Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bảovệ người tiêu dùng đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm vì tầmảnh hưởng và tác động của nó đến đờisống người dân. Người tiêu dùng là bên yếuthế trongmốiquanhệ vớithương nhân, họkhông cóđủthông tin, kiến thức và điều kiện như thương nhân nên họ cần được bảo vệ bằng một lĩnh vực pháp luật đặc thù, đó chính là lý do ra đời pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin, việc trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ đã được nâng lên một hình thức mới cao hơn đó chính là thương mạiđiệntử. Giờ đâyngười tiêu dùng chỉ cần ở nhà, truy cập mạng internet là đã có thể chọn những mónđồưngývàobấtkể thời gian nào vàngườibánở khắp nơi trên thế giới. Thươngmạiđiệntửkhiến cho việc mua hàng hóa của người tiêu dùng trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn, nhưng điểm mạnh cũng chính là điểmyếucủa thươngmạiđiệntử, chính việc người tiêu dùng mua hàng hóa chủ yếu dựa vào thông tin mà thương nhân cung cấp chứkhông được trực tiếp kiểm tra, trải nghiệmsảnphẩmđã khiến cho việc mua bán mang đầy những rủi ro về phía người tiêu dùng.

Tại Việt Nam, thương mại điện tử đã bắt đầu được các tổ chức, cá nhân kinh doanhđầutư phát triển khinềntảng công nghệ thông tin và trìnhđộsửdụng internet của người dân tăng cao trong những năm gần đây. Theo thống kêcủa Bộ Công Thương trong Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam năm 2017 thì92% số người được khảo sát cho biết họ sử dụng internet hàng ngày và 30% thời gian sử dụng internet được dùng cho mua bán cá nhân. Con số này cho thấy sốlượng người sử dụng internet và có tham gia vào việc mua bán trên mạng là khácao và có xu hướng tăng lên trong những năm trở lại đây. Bên cạnh đó, cũng theo Báo cáo này thì những lo ngại phổ biến của người tiêu dùng khi tham gia thương mại điện tử chính là việc khó kiểm định chất lượng sản phẩm, không đủ

thông tin để ra quyết định, cách thức đặt hàng rắc rối, kết nối internet chậm v.v… Những lo ngại này cũng chính là những yếu thế mà người tiêu dùng phải đối mặt khi tham gia thương mại điện tử không chỉ tại Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, người tiêu dùng Việt Nam vẫn đặt niềm tin vào việc mua bán hàng hóa, dịch vụ thông qua thương mại điện tử khi có tới 88% số ngườiđược hỏi cho biết sẽ vẫn tiếp tục thực hiện những giao dịch điện tử, chỉ có 12% số người được hỏi quay lại với cách thức giao dịch truyền thống. Đây là con sốkhả quan đối với tương lai của thươngmạiđiện tử tại Việt Nam và đây cũng chính là thách thức đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước và thương nhân, làm thế nào để có thể bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng một cách tốt nhất khi họ tham gia thương mại điện tử, có thế mới khiến cho đông đảo người tiêu dùng tin tưởng vào phương thức giao dịch mới mẻ này.

Việc bảo vệ ngườitiêu dùng trong thương mạiđiện tử cóthể được thực hiện bằng nhiều biện pháp, công cụ khác nhau nhưng bảo vệ người tiêu dùng bằng pháp luật là biện pháp, công cụ hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại chưa có đủquy định cụ thể đểbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh thông qua phương tiện điện tử.

Trên thực tế hiện nay, việc bảo vệ người tiêu dùng trong thương mạiđiện tử còn rất nhiều khó khăn, do trình độ chuyên môn của người tiêu dùng, do lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh và đặc biệt là thiếu cơ sở pháp lý. Tuy đã cónhiều vănbản điềuchỉnh về việc giao kếthợpđồng điện tử nhưng chưa có văn

bản nào quy định cụ thể về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mạiđiện tử, quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh khi tham gia thương mạiđiệntử cũng như các phương thức giải quyết khi phát sinh tranh chấp. Thực trạng này đòi hỏi phải xây dựng một cơ chế pháp lý đầyđủ và hoàn thiện nhằmbảovệ quyềnlợi ngườitiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay.

Từ các vấn đề pháp lý còn tồn tại và thực trạng của việc bảo vệ quyền lợingườitiêu dùng trong thươngmạiđiệntửvớithương nhân trong thương mạiđiện tử ở Việt Nam, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này là một nhu cầu cấp thiết và có tính thời sự. Vớinhững lý do trên nên nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thươngmạiđiệntử ở Việt Nam”đểnghiên cứu nhằm đóng góp về mặt khoa học pháp lý và giá trị thực tiễn, góp phầnbảovệ quyềnlợi của ngườitiêu dùng cũng như thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử lành mạnh ở Việt Nam

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấnđề lý luậnvềbảo vệ quyềnlợi ngườitiêu dùng trong thương mại điện tử với thương nhân,đánh giá thực trạng pháp luật về bảovệ ngườitiêu dùng trong hoạt động thương mạiđiện tử, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtvề bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay.

Để thực hiện mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

– Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về thương mạiđiện tử và bảovệ người tiêu dùng trong thương mại điệntử

– Phân tích những vấn đề pháp lý đặc thù liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng trong thương mạiđiệntử , một số kinh nghiệm của pháp luậtcác nước vềvấn đề này

– Phân tích và đánh giá những nội dung cơbảncủa pháp luật Việt Nam hiện hành về bảovệ ngườitiêu dùng trong thương mại điện tử

– Phân tích và đánh giá tình hình thực hiện pháp luậtvề bảovệ ngườitiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam

– Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảthực thi pháp luậtvề bảo vệ ngườitiêu dùng trong thương mạiđiện tử ở Việt Nam hiện nay

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống pháp luật và thực tiễn thực hiện phápluật về bảovệ quyềnlợingười tiêu dùng trong giao dịch thương mạiđiện tử tại Việt Namvà một sốquốc gia trên thế giới.

3.2. Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu về nội dung: luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu tậptrung vào những vấn đề pháp lý liên quan đến hình thức thương mạiđiện tửgiữa ngườitiêu dùngvớithương nhân, chủyếuđược giaokếtqua mạng internet, là phương tiện điện tử được người tiêu dùng sử dụng chủ yếu và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thương mạiđiệntử, mà không mở rộng nghiên cứu những hình thức thương mại điện tử khác như giữa thương nhân và

thương nhân hay thương nhânvớichínhphủ….và được thực hiệnbởicác phương tiện điện tử như điện báo, fax,…

Phạm vi nghiêncứuvề không gian: Luận án giớihạnphạm vi nghiên cứu tậptrung vào các giaodịch điệntử giữa người tiêu dùng với thương nhân thực hiện tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận ántậptrung nghiên cứu pháp luật cũng như thực trạng thực thi pháp luậtvềbảovệ quyềnlợingườitiêu dùng trong thương mạiđiện tử kể từ thời điểmcó hiệu lực của Luật Giao dịch điện tử năm 2005.

4. Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận: việc nghiêncứuluận án dựa trên cơ sởphương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

4

Đâyđược coi là kim chỉ nam cho việc định hướng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện luận án.

* Phương pháp nghiên cứu cụ thể: trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác – Lênin, trong quá trình nghiên cứu đề tài, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng baogồm:

– Phương pháp phân tích và bình luận để làm rõ quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tửvới thương nhân;

– Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hoá thực trạng pháp luật và thực tiễn về tình trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử với thương nhân ở Việt Nam;

– Phương pháp so sánh để nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa quy định của pháp luật Việt Namvớipháp luật của một số nước trên thế giới về bảovệ quyềnlợingườitiêu dùng trong giao dịch thương mạiđiện tử. Bên cạnh đó, phương pháp này cũngđược chú trọngsửdụngđể so sánh thấyđược sự pháttriển của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử với thương nhân. Ngoài ra, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử…cũng được nghiên cứu sinh sử dụng để thực hiện việc nghiên cứu luận án.

5. Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, luận án phân tích, làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận cơbảnvềbảovệquyềnlợingườitiêu dùng trong thươngmạiđiệntửbao gồm khái niệm, đặc điểm của người tiêu dùng và thương mại điện tử, những lợi ích và rủi ro thương mạiđiện tử đemtớicho người tiêu dùng, từ đó đưa ra khái niệm, đặc điểmvà các nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ quyềnlợingười tiêu dùng trong thương mại điện tử một cách hệ thống và khái quát.

Thứ hai, luận án hệ thống, phân tích và nghiên cứu pháp luậtđiềuchỉnh hoạt động bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử trên thế giới thông

qua một số nước điển hìnhđể có sự vậndụng chọn lọc nhằm đánh giá và hoàn thiện chế định pháp luật nàytạiViệt Nam như quyền của người tiêu dùng vềhuỷ bỏ giao dịch điện tử không cần lí do trong một thời gian hợp lý; trách nhiệm

bảo vệ thông tin dữ liệu người tiêu dùng…

Thứ ba, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề bảo vệ quyềnlợingườitiêu dùng trong thương mại điện tử trong bối cảnh các yêu cầuđặtra của sự phát triển công nghệ cũng như tình hình thực thi các quy định này. Trên cơ sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn tồn tại, khẳng định tính tấtyếukhách quan của việc hoàn thiện phápluật điềuchỉnh hoạtđộng bảovệngười tiêu dùng trong thương mại điện tử.

Thứ tư, luận án nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp phù hợp vàkhảthi khôngchỉtrên phương diện hoàn thiện pháp luậtvềbảovệquyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử mà còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu và đã xây dựng cơ sở lýluận pháp luật về bảo vệ quyềnlợingườitiêu dùng trong thương mạiđiện tử, đánh giá tương đối toàn diện thực trạng pháp luật bảo vệ quyềnlợingười tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế có sự đột phá phát triển công nghệ cao. Vì vậy, luận án góp phần bổ sung tri thức khoa học pháp lý về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử.

Kếtquảnghiêncứuluận án có tínhứngdụng trong thực tiễn. Mộtlà, luận án kiến nghị những giải pháp có căncứkhoa học góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyềnlợingười tiêu dùng trong thươngmạiđiệntửởViệt Nam. Hai là, luận án đóng góp vào hệ thống khoa học pháp lý để cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức, cá nhân kinh doanh, người tiêu dùng vàcác chủthểkhác áp dụng pháp luật bảovệquyềnlợingườitiêu dùng trong thương mại điện tử một cách hiệu quả.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần lời cam đoan, danh mục các từ viết tắt, mục lục,mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án được kếtcấu vớinội dung gồm phần tổng quan tình hình nghiên cứu và ba chương, cụ thể như sau:

– Phần Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án. – Chương 1: Những vấnđề lý luận về bảovệ quyềnlợingười tiêu dùng

trong thương mại điện tử và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điệntử

– Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Namvề bảovệ quyềnlợingười tiêu dùng trong thương mại điện tử.

– Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợingườitiêu dùng trong thươngmạiđiệntửvà nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại Việt Nam

7

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

1.2. Các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

16

1.3. Các công trình nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng trong thương mại điện tử

1.4. Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.4.1. Một số đánh giá, nhận xét chung

Từviệc hệthống hoá các công trình khoa học khác nhau có liên quanđến đề tài luận án đã được công bố trong thời gian qua có thể thấy một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về phương pháp nghiêncứucủa các đề tài có liên quanđến luận án: hầu hết các tác giả đều sử dụng một số phương pháp nghiêncứu vềbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thương mại điện tử theo hướng tiếp cận các phương pháp như phương pháp luận khoa học duy vật biện chứng, duy vật

lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; phương pháp thu thập, phân tíchsố liệu, xửlý thông tin, chắt lọc thông tin (từ thông tin xã hội đến thông tin các bài báo,

bài viết, các văn bản quy phạm pháp luật…); phương pháp tổng hợp, phân tích, bình luận, thống kê cũng được áp dụng với tần suất khá nhiều để đưa ra những đánh giá về quan điểm, cách tiếp cận, nhìn nhận vấn đề cần nghiên cứu làm rõ của từng tác giả đã thực hiện các công trình nghiên cứu, đề tài, bài báo, bài viết. Đâyđược coi là ba phương pháp chínhđược nhiều tác giảsửdụng nhất khi nghiên cứu các vấn đề về bảo vệ người tiêu dùng và thương mại điện tử nói chung và vấn đề về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử nói riêng.

Thứhai,vềnộidung nghiên cứu: mặc dù tiếpcậntheo các cách thức khác nhau với những nội dung khác nhau nhưng những công trình, bài viết của các tác giả đều thể hiện sắc xảo quan điểm của mình về vấn đề cần nghiên cứu, bình luận. Nhiều bài viết, công trình đã đưa ra được những kiến nghị, đề xuất

19

phù hợp cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật trên thực tế. Tuy nhiên, xét ở góc độ tiếp cận toàn diện vấn đề lý luận và thực tiễn của bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử và pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tửthì nhiều công trình, bài viết chưa giải quyết triệt để được điều này. Ở góc độlý luận, nhiều công trình, bài viết mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những định nghĩa, khái niệm riêng biệt về bảo vệ người tiêu dùng và thương mại điện tửtrên cơ sở tiếp cận quy phạm pháp luật và thực tiễn diễn ra. Theo đó, với riêngđịnh nghĩa về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử chưa thực sựđược các tác giả nghiên cứu, phân tích rõ. Do đó, sự bức thiết để ra đời một công trình liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử tiếp cận trên cả phương diện lý luận và thực tiễn là điều cần thiết và đáng luận bàn.

Thứ ba, bên cạnh việc đã giải quyết được một số vấn đề lý luận về bảo vệ người tiêu dùng hay thương mại điện tử của các học giả nghiên cứu thì các công trình khoa học đã côngbốvẫnchưathểtiếpcậnđược đa phương diện trongmộtphạm vi rộngmởvấnđềnghiêncứumàđềtài luận án thực hiện. Trong khi đó, các khái niệm, định nghĩa, đặc trưng cơ bản của bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử vẫn chưa được nghiên cứu trong tổng hòa mối quan hệ với bảo vệ người tiêu dùng nói chung. Vấn đề đặt ra ở đâyđó lànghiên cứu cần có sự tham khảo, so sánh để tìm ra những đặc trưng của bảo vệngười tiêu dùng trong thương mại điện tử và phân tích trên nhiều phương diện. Đối với nội dung này thì nhiều công trình vẫn chưa có cơ hội để thực hiện.

Thứ tư, nhiều công trình khoa học có công bố, chia sẻ về những tranh chấp pháp lý phát sinh khi xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử. Các tác giả cònđưa ra những phương thức giải quyết tranh chấp đặc thù, giành riêng khi giải quyết tranh chấp trong thươngmạiđiệntử.Hầuhếtcác tácgiảnhậnđịnhđúngđắnmộtphần nhưng chưa xét trên tổngthểmốitương quancủacác

20

giao dịch điện tử trong thời buổi kinh tế – xã hội phát triển như hiện này. Tuy nhiên vấn đề này vẫn có thể được tiếp cận theo định hướng nghiên cứu sâu, rộng và đa dạng hơn.

Thứ năm, trên thực tế, có không ít các công trình đã nói và phân tích vềtình hình thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử. Đâyđều là những công trình có sự sưu tầm, tìm hiểu các vụ việc tình huống thực tế. Nhiều công trình đã liệt kê và phân tích được tình hình thực thi pháp luật trên thực tế để làm rõ những vấn đề đặt ra nhưng cũng không ít công trình vẫn chưa lột tả hết những “lỗ hổng”mà pháp luật còn đang tồn tại qua những tình huống thực tế như vậy. Đây là những hạn chế căn bản liên quanđến việc đóng góp ý kiến xây dựng và hoàn thiện pháp luật mà nhiều công trình trước đó chưa thực hiện được. Cần nghiên cứu trên phương diện quan sátthực tế đểđưa ra biện pháp, giải pháp phù hợp cho nội dung này trên thực tế. Đây là hướng luận án tiếp tục đi vào tìm hiểu chuyên sâu và thống kê cụ thể.

Thứ sáu, hiện nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đưa ra các kiến nghị, giải pháp một cách tổng thể nhằm nâng cao pháp luật, nâng cao hiệu quảthực hiện trên thực tế, nâng cao ý thức của tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng như người tiêu dùng trên thực tế. Hầu hết, các nội dung này vẫn nằm rải rác, chưa được tổng hợp lại trong một chỉnh thể thống nhất. Do vậy, nếu được sắp xếp thống nhất, bao quát và toàn diện thì các nội dung nàysẽ cóý nghĩa hơn trong việc giải quyết các vấn đề lý luận, thực tiễn, pháplý của vấn đề bảo vệngười tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam.

Nhìn chung, có khá nhiều các công trình như đã kể trên nghiên cứu vềvấn đề bảo vệ người tiêudùng trong thương mại điện tử dước các góc độ, khía cạnh khác nhau. Những công trình, bài viết nêu trên có mối liên hệ mật thiết,đặc biệt đến đề tài luận án nàyvà có ý nghĩa đặc biệt quan trong, làmcơ sở đểluận án tham khảo và phát triển những kiến nghị mới, đầy đủ, toàn diện và xácđáng hơn. Các công trình nghiên cứu hiện tại là cơ sở để nghiên cứu sinh đánh giá, tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh nội dung, vấn đề

21

của luận án. Đặc biệt, những nội dung bỏ ngỏ sẽ là những gợi mở quan trọngđể nghiên cứu sinh định hướng cho những vấn đề nghiên cứu tiếp theo mà tác giả sẽ thực hiện để giải quyết các mục tiêu đặt ra đối với luận án. Nghiên cứu sinh nhận thấy rằng,hầuhếtcác công trình, luận án, đềtài khoa học, sách chuyên khảo, sách tham khảo, các bài viết khác nhau đều là những tài liệu tham khảo hữu ích, có giá trị khoa học cho chính luận án này trong quá trình thực hiện và hoàn thành.

Luận án sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quanđến bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam về cả khía cạnh lý luận cũng như thực tiễn. Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu các công trình khoa học trước đó, nghiên cứu sinh đưa ra một số đánh giá, nhận định sau liên quan đến từng khía cạnh của vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử tại Việt Nam như sau:

1.4.2. Đánh giákếtquảnghiêncứucủacác công trình nghiêncứulý luận bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Có rất nhiều các công trình, đặc biệt là sách, đề tài khoa học, luận án, bài viết nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống các vấn đề lý luận liên quanđến bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử. Trong số các công trình kể trên, có những công trình đã đi sâu nghiên cứu và đưa ra những cơ sở lý luận, khoa học cho khái niệm bảo vệ người tiêu dùng và thương mại điện tử. Đồng thời cókhông ít các công trình đi vào nghiên cứu đặc trưng của bảo vệ người tiêu dùng hay thương mại điện tử ở Việt Nam hay các nước trên thế giới và rút ra các bài học kinh nghiệm cũng như các giải pháp hoàn thiện cơ sở lý luậnvề bảo vệngười tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam.

Tiếpcận dưới góc độ lý luậncác công trình đã làm sáng tỏ được những nội dung liên quan đến khái niệm, định nghĩa về thương mạiđiệntử. Thương mạiđiện tử được biết đếnvới nhiều tên gọi khác nhau, như “thương mạiđiện tử” (Electronic commerce), “thươngmạitrực tuyến” (online trade), “thương mạikhông giấytờ” (paperless commerce) hoặc “kinh doanhđiệntử” (e-

22

business). Tuy nhiên, “thương mạiđiện tử” vẫn là tên gọi phổ biến nhất và được dùng thống nhất trong các văn bản hay công trình nghiên cứu của các tổ chức hay các nhà nghiên cứu. Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông,đặc biệtlà máy tính và internet. Theo nghĩa rộng: Thương mại điện tử là việc traođổithông tin thươngmạithông qua các phương tiệnđiệntử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.

Qua nghiên cứu và tìm hiểu, có không ít các công trình hiện nay dù khai thác ở những góc độ khác nhau nhưng đều đồng nhất quan điểm thương mại điện tử được phát triển chủ yếu dựa trên nền tảng mạng internet.

Hiện nay, các công trình, bài viết nghiên cứu về lý luận thương mạiđiện tử đã giải quyếtđượccác vấn đề liên quanđếnbản chất của thương mạiđiện tử dưới các cách tiếp cận khác nhau, nhưng chủ yếu bao gồm các đặc trưng sauđây: Thứ nhất, các bên trong thương mại điện tử không trực tiếp tiếp xúc với nhau mà thực hiện giao dịch qua phương tiện điện tử; Thứ hai, thương mạiđiện tử cho phép các bên thực hiện giao dịch 24/24 giờ, tất cả các ngày trong năm và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý; Thứ ba, trong thương mạiđiện tử phải có tổi thiểu ba chủ thể tham gia, bao gồm các bên tham gia giao dịch và sự tham gia của bên thứ ba đó là các cơ quan cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng

thực, đâylà nhữngngườitạomôi trường cho thươngmạiđiệntử;Thứ tư, thương mại điện tử đòi hỏi các bên trong giao dịch phải có một trình độ công nghệ thông tin nhất định.

Bên cạnh đó, các công trình nghiêncứuđã đưa ra các luậnđiểmđịnh nghĩa về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung chứ chưa đi vào phân tích một cách chi tiết về vai trò và sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử. Do vậy, đây cũng là một gợi ý mở về khía cạnh tiếp cận bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử.

23

Hiện nay, hầu hết các học giả nghiên cứu đang chưa có sự liênkếtgiữa vấn đề bảo vệ ngườitiêu dùng với thương mại điện tử mà thường chỉ xem xét các khía cạnh nhỏ của quyềnlợingười tiêu dùng trong vấn đề lý luận về thương mạiđiệntử. Theo cách tiếp cận này, bảo vệ người tiêu dùng bị xé nhỏ thành nhiều vấn đề khác nhau như bảo mật thông tin, an toàn thanh toán, quyền vànghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng điện tử… trong một lĩnh vực rộng lớn là thương mại điện tử. Cách tiếp cận này khiến cho cơ sở lý luận về bảo vệngườitiêu dùng trong thươngmạiđiệntửtrở nên chung chung, không nhất quán, thiếu sự đồng bộ và nhỏ bé. Do đó, đây là mấuchốt đểnghiên cứu sinh nghiên cứu sâu hơn, làm rõ cơ sở lý luậncủa vấnđề bảo vệ ngườitiêu dùng trong thương mại điện tử như là một chế định pháp luật nhằm làm sáng tỏ các vấn đề liên quan.

1.4.3. Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu quyđịnh pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Hiện nay, các công trình nghiêncứuliên quanđếnnộidung quyđịnh pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như thương mại điện tử đãphân tích, luận giải được một số vấn đề liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử. Hầu hết các công trình tiếp cận theo hướng xác định những vấn đề trọng tâm, cốt lõi của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hay thương mại điện tử sau đó xem xét việc có hay không có những hạn chế, bất cập nào và đề xuất hướng hoàn thiện sao cho phù hợp với nhu cầu vàthực trạng trên thực tế. Tuy nhiên chưa cómộtcông trình nào nghiên cứu chuyên sâu về các quy định của pháp luật liên quan trực tiếp tới vấn đề bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử như quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng trong thương mại điện tử, trách nhiệm của thương nhân đối với ngườitiêu dùng trong thươngmạiđiệntử, chếtàixửlý vi phạm và phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử giữa người tiêu dùng với thương nhân.

24

Thực tế cho thấy, nhiều công trình triển khai các nội dung trong tiến trình hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hay thương mại điện tử ở các khía cạnh như bình luận các quy định pháp luật, đánh giá tình phù hợp của các quy phạm pháp luật, đưa ra những góp ý, đề xuất, kiến nghị tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hay thương mại điện tử. Một số công trình, bài viết khác thì lại tiếp cận theo hướng nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật trên thực tế, những khúc mắc, khó khăn, hạn chế để từ đó đề xuất các phương pháp, giải pháp giải quyết cho phù hợp, kịpthờiđốivớinhữngvấnđềriênglẻcó liên quantớibảovệquyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử.

Nhìn chung, các vấn đề pháp luật liên quan tới vấn đề cụ thể là bảo vệngười tiêu dùng trong thương mại điện tử vẫn còn ở ngưỡng chung chung, chưa cụthể, chi tiết, rảirácởnhiều công trình nghiêncứuchuyên sâuvềbảovệngười tiêu dùng hoặc nghiên cứu về thương mại điện tử. Do đó, đây cũng lànhững gợi ý để nghiên cứu sinh tiếp thu và cố gắng hoàn thiện luận án của mình liên quan đến việc tiếp cận toàn diện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam.

1.4.4. Đánh giákếtquảnghiêncứucủacác công trình nghiêncứutổchức thực thi và phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Vấn đề liên quan đến việc tổ chức thực thi và phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hay thương mại điện tử cũng được nhiều công trình, bài viết đề cập, tiêu biểu là một số công trìnhđã liệt kê nói trên. Trong số đó, có một số công trình đã đưa ra những giải pháp, kiến nghị quan trọng nhằm giải quyết tốt mối quan hệ và cân bằng được lợi ích giữa hai chủ thể cơ bản liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử gồm: thương nhân và người tiêu dùng. Chúng ta đều biết rằngngườitiêu dùng là bênyếuthếhơn trong quanhệvớitổchức, cá nhân kinh doanh, đặc biệt trong môi trường thương mại điện tử có quá nhiều rủi ro

25

giành cho người tiêu dùng, vậy nên cần hoàn thiện pháp luật với mục tiêuđảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng trên thực tế.

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ khai thác một vài khía cạnh tronghướnghoàn thiện pháp luật, mộtlàbảovệngườitiêu dùng và hai làthương mại điện tử chứ chưa kết hợp hai mặt này với nhau để có cái nhìn tổng quát, đa chiều về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử.

Qua nghiên cứu, tổng hợp tài liệu, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng nhiều công trình nghiên cứu về các cách thức hoàn thiện pháp luật hoặc tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về các vấn đề liên quan tới bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử nhưng các công trình, bài viết này vẫn chưa thực sự phân tích logic các vấn đề từ hạn chế tới cách khắc phục mà thường đưa ra các quan điểm về các vấn đề rải rác như bảo mật thông tin, cơ chế giải quyết tranh chấp hay phòng tránh rủi ro khi giao kết hợp đồng điện tử . Đây cũng là mộtnộidung đáng cân nhắc đểnghiêncứusinh rút ra kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài luận án này.

2. Định hướng nghiên cứu của luận án

Nắmbắtđượctinh thần, quanđiểmnghiêncứutừgócđộlý luậnđến thực tiễn của các công trình khoa học đã hệ thống hoá ở trên, nghiên cứu sinh cho rằng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử là một trong những vấn đề mang tính thời sự của lĩnh vực pháp luật bảo vệ người tiêu dùng. Đây cũng là vấn đề được nhiều học giả, đặc biệt các học giả về kinh tế và pháp luật kinh tế quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu. Do vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề từ góc độ lý luận đến góc độ thực tiễn liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam luôn là vấn đề “nóng hổi”, phức tạp nhưng cũng mang nhiều ý nghĩa thiết thực đối với đời sống xã hội, chính trị – kinh tế ở nước ta, đặc biệt là đối với hoạt động lập pháp của Việt Nam.

26

Đềtài luận án:“Phápluậtvềbảovệquyềnlợingườitiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam” trong bối cảnh tình hình xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng khi giao kết hợp đồng thương mại điện tử đang diễn ra với số lượng ngày càng tăng và phương thức thì cực kỳ đa dạng. Nhìn chung, trước đó, có nhiều công trình khoa học, bài viết viết xoay quanh chủ đề này những chưa được tiếp cận toàn diện hoặc đã tiếp cận những chưa ở mức độ sâu sắc, khúc chiết nên luận án của nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu và giải quyết những tồn đọng về quan điểm của còn hiện hữu, đồng thời, luận án cũng đi sâu phân tích, bình luận tổng thể các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử dước các góc độ lý luận và thực tiễn. Do đó luận án sẽ triển khai và nghiên cứu các nội dung trọng tâm như sau:

Thứ nhất, đưa ra khái niệmvề bảovệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử, chỉ ra điểm đặc thù bảo vệ quyềnlợingườitiêu dùng trong thương mạiđiệntử vớicác hoạtđộng bảo vệ ngườitiêu dùng nói chung cũng như sự cần thiết phải bảovệ ngườitiêu dùng trong các hoạt động thương mạiđiện tử đặcbiệt là mua bán hàng hoá qua mạng internet.

Thứ hai, nghiên cứu, xây dựng khái niệm và xác định cấu trúc pháp luậtđiều chỉnh vấn đề bảo vệ quyềnlợingườitiêu dùng trong thương mạiđiện tửtừ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh vấn đề này. Bằng việc nghiên cứu, vận dụng kiến thức từ các nguồn tài liệu về pháp luật bảovệngười tiêu dùng trong thương mạiđiện tử ở các nước trênthế giới, luận án nhận xét những quy định nào phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và đánh giá khảnăng áp dụng những quy định này ở nước ta.

Thứ ba, nghiên cứu lý luận và thực tiễn một số nội dung pháp luậtđiều chỉnhvấnđề bảovệquyềnlợingườitiêu dùng trong thươngmạiđiệntửtại Việt Nam gồm quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng trong thương mạiđiện tử; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng khi giao kếthợp đồng điện tử; chế tàixử lý hành vi vi phạm và phương thức giải quyết tranh chấp đặc thù giữa thương nhân và người tiêu dùng trong thương mại điệntử.

27

Thứ tư, từ những vấn đề nghiêncứuvà giải quyết, luận án đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luậtđiều chỉnh vấn đề bảovệ quyềnlợi ngườitiêu dùng trong thương mạiđiệntử tạiViệt Nam, và tăng cường hiệu quả thực thi. Giải pháp vừa có tính tổng thể vừa có tính chất chi tiết để đảmbảotính khả thi khiáp dụng trên thực tế.

3. Cơ sở lý thuyết của luận án 3.1. Các lý thuyết nghiên cứu

Luận án này được nghiên cứu dựa trên những lý thuyết sau:

– Lý thuyết về các quyền cơ bản của người tiêu dùng. “Người tiêu dùng, theo định nghĩa, baogồm tấtcả chúng ta” đây là lờimở đầutrong một thôngđiệp đặc biệtcủa Tổng thống Hoa Kỳ Kennedy gửi Quốc hội Hoa Kỳ vào năm 1962. Trong thông điệp này Tổng thống Kennedy cũng đã đưa ra bốn quyền cơ bản của người tiêu dùng và sau đó được Quốc tế Người tiêu dùng bổ sung thêm và hiện nay gồm tám quyền cơ bản đó là: Quyền được thoả mãn các nhu cầu cơ bản; Quyềnđượcan toàn; Quyềnđược thông tin; Quyềnđược lựa chọn; Quyền được lắng nghe; Quyền đòi bồi thường; Quyền được giáo dục và Quyềnđược hưởng môi trường lành mạnh. Để đảm bảocác quyền cơ bản của người tiêu dùng, đặc biệt trong sự phát triển của thương mạiđiệntử, đặt ra những yêu cầuthực tế vàcấpthiết nhằm nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật.

– Lý thuyết về bảo vệ người yếu thế. Trong quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng, ngườiyếuthể được hiểu là ngườikhông có (hoặc khó có) khả năngtựthực hiện hành viđể hưởngquyền, không có(hoặc khó có) khả năng để tự bảo vệ hoặc là bên không có (hoặc khó có) sựbình đẳng so với chủ thể khác. Người tiêu dùng được coi là bênyếuthế trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Do vậy, Nhà nước đã thông qua các quy định của pháp luật góp phần giảm thiểu và làm chođịa vị của họ được cânbằng để bảo đảmquyền, lợi íchhợppháp cho những ngườiyếuthế trong xã hội, trong đó có người tiêu dùng.

28

– Lý thuyết về bất cân xứng thông tin. Thông tin bất cân xứng (tiếng Anh: asymmetric information), trong kinh tế học, là trạng thái bất cân bằng trong cơ cấuthông tin – giữa các chủ thể giaodịch có mức độ nắmgiữ thông tin không ngang nhau. Mộtngườisẽ có thông tin nhiều hơn sovớingườikhác về đối tượng được giao dịch. Trong giao dịch tiêu dùng, người tiêu dùng bị hạn chếvề khả năng tiếp cận thông tin, khả năng kiểm định tính chính xác của thông tin nên có thể phải gánh chịu những bấtlợido sự phi đối xứng thông tin nàyđem lại. Do đó, quy định pháp luật cũng như thực tế thi hành pháp luật bảo vệ quyềnlợi ngườitiêu dùng phải chú ý tớivấn đề nàynhằm đưa ra những giải pháp khắc phục các yếuthế về thông tin của ngườitiêu dùng khi tham gia thương mại điệntử.

3.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Với vấn đề “Phápluật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam”, người viết nêu ra một số câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu sau:

Câu hỏi 1: Khái niệm người tiêu dùng trong thương mại điện tử và bảo vệngườitiêu dùng trong thươngmạiđiệntử?Hoạtđộngbảovệngườitiêu dùng trong thương mại điện tử có những nét đặc thù riêng biệt nào so với bảo vệ người tiêu dùng truyền thống?

Giả thuyết 1: Người tiêu dùng khi tham gia thương mại điện tử đạt được nhiều lợi ích nhưng cũng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro so với giao dịch theo phương thức truyền thống do hoạt động thương mại điện tử cónhiều đặc điểm khác biệt sovớithươngmạitruyền thống. Từđó,yêucầupháp luậtbảovệngười tiêu dùng khi giao dịch điện tử có những đặc trưng riêng, đáp ứng tốc độphát triển của thương mại điện tử, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.

Câu hỏi 2: Nội dung các chế định pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử và thực trạng pháp luật Việt Namvề vấn đề này?

29

Giả thuyết 2: Các chế định pháp luật quan trọng khi điều chỉnh vấn đềbảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử gồm: quyền của người tiêu dùng trong hoạtđộngthươngmạiđiệntử;trách nhiệm của tổchức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử; phương thức giải quyết tranh chấp; hệ thống thiết chế bảo vệ người tiêu dùng; các chếtài xử lý vi phạm.

Câu hỏi 3: Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử cần dựa trên các định hướng gì và giải pháp cụ thể như thế nào?

Giả thuyết 3: Trả lời cho câu hỏi có cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện vềpháp luật bảo vệ quyềnlợi ngườitiêu dùng trong thươngmạiđiệntử với tình hình công nghệ thông tin ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề vô cùng cấp bách. Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật nước ngoài và nghiêncứu các vấn đềxoay quanh bản chất và nội dung của hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử sẽ làm rõ phương hướng hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam hiện nay cho phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội, đảm bảo cho quyềnlợicủa ngườitiêu dùng trên thực tế. Đồngthời, tăngcườngkhảnăng thực thi các quy định pháp luật, phối hợp hành động giữa các cơ quan quản lýnhà nước, doanh nghiệp và bản thân người tiêu dùng.

30

KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Lý luận và pháp luật về bảo vệ quyềnlợingườitiêu dùng trong thương mạiđiện tử là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu cả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu đi trước có ý nghĩa nhất định cho việc đặt nền móng cho các nghiên cứu tiếp theo, trong đó có Luận án này. Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ thống, đánh giá một cách tổng thể các quyđịnh của pháp luật Việt Namvề vấnđề bảo vệ quyềnlợicho người tiêu dùng khi họ tham gia vào hoạt động thương mại điện tử.

Qua việc đánh giá tình hình nghiêncứuđềtài trong và ngoài nước, nghiên cứu sinh cho rằng việc thực hiện nghiên cứu pháp luật về bảovệ người tiêu dùng trong thương mạiđiệntử ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết. Nội dung nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa và hoàn thiện những vấn đề lý luận; phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nayđể từ đó đềxuất các giải pháp hoàn thiện các quy định và cơ chế thực thi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong thương mạiđiệntử tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Kết quả nghiên cứu của Luận án hy vọng sẽ có ý nghĩa đáng kể cho việcđảmbảo quyềnlợicho người tiêu dùng, tăng cường niềm tin của người tiêu dùng khi tham gia giao dịchđiệntử đồngthời góp phần phát triển nền thương mại điện tử ở Việt Nam.

31

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀPHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1. Khái quát về thương mại điện tử và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

1.1.1. Khái quát về thươngmại điện tử1.1.1.1. Khái niệm thương mại điệntử

Sựphát triển và bùng nổ của hệ thống mạng Internet và công nghệ thông tin đã tạo nền tảng cơ sở cho sự ra đời của thương mạiđiệntử, đánh dấu những thay đổi đáng kinh ngạc trong hoạt động thương mại trên toàn cầu. Từ những năm 1960, ứng dụng thương mạiđầutiên của máy tính đã được thực hiện với hình thức là máy ghi và thanh toán điện tử. Như vậy có thể thấy máy tính đãđược ápdụng vào thương mại trước khi internet ra đời. Vào khoảng những năm

1970 – 1980, các doanh nghiệp liên tục mở rộng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất kinh doanh như: gửi nhận các đơn đặt hàng, hóa đơn và thông báo vận chuyển bằng phương thức điện tử qua dịch vụ trao đổi thông điệpdữliệu điện tử (EDI). Thương mại điện tử bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào những năm 1990 sau khi internet ra đời. Như vậy, dù không còn xa lạ gì với thế giới, nhưng phải đến những nămgầnđâyTMĐT mới được du nhập vào Việt Nam và ngày càng trở nên phổ biến.

Mặc dù đã xuất hiện khá lâu nhưng đến thời điểm này vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về TMĐT. Thuật ngữ “Thương mại điện tử” là cụm từ được dịch ra trong tiếng anh là “electronic commerce” (viết tắt là e-commerce), thể hiện bản chất của thương mại điện tử được công nhận rộng rãi đó là sự kết hợp của hai yếutố“thươngmại”(“commerce”) vàđiệntử(“electronic”). Nóicụthểhơn, thương mại điện tử được hiểu là một lĩnh vực mà các hoạt động thương mại được hỗ trợ bởi các phương tiện, công cụ điện tử.

32

Tuy nhiên, ngay chính định nghĩa của hai yếu tố này không hoàn toàn thống nhất do những quan niệm khác nhau về phạm vi và quy mô của chúng,1 vì vậy cũng chưa có một khái niệm chung trên toàn thế giới về TMĐT. Trong lĩnhvựcpháp luật, có haiđịnhnghĩa chínhvềTMĐTđược ghi nhậnđólàTMĐT theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, TMĐT là toàn bộ các hoạt động thương mạiđược thực hiện thông qua các phương tiện điện tử nói chung như fax, điện thoại, các hệthống máy tínhkếtnốivớinhau thông qua mạnglướinhư Internet… Đâylàđịnh nghĩa được ghi nhận tiêu biểu trong Luậtmẫuvề thương mại điện tử năm 1996 của Ủy ban Luật Thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) và Sáng kiến của Châu Âu về Thương mại Điện tử.

Trong Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử, TMĐT là việc sử dụng“thông tin dưới dạng một thông điệpdữ liệutrong khuôn khổ các hoạtđộng thương mại”. Theo đó, “thương mại” trong TMĐT được hiểu trong một phạm vi rất rộng, bao gồm mọi vấn đề phát sinh từ mối quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng như các giao dịch liên quanđếncung cấphoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối, đại diện hoặcđạilý thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình,

tư vấn, đầutư, cấpvốn, liên doanh;… các hình thức khác về hợptác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằngđường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ. Đồng thời, phương tiệnđiện tửcũng được khái quát theo yếu tố chung nhất là thông điệp dữ liệu, “thông tinđược tạo ra, gửi đi tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học và các phương tiện tương tự, bao gồm, nhưng không hạn chế ở, trao đổi dữ liệuđiện tử (EDI), thư điệntử, điệnbáo hoặc fax”.2 Thông điệp dữ liệu chính làphầnnộidung, cốtlõiđược traođổithông qua các phương tiệnđiệntửnói

1 Hoàng Thị Phương Thảo (2016), Thương mại điện tử, NXB. Lao động, tr.2. 2 Luật Mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử năm 1996, Điều 1.

33

chung cho thấy phạm vi và quy mô rộng lớn của yếutố “điệntử” trong TMĐT chứ không phải chỉ thông qua một số phương tiện điện tử nhất định nào.

Theođịnhnghĩa củaỦyban Châu Âu, TMĐT là việc thực hiện hoạtđộng kinh doanh qua các phương tiện điện tử3. Cụ thể, thương mại trong TMĐT gồm nhiều hành vi, trong đó có các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụqua phương tiệnđiệntử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điệntử, mua bán cổ phiếu điệntử, vận đơnđiện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp người tiêu dùng và các dịch vụ bán hàng. Ngoài thương mại hàng hóa, TMĐT được thực hiện đối với cả kinh doanh hàng hóa hữu hình và kinh doanh dịch vụ, bên cạnh đó còn bao gồm cả những hoạt động truyền thống, công ích và các hoạt động kinh doanh mớinhư siêu thị ảo. Tương tự như quy định của Luật mẫu, Ủy ban Châu Âu cũng nêu ra thuậtngữ“dữ liệuđiện tử”cho thấy phạm vi bao trùm của phương tiện điện tử trong TMĐT. Các hoạt động thương mại sẽ được thực hiện dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng chữ, âm thanh và hình ảnh.

Có thể kết luận rằng, TMĐT hiểu theo nghĩa rộng là việc toàn bộ các hoạtđộng tài chính và thươngmại được thực hiện nhờ cơ sở dữ liệuđược truyền tải thông qua tất cả các phương tiện điện tử chứ không chỉ qua hệ thống mạng Internet. Không thể phủ nhận tính bao trùm, tổng quát vấn đề của định nghĩa này vì thực tiễnđây là một hoạt động có phạm vi rộng lớn và có tốc độ phát triển nhanh chóng. Theo định nghĩa này, TMĐT không phải là vấn đề mới mẻ và đã tồn tại từ rất lâu với sự ra đời sơ khai của những phương tiện như telex, fax…4

Theo nghĩa hẹp, TMĐT bao gồm những hoạt động thương mạiđược thực hiện thông qua mạng Internet. Tổchức ThươngmạiThế giới (WTO) và Tổchức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã ghi nhận định nghĩa TMĐT theo xu hướng này.

3“Sángkiến của Châu Âu về Thương mại Điện tử”, Phần I – Cuộc cách mạng Thương mại Điện tử.

4 Ao Thu Hoài (2015), Thương mại điện tử, NXB. Thông tin và Truyền thông, tr. 24-26.

34

Địnhnghĩa về TMĐTđược WTO đưa ra đólà: “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cảcác sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng internet”5. Thươngmạiở trong định nghĩa nàyđã có phạm vihẹpxoay quanh việc sản xuất, mua bán và thanh toán sản phẩm dựa trên phương tiệnđiệntử là mạng Internet.

Thuật ngữ “thương mạiđiện tử” đã được Tổ chức hợptác và phát triển kinh tế (OECD) giải thích như sau: “Thương mại điện tử là việc bán hoặc mua hàng hóa, dịchvụgiữa thương nhân, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ, các tổchức công cộng hoặctổchức tư nhân, được thực hiện thông qua mạng máy tính. Hàng hóa, dịchvụđược đặt hàng trên mạng, nhưng việc thanh toán vàgiao hàng có thể được thực hiện trên mạng hoặc được thực hiện trực tiếp”6. Như vậy, theo OECD, giao dịch thương mại điệntử trước hếtlà giao dịch mua bán và có thể diễn ra giữa thương nhân với thương nhân, thương nhân với người tiêu dùng hay thương nhânvớichính phủ, nhưng quan trọng là nó phải được thực hiện thông qua mạng internetchứkhông phải là dạng giao dịch truyền thống thông qua hợp đồng trên giấy. Khái niệm này đã giới hạn phạm vi của phương tiệnđược sửdụng trong thươngmạiđiệntửchỉbaogồmcó mạng internet, không baogồmcác phương tiện khác nhưđiệnthoại, truyền hình,

fax….

Trên thực tế, các phương tiện thực hiện thương mạiđiệntử (hay còn gọi là phương tiện điện tử) bao gồm: điện thoại, fax, truyền hình, điện thoại không dây, các mạng máy tính cókếtnốivớinhau và mạng internet. Tuy nhiên, thươngmạiđiệntửđược thực hiệnchủyếuqua internet vàchỉthực sựphát

5 Marc Bacchetta (1998), Thương mại Điện tử và vai trò của WTO, WTO PUBLICATION, tr. 1.

6 OECD (2011), OECD Guide to Measuring the Information Society, nguồn: https://stats.oecd.org/glossary/detail.asp?ID=472 ngày truy cập 18/12/2021.

35

triển khi mạng internet được phổ cập. Mặc dù vậy, trong thời gian gần đây, các giao dịch được thực hiện thông qua nhiều phương tiện điện tử đa dạng hơn, đặc biệt là giao dịch thông qua các thiết bị điện tử di động. Do đó không nên gói gọn thương mại điện tử chỉ là những giao dịchđược thực hiệnqua mạng internet mà nên mở rộng phạm vi các loại phương tiện điện tử rộng hơn nữa.

Trong pháp luật Việt Nam, NĐ 52/2013/NĐ-CP đã đưa ra định nghĩa vềhoạt động thương mại điện tử tại khoản 1 Điều 3 như sau: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng nhiều phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Có thể nhận thấy, quan điểm này của pháp luật Việt Nam có những điểm tương đồng với định nghĩa rộng của TMĐT khi không giới hạn phạm vi của các hoạt động thương mại hay chỉ tập trung vào nền tảng Internet khi Luật Giao dịch điện tử đã quy định:“Phương tiện điệntử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”7. Đờisống của người dân ngày càng cao, công việc của họ ngày càng bận rộn, họ có nhu cầu rất lớn cho việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ qua internet hay qua điện thoại. Để phục vụ cho những nhu cầu này, doanh nghiệp đã chú trọngđầu tư vào việc xây dựng hệ thống bán hàng qua mạng internet hay bán hàng qua truyền hình nhằm mục đích quảng cáo các loại hàng hóa, dịch vụ mà mình cung cấp rồi ký kết các hợp đồng với NTD, tấtcả đều được thực hiệnthông qua các phương tiện điện tử. Như vậy, khái niệm “thương mạiđiệntử” theo pháp luật Việt Nam đã không bó hẹp phạm vi các phương tiện thực hiện giao dịch mà bao gồm nhiều loại phương tiện khác nhau, từ truyền hình, điện thoại, fax cho đến mạng internet. Phạm vi điều chỉnh như vậy là phù hợp với tình hình của Việt Nam hiện nay, khiđiệnthoại di dộng, tivi và máy tính cókếtnối

internet ngày càng phổ biến, tham gia vào hầu hết các hoạt động của người dân, từ học tập, giải trí cho đến mua sắm tiêu dùng.

7 Khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005

36

1.1.1.2. Đặc điểm của thương mại điện tử

Về bảnchất, thươngmạiđiệntửvẫncó nhữngnộidung cơbảnnhưthươngmạitruyền thống. Nhưng thươngmạiđiệntửkhác vớithương mại truyền thống ở cách thức thực hiện, đó là thông qua phương tiện điện tử. Chính vì sự khác biệt này khiến cho thương mạiđiệntử có những đặc trưng riêng biệt, cụ thể là:

Thứ nhất, các bên trong thương mại điện tử không trực tiếp tiếp xúc với nhau mà thực hiện giao dịch qua phương tiện điện tử. Trong các giao dịch thương mại truyền thống các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán vàký kết hợp đồng. Còn trong giao dịch thương mại điện tử, nhờ việc sử dụng các phương tiệnđiệntửcókếtnốivớimạng toàn cầu,chủyếulà sửdụng mạng internet, nên các bên tham gia vào giao dịch không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể đàm phán, giao dịch được với nhau dù cho các bên tham gia giao dịch đang ở bất cứ quốc gia nào8. Quá trình giao kết hợp đồng có thể bao gồm nhiều bước từ tìm kiếm bạn hàng, giới thiệu sản phẩm, chào hàng, đàm phán hợp

đồng, ký kết hợp đồng… Nếu như được thực hiện theo cách thức truyền thống, trực tiếp gặp mặt thì sẽ tốn rất nhiều thời gian và chi phí, tuy nhiên, chỉ cần sửdụng phương tiện điện tử là các bên đã có thể thực hiện tất cả quá trình trên trong thời gian ngắn và không cần thiết phải tiếp xúc với nhau, tiết kiệm được chi phívà nhân lực rất nhiều. Do đó, càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp áp dụng phương tiện điện tử vào trong công việc kinh doanh của mình.

Thứ hai, thương mại điện tử cho phép các bên thực hiện giao dịch 24/24 giờ, tất cả các ngày trong năm và không bị giớihạnbởi phạm vi địa lý. Thương mạiđiệntửđược thực hiện trongmộtthị trường không có biên giới, haythịtrường toàn cầu. Các bên trong giao dịch có thể đang ở những quốc gia khác nhau nhưng chỉ cần một cú nhấp chuột khi vào website bán hàng, một bản fax là các bên đã có thể tiến hành giao dịch. Chính vì lẽ đó mà các doanh nghiệp

8 Đại học ngoại thương Hà Nội (2010), Giáo trình thương mại điện tử, tr 19.

37

dễ dàng và nhanh chóng tiếp cận được với khách hàng, lựa chọn được nhà cungứng tốt nhất và những đối tác kinh doanh phù hợp nhất.

Thứ ba, trong thương mạiđiệntử phải có tổi thiểu ba chủ thể tham gia, bao gồm các bên tham gia giao dịch và sự tham gia của bên thứ ba đó là các cơquan cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực. Sự xuất hiện của bên thứba này đã làm cho TMĐT khác biệtvớithương mại truyền thống. Trong thương mại truyền thống cũng có thể có sự tham gia của ba, thậm chí là bốn hoặc năm bên, nhưng các chủ thể này tham gia với vai trò là các bên của hợp đồng thương mạivà cùng hướng tớimột bảnhợp đồng. Còn bên thứ ba tham gia vào hoạtđộng TMĐT tham gia với vai trò tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT. Vớiđặc trưng là được thực hiện thông qua phương tiệnđiệntử, các nhà cung cấp dịch vụ mạng cần phảibảo đảmduy trì hệ thống mạng luôn ở trong trạng thái

tốt để phục vụ cho các nhu cầu giao dịch ở khắp mọi nơi trên thế giới, nếuhệ thống mạng gặp vấn đề trục trặc, ngaylậptức sẽ ảnh hưởng đến việc giao dịch của các bên liên quan. Ngoài ra, các cơ quan chứng thực sẽ đảm bảo các hợpđồng được ký kếtkhông thể bị giả mạo và bị phủ nhận nếu có tranh chấp phát sinh. Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực tuy không tham gia vào việc đàm phán, giaokết hợpđồng điện tử nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả và giá trị pháp lý cho giao dịch điện tử.

Thứ tư, thương mạiđiệntử đòi hỏi các bên tham gia phải có một trình độcông nghệ thông tin nhất định. Thươngmạiđiệntửđược thực hiện dựa trên việc sửdụng các phương tiệnkỹthuật hiệnđại, đólà những công nghệ nhưcông nghệ điện tử, kỹ thuật số, từ tính, quang học, các công nghệ truyềndẫn

không dây… Do đó, để thực hiện một hoạt động thương mạiđiệntử, đòi hỏi các bên phải có một trình độ nhất định trong việc sử dụng các phương tiện kỹthuật này, nhằm tránh các sai sót cóthể xảyra. Đồng thời, cần phải xây dựng và không ngừng nâng cao trình độ công nghệ thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho thương mạiđiệntử như mạng máy tính băng thông rộng

hay mạng không dây….

38

1.1.1.3. Phân loại thương mại điện tử

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại thương mại điện tử, như:

– Phân loại theo phương tiệnđiện tử được sử dụng: Thương mạiđiện tửthực hiện qua điệnthoại, TMĐT thực hiện qua fax, TMĐT qua máy tính và

mạng internet…

– Phân loại theo đối tượng tham gia: có ba chủ thể chính tham gia vào thương mại điện tử bao gồm: Chính phủ (G)9, Thương nhân (B)10, NTD (C)11. Tùy vào sự kết hợp của các chủ thể sẽ tạo ra những hình thức thương mại điện

tử khác nhau, sauđâylà những mô hình thương mạiđiện tử phổ biếnhiện nay:

+ TMĐT giữa Thương nhân với Thương nhân (B2B12)

B2B là loại hình giao dịch TMĐT thông qua các phương tiệnđiệntửgiữa thương nhân với thương nhân. Các giao dịch giữa thương nhâncó thể được thực hiện qua các sàn giao dịch thươngmạiđiệntử, nơi thương nhân cóthểthực hiện việc chào hàng, đặthàng, kýkếthợpđồng, thanh toán qua sàn vàhoàn toàn tự động. Thương mại điện tử B2B giúp cho quá trình giao dịch trong chuỗi cung cấp hiệu quả hơn và loạitrừbớt những doanh nghiệp trung gian nhưnhà phân phối, nhà bán lẻ vì các thương nhân có thể tự tìm kiếm đối tác để bán hàng hóa, dịchvụ.

+ TMĐT giữa Thương nhân với NTD (B2C13)

TMĐT giữa thương nhânvớiNTDđượcthực hiệnchủyếuqua các

website điện tử bán hàng, qua điện thoại… Thương nhân sử dụng trang web đểtrưng bày hàng hóa, dịch vụ, quảng cáo và đưa thông tin về sản phẩm của mình

9 G là viết tắt của “Government” 10 B là viết tắt của “Business”

11 C là viết tắt của “Consumer” 12 Business to Business

13 Business to Consumer

39

để NTD lựa chọn. NTD vào trang web, chọn hàng hóa theo nhu cầu của mình,đặthàng và thanh toán qua mạng. Mô hình giao dịch B2C giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí thuê cửa hàng, nhân viên khiến cho giá thành của sảnphẩm rẻ hơn so với kiểu bán hàng truyền thống. Mặt khác, đối với NTD thìlợiích mà TMĐT mang lại là rất lớn: TMĐT giúp NTD có thể mua hàng hóa, dịch vụ mọi lúc, mọi nơivớitất cả các trang web trên thế giới; họ cóthể dễdàng so sánh giữa các trang web của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khácđể lựa chọn được mặthàng mà họ ưng ý nhất với giá thành thấp nhất; hơn thếnữa NTD cóthể nhận được sản phẩmmột cách nhanh chóng nếu sản phẩmhọ

chọn mua là các sản phẩm đã được số hóa như phim, truyện, phần mềm…

+ TMĐT giữa NTD với NTD (C2C14)

Mô hình này được thực hiện thông qua các hình thức mua bán trực tiếp giữa các khách hàng thông qua các trang web cá nhân, điện thoại, thư điệntửnhư bán các tài sản cá nhân trên mạng, các cuộc bán đấu giá do một hoặc một số cá nhân tổ chức trên mạng hoặc thực hiện các dịch vụ tư vấn cá nhân trên

mạng…Hình thức này đang ngày càng phát triển trên thế giới và tại Việt Nam, thông qua các diễnđànmua sắmtrên mạng, các cá nhân đã đem những mặt hàng mà mình làm ra hoặc đã từng sử dụng để bán hoặc đấu giá trên các trang web đó.

+ TMĐT giữa Thương nhân với Chính phủ (B2G15)

Chính phủ, các cơ quan nhà nước lập các trang web có đưa những thông

tinvề mua sắmcông, lựa chọn nhà cungcấphànghóa…Từđó, các doanh nghiệp thấy mình đủ năng lực đápứng sẽ tiếnhành trao đổi thông tin, gửi chào hàng tới các cơ quan này.

14 Consumer to Consumer

15 Business to Goverment

40

Trong phạm vi nghiên cứu luận án, người viết tập trung nghiên cứu loại hình TMĐT giữa Thương nhân với NTD (B2C).

1.1.2. Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thươngmạiđiện tử

1.1.2.1. Khái niệm người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Dướigóc độ kinh tế, NTD (consumer) là một phạm trù khá rộng chỉ chủthể tiêu thụ của cảiđược tạora bởi nền kinh tế. NTD là người mua nhưng khác với việc mua nguyên liệu (materials) hoặc mua hàng để bán lại, họ là những ngườisửdụng hàng hóa, dịchvụcuối cùng (consumer goods/services hoặc final goods/services) và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó.

Từ khái niệm trong kinh tế học và xã hội học, khái niệmngườitiêu dùngđã xuấthiện trong các quy định của pháp luật và đóng vai trò kíchhoạt một hệthống quy định pháp luật riêng biệt được gọi là “pháp luậtbảovệ ngườitiêu dùng”. “Người tiêu dùng, theo định nghĩa, baogồm tấtcả chúng ta” đây là lời mở đầutrong một thông điệp đặc biệt của Tổng thống Hoa Kỳ Kennedy gửi Quốc hội Hoa Kỳ vào năm 1962. Trong thông điệp này Tổng thống Kennedy cũng đã đưa ra 4 quyền cơ bản của người tiêu dùng. Năm 1975 Hội đồng Liên minh châu Âu đã ban hành ở một chương trình sơ bộ về bảo vệ người tiêu dùng và chính sách bảo mật thông tin. Tiếp bước cùng với phát biểu của tổng thống Kennedy thì chương trình này cũng đưa ra 5 quyền cơ bản của người tiêu dùng bao gồm các quyền sau:

– Quyền được bảo vệ sức khỏevà an toàn; – Quyền được bảo vệ lợi íchkinh tế;

– Quyền được bồi thường;

– Quyền được thông tin và giáo dục; – Quyền được lắng nghe.

Chương trình này đã trở thành nền tảng cho sự ra đời các Chỉ thị và Quyđịnh của Liên minh Châu Âu về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng. Vậyngườitiêu

41

dùng được pháp luật của Liên minh Châu Âu xác định như thế nào? Đây là câu hỏi trọng tâm nhằm xác định chủ thể được coi là yếu thế, cần phảiđược đảm bảo quyền lợi theo pháp luậtbảo vệ ngườitiêu dùng. Xuyên suốt các Chỉ thị cóliên quan đến người tiêu dùng của Liên minh Châu Âu, “người tiêu dùngđượcđịnh nghĩa là một con người tự nhiên, hành động ngoài mục đích thương mại, kinh doanh, thủ công hoặc nghề nghiệp chuyên nghiệp. Tuy nhiên trong trường hợp có hợp đồng hai mục đích, gồm cả mục đích thương mại và phi thương mại thì nếu mục đích thương mạibị giớihạnđến mức không thể trở thành chủ chốt trong nội dung của hợp đồng thì người đó cũng cóthể đượccoi là người tiêu dùng”16.

LuậtBảovệ NTD của Thái Lan đưa ra định nghĩa:“Người tiêu dùng làngười mua hoặc sử dụng hàng hóa dịchvụcủamộtnhà kinh doanh, kể cảnhững người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sửdụng dịch vụcủa nhà kinh doanh mà không phải là người trực tiếp trả chi phí17”.Cách hiểu của định nghĩa này chưa giúp chúng ta phân biệt được khái niệm NTD với khái niệm thương nhân. Nội dung của định nghĩa cho thấy NTD theo cách hiểu của họ đơn thuần chỉ là người mua hoặc người sử dụng dịch vụ của một nhàkinh doanh.

Thông thường, để xác định ngườitiêu dùng cần phảihộitụ haiyếutốchủ chốt sau đây:

Thứ nhất, NTD là con người tự nhiên.

Như đã nêu ở trên, người tiêu dùng theo pháp luật của liên minh châu Âuđược xác định phảilà con người tự nhiên, điều này được quy định xuyên suốt trong các chỉ thị của Liên minh châu Âu cũng như được khẳng định rất nhiều

16Mục17Chỉ thị2011/83/EU của Nghị viện Châu Âu vàcủaHội đồng ngày 25/10/2011 vềquyền của người tiêu dùng, sửa đổi Chỉ thị 93/13/EEC của Hội đồng vàChỉ thị1999/44/EC củaNghị viện Châu Âu vàHội đồng, đồng thời huỷbỏ Chỉ thị85/577/EEC củaHội đồngvàChỉ thị 97/7/EC của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng.

17 Mục 3 Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Thái Lan năm 1979.

42

lầntrong các án lệ của tòa án công lý châu Âu. Sở dĩ người tiêu dùng bắt buộc phải là cá nhânvì sự yếuthế của họ trong mối quan hệ với thương nhân, họ yếu

khả năng nắmbắtthông tin, khả năng thương lượng, gánh chịu hậu quả… nên họ được xác định là ngườitiêu dùng và được pháp luật bảovệ ngườitiêu dùngđảmbảoquyền lợi trước thương nhân. Pháp nhân không được coi là người tiêu dùng kể cả khi họ tham gia giao dịch với mục đích nằm ngoài mục đích thương mạivà hoạtđộngnghề nghiệp chuyên nghiệp, kể cả trườnghợpcác tổ chức hoạt động phi lợi nhuận cũng không được coi là người tiêu dùng. Tuy nhiên cũng có một số quan điểm cho rằng pháp nhân cũng có thể là người tiêu dùng, chẳng hạn như trường hợp các hiệp hội, do thiếu khả năng và kinh nghiệmnên cũng được coi là người tiêu dùng. Pháp luật một số quốc gia như Áo, Cộng hoà Séc quy định pháp nhân cũng là người tiêu dùng khi họ mua hàng hoá, dịch vụcho mục đích cá nhân hoặc khi pháp nhân là người dùng cuối cùng theo quyđịnh của Tây Ban Nha hay Hi Lạp.

Hiện nay, việc xác định tổ chức cóđượccoi là NTD hay không còn cónhiều ý kiến khác nhau. Người viết đồng tình với quan điểm xác định khái niệm NTD chỉ gồm cá nhân mà không coi tổ chức là NTD. Bởi lẽ: (i) thứ nhất, theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ thể luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân bán hàng hóa, dịch vụ. Điều này xuất pháttừ sự yếuthế của NTD như: thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu thế về khả năng đàm phán khi giao kết hợp đồng, yếu thế về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng, hạn chế này thể hiện rõ ràng ở các cánhân đơn lẻ hơn so với tổ chức; (ii) thứ hai, pháp luật bảo vệ NTD được đặt ra để hỗ trợ luật dân sự và thương mại để khắc phục những hạn chế của quyền tự do khế ước khi không có sự cân xứng về điều kiện kinh tế, trình độ hiểu biết giữa các bên trong giao dịch chứ pháp luậtbảovệ NTD không thay thế luật dân sự và thương mại18.

18Trường Đại họcLuật Hà Nội (2014), Giáo Trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nxb. Công an nhân dân, tr 14.

43

Thứ hai, NTD hành động ngoài mục đích thương mại và hoạtđộng nghềnghiệp chuyên nghiệp.

Phần thứ hai của định nghĩa “người tiêu dùng” nói chung đề cập đến mục đích của người tiêu dùng. Phần này đã trở thành chủ đề tranh luận ở nhiều nước trên thế giới và còn có nhiều biến thể về việc xác định như thế nào là hoạt động cho các mục đích phi kinh doanh, không chuyên nghiệp hay mục đích tiêu dùng. Mục đích tiêu dùng hiểu theo một cách thông thường nhất là việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ để phục vụcho nhu cầu sinh hoạt. Còn dưới góc độ kinh tế, “tiêu dùng” được hiểu là quá trình tác động đến một vật bằng cách sử dụng, áp dụng và làm tiêu hao vậtđó nhằmphục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất. Như vậy việc đưa ra mục đích trong các định nghĩa về NTD là hết sức quan trọng vì nólà cơ sở để phân biệt ai là NTD và cần thiết được bảo vệ theo PLBVNTD.

Trong pháp luật Nhật Bản, người tiêu dùng được định nghĩa là một người tựnhiên không thực hiện chức năng trongmộtdoanh nghiệp, trong khiđóchuyên gia được định nghĩa là một cá nhân ký hợp đồng cho các mục đích kinh doanh19. Pháp luật Trung Quốc cũng đưa ra mục đích mua hàng, cụ thể là đápứng nhu cầu tiêu dùng trong cuộc sống hàng ngày, yếu tố chính để phân biệt giữa người tiêu dùng và thương nhân, nhưng định nghĩa bị chỉ trích vì các pháp nhân cũng có thể có nhu cầu tiêu dùng cho hoạt động hàng ngày của họ. Do đó, pháp nhân sẽ đủ điều kiện là người tiêu dùng trong khi người ta tin rằng pháp nhân không yếu như thể nhân trong giao dịch tiêu dùng. Do đó, học thuyết pháp lý của Trung Quốc đã loại trừ pháp nhân khỏi định nghĩa người tiêu dùng vàsửa đổi định nghĩa vào năm 2013, pháp nhân đã bị pháp luật loại trừ khỏi các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng.

19 Gett Straetmans (2019), Information Obligations and Disinformation of Consumers, Springer, tr.489.

44

TạiHàn Quốc, Luật khung về bảo vệ NTD năm 2006 có cách tiếp cậnđộc đáoở chỗ xácđịnh NTD có mục đíchsảnxuất (production) ngoài mục đích sử dụng hàng ngày (daily use), nhưng phải được nêu rõ trong các nghị định của Tổng thống Hàn Quốc (Presidential Decree)20. Tại Việt Nam, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 LBVQLNTD năm 2010: “Người tiêu dùng là người mua, sửdụng hàng hóa, dịchvụcho mục đích tiêu dùng, sinh hoạtcủacá nhân, giađình, tổ chức.”Cũng tương tự như các nước, định nghĩa về NTD trên đưa rađiều kiện về mục đích là “mục đíchsinh hoạt, tiêu dùng”. Tuy nhiên, so với pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam có sự mở rộng hơn. Theo tinh thần của LuậtBảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (LBVQLNTD) năm 2010 thì ngoài đối tượng là các cá nhân, pháp luật Việt Nam còn coi các tổ chức cũng là NTD khi tổ chức đómua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng.

Ngoài ra, có thể nhìn thấy hai hướng quy định về mục đích sử dụng hàng hóa dịch vụ trong định nghĩa NTD. Một là theo hướng loại trừ như định nghĩa của Liên minh Châu Âu thì “Người tiêu dùng được xác định là con người tựnhiên, xác lậpcác hợpđồngtheochỉthịnày, cho các mục đích không phải thương mại, nghề nghiệp”. Hai là chỉ rõ mục đích sử dụng hàng hóa, dịchvụ“nhằm mục đíchtiêu dùng, sinh hoạt” theo hướng quy định của Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam,… Mặc dù với cách tiếp cận mục đích thứ hai có ưu điểm là nêu bật được mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ của NTD từ đó phân biệt rõràngvớimục đíchsửdụng hàng hóa dịchvụcho các mục đích thương mại, nghề nghiệp khác. Tuy nhiên, người viết cho rằng, cách thức tiếp cận mục đích theohướngloạitrừ(không nhằm mục đích thương mại, nghề nghiệp) sẽ tạo thuận lợi hơn trong việc áp dụng vào thực tiễn thực thi pháp luật và mở rộng phạm vi bảo vệ NTD hơn. Bởi lẽ, trong nhiều giao dịch có mục đích “giao thoa”

20 Bản dịch tiếng anh: “Consumer” means those who use (including utilization; hereinafter the same shall apply) goods and services provided by enterprisers for the purpose of daily use or production, prescribed by the Presidential Decree.

45

giữa mục đích tiêu dùng, sinh hoạt với mục đích kinh doanh, nghề nghiệp, thìviệc chứng minh mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của nó thường khó khăn hơn so với loại trừ mục đích thương mại, nghề nghiệp. Với cách tiếpcậntheo hướng loại trừ như định nghĩa của Liên minh Châu Âu, việc xác định có phải là giao dịch tiêu dùng hay không phụ thuộc vàomức độ “chủ yếu” của mục đíchtrong các giao dịch có mục đích “giao thoa”21.

Vậyngười tiêu dùng trong thương mại điện tử là gì, gồm những chủ thểnào? Bản chất, người tiêu dùng trong thương mạiđiệntử là một nhóm cụthểxác địnhtrong tổng thể khái niệmngườitiêu dùng, chủthể này cómộtđặc trưng riêng cóđóchính là họmua sắmhàng hoá, dịchvụtrong môi trường thương mại điệntử.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam 

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người  tiêu dùng  trong  thương mại điện tử ở Việt Nam
Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *