Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật

Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

1. Tính cấp thiết của đề tài

Từ xưa tới nay, HNGĐ luôn là một đối tượng được các nhà triết học, xã hội học, tâm lý học, luật học tìm hiểu và nghiên cứu. Hôn nhân là nền tảng, là cơ sở chủ yếu để hình thành nên gia đình. Quan hệ HNGĐ là tổng thể gắn bó của nhiều mối quan hệ. Sự gắn bó đó không chỉ thể hiện ở các quan hệ nhân thân mà còn được thể hiện thông qua các quan hệ về tài sản. Trong chế độ tài sản của vợ chồng, TNLĐ của vợ chồng là một nội dung đáng lưu ý và phản ánh được tính đặc thù của mối quan hệ này.

Luật HNGĐ 2014 quy định về TNLĐ của vợ chồng đã mở rộng và hoàn thiện hơn so với Luật HNGĐ trước đó. Tuy nhiên, một số quy định của Luật HNGĐ 2014 chưa rõ ràng, gây nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng. Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học là hết sức cần thiết và có tính thời sự, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi ngành Tòa án đang thụ lý giải quyết các vụ án ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này, tác giả muốn làm sáng tỏ những quy định pháp luật và chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật để giải quyết những vụ án dân sự nói chung, án HNGĐ nói riêng về xác định TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng. Từ đó đề xuất một số giải pháp thống nhất hoạt động xét xử tại Tòa án, góp phần hoàn thiện những quy định pháp luật về TNLĐ của vợ chồng.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên đề tài có các nhiệm vụ sau: Làm sáng tỏ các quy định pháp luật về TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng; Phân tích, đánh giá về thực trạng áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng; Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm góp phần nào hạn chế những bất cập liên quan đến TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng, việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn và giải pháp hoàn thiện cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề này.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu: Các quy định của BLDS 2005, BLDS 2015, Luật HNGĐ 2000 và Luật HNGĐ 2014 về TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng. Phân tích những bất cập, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hạn chế sự thiếu thống nhất trong thực tiễn xét xử tại Tòa án.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Để hoàn thành tốt luận văn tác giả đã chọn các phương pháp: Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp liệt kê và phương pháp tổng hợp.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Mỗi phương pháp nghiên cứu đem lại những hiệu quả nhất định trong việc làm rõ đối tượng nghiên cứu, xác định mục đích của luận văn, thông qua đó truyền tải được những nội dung mà người viết hướng đến.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn sẽ góp phần cung cấp cái nhìn sâu và thực tế đối với TNLĐ của vợ chồng trong lĩnh vực hôn nhân gia đình. Thông qua việc thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn được đóng góp một phần công sức vào việc nghiên cứu hoàn thiện chế độ TNLĐ của vợ chồng trong quá trình giao lưu dân sự.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn này có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đặc biệt các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, Luật sư nghiên cứu, áp dụng thực tiễn trong việc giải quyết các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng để học tập nghiên cứu.

  1. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm ba chương.

Chương 1. Khái quát chung về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự củavợ chồng

Chương 2. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Chương 3. Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦAVỢ CHỒNG

    1. Khái niệm trách nhiệm liên đới

Theo khoản 1 Điều 288 BLDS 2015 thì nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. BLDS 2015 không có điều khoản quy định trực tiếp về trách nhiệm dân sự liên đới, tuy nhiên từ việc tìm hiểu về trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ ở trên có thể khái quát về khái niệm là trách nhiệm dân sự liên đới. Đó là loại trách nhiệm của nhiều người có nghĩa vụ liên đới phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ liên đới.

1.2. Khái niệm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc người có nghĩa vụ dân sự phải làm hoặc không được làm một công việc theo một thời hạn nhất định đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ dân sự, qua đó thỏa mãn quyền dân sự tương ứng của bên kia.

1.3. Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

1.3.1. Khái niệm

Điều 27 quy định về TNLĐ của vợ chồng cũng có những sửa đổi mang tính chất đột phá, có thể khái quát khái niệm như sau: Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng là quy định của pháp luật về việc vợ, chồng phải cùng nhau gánh chịu hậu quả pháp lý phát sinh từ các quy định về dại diện giữa vợ chồng và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng.

1.3.2. Các loại trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Tùy thuộc vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ mà TNLĐ giữa vợ và chồng được phân thành hai loại như sau: Trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1.3.3. Cơ sở trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

  • Về nền tảng hôn nhân
  • Hình thức sở hữu của vợ chồng
  • Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản
  • Mục đích của hôn nhân

1.3.4. Các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

– Theo thỏa thuận của vợ chồng: Bên còn lại tự nguyện chịu trách nhiệm chung đối với nghĩa vụ tài sản riêng của một bên; Giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập; Giao dịch do một bên là đại diện của bên còn lại thực hiện (trường hợp tài sản chung được đưa vào kinh doanh); Đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng.

– Theo quy định của pháp luật: Các trường hợp BTTH mà pháp luật quy định vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm; BTTH do con chưa thành niên gây ra; Đại diện đương nhiên giữa vợ chồng; Giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; Thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung; Sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; Các nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

1.3.5. Nguyên tắc thực hiện trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Khối tài sản chung được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng, trường hợp tài sản chung không đủ để thực hiện hết trách nhiệm thì các khối tài sản riêng được sử dụng để thanh toán phần nghĩa vụ còn lại. Do trách nhiệm của vợ chồng là trách nhiệm liên đới nên căn cứ vào quy định tại Điều 288 BLDS 2015, bên thứ ba có quyền yêu cầu vợ hoặc chồng thanh toán toàn bộ phần nghĩa vụ còn lại, xuất phát từ nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong hôn nhân, phần nghĩa vụ nên được xác định mỗi bên chịu một nửa, tuy nhiên trường hợp một bên vợ/chồng không có tài sản hoặc tài sản không đủ để thực hiện trách nhiệm thì người còn lại phải thanh toán phần thiếu đó.

1.3.6. Ý nghĩa của trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng

Việc xây dựng chế định này không chỉ đáp ứng nhu cầu trong thực tế cuộc sống của người dân mà còn góp phần hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình theo hướng hiện đại, công bằng, văn minh.

Bảo vệ giá trị của hôn nhân hợp pháp, sự tồn tại của gia đình, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên vợ, chồng còn lại trong trường hợp chỉ một bên vợ/chồng tham gia xác lập, thực hiện nghĩa vụ liên đới vì nhu cầu của gia đình. Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình, duy trì trật tự và sự ổn định trong giao lưu dân sự.

1.4. Sự phát triển của pháp luật Việt nam về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng.

1.4.1. Luật cổ và tục lệ

Nhìn chung những quy định về TNLĐ giữa vợ và chồng dưới thời kỳ này có thể chia làm hai giai đoạn:

Từ năm 179 TCN đến triều đại nhà Hậu Lê (năm 1428): Chưa thể có sự xuất hiện của khái niệm TNLĐ giữa vợ và chồng.

Từ triều đại nhà Lê (năm 1428) đến thời kỳ Pháp thuộc (năm 1858). Bộ luật Hồng Đức đã có những quy định bước đầu về quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng, đồng thời chế định TNLĐ giữa vợ và chồng đã manh nha xuất hiện trong giai đoạn này.

Đến triều Nguyễn, nhà Nguyễn đã ban hành bộ “Hoàng Việt Luật Lệ” vào năm 1815 thường được gọi là “Bộ luật Gia Long”. Người vợ không có quyền định đoạt đối với tài sản chung của vợ chồng, đây là một bước lùi của pháp luật HNGĐ trong thời kỳ đó, chế định TNLĐ của vợ chồng manh nha xuất hiện trong giai đoạn trước đã bị triệt tiêu.

1.4.2. Luật cận đại (từ năm 1858 đến trước Cách mạng tháng 8/1945)

Các quy định về TNLĐ vẫn có, tuy nhiên rất ít và còn sơ sài.

1.4.3. Luật hiện đại (Từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến nay)

1.4.3.1. Từ tháng 8/1945 đến năm 1954

Trong giai đoạn này, chế định TNLĐ của vợ chồng đã có đủ điều kiện để phát triển, tuy nhiên do đặc điểm lịch sử giai đoạn này nên vẫn chỉ nằm trong các quy định về quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng một các chung chung mà chưa được quy định cụ thể.

1.4.3.2. Từ năm 1945 đến năm 1986

Chế độ tài sản của vợ chồng ở Miền Nam dưới thời kỳ Mỹ – Ngụy tạm chiếm (1954 – 1975)

– Luật Gia đình ngày 02/01/1959 quy định cụ thể tài sản chung của vợ chồng phải gánh chịu: Nợ của vợ hay chồng đã vay từ trước khi kết hôn; Những nợ của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và những nợ do hành vi trái pháp luật của vợ hay chồng gây ra.

– Sắc lệnh 15/64 và Bộ Dân luật 1972 quy định người chồng có quyền quản lý tài sản chung như chủ sở hữu duy nhất. Đồng thời, người chồng có quyền quản lý tài sản riêng của người vợ trong khi họ toàn quyền sở hữu tài sản riêng của mình. Tuy nhiên, đối với việc định đoạt đối với bất động sản dù là tài sản chung hay riêng đều phải có sự ưng thuận của cả hai vợ chồng.

– Luật HN&GĐ 1959 ở Miền Bắc quy định về quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng còn quá cô đọng, khái quát, chưa xác định nguyên tắc giải quyết trong trường hợp nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng không được thực hiện.

        1. Từ năm 1986 đến năm 2000

Cũng tương tự Luật HNGĐ 1959, Luật HNGĐ 1986 cũng chưa xác định nguyên tắc xác định trách nhiêm của vợ và chồng trong trường hợp giao dịch dân sự do một bên vợ, chồng xác lập, thực hiện.

        1. Từ năm 2000 đến trước năm 2014

Luật HNGĐ 2000 đã thiết lập một nguyên tắc hoàn toàn mới nhằm xác định việc thực hiện nghĩa vụ chung của vợ và chồng đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ, chồng thực hiện phục vụ nhu cầu của gia đình. Tuy nhiên, TNLĐ của vợ chồng chỉ được quy định tại một điều luật duy nhất là Điều 25 và chỉ giới hạn đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ/chồng thực hiện khiến việc xác định nó gặp khó khăn và còn nhiều thiếu sót, chưa bao quát được những tình huống phong phú xảy ra trong thực tế.

1.5. Pháp luật về trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình của một số quốc gia trên thế giới

1.5.1. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Pháp

BLDS Pháp cũng ghi nhận TNLĐ của vợ chồng đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra. Điều 1384 BLDS quy định: “cha và mẹ, với tư cách là người thực thi quyền trông giữ con, phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do con chưa thành niên sống với họ gây ra”. Khi con chưa thành niên gây ra thiệt hại, vợ chồng – với tư cách là cha mẹ có TNLĐ thực hiện nghĩa vụ BTTH. Quy định này có đưa ra một điều kiện để quy TNLĐ của vợ chồng là con “sống cùng với họ”.

1.5.2. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Đức

TNLĐ của vợ chồng theo pháp luật HNGĐ Đức được đặt ra đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hành vi gây thiệt hại của một bên vợ, chồng; nghĩa vụ phát sinh từ tài sản riêng hoặc tài sản dự trữ của mỗi bên và chi phí tố tụng phát sinh từ các nghĩa vụ này. Việc thực hiện TNLĐ sẽ được thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng.

1.5.3. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Nhật Bản

BLDS Nhật Bản ghi nhận khi chồng hoặc vợ thực hiện các giao kết pháp lý với người thứ ba nhằm đáp ứng các vấn đề chi tiêu hàng ngày, thì TNLĐ sẽ phát sinh. Vợ chồng phải cùng nhau thực hiện nghĩa vụ từ việc giao kết và chịu TNLĐ theo phần.

1.5.4. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Thái Lan

Một điểm đáng lưu ý về TNLĐ của vợ chồng theo pháp luật HNGĐ Thái Lan là: Vợ chồng phải chịu TNLĐ đối với những giao dịch mà chỉ vợ hoặc chồng thực hiện để đáp ứng lợi ích riêng nhưng đã được bên còn lại chấp nhận.

1.5.5. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Campuchia

BLDS Campuchia quy định chồng và vợ có TNLĐ đối với các khoản nợ là chi phí cần thiết nhằm duy trì đời sống chung của vợ chồng và các chi phí giám hộ như giáo dục con cái, y tế; chi phí cho việc quản lý và bảo trì tài sản chung.

Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình
Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG

2.1. Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

2.1.1 Nghĩa vụ liên đới của vợ, chồng phát sinh từ các giao dịch hợp pháp

Giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình được thực hiện trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật trao cho mỗi chủ thể với tư cách là vợ, chồng trong suốt thời gian hôn nhân tồn tại. Hầu hết đối với các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình mang tính hợp pháp không xét đến nó trực tiếp hay gián tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Các giao dịch này đều làm phát sinh TNLĐ giữa vợ và chồng đối với bên thứ ba.

2.1.2. Nghĩa vụ của vợ, chồng phát sinh từ các giao dịch không hợp pháp

Để phân định trách nhiệm của vợ chồng đối với giao dịch không hợp pháp nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình là một vấn đề khá phức tạp. Căn cứ vào pháp luật dân sự và pháp luật HNGĐ có thể phân định thành những trường hợp sau:

Thứ nhất, đối với giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình không đảm bảo điều kiện về chủ thể có năng lực hành vi (Điều 125 BLDS 2015).

Thứ hai, đối với giao dịch nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình không hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng không có năng lực pháp luật, ví dụ vợ đại diện chồng thực hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện thì có thể dựa trên quy định khoản 1 Điều 143 BLDS 2015.

Thứ ba, đối với giao dịch nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình, chủ thể có đầy đủ năng lực chủ thể (bao gồm năng lực hành vi và năng lực pháp luật) nhưng không hợp pháp do vi phạm sự tự nguyện (lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo Điều 127 BLDS 2015) hoặc nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2.2. Trách nhiệm liên đới THNVDS của vợ chồng đối với giao dịch được xác lập trên cơ sở đại diện

Theo khoản 1 Điều 134 BLDS 2015 quy định, “đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập và thực hiện giao dịch dân sự”. “Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, đại diện được chia làm hai loại: đại diện được hình thành theo quy định của pháp luật bao gồm cả quyết định của cơ quan nhà nước có thầm quyền (đại diện theo pháp luật); và đại diện được hình thành theo ủy quyền giữa các bên dưới dạng hành vi pháp lý (đại diện theo ủy quyền)”.

2.2.1. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch được xác lập trên cơ sở đại diện theo pháp luật

Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định (Điều 140 BLDS 2005). Các trường hợp đại diện theo pháp luật được quy định tại Điều 136 và Điều 137 BLDS năm 2015. Những người này có tên gọi khác là đại diện đương nhiên.

2.2.2. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch được xác lập trên cơ sở đại diện theo ủy quyền

TNLĐ của vợ chồng phát sinh khi vợ, chồng ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng (khoản 2 Điều 24 Luật HNGĐ 2014).

Khi xác lập một giao dịch do vợ, chồng mình ủy quyền, bên trực tiếp tham gia giao dịch phải xem xét giao dịch đó có cần thiết hay không, lợi ích thu được, tránh trường hợp xác lập một cách tùy tiện, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên vợ, chồng còn lại.

2.3. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập

Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 và khoản 1 Điều 37 Luật HNGĐ năm 2014, giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập là một trường hợp làm phát sinh trách nhiệm liên đới. Việc ghi nhận trách nhiệm liên đới trong trường hợp này phù hợp với nguyên tắc “cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” (khoản 2 Điều 3 BLDS 2015) của pháp luật dân sự. Ở đây, chỉ cần vợ và chồng cùng thỏa thuận xác lập giao dịch thì TNLĐ phát sinh và chúng ta không quan tâm tới mục đích của việc xác lập giao dịch, cũng như không cần quan tâm tới việc hai bên có thỏa thuận chịu TNLĐ hay không.

2.4. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

Theo quy định của LHNGĐ năm 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Về nguyên tắc, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung cần sự thống nhất chí của cả hai vợ chồng, trừ trường hợp đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Hơn nữa, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với khối tài sản này (khoản 2 Điều 210 BLDS 2015).

2.5. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng về tài sản đối với nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng vì lợi ích chung

Luật HNGĐ năm 2014 xác định các tài sản sau là tài sản riêng của vợ, chồng: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Trong quá trình sử dụng, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sẽ được xem là tài sản chung của vợ chồng. Trên tinh thần đó, tại khoản 2 Điều 27 và khoản 4 Điều 37 Luật HNGĐ 2014 đã quy định vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.

2.6. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Việc xác định TNLĐ bồi thường thiệt hại của vợ chồng dựa trên các cơ sở: Có hành vi trái pháp luật; Có thiệt hại xảy ra trên thực tế; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại.

TNLĐ của vợ chồng đối với BTTH ngoài hợp đồng có các trường hợp sau:

2.6.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con gây ra

Theo khoản 2 Điều 27 và khoản 5 Điều 37 Luật HNGĐ 2014 quy định vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ BTTH do con gây ra mà theo quy định cua BLDS thì cha mẹ phải bồi thường.

2.6.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản chung của vợ chồng gây ra

Trong thực tế đời sống, bên cạnh hành vi trái pháp luật, tài sản cũng là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho các chủ thể xung quanh. Do đó, pháp luật dân sự đã đặt ra trách nhiệm BTTH của chủ sở hữu khi tài sản của họ gây ra thiệt hại. Trên cơ sở đó, LHNGĐ năm 2014 đã quy định, vợ chồng chịu TNLĐ đối với nghĩa vụ BTTH do tài sản chung gây mà theo quy định của BLDS phải bồi thường. Trách nhiệm BTTH của vợ chồng do tài sản chung gây ra được khái quát thành các trường hợp cụ thể: BTTH trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng là nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; BTTH do súc vật thuộc tài sản của vợ, chồng gây ra; BTTH do cây cối là tài sản của vợ chồng gây ra; BTTH do tài sản là nhà cửa, công trình xây dựng khác của vợ chồng gây ra.

Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình
Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình

CHƯƠNG 3

THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG

3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật

3.1.1. Trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng đối với giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

Vợ, chồng có quyền tự chủ trong việc xác lập các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, làm phát sinh nghĩa vụ của vợ, chồng đối với người thứ ba. Xuất phát từ quan hệ hôn nhân nên nghĩa vụ đối với các giao dịch này thường được hiểu là nghĩa vụ liên đới. Trong thực tiễn giải quyết ngành Tòa án, các vụ án liên quan đến các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình lại rất phức tạp, có những giao dịch hợp pháp và có những giao dịch không hợp pháp (không phù hợp quy định của pháp luật). Chính vì vậy, nghĩa vụ của vợ chồng phát sinh từ hai loại giao dịch này cũng khác nhau.

3.1.1.1. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng phát sinh từ các giao dịch hợp pháp

Để làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật về nghĩa vụ liên đới của vợ chồng đối với giao dịch hợp pháp nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, tác giả sẽ phân tích và bình luận một số bản án:

Bản án thứ nhất, tranh chấp đòi tài sản và buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự giữa nguyên đơn ông Hiến và bị đơn ông Thiện. Mặc dù giao dịch này do ông Thiện trực tiếp xác lập, bà Tâm không giao dịch này và số tiền thu hoạch từ việc trồng lúa chỉ đủ chi trả nợ riêng của ông Thiện, không dùng phục vụ gia đình. Tuy nhiên bà Tâm biết ông Thiện có thuê đất để trồng lúa, giống lúa ngâm tại nhà nên Tòa án đã áp dụng Điều 25 Luật HNGĐ 2000 buộc bà Tâm phải chịu TNLĐ đối với giao dịch dân sự hợp pháp do ông Thiện thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.

Bản án thứ hai, tranh chấp về hôn nhân gia đình giữa nguyên đơn chị Linh và bị đơn anh Sớm. Quyết định giám đốc thẩm cho rằng khoản nợ trên phát sinh trong thời gian anh chị đã sống ly thân, độc lập về cuộc sống và kinh tế, mặt khác, đây là số tiền lớn, chị Linh cũng không chứng minh được cụ thể về việc đã sử dụng tiền vay như thế nào, bao nhiêu …. buộc chị Linh có trách nhiệm trả nợ toàn bộ cho anh Phương. Qua bản án này, chúng ta thấy giữa lý thuyết và thực tiễn có sự khác biệt.

Thực tiễn xét xử cho thấy có những vụ kiện tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng bất động sản, động sản mà theo quy định phải đăng ký quyền sở hữu nhưng lại không có sự thỏa thuận của vợ chồng, Tòa án vẫn công nhận hợp đồng chuyển nhượng đó hợp pháp.

Trường hợp người không tham gia giao dịch có biết và phải biết việc tham gia giao dịch của phía bên kia, chúng ta đã có án lệ số 04/2016/ AL, nguồn án lệ là Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày 03-3-2010 của HĐTP TAND tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Tý, ông Tiến với bị đơn là ông Ngự. Như vậy, bà Phấn không tham gia giao dịch nhưng có biết và phải biết việc tham gia giao dịch của chồng nên mặc nhiên có thể hiểu là đã “đồng ý” và“không phản đối trong một thời hạn hợp lý”, hay nói cách khác người đó hoàn toàn thống nhất ý chí đối với giao dịch được xác lập thì đương nhiên sẽ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới đối với toàn bộ giao dịch.

3.1.1.2. Trách nhiệm của vợ chồng đối với các giao dịch không hợp pháp

Để làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật về TNLĐ của vợ chồng đối với các giao dịch không hợp pháp nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, luận văn sẽ phân tích và bình luận 02 bản án dưới đây.

Bản án thứ nhất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Dung và ông Khương.

Bản án thứ hai, tranh chấp về tài sản chung sau khi ly hôn giữa nguyên đơn chị Ánh và bị đơn anh Chiến.

Qua phân tích của hai bản án trên, ta thấy TNLĐ giữa vợ và chồng trong các giao dịch không hợp pháp nhưng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình có phát sinh hay không phụ thuộc rất nhiều vào các mối quan hệ pháp luật có liên quan khi xem xét vụ việc cụ thể. Bản thân việc xác định trách nhiệm liên đới trong các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình đã không hề đơn giản cộng thêm việc xem xét tính hợp pháp của giao dịch lại khiến cho các nghĩa vụ phát sinh trở nên phức tạp hơn bao giờ hết, đặc biệt mối quan hệ giữa giao dịch không hợp pháp và trách nhiệm liên đới luôn chỉ mang tính tương đối, việc giải quyết có thỏa đáng về quyền lợi của đương sự hay không tùy thuộc rất nhiều vào sự công minh của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.

3.1.2. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

3.1.2.1. Trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của con gây ra

Bản án hình sự giám đốc thẩm số 34/2011/GĐT ngày 01/12/2011 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ đưa một mình ông Lực vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không đưa bà Ngọ (mẹ của bị cáo Cường) tham gia tố tụng và không buộc ông Lực, bà Ngọ có trách nhiệm liên đới bồi thường cho những người bị hại làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người bị hại. Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không phát hiện ra sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là không đúng với quy định của pháp luật”.

3.1.2.2. Trách nhiệm BTTH do tài sản chung của vợ chồng gây ra

BTTH do súc vật thuộc tài sản chung của vợ, chồng gây ra thể hiện qua bản án số 52/2010/DSST ngày 30/6/2010 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc tỉnh Long An. Hội đồng xét xử đã quyết định: Vợ chồng ông Tấn và bà Lùn có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Trình.

BTTH do cây cối là tài sản chung của vợ chồng gây ra. Phân tích qua bản án số 09/2012/HSST ngày 27/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Tòa án đã buộc ông Liêm và bà Loan liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của người bị hại.

BTTH do tài sản chung là nhà cửa, công trình xây dựng khác của vợ chồng gây ra. Luận văn phân tích thông qua Bản án về yêu cầu BTTH ngoài hợp đồng của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Căn nhà số 115/46 LL, phường X, TPVT là tài sản chung của vợ chồng ông Xong và bà Mỹ. Do quá trình xây dựng nhà đã làmtường nhà vợ chồng ông Biệt và bà Thư bị nứt nên Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đều quyết định ông Xong và bà Mỹ có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Biệt và bà Thư.

BTTH do tài sản chung (không phải là nguồn nguy hiểm cao độ, sức vật, cây cối, nhà cửa và công trình xây dựng khác) của vợ chồng gây ra. Thể hiện qua vụ án BTTH về tài sản công trình của mình gây ra. Tòa án quyết định buộc ông Út và bà Bé cũng có nghĩa vụ liên đới BTTH cho bà Liên.

Thực tiễn xét xử các tranh chấp về BTTH ngoài hợp đồng do tài sản chung của vợ chồng gây ra, các Tòa án đều căn cứ vào các quy định của BLDS để xác định trách nhiệm liên đới khi vợ chồng cùng là chủ sở hữu, cùng là người chiếm hữu hay cùng là người quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, trong nhiều vụ án, Tòa án xác định vợ chồng cùng chịu trách nhiệm nhưng không khẳng định trách nhiệm này là liên đới hay theo phần mà chỉ theo hướng “cùng có nghĩa vụ bồi thường”. Cũng từ thực tiễn xét xử đã chỉ ra một bất cập: Pháp luật hiện hành còn thiếu quy định cótính chất chung nhất cho tất cả các trường hợp khi đối tượng gây ra thiệt hại là tài sản. Chính vì lẽ đó, khi vận dụng các quy định của Luật HNGĐ năm 2014 về trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với thiệt hại do tài sản chung gây ra sẽ gặp không ít khó khăn.

3.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm liên đới THNVDS của vợ chồng

3.2.1. Về trách nhiệm liên đới THNVDS của vợ chồng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật HNGĐ cụ thể:

“Điều 13. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu, trừ trường hợp người không tham gia giao dịch có biết và phải biết việc tham gia giao dịch của phía bên kia.”

Ngoài ra, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần ra nghị quyết hướng dẫn hoặc sớm lựa chọn án lệ về vấn đề này Thực tiễn cho thấy, các giao dịch do vợ chồng xác lập nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình chủ yếu liên quan đến hợp đồng vay tài sản.

3.2.2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra

Xác định trách nhiệm liên đới BTTH do tài sản của vợ chồng gây ra là một trường hợp xác định trách nhiệm BTTH khá đặc thù. Theo tác giả, Luật HNGĐ cần phải xây dựng một quy định về nguyên tắc xác định TNLĐ BTTH do tài sản của vợ chồng gây ra. Quy định này sẽ là cơ sở pháp lý rõ ràng và cụ thể để Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh. Hướng quyđịnh như vậy sẽ đảm bảo được quyền lợi của người bị thiệt hại, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích về tài sản cho các bên vợ chồng.

3.2.3. Về tài sản để vợ chồng thực hiện trách nhiệm liên đới

Tài sản là “công cụ” để vợ chồng thực hiện TNLĐ. Theo tác giả, quy định trên không nên chỉ áp dụng đối với TNLĐ của vợ, chồng khi thực hiện các giao dịch để “đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình” mà cần quy định chung cho tất cả các trường hợp phát sinh trách nhiệm liên đới. Tức là, Luật HNGĐ năm 2014 cần xây dựng một quy định mới về tài sản thực hiện TNLĐ của vợ chồng, theo hướng: “tài sản để thực hiện trách nhiệm liên đới của vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để thực hiện trách nhiệm liên đới thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên”. Việc quy định như vậy sẽ vừa bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba, vừa đảm bảo được lợi ích của gia đình.

3.2.4. Về xác định phần trách nhiệm của mỗi bên vợ, chồng trong trách nhiệm liên đới

Trên cơ sở nguyên tắc vợ chồng bình đẳng (khoản1 Điều 2 Luật HNGĐ 2014), chúng ta nên xác định phần của từng người là ngang nhau, trừ trường hợp vợ, chồng có chứng cứ chứng minh rằng trách nhiệm của hai bên không ngang nhau. Tức là theo hướng chia đều trách nhiệm cho vợ, chồng khi trách nhiệm phát sinh là TNLĐ. Trên cơ sở đó, bên vợ, chồng còn lại sẽ biết được phần trách nhiệm của mình cụ thể là bao nhiêu để thực hiện với người đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ cho bên thứ ba.Việc xác định này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích về tài sản của mỗi bên vợ, chồng.

3.2.5. Tuyên truyền, phổ biến quy định của Luật HNGĐ 2014

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc phần lớn người dân Việt Nam hiện nay không có hiểu biết về chế định TNLĐ của vợ chồng nói chung và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng nói riêng. Việc vợ chồng nắm được các quy định của pháp luật về các quyền và nghĩa vụ của mình về tài sản trong hôn nhân chính là chìa khóa làm giảm bớt số lượng các vụ tranh chấp cũng như đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến người dân là một phương pháp không mới, tuy nhiên, giá trị của nó thì khó mà chối bỏ.

3.2.6. Kiện toàn bộ máy xét xử của Tòa án

Chức năng của TAND là tổ chức xét xử, giải quyết các loại vụ,việc. Trong đó, người thẩm phán có vai trò rất quan trọng đối với công tác thống nhất áp dụng pháp luật cũng như đem lại sự công bằng cho các bên tranh chấp khi thực hiện hoạt động xét xử. Do đó, nâng cao phẩm chất khả năng nhận thức cùng với trình độ, năng lực của người thẩm phán là một trong những vấn đề được quan tâm nhất hiện nay. Cần tổ chức nhiều hơn nữa những lớp tập huấn, những buổi hội thảo chuyên ngành để các Thẩm phán có cơ hội trao đổi kinh nghiệm xét xử với nhau, đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân. Hội đồng thẩm phán TANDTC cũng nên ban hành thêm những văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cách thức xác định một cách thống nhất TNLĐ của vợ chồng.

KẾT LUẬN

Chế định TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng là một chế định có ý nghĩa lớn đối với pháp luật HNGĐ. Không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, chế định này còn đảm bảo quyền và lợi ích của bên thứ ba, góp phần khẳng định ý nghĩa của gia đình trong xã hội hiện đại, khi mà nhiều giá trị đạo đức, nhiều truyền thống văn hóa của dân tộc đang bị phai nhạt dần. Thông qua việc phân tích các cơ sở lý luận, các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình cũng như các luật khác và phân tích thực tiễn hoạt động xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình, tác giả đã chỉ ra những bất cập trong việc áp dụng pháp luật vào hoạt động xét xử và đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hướng tới việc ngày càng hoàn thiện chế định TNLĐ của vợ chồng nói riêng và pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung – một lĩnh vực pháp luật vô cùng quan trọng đối với đời sống xã hội. Chỉ khi gia đình hạnh phúc, con cái được nuôi dưỡng trong gia đình hấp thụ được bầu không khí yêu thương và kiến thức, nhân cách của cha mẹ thì những đứa trẻ này mới nên người, trở thành những con người có ích cho xã hội.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\KINH TE\PHAM NGUYNE HUY HOANG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *