Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong hệ thống các tổ chức có hoạt động ngân hàng thì ngân hàng thương mại chiếmvịtrí quan trọng, vì nó là tổchức tín dụng được thực hiện tất cảhoạt động ngân hàng. Các nghiên cứu lý luận và thực tiễn vận hành thị trường ngân hàng cho thấy hoạt động kinh doanh ngân hàng làhoạt độngẩn chứa nhiều rủi ro, có vai tròquan trọng đối với phát triển kinh tếxã hội. Là chủthểtham gia thịtrường, các ngân hàng thương mại cũng được Nhà nước bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động trong kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình, được hợp tác và cạnh tranh tronghoạt độngngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quyđịnh của pháp luật. Do vậy, hoạt độngcạnh tranh củacác ngân hàng thương mại cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh.
Song hành với những bước phát triển và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thếgiới của thị trường ngân hàng Việt Nam càng làm cho hoạt động cạnh tranh của các ngân hàng thương mại gay gắt hơn. Để giành, giữ và vươn lên trên thị trường, mỗi ngân hàng thương mạiđã đang xây dựng chiến lược cạnh tranh, lựa chọn hướng riêng phù hợp với quy định của pháp luật. Thực tiễn cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cũng đã phát sinh nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh có nguy cơ gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệquốc gia, an toàn của các tổchức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân. Pháp luật về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại là công cụ hữu hiệu bảo vệ lợi ích chính đáng của các ngân hàng thương mại, người sửdụng dịch vụngân hàng do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra đồng thời bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, góp phần quan trọng vào việc thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm kiểm soát được lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Ngoài ra, thị trường ngân hàng Việt Nam mới đang trong giai đoạn vận hành theo quy luật của thịtrường, sựtác động/chi phối mạnh mẽcủaNgân hàng Nhà
2
nước; việc lợi dụng vai trò của các trung gian tài chính, tình trạng thiếu thông tin của khách hàng để trục lợi càng làm cho tình trạng kinh doanh thiếu đạo đức trong hoạt động ngân hàng có cơ hội phát triển. Trong khi đó, “Việt Namtrởthành một thị trường dễ tính cho đủ loại hàng hóa và thói quen kinh doanh lạc hậu. Trong môi trường kinh doanh hỗn tạpnhư vậy, chẳng nhữngngườitiêu dùng, ngườikinh doanh đứng đắn bị thiệt hại mà đạo đức xã hội bị xói mòn, pháp luật bị khinh nhờn và hình ảnh của cơ quan công lực trong nhận thức của người dân cũng có phần bịảnh hưởng” [73, tr.771] thì vấn đềchống cạnh tranh không lành mạnh nói chung, chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng nói riêng, hơn lúc nào hết cần phảiđượcthực hiện nhanh chóng đểlàm cho môi trường kinh doanh minh bạch, quyền lợi của những người kinh doanh chân chính và người tiêu dùngđược bảo vệ tốt hơn.
Luật các Tổchức tín dụng năm 2010 chính thức quyđịnh “nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng” và giao cho Chính phủquyđịnhhướng dẫncụthểvềhành vi cạnh tranh không lành mạnh vàbiện pháp xử lý đối với những hành vi này. Tuy nhiên, những nghiên cứu về lý luận và thực tiễnvềcạnh tranh không lành mạnh trong hoạtđộngngân hàng và chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam chưa được quan tâm thích đáng. Các nghiên cứu về chủ đề này mới chỉ đề cập đến những mặt/khía cạnh khác nhau để hướng tới giải quyết những vấn đềđược đặt ra trong các nghiên cứu này. Do vậy, việc làm rõ cơ sởkhoa học của việc quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng như tìm kiếm các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạtđộng ngân hàng ởViệt Nam hiện nay là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Từ những phân tích trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án tiến sĩ luật học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt độngngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam trên cơ sở đó đề xuất các nhóm giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, về phương diện lý luận, luận án tiến hành hệ thống hóa cácvấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh, chống cạnh tranh không lành mạnh để làm rõbản chất, nội dung, nguyên nhân, hậu quảcủa cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt độngngân hàng; phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng, các nhân tốtácđộng đến việc xây dựng và thực thi pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng; xác định cơ cấu (nội dung hay các chế định) của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.
Hai là, về thực tiễn, luận án sẽ tiến hành phân tích, đánh giá, so sánh các quyđịnh của pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến việc chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam theo tiêu chí chấtlượngvàkhảthi nhằm làm rõ những bấtcập,hạnchếtrong các quyđịnh của pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Sưu tầm, tìm kiếm các vụ việc hoặc các biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại để làm minh chứng cho các lập luận khoa học trong luận án.
Ba là, nghiên cứu đề xuất các giải pháp góp phần xây dựng và thực thi pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bốn là, nghiên cứu so sánh phương pháp xây dựng và thực thi pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại các nước để tìm ra những kinh nghiệm hay, những phương pháp chống cạnh tranh không lành mạnh có thể áp dụng ở Việt Nam.
4
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3.1. Phạm vi nghiên cứu
Đềtài tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đềlý luận và thực tiễn của pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng được thể hiện trên các khía cạnh: i) Mô tả hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng; ii) Nghiên cứu nội dung pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng; iii) Cơ chế thực thi pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại.
Khái niệm hoạtđộngngân hàng trong luận án được sửdụng đồngnghĩa với quyđịnh của Luật cácTổchức tín dụng năm 2010, nghĩa là, luận án nghiên cứu hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong các hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại được tiếp cập dưới góc độ là một chế định của Luật Cạnh tranh được áp dụng trong hoạt động ngân hàng, trongđó có hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại và được tiếp cận trên cơ sở kết hợp giữa luật công vàluật tư.
Về thời gian nghiên cứu, Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng kể
từkhi Việt Nam chính thức vận hành mô hình ngân hàng hai cấp theo cơ chếthịtrường đến nay.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và những biểu hiện không lành mạnh trong hoạt động cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Khái niệm ngân hàng thương mại sửdụng trong Luận án đượchiểu nhưKhoản 3 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng không phân biệt đó là ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại cổphần hay ngân hàng thương mại có vốn đầu tư nước ngoài.
5
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận án là công trình nghiên cứu có tính hệthống vềpháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực kinh doanh đặc thù – kinh doanh ngân hàng, một lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro và tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Các kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng, là rõ cơ sở khoa học nhằm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạtđộngngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế trên các khía cạnh:
– Làm sáng tỏ về mặt lý luận các vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng;
– Xác địnhcơ cấu (nội dung) của pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng;
– Phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa chính sách cạnh tranh và pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng; làm rõ mối quan hệgiữa Luật Cạnh tranh và Luật các Tổ chức tín dụng liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng;
– Đánh giá thực trạng pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ởViệt Nam nhằm làm rõ bất cập, hạn chế của pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại;
– Kiến nghị xu hướng lập pháp và các giải pháp thực thi pháp luật vềchống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, luận án cũng là nguồn tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạykhoahọcpháp lý, phục vụcho hoạchđịnh chính sách cạnh tranh của các cơquan nhà nước cũng như ngân hàng thương mại hiện nay.
6
5. Kết cấu của luận án
Ngoài lời nói đầu, kếtluận, danhmụctài liệu tham khảo, Luận ánđược kết gồm 4 chương như sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài.
Chương 2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.
Chương 3. Thực trạng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Chương 4. Quan điểm, định hướng xây dựng và tổchức thực hiện pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
18
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 1.2.1. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài
Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh dựa trên những cơ sở lý thuyết sau đây:
– Các lý thuyết vềcạnh tranh của các trường phái như: Lý thuyết cạnh tranh của trường pháicổđiển mà đại diện là lý thuyết cạnh tranhcủaAdam Smith, của
Jonh Stuart Mill…; lý thuyết cạnh tranh của trường phái tân cổ điển nhấn mạnh đến sự can thiệp/tác động của Nhà nước vào các quá trình kinh tế cần phải bảo đảm sự
tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế; trường phái Keynes nhấn mạnh đến sự can thiệp của Nhà nước như một giải pháp nhằm thoát khỏi tình
trạng khủng hoảng, thất nghiệp, suy thoái kinh tế…; lý thuyết cạnh tranh tự do…
– Các quan điểm về tự do kinh doanh và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường;
– Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có thị trường tài chính mà thị trường ngân hàng là trọng tâm.
Từ cơ sở lý thuyết, Luận án xây dựng ba giả thuyết nghiên cứu sau đây:
– Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng có nhiều khác biệt so với các lĩnh vực kinh doanh khác.
– Các quyđịnh pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các tổ chức này.
– Việc xây dựng các quyđịnhriêngđểchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam là cần thiết.
Từ giả thuyết nghiên cứu, Luận án trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
– Bản chất của cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là gì? Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là gì, nócó đặc điểm và bao gồm những nội dung/chế định nào?
– Các quyđịnh pháp luật vềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng có đáp ứng được yêu cầu chống cạnh tranh không lành mạnh trong
19
hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mạikhông? Thực tiễn thực hiện pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã phát sinh những vấn đề gì?
– Tại sao phải xây dựng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng nào cần phải luật hóa và đểtổchức thực hiện pháp luậtvềchống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ởViệt Nam cần những giải pháp nào?
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơsởquanđiểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa chủnghĩa Mác Lê nin, tư tưởng HồChí Minh vềNhà nước và Pháp luật; quan điểm, chủtrương đường lối chính sách của Đảng về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cùng với các nguồn tài liệu đã thu thập được, nội dung các phương pháp nghiên cứu sẽ được Luận án sử dụng bao gồm:
(1) Phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua việc tổng hợp, phân tích các tư liệu, nhất là tư liệu sơ cấp (các báo cáo tình hình hoạt động củacác ngân hàng thương mại, của Cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng liên quan đến tình hình cạnh tranh của các ngân hàng thương mại) làm cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam.
(2) Phương pháp nghiên cứutrực tiếp thông qua việc tìm hiểu nhận thức vềcạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại; trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên cứu về pháp luật,đặc biệt lànghiên cứu pháp luật cạnh tranh nhằm xây dựng cơ sở lý luận của pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.
(3) Phương pháp tiếp cận hệthống, đa ngành và liên ngành khoa học xã hội nhân văn như lịch sử, kinh tế, luật học nhằm làm rõ bản chất kinh tế, xã hội, pháp lýcủa cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam; đánh giá mức độ phù hợp hay không
20
phù hợp đối với nội dung pháp luật chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng, nhất là tính khả thi của các quy định này.
(4) Phương pháp so sánh luật học được sử dụng xuyên suốt luận ánnhằm đối chiếu quy định pháp luật với các nước để tìm ra những điểm hợp lý trong các quyđịnh pháp luật về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại.
(5) Phương pháp phân tích lô gich quy phạm được sử dụng để phân tích, đánh giá các quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như của các nước nhằm làm rõ tính phù hợp, tính thống nhất của pháp luật vềchống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại.
21
Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
2.1. Khái niệm, đặc điểmcủa cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
2.1.1. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng Trong khoa học pháp lý, khi xác định mộthành vi cạnh tranh không lành
mạnh người ta thường đặt nó trong mặt đối lập với hành vi cạnh tranh lành mạnh. Cho đến nay, cạnh tranh lành mạnh được nghiên cứu, tiếp cận, phản ánh trong nhiều học thuyết khác nhau, song đều không đưa rađược nội hàm cụthểcho khái niệm này [43, tr.71]. Các tác giả Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh [78, tr. 30] cho rằng, cạnh tranh lành mạnh được hiểu là cạnh tranh trung thực, công bằng, hợp pháp, hợpđạo đức, tập quán kinh doanh; là hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng, cạnh tranh bằng tiềm năng vốn có của bản thân doanh nghiệp. Từ điển luật học quan niệm cạnh tranh lành mạnh được hiểu là “Sựganh đua một cách hợp pháp, trong sạch, đàng hoàng giữa các nhà kinh doanh trong cùng lĩnh vực, ngành nghềđểchiếm lĩnh thị phần mà khôngsử dụngthủ đoạn mờ ám,bất chínhnhằm loại bỏ đối thủ, tranh giành thị trường” [108, tr.106]. Bản chất của cạnh tranh lành mạnh là các hành vi cạnh tranh hợp pháp, trong sạch, đàng hoàng, trung thực, công bằng, hợp đạo đức, tập quán kinh doanh. Song trên thực tế, để đánh giá thế nào là trong sạch,đàng hoàng, trung thực, công bằng quảlà không đơn giản, bởi lẽ,các quanđiểm tiếp cận ởtrên đều có chung nhận định, hành vi cạnh tranh lành mạnh phải hợp pháp (phù hợp với quy định của pháp luật) và đạo đức kinh doanh.
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh không lành mạnh [14, tr.328], [99, tr.22-23] là do việc xác địnhtính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh lệ thuộc vào nhiều yếu tố của quan hệ thị trường và luôn có xu hướng thay đổi do sự biến động không ngừng của quan hệ thị trường [78, tr.72] cũng như khả năng sáng tạo trong hoạt động kinh doanh. Do đó, tùy thuộc vào truyền thống pháp luật
22
các nước mà có những quan niệm khác nhau về cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụthể, đơn phương, vì mục đích cạnh tranh của các chủthểkinh doanh luôn thểhiện tính không lành mạnh (chứ không chỉ là bất hợp pháp) mà mục đích của nó là gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh sựbất lợi hay thiệt hại trong kinh doanh [77, tr.241]. Cạnh tranh không lành mạnh được định nghĩa trong pháp luật cạnh tranh của Cộngđồngcác quốc gia độc lập (SNG) là hành vi của các doanh nghiệp với mục đích thu lợi bất chính trong khi tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, vi phạm nguyên tắc công bằng được tôn trọng, vi phạm tập quán kinh doanh, vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh, gây ra thiệt hại cho các doanh nghiệp khác là đối thủcạnh tranh hoặc gây ảnh hưởng uy tín kinh doanh của họ [43, tr.72].
Vềcách thức nhận diện hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng không thống nhất giữa các trường phái pháp luật. Theo nghiên cứu của tác giảBùi Xuân Hải [35], các nước theo trường phái luật lục địa (Continental Law) quan niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi đi ngược lại cácgiá trị đạo đức và
tập quán kinh doanh truyền thống nhằmmụcđích cạnh tranh mà trực tiếp gây hại cho các đối thủcạnh tranh cụthểhoặc khách hàng cụthể. Vì thếngười ta thường quan niệm lĩnh vực pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh thuộc về lĩnh vực luật tư và các chế tài dĩ nhiên sẽ phải chủ yếu là các chế tài dân sự theo nguyên tắc
của luật dân sựnhư bồi thường thiệt hại, cảichính, công khai xin lỗi… Các nước theo hệ thống thông luật (Common Law) quan niệm rằng hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi nhằm mục đích cạnh tranh và gây nguy hại cho môi trường kinh doanh, gây thiệthạicholợiích công cộng nói chung chứkhông cần thiết phải xácđịnhnó có gây thiệt hại cho một đối thủcạnh tranh haymộtkhách hàng cụthểhay không. Hệthống chếtài đối với các hành vi vi phạm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của các nước này thường bao gồm các chếtài dân sự, hành chính và cả hình sự nữa.
Qua khảo sát cách thức quy định/xácđịnhhành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nước cho thấy, có nước quy định cụ thể từng hành vi cạnh không lành
23
mạnh, cũng có nước vừa đưa ra địnhnghĩa khái quát vềcạnh tranh không lành mạnh và quy định từng hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể (Nhật Bản) [9, tr.256-257], có nước xác định cạnh tranh không lành mạnh dựa trên cơ sởán lệ(Pháp) [46, tr.107]. Dù cách thức quy định cạnh tranh không lành mạnh như thế nàođi chăng nữa cácnước đều thống nhất bản chất cạnh tranh không lành mạnh là
những hành vi cạnh tranh không đẹp, trái pháp luật cạnh tranh, đi ngược truyền thống hoặc đạo đức kinh doanh. Quan niệmvềcạnh tranh không lành mạnh rộng hơn quan niệmvềcạnh tranhbấthợppháp, nghĩa là khi xácđịnhmột hành vi cóphải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì khôngchỉcăncứvào các quy địnhcủapháp luậtvềchống cạnh tranh không lành mạnh mà còn phảidựavào truyền thống,đạođứckinh doanhđượcquan niệm trong từng giaiđoạnphát triển khác nhau.
Theo quyđịnh tại Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004, hành vi cạnh tranh không lành mạnh “là hành vi cạnh tranh củadoanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”. Bên cạnh quyđịnh khái quát vềcạnh tranh không lành mạnh, Luật Cạnh tranh năm 2004 còn liệt kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể. Có thể khẳng định, quan niệm và cách thức ghi nhận về cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam về cơbản là phù hợp với quan niệm và cách thức quy định của pháp luật các nước.
Hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng có vai trò quan trọngđối với sựphát triển của thị trường ngân hàng nói riêng, thị trường tài chính nói chung. Cũng như những chủ thể kinh doanh khác, các tổ chức tín dụng cũng phải “ganh đua, kìnhđịch” với các nhà kinh doanh khác trên thị trường để giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình [78, tr.16], nghĩa là phải cạnh tranh để giành, giữ và vươn lên trên thị trường. Các ngân hàng thương mại là doanh nghiệp, kinh doanh và cạnh tranh trong thịtrường hàng hóa đặc biệt là tiền tệ. Trong quá trình cạnh tranh, các ngân hàng thương mại có thể thực hiện các hành vi
24
cạnh tranh không lành mạnh đểgiành ưu thếkhông công bằng trênthịtrường đòi hỏi những hành vi này cần phải được loạibỏnhằmtạolập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường..
Về bản chất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng cũng giống như hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp khác trên thị trường. Tuy nhiên, do hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro, có ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủđòi hỏiviệc nhìn nhận, đánh giá đúng hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạtđộngngân hàng củacác tổchức tín dụng, trong đó có các ngân hàng thương mại là rất quan trọng.
Lúc banđầu,các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng theo nghĩa như ngày nay được hiểu là các hành vi bất hợp pháp (Điều 16 Luật các Tổ chức tín dụng 1997, sửa đổi 2004), nghĩa là đồng nhất cạnh tranh không lành mạnh vớivi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng. Khi Luật các Tổchức tín dụng năm 2010 được ban hành, thuật ngữ cạnh tranh khônglành mạnh đã được sửdụng chính thức và nhà lập pháp tiếp cậndưới góc độlà hành vi tiêu cực cần nghiêm cấm. Sở dĩ có sự thay đổi trong cách tiếp cận hành vi cạnh tranh không lành mạnh từbất hợppháp sang hành vi cạnh tranh không lành mạnh là do trước đây (trước khi Luật Cạnh tranh được ban hành), các quyđịnh pháp luậtvềcạnh tranh được quyđịnh ởnhiều văn bảnpháp luật khác nhau như Luật Thương mại, Pháp
lệnh Quảng cáo…[23, tr.25-28]. Sự thay đổi trong quan niệm này là phù hợp với xuhướngchungcủacácnướcvềnhận diện/xácđịnhhành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong các lĩnh vực đặc thù nói riêng.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý ởViệt Nam chưa hình thành nhận thức thống nhấtvềcạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.Dựthảo Nghị định Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xửlý các hành vi này của Ngân hàng Nhà nướccông bốtháng 6/2011 cho rằng“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
25
là hành vi cạnh tranh của tổ chức và cá nhân có liên quan đến hành vi canh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng vì quá chạy theo mục tiêu lợi nhuận mà trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, có nguy cơ gây tổn hại hoặc gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệthống các tổ chức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức và cá nhân khác”.
Với quan niệm này dấu hiệu quan trọngđể xác địnhhành vi cạnh tranh không lành mạnh là “vì quá chạy theo mục tiêu lợinhuận” mà thực hiện các hành vi vi phạm“chuẩn mực thông thường vềđạo đức kinh doanh”, chúng tôi cho rằng, với quyđịnh này,Dựthảo Nghịđịnhđãthu hẹp quá nhiều nộihàm khái niệm cạnh tranh không lành mạnh tronghoạt độngngân hàng. Thực tế cho thấy, việc thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể trên thị trường không phải lúc nào cũng vì mục tiêu lợi nhuận. Trong thực tế, đểgây khó khăn cho đốithủcạnh tranh tức là thực hiện hành vi nhằm mục đích không lành mạnh, các chủthểkinh doanh đã“hi sinh mục tiêu lợi nhuận” thì về bản chất các hành vi cạnh tranh không vì mục đích lợi nhuận vẫn được coi là không lành mạnh. Bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những thủ pháp/phương thức thực hiện hành vi cạnh tranh với tính chất là không công bằng, không lành mạnh, trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh có khả năng gây hại tới quyền lợi đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Đểđi đến thống nhất quan niệmvềcạnh tranh không lành mạnh trong hoạt
động ngân hàng – một lĩnh vực kinh doanh cụ thể trong nền kinh tế mà thực chất làquá trình đi tìm điểm khác biệt về thủ đoạn, phương thức thực hiện cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng.Điểmkhác biệt cơ bản giữa cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng với các lĩnh vựckhác là ởđối tượng bịhành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm là các tổchức tín dụng, người tiêu dùng cũng như yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệthống các tổchức tín dụng; hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng gắn liền với các dịch vụ ngân hàng mà tổ chức tín dụng được phép cung ứng.
26
Bản chất của cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là hành vi của các tổ chức tín dụng phát sinh trong hoạt động ngân hàng, trái pháp luật cạnh tranh, trái với các chuẩn mực đạo đức, tập quán kinh doanh ngân hàng, gây thiệt hại hoặc có khả năng thiệt hại cho tổ chức tín dụng là đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan; xâm phạm quyền lợi người sử dụng dịch vụ ngân hàng một cách không chính đáng thông qua việc lạm dụng quyền quyết định cấp tín dụng hoặc gây cản trởkhách hàng tiếp cận dịch vụ ngân hàng, không cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin liên quan đến dịch vụngân hàng nhằm thu lợi hoặc thu hút vềphía mình lượng khách hàng một cách bất chính/không chính đáng. Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là các hành vi cụ thể, đơn phương của tổ chức tín dụng nhằm mục đích cạnh tranh, có khả năng gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đối thủ cạnhtranh, làm rối loạn hoạt động bình thường của tổ chức tín dụngbịxâm phạm, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến chức năng cung ứng nguồn vốn của các tổchức tín dụng, môi trường kinh doanh ngân hàng.
2.1.2. Đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng Thứ nhất, cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng là hành vi
của các tổ chức tín dụng phát sinh trong hoạt động ngân hàng. Hoạt động ngân hàng theo quan niệm của các nước được tiếp cận gắn với chủthểthực hiện hoạt động
ngân hàng là các tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng thương mại [6], [58],… Theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam hiện hành, hoạtđộng ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Là hoạt động cung ứng dịch vụ, ngoài những đặc điểm chung của dịch vụ nhưtính trừu tượng, khó đánh giá chất lượngthì dịch vụngân hàng còn có những nétđặc thù riêng là đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao, có sự am hiểu về quy trình, nghiệp vụ; mức độ lệ thuộc giữa các chủ thể cung ứng dịch vụ ngân hàng cao hơn được thểhiện qua các mối quan hệ trên thị trường liên ngân hàng và sự tương đồng trong quy trình, nghiệp vụ ngân hàng. Chính vì nhữngđiểmkhác biệt trên nên trong cạnh tranh, các tổ chức tín dụng có thểdễ lạmdụng những đặc thù trong hoạt động cung
27
ứng dịch vụ ngân hàng để cố tình đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng không tốt nhằmhạ uy tín của đối thủ cạnh tranh đểlôi kéo khách hàng hoặc có thể dễ dàng thực hiện các hành vi lừa dối khách hàng.
Chẳng hạn, trong hoạt động nhận tiền gửi, các tổ chức tín dụng nắm được tâm lý hám lợi của người gửi tiền nên đã thực hiện các hành vi lôi kéo khách hàng vềphía mình bằng chính sách lãi suất hấp dẫn, trái với quy định trần lãi suất huy động của Ngân hàng Nhà nước dẫn đến nguồn tiền gửi chạy “luẩn quẩn” từ ngân hàng cólãi suất thấp sang ngân hàng có chính sách lãi suất cao nên ngân hàng tuân thủ quyđịnh vềlãi suất không có nguồn vốn ổn địnhđểkinh doanh; gian dối trong chính sách khuyến mại nhằm thu hút tiền gửi của đối thủ cạnh tranh; gièm pha hoặc nói xấu các ngân hàng thương mại khác huy động tiền gửi không đúng sự thật; lợi dụng
chính sách của Nhà nước để đẩy lãi suất huy động lên cao… Trong hoạt động cấp tín dụng, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu liên quan đến việc ngân hàng thương mại áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng khi tham gia giao dịch cấp tín dụng. Trong nghiên cứucủa tác giảNguyễn Mạnh Hùng [42, tr.102], các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động cấp tín dụng có thểlà: Lợi dụng việc phân bổchỉtiêu tăng trưởng tín dụng đểgièm pha, nói xấu ngân hàng thương mại khác; áp đặt các mức phí không chính đáng khi khách hàng muốn được cấp tín dụng như phí thu xếpvốn, phí thẩm định tài sản, phí quản lý tàisảnthếchấp, phí tư vấn tài chính, gửi lại một phần tiền vay với lãi suất thấp, phí trảnợ
trước hạn… Trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh này cũng chủ yếu liên quan đến việc gâycản trở việc sửdụng dịch vụ thanh toángiữa tổchức cung ứng dịch vụ thanh toán và khách hàng và gièm pha, nói xấu hoặc cản trở khách hàng tiếp cận dịch vụ thanh toán của đối thủ cạnh tranh.
Từ các phân tích trên có thể nhận thấy, những biểu hiện của cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng diễn ra trên tất cảcác mặt hoạt động ngân hàng của tổchức tín dụng. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạtđộng ngân hàng của các tổ chức tín dụng chủ yếu liên quan đến hành vi cản trở việc tiếp
28
cận dịch vụ ngân hàng của khách hàng hoặc áp đặt điều kiện gây bất lợi cho khách hàng; gây rối hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh thông qua các thủ đoạn nói xấu, gièm pha về chất lượng dịch vụ ngân hàng, phản ánh không đúng về tình hình tài chính, dư nợ tín dụng, mức độ bảo đảm antoàn hoạt động ngân hàng của
đối thủcạnh tranh…; lợi dụng tình trạng không am hiểu vềquy trình, nghiệp vụngân hàng đểlừa dối hoặc lôi kéo khách hàng mộtcách không chính đángtừđó gián tiếp ảnh hưởng đến việc luân chuyển nguồn vốn trên thị trường. So với các lĩnh vực kinh doanh khác, hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng có thể làm ảnh hưởng tới trật tự, tính minh bạch, công bằng, lành mạnh của thị trường, gây thiệt hại cho khách hàng và đối thủ cạnh tranh, đồng thời gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
Thứ hai, cạnh tranh không lành mạnh tronghoạt độngngân hàng là các hành vi cụthểtrái pháp luật cạnh tranh, pháp luật ngân hàng, đingượcvới các chuẩn mực đạo đức kinh doanh trong hoạt động ngân hàngđã được thừa nhận.
Để xác định hành vi cạnh tranh “trái các chuẩn mực thông thườngvề đạo đức kinh doanh” người ta thường xác định dựa vào hai căn cứ: i) Các căn cứ luật định, nghĩa là các hành vi được coi là cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và như vậy, trong trường hợp này, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được đồng nhất với hành vi bất hợp pháp; ii) Các căn cứ dựa vào tập quán kinh doanh, đạo đức kinh doanh đã được thừa nhận trong cộng đồng kinh doanh [107, tr.126-127].
Cũng giống như các nước, Luật Cạnh tranh của Việt Nam quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ Điều 39 đến Điều 48. Thực tiễn giải quyết các vụviệc cạnh tranh được giải quyết ởViệt Nam thời gian qua cho thấy, khi xác định tính không lành mạnh đối với hành vi cạnh tranh của các chủ thể bị điều tra xử lý làdựa trên các quyđịnh pháp luật mà chưa có vụnào phải giải thích dựa trên “các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” [11, tr.178-183].
Dưới góc nhìn phản biện, tác giả Đinh Thị Mỹ Loan và các cộng sự nhận xét, tiêu chí xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Việt Nam là chung chung
29
và giảnlược hơn so với quyđịnhtạiCôngước Pari khi chỉđềcập đến khái niệm đạo đức kinh doanh, gây khó khăn cho việc xem xét hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thực tế [56, tr. 102]. Do vậy, đối với tổ chức tín dụng, khi xem xét hành vi đạo đức trong kinh doanh cần phải làm rõ mục đích, động cơ của hành vi mới cóthể xácđịnhđược hành vi đó có phù hợp với đạo đức kinh doanh hay không. Thực tếcho thấy, khi đứng trước những cơ hội kinh doanh,tổchức tín dụng dễbịtácđộng quá của lợi nhuận, sự thôi thúc của lòng tham dẫn đến việc tổ chức tín dụng, người quản trị, điều hành, cán bộ, nhân viên ngân hàng thực hiện hành vi trái với đạo đức kinh doanh, xâm phạm quyền lợi của khách hàng…
Đạo đức kinh doanh ngân hàng là những quy tắc, chuẩn mực quyđịnh dành cho các tổchức tín dụng trong hoạt động kinh doanh. Với tư cách là một chủthểkinh doanh, các tổchức tín dụng chịu sựtác động đồng thời của nhiều quy tắc, chuẩn mực nhằm hướng đến hành vi kinh doanh của các tổ chức này lành mạnh, cótrách nhiệm vớixã hội. Chúng tôi cho rằng, chuẩn mựcthông thường vềđạo đức kinh doanh trong hoạt động ngân hàng chính là việc các tổ chức tín dụng thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính,bảođảman toàn hoạt động ngân hàng vàhệthống các tổchức tín dụng, bảo vệgiátrịđồng tiền và cùng với Ngân hàng Nhànước thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm hoạt động ngân hàng giữvai trò trung tâm trong bảo đảm phát triển kinh tế xã hội quốc gia. Do đó, bất cứkhi nào tổ chức tín dụng đi chệch chức năng hoặc lạm dụng chức năng của mình đểtrục lợi một cách bất chính gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh; gây cản trở hoặc áp đặt các điều kiện bất lợi cho việc tiếp cận dịch vụ ngân hàng một cách không công
bằng, bình đẳng… thì được coi là trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh trong hoạt động ngân hàng.
Khi xác định tính không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng, xâm phạm đến quyền lợi của đối thủ cạnh tranh cần căn cứ vào động cơ, mục đích thực hiện hành vi trên cơ sở pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật ngân hàng vàchuẩn mực đạo đức kinh doanh ngân hàng được thừa nhận rộng rãi trên thị trường ngân hàng. Việc giải thích tính không lành mạnh trong hoạt độngngân hàng cần
30
phải được bảo đảm bởi quyền giải thích pháp luật của tòa án và sử dụng án lệ nhưnguồn bổ sung quy phạm quan trọng, bởi lẽ, tính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng được xác địnhtùy thuộc vào mức độ phát triển của thị trường ngân hàng ở từng giai đoạn phát triển khác nhau.
Thứ ba, về hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng là đối thủ cạnh tranh hoặc người tiêu dùng, khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các chủ thể trong đời sống xã hội. Thiệt hại ở đây được là những thiệt hại về vật chất,
tức là ảnh hưởng tới doanh thu, khả năng sinh lợi tronghoạt động của đối thủ cạnh tranh và những tổn hại về uy tín của đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Về dấu hiệu có thể gây thiệt hại cần xem xét kỹ lưỡng, vì hoạt động ngân hàng rất nhạy cảm với những thông tin không tốt vì nó sẽảnh hưởng tới hoạt động củacác tổchức tín dụng bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại.
Hành vi xâm phạm đến quyền lợi của đối thủ cạnh tranh là khả năng gây thiệt hại cho đối thủcạnh tranh như làm giảm lượng khách hàng, khảnăng sinh lời, uy tín trên thị trường… dẫn tới có khả năng làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu bảo đảm an toàn hoạtđộngngân hàng của tổchức tín dụng bịhành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại; người gửi tiền đồng loạt rút tiền gửi do tác động của các thủđoạn cạnh tranh không lành mạnh, đe dọa khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụngbịhành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại…
Người tiêu dùng trong hoạt động ngân hàng có thểlà: 1. Người gửi tiền; 2. Người đi vay; 3.Người sử dụngcác dịch vụ ngân hàng khác. Hành vi xâm hại đến quyền lợi của người tiêu dùng trong hoạt động ngân hàng được hiểu là các hành vi của tổchức tín dụng xâm phạm tới quyền lợi củangười gửi tiền như hành vi sửdụng tiền huy động vốn vào mục đích khác; không thực hiện các cam kết với người
gửi tiền, nhất là thực hiện các cam kết từ các đợt khuyến mại…; thực hiện các hành vi gây cản trở việc sử dụng dịch vụ ngân hàng do tổ chức tín dụng cung ứng; cung
cấp dịch vụ ngân hàng không đúng cam kết…
31
Xâm phạm tới lợi ích của xã hội là khả năng gây ra tác động xấu đến: i)Chỉtiêu phát triển kinh tế xã hội, khả năng cung ứng nguồn vốn phục vụ cho các mục tiêu tăng trưởng kinh tế; ii) Giảm giá trịđồng tiền; iii) Hiệu quảthực hiện chính sách tiền tệ quốc gia không đạt được do hiệu quả của các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia không phát huy được tác dụng. Biện pháp xử lý đối với hành vi gây ảnh hưởng xấu tới đời sống kinh tếxã hộiđược áp dụng dựa trên nguyên tắc bảo vệ trật tự công.
Thứ tư, về mức độ ảnh hưởng của cạnh tranh không lành mạnh trong hoạtđộng ngân hàng bao giờ cũng lớn hơn so với các lĩnh vực khác vì hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanhẩnchứa nhiều rủi ro,ảnhhưởngtrực tiếp tớihệthống tài chính tiền tệ quốc gia và tác động tới nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội.
Thông thường, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có mức độ ảnh hưởng tiêu cực trên thị trường hẹp, thường chỉ tác độngđến lên một số chủ thể nhất định màkhông ảnh hưởng đến một khu vực thị trường rộng như hành vi hạn chế cạnh tranh, ngay cả khi hành vi đó do tính chất mức độ nguy hại của nó xâm phạmđến các đối tượng được Luật Hìnhsựbảo vệ [76, tr.136]. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực ngân hàng, do sựkhác biệt trong hoạt độngnên việc xác định mức độ ảnh hưởng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng cần được hiểu là trên
phạm vi rộng, trên toàn bộ thị trường ngân hàng – tức là có nguy cơ làm ảnhhưởngđến an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng.
Tổ chức tín dụng là một trung gian tài chính nên hoạt động ngân hàng liên quan đếnnhiều đối tượng, có ảnh hưởng vớiquy mô và phạm vi rộng lớn, do đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng cũng có mứcđộảnh hưởngở phạm vi rộng lớn hơn so với những lĩnh vực khác. Tổ chức tín dụng là các tổ chức kinh doanh có quy mô vốn tự có, giá trị tài
sản, mạng lưới chi nhánh, đội ngũ nhân viên…. lớn và rộng khắp trên phạm vi quốc gia, thậm chí là nhiều quốc gia; người sử dụng dịch vụ ngân hàng thuộc nhiều tầng
lớp xã hội với khả năng nhận thức khác nhau, nhất là người gửi tiền. Vì vậy trong hoạt động kinh doanh, nếu tổ chức tín dụng gặp bất kỳsựcố nào dù là nhỏ nhất
32
cũng đều tác độngđếntâm lý, hành vicủa người sửdụng dịchvụngân hàng. Hiện nay, số lượng và nhu cầu sửdụng dịch vụ ngân hàngcủakhách hàng đòi hỏi chất lượng sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung ứng không ngừng được cải thiện, chứng
từ và văn bản giao dịch của ngân hàng thương mại khôngchỉlà các chứng từ bản giấy mà còn cả các văn bản điện tử.Vì vậy, nếu hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng không kiểm soátđược thìsẽ có tác động trực tiếp đến uy tín, thương hiệu; tính minh bạch, công bằng của môi trường kinh doanh ngân hàng không được bảo đảm.
Trong thực tiễn hoạt động, xu hướng hợp tác giữa các tổ chức tín dụng với nhau để cùng tồn tại và phát triển là tất yếu. Sự hợp tác giữa các tổ chức tín dụng sẽlàm cho mức độ phụ thuộc, tác động lẫn nhau trong hoạt động là rất lớn mà sự kiện Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu năm 2003 do bị tung tin đồn thất thiệt làminh chứng sinh động cho lập luận này. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động rủi ro rất cao, thường xuyên chịu sự tác động của các yếu tố kinh
tế vĩ mô như tình trạng lạm phát, thayđổitrong chính sách của Ngân hàng Nhànước và dựa trên niềm tin của người gửi tiền nên nếu ngânhàng “gặp sựcố” thì sẽảnh hưởng đến nguồn cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Ngoài ra, trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, các tổ chức tín dụng tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ, sản phẩm kinh doanh và dịch vụ ngân hàng càng làm tăng mức độ rủi ro hệthống. Trong những năm gần đây,số lượng sản phẩm kinh doanh và dịch vụ ngân hàngmớităng lên nhanh chóng vềquy mô và đa dạngvềloại hình càng làm cho vấn đề kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh trở nên khó khăn và phức tạp hơn. Xu thế này cùng với việc kinh doanh theo hướng đa năng của ngân hàng thương mại dựa trên trụ cột chính là các hoạt động truyền thống (nhận tiền gửi, thanh toán và tín dụng) được thực hiện trên cơ sở sự phát triển nhu cầu cũng như khả năng của chính tổ chức tín dụng càng làm cho mức độ ảnh hưởng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các tổchức tín dụng có mức độ vàphạm vi ảnh hưởng lớn hơn. Có thể nhận ra mức độảnh hưởng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng trên các khía cạnh sau:
33
– Ảnhhưởngtới chức năng cung ứng vốn cho đời sống kinh tế xãhội – chức năng truyền thống và quan trọng nhất của tổ chức tín dụng trên thị trường.
– Suy giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng là do khách hàng bịápđặt các điều kiện bất lợi hoặc gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụngân hàng một cách không chính đáng hoặcbịhiểu lầmdo khôngđược cung cấpthông tinđầyđủliên quan đến các dịch vụngân hàng, các chương trình khuyến mại…
– Kỷ luật, trật tự thị trường ngân hàng không được giữ vững và do đó khó xây dựng được nền tảng đạo đức kinh doanh trong hoạt động ngân hàng.
– Không khuyến khích được tổ chức tín dụng phát huy tính sáng tạo trong việc cung ứng dịch vụ ngân hàng với chi phí thấp và hiệu quả kinh tế cao.
2.2.Mộtsốvấn đềlý luận cơ bản vềpháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
2.2.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

