàn trả lại, thuốc phòng bệnh, thuốc bị đổ hoặc hư hỏng hay phải bỏ đi vì không cần giữ các chất trị xạ. Chất thải bệnh phẩm gồm mô người có thể bị nhiễm bệnh hay không nhiễm bệnh, nội tạng, các chi, các bộ phận cơ thể người, nhau thai và các thi thể người, xác động vật và mô động vật phòng thí nghiệm, v.v…
  • Căn cứ vào dạng tồn tại, có thể phân loại CTYT thành chất thải rắn (CTNH lây nhiễm, CTNH không lây nhiễm và CTYT thông thường), nước thải y tế và khí thải y tế.
  • Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học, chất thải trong các CSYT được phân thành các nhóm sau đây:

+ Chất thải lây nhiễm, bao gồm chất thải lây nhiễm sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu.

Pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng
Pháp luật về xử lý chất thải y tế từ thực tiễn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng

+ Chất thải nguy hại không lây nhiễm;

+ Chất thải phóng xạ (Theo Thông tư 22/2014/TT-BKHCN ngày 25/8/2014 cuả Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về quản lý chất thải phóng xạ và nguồn phóng xạ đã qua sử dụng- gọi tắt là Thông tư 22/2014, thì chất thải phóng xạ là chất thải chứa các nhân phóng xạ hoặc vật thể bị nhiễm bẩn các nhân phóng xạ với mức hoạt động lớn hơn mức thanh lý, trong đó chất thải phóng xạ sinh học bao gồm chất thải có khả năng phân hủy sinh học và chất thải sinh học y tế. Chất thải sinh học y tế là chất thải có khả năng thối rữa hoặc gây bệnh phát sinh từ các hoạt động khám, chữa bệnh tại các CSYT, phòng thí nghiệm y học và từ nhà xác[14]. Chất thải dạng này bao gồm chất thải rắn phóng xạ (gồm giấy, khăn lau nhiễm bẩn phóng xạ; xilanh, kim tiêm thuốc phóng xạ thải bỏ; bao bì, chai lọ đựng thuốc phóng xạ thải bỏ; quần áo, giầy dép nhiễm bẩn chất phóng xạ và các vật thể nhiễm bẩn phóng xạ khác được thải bỏ), nước thải phóng xạ (gồm nước thải bị nhiễm bẩn phóng xạ từ phòng pha chế, phân liều thuốc phóng xạ; nước rửa chai lọ, dụng cụ làm việc với thuốc phóng xạ; nước thải nhà vệ sinh dùng cho người bệnh đã sử dụng thuốc phóng xạ; giấy, khăn lau nhiễm bẩn phóng xạ) và nguồn phóng xạ kín đã qua sử dụng[15].

+ Chất thải y tế thông thường.

  • Căn cứ vào tính chất nguy hại, Điều 49 Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu quy định chất thải từ hoạt động y tế (trừ nước thải được đưa vào hệ thống xử lý nước thải của CSYT) (gọi tắt là Nghị định 38/2015) phải được phân loại tại nguồn gồm:

+ Chất thải y tế nguy hại bao gồm: Chất thải lây nhiễm; CTNH không lây nhiễm (phân loại riêng theo danh mục và quy định về quản lý CTNH tại Chương II Nghị định này); chất thải phóng xạ (quản lý theo quy định về phóng xạ);

+ Chất thải y tế thông thường bao gồm: Chất thải rắn thông thường (kể cả chất thải rắn sinh hoạt); sản phẩm thải lỏng không nguy hại.

  • Căn cứ vào mục đích tái chế, CTYT được chia thành CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế.

Tác hại của chất thải y tế với sức khỏe và môi trường

– Tác hại của CTYT với sức khoẻ:

Việc tiếp xúc với CTYT có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho con người. Khả năng gây rủi ro từ CTYT có thể do một hay nhiều đặc trưng cơ bản như: CTYT chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là tác nhân nguy hại trong rác thải y tế; Các hoá chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm; Các chất chứa đồng vị phóng xạ; Các vật sắc nhọn có thể gây tổn thương; Chất thải có yếu tổ ảnh hưởng tâm lý xã hội.

Tất cả mọi người tiếp xúc với CTYT nguy hại đều có nguy cơ tiềm tàng đến sức khoẻ. Những nhóm đối tượng chính có nguy cơ cao đối với tác hại của CTYT gồm: Bác sĩ, y tá, hộ lý, những người thực hiện tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, tiêm, thay băng, cắt bỏ nội tạng, v.v…; Những người thực hiện nhiệm vụ phân loại, thu gom và vận chuyển CTYT ngay tại nguồn về nơi tập kết của CSYT; Bệnh nhân điều trị; Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân; Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân, vệ sinh v.v… Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu rác, v.v…

Các nguy cơ lớn nhất đến từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn. Đó là bởi các vật thể này trong thành phần CTYT nguy hại có thể chứa đựng một lượng rất lớn của bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào như tụ cầu, HIV, viêm gan, lao phổi, v.v…

Bảng 1.1. Nguy cơ nhiễm khuẩn do chất thải y tế gây ra

Các dạng nhiễm khuẩnTác nhân gây bệnhChất truyền bệnh
Nhiễm khuẩn đường tiêu hóaVi khuẩn đường tiêu hóa như: Salmonella, Shigella, Vibrio chorela, Trứng giunPhân và chất nôn
Nhiễm khuẩn hô hấpVi khuẩn lao, Virus sởi, Phế cầuChất tiết đường hô hấp, khạc nhổ nước bọt
Nhiễm khuẩn mắtHerpesChất tiêt ở mắt
Nhiễm khuẩn daLiên cầu, phế cầu, v.v…Mủ
Bệnh thanTK ThanChất tiết qua da
AIDSHIVMáu, dịch tiết sinh dục
Nhiễm khuẩn huyếtTụ cầuMáu, mủ
Viêm gan AVirus viêm gan APhân
Viêm gan B, CVirus viêm gan B, CMáu, dịch cơ thể

(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Cúc (2015), “Xử lý rác thải y tế vì môi trường sống xanh tại thành phố Đà Nẵng”, Báo cáo chuyên khoa 2, Khoa Điều dưỡng – Trường Đại học Đông Á)

  • Tác hại của CTYT với môi trường:

Các vi khuẩn có trong CTYT được phát thải ra trong môi trường có thời gian tồn lưu ngoài môi trường trong điều kiện tự nhiên. Một số tác nhân bệnh có thời gian tồn tại ở môi trường rất lâu, ví dụ như virus viêm gan B khá bền vững trong điều kiện không khí khô và có thể tồn lưu trong nhiều tuần lễ trên một số bề mặt vật ô nhiễm. Loại tác nhân này có thể vẫn tồn lưu trong dung dịch sát khuẩn 70% cồn ethanol hay tồn tại tới 10 giờ trong nhiệt độ 600C. Trong khi đó, virus HIV có thời gian tồn lưu ngắn hơn, chúng có thể tồn tại không quá 15 phút khi bị tác động của cồn ethanol 70% hoặc là chỉ có thể tồn lưu từ 3-7 ngày trong điều kiện nhiệt độ ngoại cảnh và bị bất hoạt nhanh chóng tại nhiệt độ 560C [16].

Khi bị phát tán, CTYT tạo ra nguy cơ lớn về ô nhiễm môi trường. Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh viện – chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh, chúng có thể chứa kim loại nặng, v.v… Nguy cơ đối với môi trường đất thể hiện ở việc tiêu hủy không an toàn đối với CTNH như tro lò đốt hay bùn của hệ thống xử lý nước thải có khả năng rò rỉ ra gây ô nhiễm đất.

Chất thải y tế cũng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường không khí. Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải rắn y tế (CTRYT) được thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc đốt chất thải như: các loại bệnh phẩm dược phẩm, v.v…có thể tạo ra khí axit (thường là HCL, Sulfuadioxit, v.v…).

Tóm lại, khi CTYT không được xử lý đúng cách thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường, đất, nước và không khí và sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái.

1.1.2. Khái quát về xử lý chất thải y tế

“Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải”[17].

Như vậy, xử lý CTYT là quá trình sử dụng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong CTYT phát sinh trong hoạt động của các CSYT theo quy định của pháp luật.

Xử lý CTYT bắt đầu từ quá trình xử lý ban đầu. Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi phát sinh trước khi chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy, nhằm làm giảm tính độc hại của chất thải trước khi đi đến khâu xử lý cuối cùng. Có rất nhiều phương pháp xử lý CTYT đang được áp dụng và có những ưu điểm, nhược điểm khác nhau. Hiện nay trên thế giới đang áp dụng rất nhiều phương pháp trong việc xử lý CTYT như:

+ Phương pháp thiêu đốt CTYT ở nhiệt độ cao: Với những ưu điểm có thể xử lý được mọi rác thải, giảm được khối lượng lớn và trọng lượng của rác sau quá trình đốt, có thể sử dụng lại nhiệt độ sinh ra trong quá trình đốt rác. Tuy nhiên quá trình đốt rác lại thải ra một lượng lớn khí thải độc hại, nếu không được xử lý đúng cách sẽ lại ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người. Tại Hồng Kông, gần 60% lượng CTYT được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, 40% còn lại là không lây nhiễm được xử lý bằng cách chôn lấp hợp vệ sinh.

+ Phương pháp xử lý bằng hóa chất: Ưu điểm của phương pháp này là có ít các sản phẩm phụ độc hại sinh ra sau quá trình hấp so với phương pháp thiêu đốt. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là hình dạng rác vẫn giữ nguyên không thay đổi về khối lượng, tạo ra luồng khí thải và hơi nóng có thể không đến hoặc không đủ sức diệt khuẩn hoàn toàn các loại rác thải y tế. Trong quá trình xử lý bằng phương pháp này nếu mở bao rác thì giảm được thể tích bao rác và tăng khả năng diệt khuẩn nhưng làm như vậy công nhân có thể bị tổn thương do các vật sắc nhọn.

+ Công nghệ khử khuẩn: Mục đích của phương pháp này là biến CTNH thành chất thải không nguy hại tương tự như các chất thải sinh hoạt thông thường. CTYT sau khi được khử khuẩn sẽ đưa đi tiêu hủy cuối cùng tại những nơi xử lý. Tại Pháp mô hình xử lý CTRYT nguy hại là sự phối hợp giữa thiêu đốt tại chỗ và thiêu đốt tập trung ngoài bệnh viện.

Hiện nay các nhà khoa học đang áp dụng phương pháp nghiền nát chất thải, xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải trong khi xử lý. Phế thải sau khi được xử lý sẽ được chở đến bãi rác thông thường vì đã đạt tiêu chuẩn tiệt trùng. Phương pháp này có nhiều ưu điểm đó là giảm được khối lượng chất thải, giảm chi phí và không tạo ra các khí thải vào không khí.

    1. 1.2. Khái quát về pháp luật xử lý chất thải y tế.

1.2.1. Khái niệm pháp luật về xử lý chất thải y tế

Vấn đề môi trường sống của con người trên trái đất đã và đang bị ô nhiễm là một vấn đề cấp bách đối với bất kì quốc gia nào. Vì nó gây ra những hiện tượng biến đổi khí hậu dẫn đến những thảm họa thiên tai khủng khiếp. Ở Việt Nam, sự ô nhiễm môi trường là vấn đề đáng báo động. Đây là một hiện tượng xấu, nhiều tác hại, cần nhanh chóng khắc phục. Môi trường là nguồn cung cấp nguyên liệu, năng lượng cho mọi hoạt động của con người. Môi trường cũng là nơi tiếp nhận, chứa đựng và xử lý các chất thải mà con người thải ra trong quá trình phát triển đó, trong đó có CTYT. Để bảo tồn cho sự phát triển bền vững của môi trường, pháp luật BVMT, trong đó quy định quá trình xử lý CTYT được ban hành nhằm đáp ứng cho nhu cầu cấp thiết đó.

Xử lý CTYT là một trong các quá trình của lĩnh vực quản lý CTYT, bao gồm các quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTYT và giám sát quá trình thực hiện[18]. Phù hợp với nguyên lý chung của quy trình xử lý CTYT, hệ thống các quy phạm pháp luật xử lý CTYT thường tập trung điều chỉnh ba nhóm nội dung chủ yếu. Đó là các quy định pháp luật về kiểm soát nguồn phát sinh CTYT; các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển CTYT và các quy định pháp luật về xử lý, tiêu hủy CTYT. Các quy phạm này điều chỉnh những mối quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình con người tiến hành các hoạt động liên quan đến CTYT. Mục đích cơ bản của pháp luật xử lý CTYT là nhằm hạn chế phát thải, phòng ngừa, giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của CTYT, bảo vệ chất lượng môi trường sống của con người. Thông qua việc định hướng cho của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức cá nhân trong quá trình làm phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý CTYT đồng thời ràng buộc các chủ thể này bằng những chế tài cụ thể, pháp luật xử lý CTYT không chỉ góp phần giảm thiểu được lượng CTYT thải vào môi trường mà còn phòng ngừa, hạn chế được những tác động bất lợi của chúng. Điều đó có nghĩa, chất lượng môi trường sống của con người cũng sẽ được đảm bảo một cách hiệu quả thông qua việc xây dựng và thực hiện một cách triệt để các quy phạm pháp luật về lĩnh vực này.

Tại Việt Nam, là một bộ phận của pháp luật môi trường, pháp luật xử lý CTYT ra đời muộn hơn so với hầu hết các nước trên thế giới và trong khu vực. Từ Luật BVMT (LBVMT) năm 1993 những quy định đầu tiên về quản lý CTYT đã bắt đầu được quy định. Năm 1997, Bộ Y tế ký quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ về việc ban hành Quy chế bệnh viện, trong đó có quy chế công tác xử lý chất thải, quy chế chống nhiễm khuẩn. Đến năm 1999, Quy chế xử lý về CTYT chính thức được ban hành kèm theo Quyết định 2575/1999/QĐ-BYT. Quy chế được xem như là văn bản pháp luật đầu tiên và đánh dấu bước phát triển quan trọng quy định về xử lý CTYT ở Việt Nam.

Với những yêu cầu ngày càng cao về vấn đề BVMT, về việc xử lý chất thải bằng pháp luật, LBVMT năm 2005 thay thế cho LBVMT năm 1993, và năm 2014, LBVMT 2014 được ban hành thay thế LBVMT cũ đều có chương riêng quy định về việc xử lý chất thải, trong đó đã có những quy định riêng về việc BVMT trong các CSYT[19]. Sau khi LBVMT 2014 có hiệu lực, các Thông tư, Nghị định hướng dẫn về quản lý CTYT cũng được ban hành nhằm thống nhất thực hiện các quy định về quản lý cũng như xử lý CTYT.

Như vậy, dựa trên cách thức tiếp cận và điều chỉnh của pháp luật ở các quốc gia đối với các hoạt động có liên quan đến CTYT, có thể định nghĩa pháp luật xử lý CTYT như sau: “Pháp luật xử lý CTYT là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình con người tiến hành các hoạt động liên quan đến việc xử lý, bao gồm thu hồi, tái chế và tiêu huỷ CTYT”.

1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật xử lý chất thải y tế

Theo quan điểm Mac – Lênin, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể. Việc ban hành các quy định của pháp luật phải dựa trên các yếu tố về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, pháp luật về xử lý CTYT cũng không phải là ngoại lệ. Các yếu tố về chính trị, kinh tế, xã hội cũng như hợp tác quốc tế có tác động ảnh hưởng đến pháp luật nói chung cũng như pháp luật về xử lý CTYT nói riêng được thể hiện như sau:

Về yếu tố chính trị: Chính trị Việt Nam đi theo nguyên mẫu Nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thông qua các Nghị quyết, các quyết sách chiến lược của Đảng. Pháp luật được thể chế hóa từ những Nghị quyết của Đảng để lãnh đạo đất nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Đối với công tác BVMT nói chung và công tác xử lý CTYT nói riêng, tại Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã đề ra Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong đó đưa ra mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; tiêu huỷ, xử lý trên 85% CTNH, 100% CTYT. Quán triệt những chủ trương, chính sách được đưa ra, các cơ quan có thẩm quyền đã rà soát, ban hành cũng như điều chỉnh để hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử lý CTYT cho phù hợp với yêu cầu thực tế mà Đảng đã đề ra trong nội dung Nghị quyết.

Về yếu tố kinh tế, xã hội: Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người và xã hội là một mạng lưới các mối quan hệ giữa người với người. Các yếu tố kinh tế không chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật, mà còn quyết định toàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu, sự phát triển của pháp luật. Đồng thời, pháp luật xuất phát từ xã hội, tồn tại và phát triển trong xã hội nhằm mục đích điều tiết và quản lý các quan hệ xã hội. Trong những năm gần đây, khi điều kiện kinh tế ngày càng được cải thiện và phát triển, đời sống xã hội được nâng cao, nhu cầu thăm khám cũng như chăm sóc sức khỏe ngày càng cao, điều đó dẫn đến việc xây mới, mở rộng nhiều CSYT để đáp ứng nhu cầu đó, từ đó, lượng CTYT thải ra từ hoạt động y tế ngày càng nhiều. Các yếu tố kinh tế và xã hội là một trong những nguyên nhân đặt ra yêu cầu về pháp luật xử lý CTYT phải quy định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm cũng như các biện pháp xử lý CTYT nhằm bảo đảm việc xử lý CTYT đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, nếu pháp luật không xây dựng được các quy định nhằm xử lý lượng CTYT đó sẽ trở thành mối nguy cơ lớn gây ô nhiễm môi trường, từ đó ảnh hưởng ngược lại đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Yếu tố hợp tác quốc tế: Hợp tác quốc tế về môi trường là một trong những nội dung quản lý nhà nước về BVMT được đề cập trong các LBVMT, và là giải pháp quan trọng trong các chiến lược, kế hoạch hành động quốc gia về môi trường nói chung cũng như pháp luật về xử lý CTYT nói riêng. Việt Nam đã ký kết và tham gia vào nhiều Công ước quốc tế về môi trường, trong số đó có Công ước về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng (Basel) 1989 để giải quyết các vấn đề và thách thức đặt ra từ CTNH và Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy 2001 (POPs) và nhiều Công ước quốc tế khác về môi trường[20]. Tại Điều 6 Luật Điều ước Quốc tế của Việt Nam về hiệu lực của điều ước quốc tế và quy định của pháp luật trong nước quy định: “ 1. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp. 2. Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó”. Như vậy, quy định của pháp luật xử lý CTYT không được trái với điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, trường hợp có sự khác nhau về cùng một vấn đề thì ưu tiên áp dụng quy định tại điều ước quốc tế. Bên cạnh đó, vấn đề hợp tác quốc tế còn giúp Việt Nam tranh thủ được hỗ trợ quốc tế về kỹ thuật, tài chính, để xây dựng cơ sở vật chất nhằm xử lý CTYT đạt quy chuẩn, đảm bảo việc thực hiện các quy định của pháp luật xử lý CTYT góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường trong nước, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\KINH TE\PHAM THI PHUONG THAO

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *