Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội

Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội

Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Phụ nữ là lực lượng lao động đông đảo, có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong gia đình và xã hội. Hiện nay, lực lượng lao động nữ chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng số lực lượng lao động tại Việt Nam, chiếm đến 48,1% trên tổng số lực lượng lao động (theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm 2015). Tất cả các lĩnh vực từ đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật… đều có sự tham gia của lực lượng lao động nữ, với tỷ trọng chiếm khá lớn trong lực lượng lao động. Lao động nữ đóng góp tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra các sản phẩm về vật chất, tinh thần phục vụ cho lợi ích của xã hội. Vì vậy, lao động nữ có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội để được bù đắp phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút trong các trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hay do sự tác động của kinh tế thị trường.

Chế độ bảo hiểm thai sản có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách bảo hiễm xã hội, không chỉ bởi tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn góp phần tái sản xuất sức lao động xã hội. Hằng năm, trợ cấp thai sản đã góp phần bảo vệ quyền lợi cho hàng trăm ngàn phụ nữ và trẻ em, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ bảo hiểm thai sản ngoài ý nghĩa đảm bảo thu nhập cho người phụ nữ còn có ý nghĩa xã hội và tính nhân văn rất lớn, đóng góp để tái sản xuất dân số và duy trì nòi giống. Với việc tham gia BHXH, đặc biệt là chế độ thai sản đảm bảo được thu nhập và ổn định cuộc sống đối với lao động nữ khi họ mang thai, sinh đẻ hay nuôi con trong một thời gian ngắn. Nó có một vị trí quan trọng đối với lao động nữ, nhằm động viên, khuyến khích và hỗ trợ người mẹ khi họ mang thai, sinh sẻ và nuôi con sơ sinh. Cùng với các chế độ bảo hiểm khác, chế độ bảo hiểm thai sản ở nước ta đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật lao động từ khi giành đước chính quyền cho đên nay. Đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nên chính sách bảo hiểm thai sản ngày càng đầy đủ, hoàn thiện và phù hợp hơn với thực tế đời sống, đáp ứng được mục tiêu về bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ.

Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều quy định bất cập, cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, thực tiễn ở Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, trong một số vấn đề, đối với lao động nữ chưa được đảm bảo thực hiện một cách đầy đủ.

Vì sự ưu việt của chế độ bảo hiểm thai sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với lao động nữ nói chung tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội nên việc nghiên cứu đề tài “Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng” là rất cần thiết.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm thai sản, đánh giá thực trạng chế độ bảo hiểm thai sản từ thực tiễn tại Đà Nẵng, từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Chỉ ra và làm rõ một số vấn đề mang tính lý luận cơ bản như: chế độ thai sản; tìm hiểu quan niệm của quốc tế về vấn đề thai sản và chế độ thai sản, từ đó chỉ ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Dựa trên các đặc điểm cụ thể của Đà Nẵng và các quy định hiện hành của chế độ thai sản, Luận văn luận giải cho những thành công và hạn chế của việc thực hiện chế độ thai sản ở Đà Nẵng trong thời gian qua.

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Luận văn chỉ ra những định hướng, giải pháp hoàn thiệ chế độ bảo hiểm thai sản nâng cao hiệu quả thực thi chế độ thai sản.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quy phạm bảo hiểm thai sản theo pháp luật bảo hiểm xã hội của Việt Nam hiện nay.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến nay. Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, luận văn chưa đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến chế độ bảo hiểm thai sản và xử lý vi phạm.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước làm kim chỉ nam cho quá trình nghiên cứu.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

– Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau về bảo hiểm thai sản bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng, sau đó liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về chế độ bảo hiểm thai sản.

– Phương pháp thu thập thông tin: dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây về chế độ bảo hiểm thai sản để xây dựng cơ sở luận cứ để chứng minh giả thuyết.

– Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết: sắp xếp những thông tin đa dạng thu thập được từ các nguồn, các tài liệu khác nhau về chế độ bảo hiểm thai sản thành một hệ thống với một kết cấu chặt chẽ để từ đó mà xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh.

Đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã được công bố.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn làm rõ hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về chế độ bảo hiểm thai sản cho lao động nữ như: khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản; nội dung pháp luật của chế độ bảo hiểm thai sản; nghiên cứu và khảo kinh nghiệm một số nước và pháp luật quốc tế về chế độ thai sản.

Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam hiện nay.

Luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy đại học và sau đại học về chế độ thai sản.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được cơ cấu thành ba chương chính sau:

Chương 1: Khái quát chung về chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật bảo hiểm xã hội

Chương 2: Thực trạng áp dụng chế độ thai sản đối với lao động nữ tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định về chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

    1. 1.1. Khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản

Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm thai sản là một trong các chế độ BHXH, bao gồm các quy định của Nhà nước nhằm đảm bảo thu nhập và đảm bảo sức khoẻ cho lao động nữ nói riêng khi mang thai, sinh con và cho người lao động nói chung khi nhận nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai.

Tình trạng thai sản bao gồm: mang thai, sinh con, nhận nuôi con nuôi sơ sinh, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, thực hiện các biện pháp tránh thai. Chế độ thai sản được cấu thành bởi các nội dung: điều kiện hưởng chế độ thai sản, nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản, thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản, mức hưởng chế độ thai sản và chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh. Chế độ thai sản do quỹ bảo hiểm ốm đau và thai sản chi trả.

So với các chế độ khác, đối tượng của chế độ bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai. Thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên, mục đích trợ giúp, giữ cân bằng về thu nhập, góp phần tạo sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữ và người lao động. Hiện nay, chế độ thai sản được quy định trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới nhưng tuỳ vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước mà chế độ này quy định khác nhau về thời gian nghỉ, mức trợ cấp, điều kiện hưởng,…

Chế độ bảo hiểm thai sản cũng như các chính sách xã hội đối với lao động nữ nói chung, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội. Trong các quy định riêng về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, bảo hiểm thai sản được coi là chế độ bảo hiểm đặc thù, nó tạo điều kiện để người lao động chủ yếu là lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ, nhưng quan trọng hơn là tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội.

  • Đối với người lao động:

Chế độ thai sản có vai trò bù đắp một phần thiếu hụt về thu nhập của người lao động. Trong thời kỳ thai sản, người lao động phải nghỉ việc, không có lương, vì thế thu nhập sẽ bị giảm. Chế độ thai sản trợ cấp cho người lao động một mặt bù đắp được thu nhập bị giảm, mặt khác hỗ trợ được các khoản chi phí tăng thêm như: mua sắm dụng cụ, tã lót, sữa,…cho em bé, tăng cường dinh dưỡng cho mẹ. Đồng thời, giúp thực hiện tốt chức năng và bảo vệ quyền làm mẹ, làm vợ của người phụ nữ. Bên cạnh đó, giúp cho tâm lý của người lao động ổn định, đặc biệt là người lao động khi họ có nhu cầu có con, xin con nuôi, giúp họ có thời gian chăm sóc con cái, bảo vệ sức khoẻ của cả mẹ và con, không lo lắng về chi phí sinh con khi không tham gia lao động. Đặc biệt trong thời kỳ thai sản, người lao động bị giảm thu nhập do không có thời gian tập trung nhiều cho công việc mà phải dành thời gian trong thời kỳ khám thai, chăm sóc con sơ sinh… nên nhờ có chế độ thai sản đã hỗ trợ một phần lớn chi phí của lao động trong thời kỳ thai sản.

  • Đối với người sử dụng lao động:

Thực hiện tốt chế độ thai sản sẽ góp phần thu hút lao động nữ vào các doanh nghiệp, mà hiện nay lực lượng nữ tham gia lao động ngày càng lớn, có tay nghề và trình độ ngày càng cao trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Thông qua chính sách này người sử dụng lao động thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với người lao động và đối với toàn xã hội, nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động, đặc biệt là lao động nữ đã và đang ngày càng tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội.

  • Đối với nền kinh tế – xã hội:

Thực hiện tốt chế độ thai sản góp phần ổn định cuộc sống cho xã hội, đảm bảo thực hiện chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Chế độ thai sản còn mang ý nghĩa góp phần tái tạo lực lượng lao động lớn cho nền kinh tế trong tương lai, góp phần dung hoà mối quan hệ người sử dụng lao động và người lao động giúp cho việc sản xuất diễn ra liên tục giúp tăng trưởng kinh tế.

    1. 1.2. Nội dung của chế độ bảo hiểm thai sản

1.2.1. Nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm về mặt xã hội

Để người lao động có thể duy trì và ổn định cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động v.v… ). Đây là nguyên tắc đảm bảo ý nghĩa và tính chất của bảo hiểm. Nó vừa mang giá trị vật chất, vừa mang tính xã hội. Điểm này được thể hiện trước hết là sự bảo đảm bằng vật chất (qua các chế độ BHXH). Mức bảo đảm về vật chất cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới yếu tố tham gia vào BHXH và vì vậy ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp này. Về mặt xã hội, theo nguyên tắc này, BHXH lấy số đông bù số ít, lấy quãng đời lao động thực tế có thu nhập là cơ số để bảo đảm cho quãng đời không tham gia vào lao động (mất sức lao động hay cao tuổi).

  • Bảo hiểm xã hội vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện

Tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ tham gia tối thiểu (thời gian mức đóng bảo hiểm v.v…). Như vậy, Nhà nước đóng vai trò tổ chức, định hướng để người lao động và người sử dụng lao động hiểu được nghĩa vụ và trách nhiệm hợp lý tham gia vào các quan hệ về BHXH. Điều này được thể chế hoá trong Bộ luật Lao động và các văn bản pháp quy khác về BHXH. Tính tự nguyện có ý nghĩa khuyến khích mức tham gia, các loạI hình và chế độ bảo hiểm, mà người lao động có thể tham gia trên cơ sở sự phát triển của hệ thống BHXH của một số nước trong từng giai đoạn nhất định. Nguyên tắc này cho phép BHXH có điều kiện để phát triển và mở rộng hơn.

  • Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ Bảo hiểm xã hội

Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến các khía cạnh có liên quan đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng chế độ BHXH. Mức tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng định kỳ (hàng tháng), mức thời gian tối thiểu để tham gia và được hưởng các chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết kế thường dựa vào tiền lương tối thiểu, tiền lương bình quân, quảng đời lao động v.v… Mặt khác, mức tối thiểu còn phải tính đến giá trị của các chế độ BHXH mà người tham gia được hưởng. Nguyên tắc này liên quan trức tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH, và khuyến khích người lao động và các tầng lớp xã hội tham gia.

  • Bảo hiểm xã hội phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của người lao động

Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ chế thị trường, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có thể xảy ra, thậm trí mang tính thường xuyên. Sự thay đổi nơi làm việc và thay đổi hợp đồng lao động cả vể nội dung đối tác v.v… tạo ra những giai đoạn có thể về thời gian và không gian của quá trình làm việc. Điều này có thể xảy ra trong cả các quan hệ về BHXH. Việc đảm bảo cho người tham gia BHXH có thể duy trì quan hệ một cách liên tục theo thời gian có tham gia và thống nhất về các chế độ sẽ tạo ra sự linh hoạt cần thiết và thuận tiên cho người lao động tham gia vào các quan hệ BHXH tốt hơn, đầy đủ và tích cực hơn. Do vậy, mức tham gia và thời gian thực tế tham gia là căn cứ chủ yếu nhất đẻ duy trì quan hệ BHXH đối với người lao động.

  • Công bằng trong Bảo hiểm xã hội:

Đây là nguyên tắc rất quan trọng song cũng rất phức tạp trong chính sách BHXH. Quan hệ BHXH được thực hiên trong một thời gian dài, cả trong và ngoài quá trình lao động. Trong quá trình đó có thể có sự thay đổi diễn ra. Mức và thời gian tham gia của từng người và mức hưởng lương của họ cũng có thể không giống nhau. Việc theo dõi và ghi nhận các vấn đề này không đơn giản nhất là trong điều kiện một hệ thống BHXH đang còn có những khác biệt về đối tượng thành phần và khu vực tham gia ở nước ta hiện nay. Do vậy đảm bảo công bằng trong BHXH là rất cần thiết nhưng rất khó đảm bảo tính tuyệt đối.

Sự công bằng, trước hết là phải đặt trong trong quan hệ giữa đóng góp và được hưởng. Điều này được thể hiên trong nội dung và điều kiên tham gia trong từng chế độ về BHXH. Xét trên góc độ khác, công bằng còn đặt trong các quan hệ xã hội giữa những người tham gia BHXH trong từng khu vực hay giữa các vùng, địa bàn, ngành nghề khác nhau v.v… dựa trên nguyên tắc tính xã hội của bảo hiểm.

1.2.2. Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

  • Về đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:

Đối tượng của chế độ bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai.

Công ước số 102 – Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, năm 1952 chỉ rõ: “Trường hợp bảo vệ bao gồm thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo, và sự gián đoạn thu nhập nảy sinh như pháp luật của quốc gia quy định” [53]. Đồng thời Công ước cũng quy đinh những người được hưởng chế độ thai sản phải bao gồm: “Mọi phụ nữ thuộc làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ người làm công ăn lương, hoặc mọi phụ nữ được quy định trong dân số hoạt động kinh tế, và tổng số ít nhất chiếm 20 % toàn bộ người thường trú; hoặc bao gồm mọi phụ nữ thuộc những loại làm công ăn lương được quy định, và tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ người làm công ăn lương làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp đang sử dụng 20 người trở lên; trong trường hợp trợ cấp y tế về thai sản thì bao gồm cả vợ của những người thuộc các loại này. [5354]

Theo Công ước số 103 – Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952 quy định thì chế độ thai sản “áp dụng cho những phụ nữ làm việc trong các cơ sở công nghiệp và trong các công việc phi công nghiệp và nông nghiệp, kể cả những phụ nữ làm công ăn lương, làm việc tại nhà” [54]. Và từ “phụ nữ” ở đây là chỉ nữ giới, ở bất kỳ độ tuổi, quốc tịch, chủng tộc, hoặc tín ngưỡng tôn giáo nào, có kết hôn hay không, và từ “con” là chỉ mọi đứa con sinh ra trong hoặc ngoài giá thú [54]. Với mục đích của Công ước là nhằm đảm bảo cho mọi lao động nữ, trẻ sơ sinh đều được chăm sóc cần thiết và được bảo vệ mức sống đủ cho mẹ con trong thời kỳ người mẹ sinh con phải nghỉ việc mà không hề có sự phân biệt đối xử nào về tôn giáo, chủng tộc, nghề nghiệp, độ tuổi…

Và trong Công ước số 156 – Công ước về bình đẳng cơ may và đối xử với lao động nam và lao động nữ: những người có trách nhiệm gia đình, năm 1981 thì đối tượng được bảo vệ không chỉ là lao động nữ mà cả lao động nam và nữ, những người có trách nhiệm trong gia đình, đây được xem là điểm tiến bộ nhất của Công ước này, nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới. [55]

  • Về điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:

Điều kiện hưởng chế độ thai sản yêu cầu hai điều kiện cơ bản đó là: những người đang mang thai hoạc sinh đẻ có tham gia BHXH và phải có thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh. Thời gian này được quy định theo điều kiện của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, thông thường các nước yêu cầu thời gian đóng góp tối thiểu trong khoảng từ 6 tháng đến 12 tháng.

Cụ thể, ở Argentina, điều kiện về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh là 10 tháng liên tục trước khi nghỉ thai sản hoặc đã có 6 tháng trước khi sinh trong đó có 1 tháng làm việc ngay trước khi sinh. Hay ở Đức, thời gian này là 12 tuần tham gia bảo hiểm hoặc có thời gian làm việc liên tục 4 đến 10 tháng trước khi sinh. Tại Pháp là 200 giờ làm việc trong 3 tháng cuối cùng tước khi sinh. Với mục đích là tránh việc người chủ sử dụng lao động chấm dứt HĐLĐ khi người lao động sinh con và tránh thâm hụt quỹ tài chính BHXH.

Sở dĩ, cần quy định cụ thể về điều kiện hưởng chế độ thai sản là NLĐ tham gia BHXH và có thời gian đóng góp tối thiểu trước sinh nhằm đảm bảo về mặt tài chính cho quỹ BHXH khi chi trả các chế độ bảo hiểm thai sản và mặt khác, nhằm ngăn chặn những tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ bảo hiểm xã hội.

  • Về thủ tục hồ sơ hưởng bảo hiểm thai sản:

Phụ nữ thuộc đối tượng được nghỉ thai sản, phải xuất trình một giấy chứng nhận y tế dự tính thời điểm sinh đẻ của mình. Khi lập giấy chứng nhận y tế hoặc các xác nhận thích hợp khác, theo quy định của luật pháp và thực tiễn, phải nêu rõ ngày sinh dự kiến.

Điều 3, Công ước số 103 – Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952 quy đinh: “Phụ nữ thuộc đối tượng được áp dụng Công ước này đều có quyền được nghỉ thai sản, khi xuất trình một giấy chứng nhận y tế dự tính thời điểm sinh đẻ của mình” [54]. Tại Điều 4, Công ước số 183 – Công ước Công ước về sửa đổi Công ước Bảo vệ thai sản (đã sửa đổi) quy định “Khi lập giấy chứng nhận y tế hoặc các xác nhận thích hợp khác, theo quy định của luật pháp và thực tiễn, nêu rõ ngày sinh dự kiến, người phụ nữ thuộc phạm quy áp dụng của Công ước này sẽ được hưởng một thời gian nghỉ thai sản không dưới 14 tuần”. [56]

1.2.3. Chế độ và quyền lợi

1.2.3.1. Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản bao gồm thời gian khi thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo sau sinh.

“Độ dài thời gian nghỉ thai sản ít nhất là 12 tuần, trong đó một phần thời gian bắt buộc phải nghỉ sau khi sinh đẻ” theo Khoản 2 Điều 3, Công ước số 103 – Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952 quy định.

“Độ dài thời gian bắt buộc phải nghỉ sau sinh đẻ sẽ do pháp luật hoặc pháp quy quốc gia quy định, nhưng bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 6 tuần; phần còn lại, tùy theo pháp luật hoặc pháp quy quốc gia quy định, nhưng có thể nghỉ vào trước thời điểm dự tính sinh đẻ, hoặc sau thời điểm đã hết thời gian nghỉ bắt buộc, hoặc là chia ra một phần nghỉ trước thời điểm thứ nhất và một phần nghỉ sau thời điểm thứ hai nói trên”, Khoản 3, Điều 3 Công ước 103 về bảo vệ thai sản năm 1952 quy định. Thông thường, các nước sẽ quy định cả thời gian nghỉ cả trước khi sinh và sau khi sinh để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và trẻ sơ sinh được ổn định.

Hay theo Công ước số 183 – Công ước Công ước về sửa đổi Công ước Bảo vệ thai sản (đã sửa đổi) quy định “Để bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh, thời gian nghỉ thai sản bao gồm 6 tuần nghỉ bắt buộc sau sinh” và “Thời gian nghỉ mang thai được nới rộng bằng thời gian giữa ngày sinh dự kiến và ngày sinh thức tế mà không bị giảm thời gian nghỉ bắt buộc sau sinh”. [56]

Và theo Khuyến nghị 191 – Khuyến nghị về Sửa đổi Khuyến nghị Bảo vệ thai sản năm 1952 “Các Nước thành viên cần cố gắng tăng thời gian nghỉ thai sản theo Điều 3 của Công ước 103 lên ít nhất là 18 tuần. Cần có quy định kéo dài thời gian nghỉ thai sản trong trường hợp đa sinh. Cần có các biện pháp đảm bảo rằng người phụ nữ có quyền tự do chọn lựa thời gian nghỉ thai sản trước hoặc sau khi sinh nở”. [57]

Cụ thể, mỗi quốc gia quy định về thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản khác nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội, đặc điểm lao động… Pháp luật Đức quy định thời gian nghỉ thai sản tổng cộng 14 tuần bắt đầu trước khi sinh con sinh 6 tuần và kết thúc sau khi sinh 8 tuần, nếu đa thai thời gian nghỉ có thể kéo dài 12 tuần; trong khoảng thời gian này sản phụ bắt buộc phải nghỉ ở nhà, thời gian nghỉ dài nhất có thể khi con đủ 3 tuổi, trong đó có một năm là nghỉ phép có lương.

Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

Theo quy định pháp luật hiện hành của Anh sản phụ có thể nghỉ 26 tuần (làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian), sản phụ có thể nghỉ trước ngày dự sinh 11 tuần. Nếu người mẹ không nghỉ hết thời gian thai sản đã đi làm lại thì người cha có thể tiếp tục nghỉ. Người cha có thể nghỉ phép 2 tuần: hưởng lương cơ bản trong tuần đầu và nhận trợ cấp chính phủ trong tuần thứ hai. Tuy nhiên, người cha bắt buộc phải nghỉ phép trong thời gian từ khi đứa trẻ sinh đến 56 ngày, quá hạn sẽ không còn hiệu lực.

Các bà mẹ ở Pháp có lẽ là những người được hưởng chế độ thai sản ưu đãi nhất nhì thế giới. Khi sinh nở, phụ nữ Pháp được hưởng 16 tuần nghỉ thai sản hưởng nguyên lương cho hai con đầu và lên đến 26 tuần cho con thứ ba trở đi. Thêm vào đó, người mẹ còn được nghỉ phép và bảo lưu việc làm cùng thu nhập đến 3 năm để ở nhà chăm sóc con, được nhận trợ cấp chăm sóc trẻ và các trợ cấp khác khá hào phóng. Tất cả những chính sách tuyệt vời này nhằm thúc đẩy tỷ lệ sinh của Pháp – vốn đang trên đà xuống dốc chung của các nước Châu Âu.

Ngoài ra, nếu sinh đẻ sau thời điểm đã dự tính, thì trong mọi trường hợp, thời gian đã nghỉ trước đó sẽ được kéo dài cho tới thời điểm sinh đẻ thực tế và độ dài thời gian bắt buộc phải nghỉ sau khi sinh đẻ sẽ không được vì thế mà giảm bớt, đảm bảo đủ thời gian đủ thời gian nghỉ sau sinh bắt buộc ít nhất là 6 tuần. Sở dĩ, các Công ước đều quy định thời gian nghỉ bắt buộc sau sinh ít nhất là 6 tuần, vì đây là thời gian tối thiểu đảm bảo khả năng phục hồi sức khỏe cho mẹ và cả trẻ sơ sinh.

Ngoài ra Khuyến nghị 191 – Khuyến nghị về Sửa đổi Khuyến nghị Bảo vệ thai sản năm 1952 cũng quy định thêm về trường hợp hưởng chế độ của người cha như sau: “Trong trường hợp người mẹ tử vong trước khi hết thời gian nghỉ sau sinh thì người cha đang làm việc phải được quyền nghỉ với thời gian tương đương với thời gian mà người mẹ chưa nghỉ hết; trong trường hợp người mẹ ốm đau hoặc nằm viện sau khi sinh và trước khi hết thời gian nghỉ sau khi sinh mà người mẹ không thể chăm sóc được trẻ thì người cha phải được quyền nghỉ một thời gian tương đương với thời gian nghỉ sau sinh mà người mẹ chưa nghỉ hết để chăm sóc trẻ theo luật định và thông lệ ở nước đó; người mẹ hay người cha của trẻ phải có quyền nghỉ chăm sóc con sau khi hết thời gian nghỉ thai sản”. [57]

Thực tế, các quốc gia trên thế giới đã có những quy định khác nhau và linh hoạt về thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản của người cha. Cụ thể, Iceland – một trong những quốc gia có chế độ ưu đãi tuyệt vời nhất dành cho các bà mẹ. Chế độ nghỉ thai sản đã có ở quốc gia này đã có từ những năm 1970, và năm 2012 một chính sách mới mang tên 5-2-5 đã được ra đời. Chính sách này cho phép các bà mẹ và ông bố mỗi người được nghỉ 5 tháng khi có con. Thêm 2 tháng nghỉ nữa hai người có thể tự thỏa thuận phân chia với nhau. Ngoài ra, các vị phụ huynh cũng có đến 2 năm để sử dụng thời gian nghỉ này và được hưởng 80% thu nhập trong thời gian đó. Hay ở Đan Mạch, mỗi cặp vợ chồng ở đây khi sinh con sẽ được nghỉ tổng cộng 1 năm, trong đó, thời gian nghỉ của các bà mẹ là 18 tuần, các ông bố là 2 tuần, và 32 tuần còn lại sẽ được chia cho cả bố và mẹ. Ở Singapore, từ năm 2013 người chồng có thể nghỉ một tuần có lương để giúp đỡ người vợ mới sinh. Trường hợp người vợ sẵn sàng chia sẻ một tuần trong 4 tháng nghỉ thai sản của mình cho chồng thì người chồng có thể hưởng thêm một tuần nghỉ nữa. Lương trong 2 tuần nghỉ phép này của người chồng sẽ do Chính phủ chi trả. Số tiền cao nhất mỗi tuần là khoảng 38 triệu VND.

Ngoài ra trong thời gian nuôi con nhỏ, phụ nữ có quyền nghỉ một hoặc một số lần hay giảm thời gian làm việc để cho con bú. Thời gian nghỉ, số lần nghỉ hoặc giảm giờ làm việc được quy định cụ thể tùy theo mỗi quốc gia. Nhưng thời gian này tính vào thời gian làm việc và do đó, người lao động nữ vẫn được tính lương đầy đủ. Khuyến nghị số 191 còn quy định các hình thức nghỉ liên quan như sau: trường hợp người mẹ tử vong trước khi hết thời gian nghỉ sau khi sinh thì người cha đang làm việc phải được qyền nghỉ một thời gian tương đương với thời gian nghỉ sau sinh mà người mẹ chưa nghỉ hết để chăm sóc trẻ sau khi sinh của quy luật hiện hành.

1.2.3.2. Mức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Trợ cấp chế độ thai sản có hai phương thức thực hiện là trợ cấp bằng tiền và chăm sóc y tế:

  • Đối với chăm sóc y tế:

Đối với trường hợp thai nghén, sinh đẻ và các hậu quả của sự kiện này (nếu có), người lao động nữ sẽ được hưởng trợ cấp y tế về thai sản, trợ giúp về y tế bao gồm sự chăm sóc trước khi đẻ, trong khi đẻ và sau khi đẻ, do một người đỡ đẻ có bằng cấp hoặc một thầy thuốc phụ trách và cả việc nằm viện nếu cần thiết, các dịch vụ hỗ tợ y, dược, khám thử, chăm sóc răng, kể cả giải phẫu và nằm viện khi cần thiết.

Công ước số 102 – Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội đã quy định rõ “Chăm sóc y tế phải nhằm bảo toàn, phục hồi hoặc cải thiện sức khỏe của người phụ nữ được bảo vệ, và cả khả năng làm việc, khả năng ứng phó với nhu cầu cá nhân của họ. Các cơ quan chính phủ hoặc thể chế quản lý trợ cấp y tế về thai sản phải khuyến khích những người phụ nữ được bảo vệ, bằng mọi cách được coi là thích đáng, để họ sử dụng các dịch vụ y tế chung của cơ quan hoặc của cơ quan được thừa nhận, dành cho họ”. [53]

Ngoài ra Công ước số 103 – Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952 quy định cụ thể về các trường hợp được chăm sóc y tế tại Khoản 3 Điều 4 là “Trợ giúp về y tế bao gồm sự chăm sóc trước khi đẻ, trong khi đẻ và sau khi đẻ, do một người đỡ đẻ có bằng cấp hoặc một thầy thuốc phụ trách và cả việc nằm viện nếu cần thiết”. [54]

Khuyến nghị 191 – Khuyến nghị về Sửa đổi Khuyến nghị Bảo vệ thai sản năm 1952 quy định cụ thể hơn về chế độ y tế nên bao gồm: “khám tại phòng khám, tại nhà hoặc tại bệnh viện hoặc cơ quan y tế khác do chuyên gia hoặc chuyên viên đa khoa; chăm sóc thai sản do một bác sỹ sản khoa đủ trình độ hoặc các dịch vụ chăm sóc thai sản tại nhà, bệnh viện hay các cơ quan y tế khác; duy trì chế độ thai sản tại bệnh viện và các sở y tế; bất kỳ dịch vụ hỗ trợ y, dược, khám, thử do bác sỹ hoặc chuyên gia y tế có trình độ kê đơn; chăm sóc răng và giải phẫu”. [57]

Ngoài ra, Công ước số 103 – Công ước về bảo vệ thai sản, xét lại năm 1952 cũng quy định “quyền tự do lựa chọn thầy thuốc và tự do lựa chọn bệnh viện công hay tư sẽ được tôn trọng” [54]. Tuy nhiên, các quốc gia đều khuyến khích lao động nữ sử dụng các dịch vụ y tế chung của cơ quan và dịch vụ y tế công cộng. Đặc biệt ở một số nước có thực hiện cả trợ cấp chi phí đi lại, dịch vụ chăm sóc tại nhà.

Ở Việt Nam, lao động nữ cũng có quyền được trợ giúp y tế thông qua hệ thống bảo hiểm y tế nhưng hoạt động của Bảo hiểm y tế chưa hoàn toàn cho người lao động thực hiện quyền của họ một cách triệt để. Nên chăng, ở Việt nam cũng cần xúc tiến xem xét quy định về vấn đề này trong Luật bảo hiểm xã hội để tạo ra tính cạnh tranh trong ngành y tế nhằm phục vụ tốt hơn cho các lao động nữ, điều đó cũng có nghĩa là tốt cho các gia đình và an toàn xã hội nói chung.

  • Đối với trợ cấp thai sản bằng tiền:

Trong trường hợp gián đoạn thu nhập do thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo, lao động nữ sẽ được trợ cấp bằng tiền theo định kỳ. Mức trợ cấp phải đảm bảo nuôi sống chính mình và con mình trong điều kiện sức khỏe đảm bảo và mức sống phù hợp.

Công ước số 103 về bảo vệ thai sản (xét lại) năm 1952 quy định, mức trợ cấp bằng tiền sẽ do pháp luật hoặc pháp quy quốc gia ấn định, sao cho có thể bảo đảm đầy đủ việc nuôi dưỡng cả người mẹ và đứa con trong những điều kiện vệ sinh tốt và ở một mức sống thỏa đáng. [54]

Theo Công ước số 102 – Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, tỷ lệ trợ cấp thai sản tối thiểu là 45%, nhưng Công ước 183 mở rộng quy định mức trợ cấp không được thấp hơn 2/3 thu nhập trước đó của người lao động nữ. Bổ sung cho Công ước 183, Khuyến nghị 191 yêu cầu nâng mức trợ cấp lên bằng mức lương trước đó của họ. Mức chi trả định kỳ có thể thay đổi trong thời gian hưởng trợ cấp. [53], [56], [57]

Mức hưởng trợ cấp thai sản của các nước rất khác nhau, thông thường mức trợ cấp thai sản là 100% lương và thời gian trợ cấp thường là 6 tuần trước khi sinh và 6 – 8 tuần sau khi sinh. Ngoài trợ cấp kể trên thì mỗi lần sinh con người mẹ còn được cấp nuôi con với mức từ 20 đến 25% mức trợ cấp thai sản trong thời gian từ 6 tháng trở lên. Cũng có một số nước thực hiện hỗ trợ tiền sắm tả lót và trợ cấp thai sản một lần. Thực tế, các quốc gia trên thế giới vận dụng vấn đề này rất linh hoạt. Cụ thể:

Pháp luật Nga, quy định mức trợ cấp bằng 100% thu nhập trong thời gian từ 10 – 12 tuần trước khi sinh và 10 – 16 tuần sau khi sinh. Những người nghỉ việc để trông con dưới 18 tháng tuổi được nhận mức trợ cấp hàng tháng bằng 200% mức lương tối thiểu. Pháp luật Trung Quốc, quy định mức trợ cấp bằng 100% thu nhập trong thời gian 90 ngày (chi phí này do chủ sử dụng lao động chịu trách nhiệm). Những trường hợp nào, phá thai được nhận trợ cấp trong vòng 42 ngày với mức trợ cấp bằng 100% thu nhập. Và ở Nhật Bản, mức trợ cấp bằng 60% mức lương bình quân 42 ngày trước khi sinh (98 ngày trong những trường hợp đa thai) và 56 ngày sau khi sinh.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\KINH TE\TAN NGOC LAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *