Pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên

Pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Người chưa thành niên vi phạm pháp luật (NCTN VPPL) làvấnđềcủamọi quốc gia, mọi thời đại. Mọi quốc gia đều phải giải quyết vấn đề này theo cách thức, mức độ khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế -xã hội, tập quán và hệ thống pháp luật của quốc gia đó. Tuy nhiên, dù ở bất cứ quốc gia nào, việc xử lý NCTN VPPL cũng là vấn đề phức tạp, bảo đảm phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền của NCTN, phản ánh đầy đủ nhu cầu đặc thù của lứa tuổi chưa thành niên, hài hòa giữa mục tiêu giáo dục, cải tạo, hòa nhập xã hội để xây dựng một thế hệ công dân trưởng thành tuân thủ pháp luật trong tương lai với việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn Công ước quốc tế vềcác quyền của trẻ em (CƯQTE)1. Đây là văn kiện pháp lý quốc tế chính quy định các quyền cơ bản của trẻ em – người dưới 18 tuổi- nói chung và của NCTN VPPL nói riêng. Điều 37 và Điều 40 của CƯQTE yêu cầu các quốc gia thành viên phải thiết lập những đạo luật, thủ tục, các cơ quan và tổ chức riêng cũng như các dịch vụ hỗ trợ cho NCTN VPPL. Cùng với CƯQTE còn có các công ước quốc tế khác cũng được áp dụng đối với NCTN VPPL như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị2; Công ước chống tra tấn và những hành động đối xử hoặc trừng phạt khác mang tínhđộc ác, vô nhân đạo hay hạ nhục3. Việc thực hiện các công ước này yêu cầu Việt Nam cần hoàn thiện pháp luật về xử lý NCTN VPPL, trong đó có pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính (XLHC) đối với NCTN. Hiến pháp 2013, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 20204 đều xác định một trong những trụ cột cơ bản là vấn đề quyền con người, quyền công dân phải được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, phù hợp với điều kiện cụthể của Việt Nam và các chuẩn mực chung, phổ quát của nhân loại.

1 Convention on the Rights of the Child – thường được gọi tắt là CRC. Việt Nam ký kết ngày 26/01/1990, phê

chuẩn ngày 28/02/1990

2 International Covenant on Civil and Political Rights, thường được gọi tắt là ICCPR. Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982

3 Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment, thường được gọi tắt là CAT. Việt Nam ký kết ngày 7/11/2013 và phê chuẩn ngày 5/2/2015

4 Bộ Chính trị, Nghị quyết số 48/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW

2

Khác với các quốc gia khác, pháp luật Việt Nam hiện đang có hai hệ thống chếtài áp dụng để xử lý những người có hành vi VPPL là chế tài hình sự và chế tài hành chính. Người chưa thành niên, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, có thể bị xử lýhình sự hoặc xử lý hành chính; các vi phạm nghiêm trọng sẽ bị xử lý hình sự, các vi phạm ít nghiêm trọng, chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự (THNS), thì xửlý hành chính. Do sự khác biệt này, khi nghiên cứu về các quy định của pháp luật,đánh giá sự phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, các quy định của pháp luật về tưpháp hình sự thường được chú trọng hơn các quy định về XLHC.

Chế tài hành chính áp dụng đối với NCTN được quy định gồm xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) và các biện pháp XLHC. Các biện pháp XLHC áp dụng đối với NCTN gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (GDTXPTT) và biện phápđưa vào trường giáo dưỡng. Các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) về các biện pháp XLHC trong đó có quy định về các biện pháp XLHCđốivớiNCTNđượcđánh giá là có nhiềuđiểmtiếnbộ,trongđóquyđịnh chuyển thẩm quyền quyết định biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sởgiáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở chữa bệnh5 từ cơ quan hành chính sang cơ quan tư pháp được đánh giá là một sự thay đổi lớn, mang tính đột phá, thể hiện sự cải cách mạnh mẽ, đưa hệ thống pháp luật Việt Nam tiệm cận dần với các chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, Luật đã có một phần riêng quy định về xử lý VPHC đối với NCTN với các quy định về nguyên tắc bảo đảm các quyền của NCTN và lần đầu tiên ghi nhận các biện pháp thay thế biện pháp xử lý chính thức áp dụng đối với NCTN (thườngđược gọi là các biện pháp xử lý chuyển hướng trong các tài liệu quốc tế).Nội dung này luôn được nhấn mạnh trong các báo cáo gần đây của Việt Nam về việc thực hiện các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Mặc dù có nhiều điểm tiến bộ, song, so sánh với các chuẩn mực quốc tế về xửlý NCTN VPPL, đặc biệt là Luật mẫu về tư pháp chưa thành niên cho thấy pháp luật về xử lý NCTN VPPL của Việt Nam, bao gồm pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN còn hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực quốc tế; chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với những sửa đổi về chính sách hình sự đối với NCTNcủaBộluật hìnhsự2015 (BLHS); thiếu các quyđịnhvềbiện phápxửlý

5 Từ Luật XLVPHC 2012 biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh chỉ áp dụng đối với người nghiện ma túy nên tên gọi được sửa thành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

3

chuyển hướng, biện pháp thay thế trong quá trình xử lý VPPL của NCTN; các quyđịnh về bảo vệ quyền của NCTN VPPL còn tản mạn, chưa đồng bộ.

Thực tiễn thực hiện pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN cũng cho thấy một số quy định chưa phù hợp, thiếu các quy định về bảo đảm thực thi, dẫn đến khó khăn trong việc triển khai thi hành, ảnh hưởng tới quyền của NCTN VPPL cũng như hiệu quả của việc áp dụng những biện pháp này.

Xuất pháttừ thựctếtrên, trongbốicảnh tổngkết5 năm thi hành Hiến pháp 2013, tổng kết 15 năm thực hiện hai chiến lược đầu tiên trong lĩnh vực xây dựng pháp luật và cải cách tư pháp ở Việt Nam, việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên” có ý nghĩa lý luận, pháp lý vàthực tiễn, hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, các chuẩn mực quốc tế, thực tiễn áp dụng pháp luật và tham khảo có chọn lọc mô hình quốc tế về điều chỉnh pháp luật độc lập về xửlý NCTN VPPL phù hợp với đặc điểm của Việt Nam, mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN, góp phần xử lý có hiệu quả vấn đề NCTN VPPL đểxây dựng thế hệ công dân tương lai tuân thủ pháp luật, có ích cho xã hội.

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định những nhiệm vụnghiên cứu chủ yếu như sau:

– Thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài nhằm chỉra những vấn đề luận án có thể kế thừa và xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;

– Về lý luận, nghiên cứu những vấn đề lý luận về NCTN VPPL, các đặc điểm của NCTN dẫn đến yêu cầu cần có hệ thống pháp luật riêng; các yêu cầu cơ bản của hệ thống pháp luật này dựa trên những chuẩn mực quốc tế và đặc thù của hệ thống pháp luật của Việt Nam; trong hệ thống pháp luật đó, nghiên cứu đưa ra khái niệm,đặc điểm, nội dung điều chỉnh của pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN và các tiêu chí hoàn thiện pháp luật.

– Về thực tiễn thực hiện pháp luật, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN, trong đó tập trung phân tích những hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành về XLHC đối với NCTN và

4

tác động của những hạn chế này trong quá trình thực hiện pháp luật để xử lý VPPL của NCTN.

– Nghiên cứu các quan điểm về xử lý NCTN VPPL, các chuẩn mực quốc tế vàluật mẫu về tư pháp chưa thành niên nhằm vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tếcủa Việt Nam; đánh giá các mô hình thí điểm đang được triển khai nhằm đưa ra cơsở thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật.

– Đề xuất các giải pháp phù hợp, có tính khả thi để hoàn thiện pháp luật về các biện pháp xử lý NCTN VPPL dựa trên các chuẩn mực quốc tế về bảo đảm các quyền của NTCN VPPL, đề xuất mô hình điều chỉnh pháp luật độc lập, hướng tới xây dựng hệ thống tư pháp toàndiện về xử lýNCTN VPPL với các thành phần cốt lõi theo khuyến nghị của các chuẩn mực quốc tế.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Người chưa thành niên vi phạm pháp luật có thể được nhìn nhận và tiếp cận nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như luật học, xã hội học, y học, tâm lý học. Với tư cách là một luận án tiến sĩ luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính, đối tượng nghiên cứu của luận án những vấn đề lý luận, thực tiễn thực hiện pháp luật và hoàn thiện pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN, gồm:

– Người chưa thành niênvớitư cáchlà đối tượng điềuchỉnhđặcbiệtcủahệthống pháp luật;

– Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung điều chỉnh và các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN.

– Chuẩn mực quốc tế, các yêu cầu cơ bản của hệ thống pháp luật về xử lý NCTN vi phạm pháp luật ;

– Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về các biện pháp XLHCđối với NCTN ở Việt Nam;

– Định hướng, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN.

Về thời gian, Luận án nghiên cứu về pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN kể từ năm 2012, sau khi Luật XLVPHC được ban hành. Tuy nhiên, để phân tích sự thay đổi trong các quy định của pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN, Luận án có đề cập tới các quy định của pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN trước năm 2012 cũng như tổng quan các phát hiện, khuyến nghị của các

5

nghiên cứu về các biện pháp XLHC theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002. Luận án cũng nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế, xu hướng hoàn thiện pháp luật, các nghiên cứu do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) thực hiện trước và sau năm 2012 đểđề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý NCTN VPPL ở Việt Nam.

4. Cơ sở lý luận

Việc nghiên cứu đề tài luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa

học của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật; đường lối, quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt nam về cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em. Lý thuyết về bảo đảm quyền con người, quyền của NCTN trong các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người mà Việt Nam là thành viên đóng vai trò là nền tảng lý luận khoa học cho cách tiếp cận, các phân tích, nhận định, đánh giá và đề xuất của luận án.

5. Phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp tiếp cận

– Tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người

Phương pháp tiếpcậndựatrên cơsởquyền conngười(human rights- based approach) là hướng tiếp cận cơ bản của luận án. Từ nhiều năm nay, phương pháp nàyđược sử dụng phổ biến trong nghiên cứu, trong hoạch định và thực thi chính sách. Phương pháp tiếp cận này sử dụng các tiêu chuẩn và nguyên tắc cơ bản về quyền con người làm tiêu chí để xác định kết quả cần đạt được và cách thức để đạt được kết quảđó6. Cách tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người không chỉ chú trong tới việc đạtđược mục tiêu cuối cùng (là quyền con người được bảo đảm) mà mà còn chú trọng tới quy trình, cách thức để đạt được mục tiêu đó (là cách thức bảo đảm thực thi quyền con người). Cách tiếp cận này bảo đảm việc hỗ trợ chủ thể của quyền tham gia vào quá trình thực hiện quyền chứ không chỉ hưởng lợi thụ động từ chủ thể có nghĩa vụthực hiện quyền. Mục tiêu của phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người là chú trọng bảo đảm tốt hơn quyền con người, bảo đảm công bằng xã hội. Vì vậy,

6 Liên Hợp quốc tại Việt Nam, Tài liệu về Phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người, xem tại http://www.un.org.vn/vi/component/docman/doc_details/115-a-human-rights-based-approach-

toolkit.html?Itemid=266&fbclid=IwAR2UyT-d9lHXfeGjCVN7DeKuOVn1RsEw4- YAyitXbCjOVc5H_DZB0a5F_HA, truy cập ngày 1/10/2019

6

phương pháp tiếp cận này, một cách tự nhiên, hướng tới những nhóm người bị thiệt thòi hơn trong xã hội, như người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số.

Người chưa thành niên,vớicác đặcđiểm tâm, sinh lý, phát triển chưa hoàn thiện, chưa trưởng thành, luôn được coi là một nhóm yếu thế trong xã hội, cần được bảo đảm các quyền để phát triển tốt nhất để có một thế hệ công dân tốt cho tương lai. Người chưa thành niên VPPL là một trong những nhóm thiệt thòi trong nhóm yếu thếnày. Để giải quyết các vấn đề liên quan đến NCTN VPPL, cách tiếp cận dựa trên cơsở quyền con người, với khung pháp lý là CƯQTE, Công ước các quyền dân sự vàchính trị, là cách tiếp cận phù hợp và có ý nghĩa.

– Tiếp cận hệ thống

Xu hướng hiện nay của nhiều quốc gia là thay đổi từ cách tiếp cận giải quyết từng vấn đề nhỏ lẻ (issue-specific approach) sang cách tiếp cận xây dựng hệ thống (systems – building approach) để giải quyết tổng thể các vấn đề với ba trụ cột cơ bản là thay đổi nhận thức thái độ, khung pháp luật và hệ thống phúc lợi xã hội. Trong luậnán này, việc phân tích, đánh giá pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với NCTN VPPL được đặt trong một chỉnh thể thống nhất bao gồm các quy định hướng tới thay đổi nhận thức của những người trực tiếp làm công tác phòng ngừa, xử lý vàtái hòa nhập cho NCTN vi phạm pháp luật; xây dựng khung pháp luật toàn diện gồm các quy định cụ thể về căn cứ, đối tượng, thẩm quyền, thủ tục áp dụng cũng như các biện pháp hỗ trợ, can thiệp, xử lý chuyển hướng áp dụng đối với NCTN VPPL; vàquy định về việc bảo đảm thực thi, như việc phát triển hệ thống phúc lợi xã hội với các dịch vụ hỗ trợ NCTN vi phạm pháp luật. Mỗi một nội dung của pháp luật cần phải được nghiên cứu dựa trên các chuẩn mực quốc tế chung, tránh tư duy nghiên cứu vấn đề một cách cắt lát, riêng lẻ.

– Tiếp cận liên ngành

Đây là phương pháp tiếp cận kết hợp tri thức của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn như triết học, tâm lý học, y học, xã hội học để hỗ trợ cho việc nghiên cứuđềtàidướigócđộluậthọc(trongđókhoahọcluận hiến phápvềquyền con người, quyền trẻ em, khoa học lý luận về nhà nước và pháp luật đóng vai trò hỗ trợcho ngành khoa học chủ đạo: khoa học luật hành chính) để luận giải về các yêu cầu, cấu trúc của pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN VPPL.

7

– Tiếp cận luật so sánh

Phương pháp tiếp cận này được sử dụng chủ yếu trong việc phân tích, đánh giánhững quy định của pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN dựa trên so sánh với các yêu cầu, chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em.

– Tiếp cận lịch sử

Với phương pháp tiếp cận này, Luận án bảo đảm sự nhất quán các quan điểm lịch sử trong quá trình nghiên cứu, đánh giá các thay đổi của pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN VPPL ở Việt Nam, đặc biệt là những thay đổi mang tính cải cách trong Luật XLVPHC năm 2012 so với Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 đểthấy được quá trình phát triển của pháp luật phù hợp với các chuẩn mực quốc tế màNhà nước ta đã cam kết tuân thủ.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp sau:

– Phương pháp khảo cứu tài liệu và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có.Đây là phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt luận án. Một khối lượng lớn các tài liệu, kết quả nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã được tham khảo, làm cơ sở cho việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận, pháp lý thuộc phạm vi nghiên cứu đềtài; đồng thời cung cấp cái nhìn khách quan, toàn diện hơn trong việc phân tích, đánh giá cũng như đưa ra các đề xuất đối với từng nội dung cụ thể của luận án.

– Các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận lô gic được sử dụng xuyên suốt luận án, đặc biệt là trong việc xây dựng khái niệm về biện pháp XLHCđối với NCTN, khái niệm về pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN VPPL; luận giải về các đặc điểm của biện pháp XLHC trên cơ sở phân tích so sánh với biện pháp tư pháp hình sự và để đưa đến lập luận khoa học về biện pháp đưa vào trường

giáo dưỡng – nên được quy định là biện pháp tư pháp và cần có pháp luật quy định cụ thể về các biện pháp này. Phương pháp so sánh luật được sử dụng để so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với CƯQTE và các hướng dẫnquốc tếvề xử lýNCTN VPPL để từ đó rút ra được những nội dung còn bất cập của pháp luật Việt Nam so với chuẩn mực quốc tế;

– Phương pháp mô tả và phân tích quy phạm chủ yếu được sử dụng trong quátrình phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp GDTXPTT; biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; biện pháp xử lý thay thế, thông qua đó chỉ rõ những

8

ưu điểm và hạn chế của các biện pháp này trên cơ sở nghiên cứu so sánh với các quyđịnh bảođảmquyền của NCTN VPPL và các nguyêntắcvềxửlýđốivới NCTN VPPL.

– Phương pháp quan sát thực tiễn và tham khảoýkiến chuyên gia.Đâylàphương pháp nhằm kiểm chứng và bổ sung thông tin cho những nhận định, đánh giávề việc áp dụng các biện pháp XLHC đối với NCTN. Phương pháp này cũng được sử dụng nhằm kiểm chứng và củng cố thêm cho những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật. Nghiên cứu sinh đã tham vấn các chuyên gia Việt Nam nghiên cứu về pháp luật có liên quan đến pháp luật về xử lý VPHC đối với NCTN, gồm Bà

Nguyễn Thanh Trúc – Chuyên gia về tư pháp thân thiện cho người chưa thành niên

của UNICEF; Ông Đặng Hoa Nam – Cục trưởng Cục trẻ em; TS. Trần Thị Hiền, TS. NguyễnThịKim Thoa, là nhữngngườihướngdẫnkhoahọcđốivớiluận án này. Trong thời gian làm việc tại UNICEF Việt Nam với tư cách là Chuyên gia về tư pháp thân thiện cho người chưa thành niên, nghiên cứu sinh đã tham vấn ý kiến của các chuyên gia quốctếvềtư pháp chưa thành niêngồmGiáo sư Yvon Dandurand (Canada), bà Shelley Casey (Australia, GS. Carolyn Hamilton (Anh), Ông Vijaya Ratnam Raman (Chuyên gia Quyền trẻ em của UNICEF). Việc tiếp cận và khái thác thông tin đã được thực hiện thông qua việc trao đổi ý kiến, tham khảo các ý kiến phát biểu, tham luận của các chuyên gia tại hội thảo, tập huấn chuyên sâu và tham chiếu các công trình nghiên cứu và các dự án mà họ đã thực hiện ở Việt Nam.

6. Đóng góp mới về khoa học và tính ứng dụng của luận án 6.1. Đóng góp mới về khoa học của luận án

– Trên cơ sở luận thuyết về bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em, dựa trên những phát hiện của khoa học về đặc điểm của NCTN VPPL, luận án hệ thống hóa và phân tích những lý luận pháp lý về xử lý NCTN VPPL, đề xuất các nguyên tắc, yêu cầu cơ bản, nội dung điều chỉnh của pháp luật về xử lý NCTN VPPL để bảo đảm việc xử lý phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý và phát triển của NCTN;

– Trên cơ sở phân tích các chuẩn mực quốc tế, Luận án chỉ ra rằng biện phápđưa vào trường giáo dưỡng, hiện đang được quy định là biện pháp xử lý hành chính, có tính chất bán tư pháp (là biện pháp xử lý hành chính nhưng thẩm quyền quyết định thuộc về cơ quan tư pháp) cần được coi là biện pháp tư pháp hình sự và các quy định về biện pháp này cần phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về biện pháp tước tự do của

9

NCTN quy định tại CƯQTE. Quy định của pháp luật về biện pháp GDTXPTT cũng cần được sửa đổi để bảo phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.

– Quy định về các biện pháp xử lý chuyển hướng, hay còn gọi là các biện pháp thay thế là một bộ phận quan trọng của pháp luật về xử lý NCTN VPPL hiện chưađược quy định một cách đầy đủ và chưa đáp ứng các chuẩn mực quốc tế, cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.

– Luận án chỉ ra rằng sự cần thiết phải hình thành hệ thống pháp luật về xử lýNCTN vi phạm pháp luật, không có sự phân biệt giữa xử lý hành chính và xử lý hình sự như pháp luật hiện hành với các yếu tố cốt lõi của hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niên nêu trong Bình luận chung số 10 năm 2007, mới được thay thếbằng Bình luận chung số 24 của Ủy ban quyền trẻ em về quyền của trẻ em trong tưpháp chưa thành niên/tư pháp trẻ em.

– Luận án đề xuất việc áp dụng Luật mẫu về xử lý NCTN VPPL để xây dựng luật riêng về xử lý NCTN VPPL là giải pháp dài hạn và kiến nghị các nội dung cần sửa đổi trong Luật XLVPHC, Luật trợ giúp pháp lý là giải pháp cho thời gian sắp tới.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn và tính ứng dụng của luận án

– Những nghiên cứu lý thuyết của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu học thuật cũng như giảng dạy, tập huấn về tư pháp thân thiệnđối với NCTN;

– Những đề xuất hoàn thiện pháp luật là nguồn tư liệu tham khảo cho các cơquan hoạch định chính sách khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý NCTN VPPL nói chung và pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN nói riêng.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được kết cấu gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Chương 2: Những vấn đề lý luận về pháp luật về các biện pháp xử lý hành chínhđối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Chương 3: Chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

Chương 4: Pháp luật Việt Nam về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và thực tiễn thực hiện

Chương 5: Quan điểm, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên

 

Pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên
Pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Các công trình nghiêncứutrongnướccó liên quanđếnxửlý hành chính người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.1.1. Các công trình nghiên cứu về pháp luật xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.1.2. Các công trình nghiên cứu so sánh về pháp luật có liên quan đến các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật với các chuẩn mực quốc tế

1.2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quanđến xửlý người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.2.1. Các công trình nghiên cứu chung về xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.2.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến pháp luật Việt Nam về xửlý người chưa thành niên vi phạm pháp luật

1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.1. Những kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và phát triển

Qua tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu đã được công bố dưới dạng các sách chuyên khảo, đề tài khoa học, bài báo, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ luật học có thể thấy các công trình này có một số nội dung đã đề cập được đó là:

Thứ nhất, về những vấn đề lý luận có liên quan đến người chưa thành niên vi phạm pháp luật: Những công trình nghiên cứu trong nước đã được đề cập đến một sốvấn đề lý luận như: khái niệm NCTN VPPL, đặc điểm và một số nguyên nhân dẫnđến VPPL của NCTN. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa tiếp cận dưới gócđộvềquyềncủatrẻem,vềsựphát triển tâm sinh lýcủatrẻ,đặcthùcủatrẻ, nguyên nhân trẻ em VPPL trong bối cảnh của Việt Nam.

25

Thứ hai, các nghiên cứu về thực trạng pháp luật về xử lý NCTN vi phạm pháp luật: Có thể nói, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước tập trung vào nhóm thứ hai, đặc biệt là trước và sau khi ban hành Luật XLVPHC năm 2012. Các công trình này đều tập trung phân tích những thay đổi của pháp luật về biện pháp xử lýhành chính đối với NCTN như thay đổi về thẩm quyền quyết định áp dụng, đặc điểm của biện pháp XLHC đối với NCTN những cách tiếp cận chủ yếu dựa trên những quyđịnh của pháp luật hiện hành để phân tích các đặc điểm về đối tượng áp dụng, căn cứáp dụng, thẩm quyền áp dụng

Tuy nhiên, điểm chung của các công trình nghiên cứu này là phân tích về thẩm quyền, thủ tục và các biện pháp xử lý đối với NCTN VPPL. Các vấn đề làm cơ sở lýluận để phân tích, đánh giá đễn những quy định đặc thù có liên quan đến đối tượng chịu sự tác động của các biện pháp xử lý đối với trẻ em như tâm sinh lý của trẻ em,đặc điểm VPPL của trẻ em, các nguyên tắc cần áp dụng khi xử lý trẻ em VPPL đểbảo vệ quyền cũng như bảo đảm sự hòa nhập xã hội của trẻ em chưa được phân tíchđể làm nổi bật. Trên cơ sở nghiên cứu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đềtài của luận án, những kết quả mà luận án đã kế thừa và phát triển đó là:

– Thứ nhất, cần làm rõ hơn các khái niệm có liên quan như khái niệm trẻ em, khái niệm NCTN; NCTN VPPL; biện pháp XLHC đối với NCTN làm cơ sở lý luận cho việc phân tích những đặc điểm đặc thù của các biện pháp XLHC đối với NCTN. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu hiện nay đã phân tích các khái niệm vàđặc điểm của biện pháp XLHC đối với NCTN, cũng như các nghiên cứu quốc tế cóphân tích sâu về bản chất của biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất là cần có những phân tích rõ, cụ thể hơn về sự khác biệt giữa hai khái niệm“trẻem”và“ngườichưa thànhniên”bởilẽđâyđượcxem là“khoảngtrống pháp lý” giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế. Ngoài ra, các biện pháp xử lýNCTN VPPL, đã được Hoàng Minh Khôi và một số tác giả đã phân tích sâu sắc, cụthể về các quy định của pháp luật về căn cứ, thủ tục, thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý HC đối với NCTN theo quy định của pháp luật hiện hành là nguồn tài liệu tham khảo quý báu mà luận án cần tiếp thu và kế thừa, thông qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đảm bảo sự phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về xử lýtrẻ em VPPL.

26

Ngoài ra, các công trình nghiên cứu quốc tế về Luật XLVPHC ở Việt Nam của các chuyên gia quốc tế, các hướng dẫn về Luật Mẫu về xử lý NCTN VPPL dựa trên các chuẩn mực quốc tế đã được luận án lựa chọn làm căn cứ để lập luận và đưa ra các khuyến nghị về hoàn thiện pháp luật Việt Nam dựa trên các chuẩn mực quốc tế.

– Thứ hai, về đánh giá thực trạng: Thực trạng quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý NCTN VPPL đã có những định hình cơ bản. Trên cơsở đó,các công trình nghiêncứucó liên quan cũng ít nhiều đã nhận diệnđược những nguyên nhân của thực trạng pháp luật và thực tiễn của pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN hiện nay. Ở những góc nhìn khác nhau, các công trình đã có những nhận định, luận giải về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp XLHC đối với NCTN VPPL vẫn còn có sự khác biệt những là những nguồn tài liệu có giá trị tham khảo. Ngoài ra, một số báo cáo của các cơ quan ban ngành là những tư liệu, số liệu xác thực, có nguồn tin cậy để luận án sử dụng, khắc phục những khó khăn, hạn chế trong quá trình thu thập số liệu, khảo cứu thực tế.

– Thứ ba, về một số đề xuất, kiến nghị: phần lớn các công trình nghiên cứu đềquan tâm đến tìm kiếm các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao nhận thức và tăng cường điều kiện bảo đảm thực hiện. Do đó, luận án cũng tiếp tục kế thừa có chọn lọc các kiến nghị, giải pháp nhằm bổ sung cho những lập luận về các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý NCTN vi phạm và nâng cao hiệu quả của biện pháp giáo dục tại cộng đồng.

1.3.2. Những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu

Xử lý hành chính đối với NCTN VPPL nói chung, VPHC nói riêng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như luật học, xã hội học, tâm lý học, tội phạm học. Nói cách khác, vấn đề này có thể được nhìn nhận và tiếp cận nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.

Xuất phát từ sự phân tích thực trạng tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đềluận án, có thể thấy không gian nghiên cứu dành riêng cho luận án, bao gồm những vấn đề sau đây:

(i) Đối tượng NCTN VPPL, những đặc điểm đặc thù về xử lý NCTN VPPL, vàcác quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với họ đểđảm bảo mục tiêu giáo dục, phòng ngừa trên cơ sở bảo đảm các quyền con người, quyền trẻ em, các yêu cầu của pháp luật đối với xử lý NCTN vi phạm háp luật là gì?

27

(ii) Các khoảng trống pháp lý của pháp luật về các biện pháp xử lý hành chínhđối với NTCN với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là CƯQT về quyền trẻ em và Luật Mẫu về xử lý đối với NTCN VPPL.

(iii) Thực trạng các quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý đối với NCTN VPPL (xử lý hình sự và xử lý hành chính); thực tiễn áp dụng các biện pháp này đãđáp ứng được các yêu cầu, chuẩn mực trong bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em, về các nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em.

(iv) Kinh nghiệm quốc tế có thể tham khảo để đề xuất các giải pháp giải pháp và kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế về tư pháp NCTN với cách tiếp cận từ góc độ các biện pháp bảo vệ trẻ em trong mối liên quan với chính sách hình sự đối với NCTN, nhất là các quy định của BLHS 2015, sửa đổi năm 2017.

1.4 Giả thuyết nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu 1.4.1. Giả thuyết nghiên cứu

Pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN là một bộ phận cần được hoàn thiện trong tổng thể hệ thống pháp luật về xử lý NCTN VPPL theo hướng phù hợp vớicác chuẩn mực quốctếvề quyền con người, quyền trẻ em vì mục tiêubảovệNCTN, hỗ trợ NCTN VPPL phát triển lành mạnh, trở thành công dân tuân thủ pháp luật, có ích cho xã hội.

Luận án cần chứng minh các giả thuyết nghiên cứu cụ thể sau đây:

– Pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN chưa hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em.

– Pháp luật quy định các biện pháp XLHC đối với NCTN nghiêm khắc hơn so với các quy định của BLHS.

– Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đang được coi là biện pháp xử lý hành chính, nhưng bản chất là biện pháp tư pháp hình sự.

– Pháp luật về các biện pháp XLHC cần được hoàn thiện trong tổng thể hệ thống pháp luật về xử lý NCTN VPPL.

1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu

Để đảm bảo pháp luật về các biện pháp xử lý NCTN của Việt Nam phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, Luận án cần tập trung làm sáng tỏ các câu hỏi nghiên cứu sauđây:

28

1. Điều chỉnh pháp luật về các biện pháp xử lý đối với NCTN VPPL nói chung dựa trên các nguyên tắc, nội dung, và phương pháp điều chỉnh nào để đạt được mục tiêu bảo vệ quyền của NCTN VPPL?

2. Các chuẩn mực quốc tế về đảm bảo quyền của NCTN VPPL, các cơ chế, cách thức để thực hiện các chuẩn mực này đã đặt ra những yêu cầu gì đối với các quốc gia thành viên trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý NCTN VPPL nói chung và pháp luật về các biện pháp xử lý NCTN VPPLnói riêng?

3. Những điểm chưa phù hợp giữa các quy định của pháp luật Việt Nam về các biện pháp xử lý hành chính đối với NCTN VPPL so với các chuẩn mực quốc tế vềbảo đảm quyền của NCTN VPPL, về cách thức thực thi các chuẩn mực quốc tế đó làgì?

4. Các giải pháp nào có thể áp dụng để bảo đảm sự phù hợp của pháp luật Việt Namvềcác biện pháp xử lý hành chínhđốivới NCTN VPPL với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em? Mô hình điều chỉnh pháp luật nào từ kinh nghiệm quốc tế có thể là bài học tham khảo cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính trong tổng thể các quy định của pháp luật về xử lý hành chính đối với NTCN VPPL?

29

Kết luận Chương 1

Tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án đã được nghiên cứu, khảo sát trên hai phương diện, bao gồm những công trình nghiên cứu ở Việt Nam và một số công trình nghiêncứutrênthếgiới có liên quanđếnđềtài. Đánh giá chung cho thấyởtrong nước, pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với NCTN không phải là vấn mới, đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu ở các cấp độ từ luận văn, luậnán tiến sỹ đến các chuyên đề, bài báo… Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng ở những vấn đề cơ bản hoặc tập trung vào những khía cạnh như các khái niệm, thực trạng pháp luật về thẩm quyền, nguyên nhân và đặc thù của NCTN VPPL. Việc nghiên cứu, đánh giá pháp luật về các biện pháp xử lý NCTN VPPL chưa được tiếp cận, nghiên cứu toàn diện theo phương pháp tiếp cận dựa trên quyền, các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về xử lý NCTN VPPL để phân tích các khoảng trống pháp lýgiữa pháp luật Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế. Do đó, đây là hướng mà Luận án lựa chọn nghiên cứu để tránh sự trùng lắp, làm cơ sở, định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật cũng như đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật các biện pháp XLHCđối với NCTN.

Trên phương diện quốc tế, kết quả nghiên cứu pháp luật liên quanđến đề tài luận án trên thế giới cho thấy có những quan điểm, cách thức khác nhau và phạm vi, có những điểm khác biệt giữa các quốc gia phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội, và đặc điểm hệ thống pháp luật cụ thể của từng quốc gia. Vì vậy, các kết quả nghiên cứu này có giá trị tham khảo quan trọng cho việc xác định những nội dung, yêu cầu,định hướng kiến nghị các giải pháp của Luận án.

Dựa trên kết quả khảo sát các công trình nghiên cứu, tác giả đã xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất quan điểmđịnh hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với NCTN ở Việt Nam hiện nay.

30

CHƯƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP

XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

VI PHẠM PHÁP LUẬT

2.1. Khái niệm và đặc điểm của người chưa thành niên vi phạm pháp luật 2.1.1. Khái niệm người chưa thành niên

Người chưa thành niên”, hay “vị thành niên”, “trẻ em” là các thuật ngữ được sửdụng trong các bối cảnh và góc độ tiếp cận khác nhau, để chỉ một cá nhân chưa có sựphát triển đẩy đủ về thể chất và tinh thần so với “người thành niên”, “người trưởng thành” hay “người lớn”. Trong mối quan hệ với pháp luật, khái niệm “người chưa thành niên” được sử dụng để chỉ một cá nhân có hoặc không có các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong mối quan hệ với “người thành niên”. Tiêu chí để xác định NCTN hiện nay chỉ căn cứ vào độ tuổi thành niên do pháp luật quy định.

Trong Công ước quốc tế về các quyền của trẻ em (CƯQTE) khái niệm “trẻ em” (a child) được định nghĩa “là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụngđối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.13 Theo CƯQTE, định nghĩa trẻem, tuổi trẻ em gắn với tuổi chưa thành niên do luật pháp các quốc gia quy định. Dướiđộ tuổi thành niên, mọi NCTN được coi là trẻ em, được bảo đảm tất cả các quyền quyđịnh trong Côngước.Ở ViệtNam, khái niệm trẻ em và NCTN có sự không đồng nhất. Trẻ em, theo quy định của Luật Trẻ em, chỉ giới hạn là người dưới 16 tuổi, trong khi Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định tuổi thành niên là 18 tuổi. Như vậy, độ tuổi trẻ em của Việt Nam thấp hơn tuổi thành niên do pháp luật quy định, và được coi làđiểm chưa tương thích với CƯQTE.

Một nghiên cứu về bảo vệ quyền của trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự đãđưa ra định nghĩa về NCTN như sau: “NCTN được coi là những người chưa trưởng thành hoặc chưa phát triển đầy đủ và ở độ tuổi tối thiểu là đến 18 tuổi và trong một số trường hợp là đến 21 tuổi.”14 Trong các tài liệu quốc tế, để chỉ NCTN thường dùng

13 Liên hợp quốc, Công ước quốc tế về các quyền của trẻ em, Điều 1

14 Penal Reform International, (2013), Protecting Children’s Rights in Criminal Justice Systems: A Training Manual and Reference Point for Professionals and Policymaker, tr 10.

Bản điện tử có tạihttps://cdn.penalreform.org/wp-content/uploads/2013/11/Childrens-rights-training-manual- Final%C2%ADHR1.pdf, truy cập ngày 1/10/2019

31

các từ “minor”, “juvenile” hoặc “a child” (trẻ em), và đều thống nhấtđộ tuổitheo CƯQTE là người dưới 18 tuổi.

Như vậy, độ tuổi là yếu tố duy nhất để đưa ra định nghĩa NCTN. Mặc dù pháp luật Việt Nam quy định tuổi trẻ em là dưới 16 tuổi, tuổi chưa thành niên là dưới 18 tuổi, CƯQTE và các tài liệu quốc tế đều thống nhất NCTN ở độ tuổi dưới 18 và được bảo đảm mọi quyền của trẻ em theo CƯQTE, người thực hiện hành vi vi phạm ở thờiđiểm dưới 18 tuổi phải được đối xử phù hợp với các quy tắc của tư pháp chưa thành niên.

2.1.2. Các đặc điểm phát triển của người chưa thành niên

Người chưa thành niên có những đặc điểm khác biệt với người thành niên (nói cách khác là sự khác biệt giữa trẻ em và người lớn) ở những đặc điểm sau:

2.1.2.1. Sự phát triển chưa hoàn thiện về não bộ tác động tới nhận thức, hành xử của người chưa thành niên

Trong các yếu tố phân biệt sự khác biệt giữa NCTN và người thành niên, trong những năm gần đây, các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng sự phát triển về não bộ được coi là yếu tố cơ bản cần được lưu ý vì có sự tác động đến phát triển trí tuệ, nhận thức và hành xử theo các chuẩn mực xã hội và pháp luật của một cá nhân. Các bằng chứng khoa học này ngày càng được sử dụng rộng rãi để giải thích các nguyên nhân vi phạm và là cơ sở để đưa ra các cách tiếp cận giải quyết vấn đề phù hợp. Tại Bình luận chung số 24 về quyền trẻ em trong hệ thống tư pháp trẻ em vừa được thông qua tháng 9 năm 2019, Ủy ban Quyền trẻ em sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về sự phát triển của bộ não là bằng chứng khoa học để đưa ra các khuyến nghị về độ tuổi trẻ em phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình cũng như các giải pháp can thiệp cần dựa trên và phù hợp với sự phát triển bộ não của trẻ em.15

Từ những tiến bộ trong công nghệ chụp quét não bộ, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng mức độ phát triển trí não của NCTN, đặc biệt ở giai đoạn từ 12 đến 18 tuổi (thường gọi là “tuổi teen”) thấp hơn so với dự đoán trước đây. Não bộ của một

15 Committee on the Rights of the Child (2019), General Comment No.24 (2019) on chidren’s rights in the child justice system, U.N. Doc. CRC/C/GC/24, đoạn 22, 32

Bản điện tử có tại:

https://tbinternet.ohchr.org/_layouts/15/treatybodyexternal/Download.aspx?symbolno=CRC%2fC%2fGC%2 f24&Lang=en, truy cập ngày 1/10/2019

32

người chỉ phát triển hoàn toàn và đầy đủ sau độ tuổi 25. Giai đoạn “tuổi teen” là một giai đoạn tối quan trọng trong sự phát triển của não bộ, cũng là giai đoạn NCTN hay có hành vi VPPL.

Hình 1. Sự phát triển bộ não của người chưa thành niên từ 5-20 tuổi16

– Trong cấu tạocủa bộnão, vỏ não trước trán hay thùy trán, là bộ phận chịu trách nhiệm về nhận thức, giải quyết vấn đề và điều khiển cảm xúc, còn được gọi là“trung tâm điều khiển” của não bộ, kiểm soát quá trình ra quyết định, phán xét bao gồm cả việc lập kế hoạch dài hạn, kiểm soát xung động, đánh giá rủi ro và hậu quảlâu dài của hành động, trong đó có những hành vi VPPL.

Hình 2. Chức năng điều hành của vỏ não trước trán/thùy trán17

16 Kết quả nghiên cứu của Paul Thompson, UCLA, School of Medicine. Màu đỏ và vàng thể hiện mức độ chưa trưởng thành của não bộ; màu xanh và màu tím thể hiện não bộ trưởng thành hơn

17 Arain M, Haque M, Johal L, Mathur P, Nel W, Rais A, Sandhu R, Sharma S, (2013), Maturation of the adolescent brain, https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3621648/, truy cập 1/10/2019

33

Thùy trán/vỏ nãotrướctrán làbộphậncủanãobộphát triển hoàn thiện sau cùng, chủ yếu ở giai đoạn sau 20 tuổi. Bởi vì phần não bộ này vẫn chưa trưởng thành và phát triển đầy đủ, không như người lớn, NCTN vẫn chưa thể đưa ra những quyếtđịnh có trách nhiệm và hợp lý, chưa thể sử dụng những phân tích có tính toán, đánh giá rủi ro, và kiểm soát cảm xúc của mình. Bên cạnh đó, hạch hạnh nhân là bộ phận của não bộ chịu trách nhiệm xử lý tình cảm của con người lại phát triển mạnh trong thời kỳ dậy thì, nói cách khác, những thay đổi trong não bộ liên quan đến tình cảm, hưng phấn phát triển trước khả năng điều chỉnh hành vi. Vì lý do này, NCTN trong giai đoạn “tuổi teen” dựa vào tình cảm nhiều hơn là lý trí.18 Điều này được các nhàkhoa học mô tả như là khởi động xe máy trong khi vẫn chưa biết lái xe.

Hình 3. Sự trưởng thành của bộ não con người qua các giai đoạn19

Sự phát triển chưa hoàn thiện của não bộ giải thích vì sao NCTN tư duy lập luận khác với người trưởng thành. Người chưa thành niên không thể bị áp đặt theo chuẩn

18 Tổng hợp từ các nghiên cứu của:

– Kagan, J., & Baird, A. (2004). Brain and behavioral development during childhood. In M. S. Gazzaniga (Ed.), The cognitive neurosciences Cambridge, MA, US: MIT Press, (pp. 93-103).

– American Academy of Child and Adolescent Psychiatry, (2016), Teen Brain: Behavior, Problem Solving, and Decision Making,

Xem tại: https://www.aacap.org/AACAP/Families_and_Youth/Facts_for_Families/FFF-Guide/The-Teen- Brain-Behavior-Problem-Solving-and-Decision-Making-095.aspx, truy cập 1/10/2019

– National Institute of Mental Health: Imaging Study Shows Brain Maturing xem tại http://www.nimh.nih.gov/press/prbrainmaturing.cfm; truy cập 1/10/2019

– Adolescent Brain Development, xem tại https://www.addictionisreal.org/teenage-brain, truy cập 1/10/2019 – Arain M, Haque M, Johal L, Mathur P, Nel W, Rais A, Sandhu R, Sharma S, (2013), Maturation of the

adolescent brain, xem tại https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3621648/, truy cập ngày 1/10/2019 19 Tiến sĩ Paul Thompson, Viện Nghiên cứu sức khỏe tâm thần, Trường Đại học California, Los Angeles

34

hành vi như người trưởng thành vì não bộ của họ vẫn đang học cách đưa ra quyếtđịnh đúng đắn dựa trên lập luận phù hợp, để đánh giá được hậu quả của hành động bản thân và có thể kiềm chế được sự bồng bột, bột phát như một người trưởng thành.

2.1.2.2. Về mặt tâm lý xã hội

Người chưa thành niên ở mỗi giai đoạn có sự phát triển về tâm lý xã hội khác nhau. Người chưa thành niên chưa phát triển hoàn toàn và có năng lực hành vi thấp hơn so với người trưởng thành: Giai đoạn dậy thì từ 12 đến 18 tuổi (thường được gọi là giai đoạn “tuổi teen”) là quãng thời gian NCTN trải qua những sự thay đổi lớn, phát triển vượt bậc về thể chất, nhận thức, xã hội và đạo đức. Các nghiên cứu quốc tếđã chỉ ra một số các đặc điểm chính sau đây của NCTN trong giai đoạn phát triển này:

– Như phân tích của các nhà khoa học về phát triển não bộ của NCTN, trong giai đoạn dậy thì (“tuổi teen”), NCTN trải qua những giao động lớn về hóc môn vàcảm xúc, và điều đó cũng góp phần dẫn đến các hành vi bột phát. Liều lĩnh là điểm thường thấy ở NCTN giai đoạn này. Các em thường quan tâm đến khía cạnh phần thưởng, sự thỏa mãn hoặc lợi ích thay vì cân nhắc đến nguy cơ, hậu quả của các hànhđộng.

– Người chưa thành niên ở độ tuổi dậy thì (giai đoạn “tuổi teen”) cố gắng chứng minh mình đang trở thành người lớn và khẳng định sự độc lập của bản thân. Những phát triển mạnh mẽ về thể chất và sự hoàn thiện cơ bản của các chức năng sinh lý làm cho NCTN có những ấn tượng rất sâu sắc là mình đã trưởng thành, không còn trẻ con nữa và có các biểu hiện nhu cầu độc lập, mong muốn tự hành động, tự đưa ra quyếtđịnh theo ý kiến riêng của mình mà không muốn bị ảnh hưởng bởi người khác. Mộtđặc tính chung ở độ tuổi phát triển của NCTN là “ham muốn trở thành một người lớn”. Thực tiễn cho thấy rằng, sự nảy sinh cảm nhận đó ở lứa tuổi này là một trong những yếu tố tâm lý góp phần tạo nên những mối quan hệ bất bình ổn giữa cha mẹ vàcon cái, làm cho tần số giao tiếp giữa cha mẹ và con cái giảm xuống và thay vào đólà nhu cầu giao tiếp của NCTN với bạn đồng lứa tăng lên.20 Vì vậy, NCTN thường thường thách thức cha mẹ và cơ quan công quyền và tham gia vào các hành vi nổi loạn. Nhu cầu độc lập cũng là một xu hướng phát triển tất yếu và rất cần thiết của

20 Viện Khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao, UNICEF, (2012), Báo cáo tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự cần thiết thành lập Tòa án chuyên trách đối với người chưa thành niên ở Việt Nam, tr.41

35

NCTN. Đây là cơ sở quan trọng để giúp các em trưởng thành. Thực tế cho thấy, không phải tất cả NCTN khi hình thành và phát triển nhu cầu độc lập đều có nguy cơ VPPL,đa số NCTN sẽ “trưởng thành”, chín chắn hơn và từ bỏ những hành vi trên.

– Trong giai đoạn dậy thì (giai đoạn “tuổi teen”), nhu cầu giao tiếp với bạn bècủa NCTN phát triển rất mạnh và xuất hiện thêm nhiều mối quan hệ. Bạn bè đã trởthành một phần rất quan trọng của họ. Lối sống, văn hoá, cách cư xử của NCTN chịuảnh hưởng rất lớn của bạn bè và dễ bị tiêm nhiễm những thói hư, tật xấu từ các bạn. Sự mong mỏi được hòa nhập với bạn bè và sợ bị bạn bè hắt hủi, chối bỏ khiến trẻ em làm những hành động mà bình thường chưa chắc đã làm. Do mong mỏi khao khátđược hòa nhập, yêu mến nên các em cũng rất dễ bị kỳ thị.21 Môi trường bạn bè tốt làmột trong những yếu tố tác động đến sự phục hồi của NCTN.

– Giai đoạn phát triển đến dưới 18 tuổi do đó là giai đoạn học tập và tích lũy các kiến thức cơ bản bao gồm cả kiến thức văn hóa và kiến thức xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của NCTN. Các em có thái độ học tập tốt thì sẽ dành hầu hết tâm huyết, sức lực cho hoạt động này nên không có thời gian cho việc chơi bời, lêu lổng tham gia vào các nhóm bạn tiêu cực. Khi các em có tháiđộ học tập không tốt, không đúng mức sẽ dẫn tới thái độ thờ ơ, sao nhãng việc học hành và giao du với nhóm bạn xấu. Trình độ học vấn thấp là một trong những lý do khiến NCTN phạm tội có sự nhận thức hạn chế, lệch lạc.22

2.1.2.3. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi

Trong giai đoạn phát triển, nhất là giai đoạn từ 12 đến dưới 18 tuổi, NCTN cókhả năng nhận thức và điều khiển các hành vi của mình nhưng thường mang tính chất cảm tính, thiếu sư cân nhắc kỹ lưỡng hoặc không có khả năng lường trước hậu quảdo hành vi của mình gây ra. Ngoài yếu tố do sự phát triển của não bộ, còn do khảnăng nhận thức về pháp luật, xã hội còn nhiều hạn chế. Do nhận thức và quan niệm về pháp luật của NCTN chưa hình thành đầy đủ hoặc bị lệch lạc theo cách hiểu chủquan của các em nên nhiều em thường thờ ơ, lãnh đạm với các quy định của pháp luật. Không ít em còn cho rằng, những yêu cầu và đòi hỏi của các chuẩn mực pháp luật chỉ được quy định trong các văn bản pháp lý và hoàn toàn mang tính hình thức,

21 UNICEF Vietnam, (2017), Chuẩn mực quốc tế về tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự

22 Viện Khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao, UNICEF, (2012), Báo cáo tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự cần thiết thành lập Tòa án chuyên trách đối với người chưa thành niên ở Việt Nam, tr.44

36

còn hành động thì phải căn cứ vào nhu cầu cụ thể của cá nhân mới thể hiện được cuộc sống tự do23.

Khác với người lớn, NCTN không phải lúc nào cũng cân nhắc kỹ lưỡng các hậu quả của các hành động của mình theo cách mà “người lớn” sẽ làm. Người chưa thành niên có thể lựa chọn cách hành động khác với cách mà người lớn có thể sẽ lựa chọn khi đứng trước cùng một tình huống, vì NCTN nhìn nhận, đánh giá các hậu quả của hành vi của mình rất khác biệt so với người lớn. Ví dụ: Để gây ấn tượng với bạn bè, NCTN có thể lựa chọn các hành vi “ra oai” mà không quan tâm đến hậu quả của hành vi như gây thiệt hại cho người khác hoặc phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Tuy nhiên, vì đang trong giai đoạn hoàn thiện bản sắc cá nhân, cái tôi, nên nhìn nhận dưới góc độ tích cực, đặc điểm này cho thấy NCTN có tiềm năng phục hồi lớn hơn người trưởng thành. Yếu tố bạn bè, gia đình, giáo dục có tác động lớn tới thái độvà cách ứng xử của NCTN, đồng thời cũng là yếu tố tác động lớn tới sự phục hồi của họ. Đối với NCTN VPPL, khả năng các biện pháp giáo dục và hỗ trợ tạo ra nhữngảnh hưởng, tác động tích cực đến họ lớn hơn nhiều so với người trưởng thành VPPL. Các cách tiếp cận chú trọng vào giải quyết những nguyên nhân tiềm tàng của hành vi chống đối lại xã hội, áp dụng các biện pháp giáo dục và tái hòa nhập, thay vì chỉ áp dụng các biện pháp trừng phạt NCTN, sẽ có tác động lớn đối với NCTN hơn người thành niên vàbảo đảmrằng NCTNsẽkhông đi theo conđườngphạm tội, màtrởthành một công dân có ích và tuân thủ luật pháp.24

2.1.2.4. Chế tài xử phạt nghiêm khắc không ngăn cản được người chưa thành niên thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

Một đặc điểm cần đáng lưu ý là chế tài xử phạt nghiêm khắc không ngăn cảnđược VPPL ở NCTN: Ngược lại với chúng ta thường nghĩ, nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng, việc “nghiêm khắc” với NCTN hay cố làm họ sợ hay phạt họ vì hành vi khôngđúng thường không hiệu quả vì các lý do sau:

– Những biện pháp trừng phạt không giải quyết được những yếu tố nguy cơ tiềmẩn trong gia đình, nhà trường và cộng đồng đang có ảnh hưởng đến hành vi không tốt của NCTN.

23 Đặng Thanh Nga, (2007), Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên có hành vi phạm tội”, Luận án Tiến sỹ Tâm lý học, Hà Nội, tr.99.

24 UNICEF Vietnam, (2016), Chuẩn mực quốc tế về tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự

37

– Phòng ngừa bằng hình phạt nghiêm khắc không có tác dụng nhiềuđốivới NCTN. Đối với người trưởng thành, biết là mình sẽ phải đối mặt với hình phạt nghiêm khắc sẽ ngăn cản họ không VPPL. Tuy nhiên, NCTN chưa phát triển năng lực này một cách đầy đủ để hiểu được đầy đủ hậu quả của những hành động, đặc biệt là những hậu quả lâu dài và kiềm chế hoàn toàn sự bộc phát của mình.

2.1.2.5. Về khả năng chịu trách nhiệm

Người chưa thành niên đã có sự phát triển về nhận thức và có thể đưa ra các quyết định thể hiện ý chí của cá nhân một cách chủ động. Tuy nhiên, khả năng chịu trách nhiệm về hành vi của mình sẽ hạn chế hơn so với người trưởng thành bởi vì các quyết định, hành vi của NCTN thường mang tính chất cảm tính, thiếu sự cân nhắc, thận trọng so với người trưởng thành. Người chưa thành niên thường là người sống phụ thuộc do chưa có khả năng lao động, làm việc như người trưởng thành do đó khảnăng chịu trách nhiệm về các hành vi hay quyết định của mình cũng hạn chế hơn so với người thành niên.

Với các phân tích về độ tuổi và các đặc điểm của NCTN nêu trên, có thể đưa ra khái niệm NCTN từ góc nhìn của khoa học pháp lý như sau:

“Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về về trínão, dẫn đến hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, chịu tác động tích cực và tiêu cực lớn từ môi trường sinh sống và học tập, chưa có đủ khả năng chịu trách nhiệm về hành vi của mình, không tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình, dođó, cần có sự bảo vệ pháp lý đặc biệt so với người trưởng thành.”

2.1.3. Khái niệm người chưa thành niên vi phạm pháp luật

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *