Pháp luật về chống bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
BHĐC được biết đến như một phương thức kinh doanh đạt hiệu quả cao trong hoạt động tiếp thị, phân phối cũng như tiêu thụ sản phẩm trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
John Milton Fogg từng nói: “Thế kỷ 19 là thế kỷ của khai khoáng, thế kỷ 20 là thế kỷcủa sản xuất, thế kỷ 21 là thế kỷ của phân phối. Sau hai thế kỷ là cơ hội kinh tế cho những nhàtiên phong trong sản xuất, chế tạo, chúng ta đã bước vào kỷ nguyên phân phối. Bây giờ 80- 85% giá sản phẩm ở khâu phân phối, chỉ còn 15-20% ở trong khâu sản xuất”[99].
Kể từ khi được hình thành tới nay, BHĐC đã có m t ở hầu khắp các nước trên thế giới. Trong thập niên 1980, phương thức này phát triển mạnhtạicácnướcnhư M , Canada,
Mexico, Brazil, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển, Australia… Bước sang thập niên 1990, BHĐC phát triển mạnhởnhiềunướcchâu như Nhật Bản, Hàn Quốc,ĐàiLoan, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan, v.v. Cuối thế kỷ 20, BHĐC bắt đầu được du nhập vào thịtrường Việt Nam và đạt được tổng doanh thu không ngờ trong hai, ba năm đầu. Tuy nhiên, do mới vào Việt Nam trong một thời gian ngắn, lịch sử hoạt động còn non trẻ, BHĐC bị một sốchủ thể lợi dụng để thực hiện các hành vi lừa đảo, biến tướng thành BHĐC bất chính để trục lợi gây dư luận xấu trong xã hội và ảnh hưởng lớn đến uy tín của ngành. BHĐC bất chính làmột hành vi tiêu cực ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của con người và toàn xã hội. Hành vi nàyđang xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam, hoạt động này diễn ra trên diện rộng và tập trungở các vùng quê với nhiều chiêu thức tinh vi. Hiện nay, nhắc đến BHĐC không ít người tỏ ra thiếu thiện cảm và quan niệm đó là một lĩnh vực kinh doanh không lành mạnh. Việc ngăn ch n vàxửlý kịp thời hành vi bất chính này trong giai đoạn hiện nay làvấnđềcấp thiết được đ t ra.
BHĐC phát triển quá mạnhmẽkhiến cholợinhuậntừviệc quảng cáocủabáo đài, truyền hình bị ảnh hưởng, cộng thêm nhiều công ty lừa đảo núp bóng kinh doanh đa cấp vàmột bộ phân không nhỏ nhà phân phối đa cấp thực hiện những hành vi sai trái đã làm cho dưluận bắt đầu lên tiếng phản đối BHĐC. Để hòa nhập với xu hướng chung của thế giới cũng như đáp ứng tình hình thực tế tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý về kinh doanh đa cấp đã dầnđược hình thành và mở đầu bằng các quy định về BHĐC của Luật Cạnh tranh năm 2014. Ngày 24 tháng 8 năm 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động BHĐC, nghị định này phần nào đã tạo ra một hành lang pháp lý để điều chỉnh hoạt động BHĐC tại Việt Nam. Sau 8 năm thực thi, nghị định này do được soạn thảo lần đầu tiên m c dùđã tham khảo kinh nghiệm nhiều quốc gia trên thế giới nhưng chưa có kinh nghiệm về thực
1
tiễn quản lý tại Việt Nam nên nội dung Nghị định số 110/2005/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều bất cập, không đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng của ngành kinh doanh này. Vì vậy, nghị định nàyđãđược thaythếbởi Nghịđịnhsố42/2014/NĐ-CP quy định về quản lý hoạtđộngbán hàng đa cấp. Tuy nhiên, do hoạt động BHĐC ở Việt Nam ngày một phức tạp với những chiêu thức biến tương gây thiệt hại nghiệm trọng đến xã hội nên sau 4 năm thực thi Nghị định số42/2014/NĐ-CP đã được thay thế bằng Nghị định số 40/2018/NĐ-CP“về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp” nhằm hoàn thiện công tác quản lý về BHĐC. Tính đến thời điểm này, các văn bản trên đã góp phần quan trọng vào việc đưa hoạt động BHĐC tại Việt Nam đi vào khuôn khổ. Hơn nữa trong những năm gần đây BHĐC không những gây ra nhiều bức xúc trong dư luận xã hội mà còn gây ra nhiều vấn đề cho các cơ quan quản lý Nhà nước. Các phương tiện thông tin đại chúng liên tục phản ánh các hành vi lừa đảo của DN thực hiện BHĐC bất chính. Nhiều đại biểu Quốc hội còn đưavấnđềBHĐC bất chính ra chấtvấncơquan quản lý nhànướctrướcQuốc hội. Cóýkiến cho rằng nêncấmhoàn toàn hoạtđộng BHĐC tại Việt Nam. Xuất phát từ những khó khăn đó, các cơ quan quản lý cũng như cộng đồng DN BHĐC đều có kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung quy định pháp luật vềquản lý hoạt động BHĐC.Đểsửa đổi, bổsung, hoàn thiện quyđịnhpháp luật quản lý hoạt độngkinh doanh đacấpcũng như làm rõbảnchấtcủaphương thức BHĐC và BHĐC bất chính thì việc nghiên cứu làm rõ lý luận về BHĐC và BHĐC bất chính, đồng thời đưa ra các biện pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về chống bất chính ở Việt Nam hiện nay là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Pháp luật về chống bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam hiện nay” để làm đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ luật học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mụcđích nghiêncứucủaLuận án là nhằm làm sángtỏnhững vấn đềlý luậnvềBHĐCbấtchính và pháp luậtvềchống BHĐCbấtchính; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về chống BHĐC bất chính; trên cơ sở đóđề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về chống BHĐC bất chínhởViệt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thểnhư sau:
2
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề về lý luận BHĐC bất chính và lý luận pháp luật chống BHĐC bất chính và nhận diễn rõ hơn về bản chất của BHĐCbấtchính. Nghiên cứu kinh nghiệmcủa một sốquốc gia trênthếgiới về chống BHĐC bất chính. Từ đó, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về pháp luật chống BHĐC bất chính ở Việt Nam phù hợp với sựphát triển của quốc gia trong bối cảnh hội nhập với quốc tế.
Thứhai, nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật về chống BHĐC bất chính ởViệt Nam hiện nay bằng việc phân tích, bình luận các quyđịnh hiện hành và thực tiễn thực hiện các quy định về chống BHĐC bất chính đối với DN, người tham gia BHĐC bất chính. Làm rõ quy định về thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước. Tập trung vào các hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân của những hạn chế đó làm cơ sở đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Thứ ba, chỉ ra sự cần thiết và các định hướng hoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính trong bối cảnh hiện nay, đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1.Đối tƣợngnghiên cứu
Đối tượngnghiên cứu của Luận án là những vấn đề lý luận về BHĐC bất chính vàpháp luật về chống BHĐC bất chính; các quy định pháp luật về chống BHĐC bất chính của Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật vềchống BHĐC bất chính của Việt Nam trong thời gian qua.
3.2. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung:
Luận ántậptrung nghiêncứulý luận pháp luật chống BHĐCbấtchính, thực trạng pháp luật chống BHĐC bất chính ở Việt Nam thông qua quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Đối tượng của BHĐC bất chính theo pháp luật Việt Nam chỉ làhàng hóa. Luận án cũng nghiên cứu đếnquyđịnh pháp luật quốctếvà pháp luậtmộtsốquốc gia trên thế giới về chống BHĐC bất chính, tuy nhiên nội dung này không được bàn luận sâu sắc mà chỉ nhằm làmcơ sở dữ liệu để đối chiếu,so sánh, phân tích, đánh giá quyđịnh của pháp luật chống BHĐC bất chính Việt Nam hiện nay đảm bảo tính khách quan, bao quát trong nhận định, bình luận.
Luận án nghiên cứu pháp luật về chống BHĐCbấtchính với tư cách là một chế định pháp luật nhằmđảmbảoquyềnlợivàlợiích hợpphápcủadoanh nghiệp BHĐC, những người tham gia BHĐC chân chính, người tiêu dùng và các chủ thể có liên quan.
3
Về không gian:
Luận án nghiên cứu thực tiễn xử lý BHĐC bất chính của các DN đăng ký kinh doanh BHĐC tại thị trường Việt Nam.
Về thời gian:
– Liên quan đến các quy định của pháp luật là từ năm 2004 đến nay.
– Về thực tiễn BHĐC bất chính và thực tiễn xử lý vi phạm BHĐC bất chính từ năm 2015 đến nay.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài 4.1. Về phƣơng pháp luận
Có nhiều quan điểm, trường phái lý thuyết khác nhau về vai trò của nhà nước đối với quản lý kinh tế, cùng với đó sẽ có sự nhìn nhận và quan điểm khác nhau về tính chính đáng, mức độ quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp BHĐC nói riêng. Tuy nhiên, nghiên cứu sinh sẽ dựa trên thế giới quan, nhân sinh quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin, của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của Nhà nước và mối quan hệ của Nhànước đối với thị trường, về Nhà nước pháp quyền, về kinh tế thị trường đinh hướng xã hội chủnghĩa để làm quan điểm chỉ đạo trong nghiên cứu, phân tích, đánh giá các vấn đề, hiện tượng, sự kiện và đưa ra kiến nghị, giải pháp. Tất nhiên, những giá trị chung mang tính phổ biến của nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường sẽ được tham khảo, chú ý trong nghiên cứu.
Đối với cách tiếp cận nghiên cứu, khi triển khai nghiên cứu, nghiên cứu sinh sẽ tiếp cận dưới góc độ pháp luật kinh tế và các quy định của pháp luật có liên quan về chống BHĐC bất chính ở Việt Nam.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đểthực hiện nhiệmvụnghiên cứu, Luận án đã sử dụngphương thức tiếp cậndựatrên quyền, hệ thống, đa ngành và liên ngành. Đồng thời, Luận án cònsửdụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, luật học so sánh, liên ngành vàdự báo qua các tài liệu thứ cấp để làm sáng tỏ các vấn đề được nghiên cứu trong Luận án.
– Phương pháp phân tích được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài tại phần tổng quan, Chương 1, 2, 3 để phân tích cơ sở lý luận của về hành vi BHĐC bất chính, phương diện lý thuyết của pháp luật về chống hành vi BHĐC bất chính. Phương pháp này cũng dùngđể đánh giá, bình luận các quy định pháp luật, thực tiễn và hiệu quả áp dụng pháp luật về tính
4
pháp lý trong việc chống BHĐC bất chính và phân tích các đề xuất hoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính.
– Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp được sử dụng để đánh giá nhằm rút ra những kết luận phần tổng quan, những quan điểm, các đề xuất, kiến nghị cụ thể liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài tại Chương 3.
– Phương pháp logic được sử dụng khi đánh giá thực trạng pháp luật ở Chương 2, xem xét tính thống nhất, tính đồng bộ phát hiện mâu thuẫn trong quy định pháp luật về chống BHĐC bất chính, từ đó làm cơ sở cho các đề xuất kiến nghị, giải pháp.
Ngoài các phương pháp nghiên cứu phổ quát nói trên, luận án còn sử dụng các số liệu
thứ cấp, các tài liệu, báo cáo của Chính phủ, Cục CT & BVNTD…
5. Những đóng góp mới của luận án khi nghiên cứu đề tài
Là công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về pháp luật chống BHĐC bất chính, Luận án có những đóng góp mới như sau:
Một là, Luận án làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về hành vi BHĐC bất chính và pháp luật chống BHĐC bất chính, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về pháp luật chống BHĐC bất chínhởViệt Nam phùhợp vớisựphát triển của quốc gia và xu hướng thayđổi chính sách pháp luật về BHĐC đang diễn ra trên thế giới.
Hai là, Luận án làm rõ thực trạng quy định pháp luật chống BHĐC bất chính ở Việt Nam thông qua việc phân tích, bình luận các quy định hiện hành. Những luận giải cụ thể cùng sự so sánh, đối chiếu pháp luật chống BHĐC bất chính với pháp luật tương ứng trong pháp luật quốc gia những giai đoạn trước và pháp luật quốc tế giúp nêu bật những điểm tiến bộ và hạn chế trong các quy định hiện nay.
Ba là, Luận án cung cấp những thông tin mang tính thời sự về tình hình thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về BHĐC và vi phạm về BHĐC bất chính.
Bốn là, Luận án đánh giá những thành công,hạn chế củapháp luật và quá trìnhtổchức thực hiện pháp luật chống BHĐCbấtchính; làm rõ nhữngtồntại,bấtcậpchỉra các nguyên nhân của hiện trạng đó làm cơ sở đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Năm là, Luận án nêu rõsựcầnthiết và cácđịnhhướnghoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính trong bối cảnh hiện nay.
Sáu là, Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính ởViệt Nam hiện nay trên cơ sở khoa học, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần củng cố, hoàn thiện cơ sở lý luận khoa học về BHĐC bất chính và pháp luật chống BHĐC bất chính trong bối cảnh BHĐC trên thế giới đang có nhiều thayđổi mạnh mẽ. Luận án cung cấp những kiến thức mới về lý luận và thực tiễn pháp luật chống BHĐC bất chính tại một số quốc gia trên thế giới và làm rõ thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện pháp luật chống BHĐC bất chính ở Việt Nam hiện hành, chỉ ra những thành công, hạnchếvà các nguyên nhâncủathực trạngđó.Luận án cũng đóng gópmộtsốkiến nghịhoàn thiện hệ thống pháp luật chống BHĐC bất chính ở Việt Nam trên cơ sở khoa học.
Đồng thời, ở mức độ nhất định luận án cung cấp những kiến thức hữu ích cho người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực BHĐC để áp dụng pháp luật chống BHĐC bất chính một cách hiệu quả. Luận án có giá trị là một tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp, hành pháp trong quá trình hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về BHĐC nói chung và chống BHĐC bất chính nói riêng. Những kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể được sử dụng để tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sởđào tạo luật học, kinh tế…và cho các tổ chức, cá nhân quan tâm đến lĩnh vực BHĐC, pháp luật chống BHĐC bất chính.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm các nội dung chính là tổng quan tình hình nghiên cứu và 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về bán hàng đa cấp bất chính và pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về chống bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam
Chƣơng 3: Phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chống bán hàng đa cấp bất chính.
6
PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
7
1.3. Nghiêncứulý luậnvềbán hàng đa cấp, bán hàng đacấpbấtchính và pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính
1.3.1. Nghiên cứu lí luận về bán hàng đa cấp và bán hàng đa cấp bất chính
1.3.2. Nghiên cứu lí luận về pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính
1.4. Nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính

1.3. Nghiên cứu đề xuất giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính
2. Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
2.1. Những vấn đề đã đƣợc làm sáng tỏ, luận án có thể tiếp thu kế thừa
Qua việc khảo cứu tổng quan các công trình nghiên cứu trong các Luận án, luận văn, các đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến lĩnh vực BHĐC và BHĐC bất chính trong vàngoài nước, có thể nhận thấy có một số nội dung liên quan đến BHĐC bất chính đã được giải quyết và được sự thống nhất cao, nghiên cứu sinh có thể tiếp thu như sau:
Trên phương diện lí luận:
-Vềquá trình hình thành và phát triển hình thức BHĐC,hầuhếtcác công trình nghiên cứu, bài viết cũng làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của phương thức BHĐC là
do nhà hóahọcngườiM Karl Renborg (1887–1973) sángtạovà phát triểntừkhoảng năm 1920 của thếkỉtrướcvà sựdu nhập, phát triển của ngành BHĐC tại Việt Nam vào khoảng cuối thế kỉ 20 (năm 1998).
– Về cách tiến cận hành vi BHĐC các tác giả đã tiếp cận với nhiều cách khác nhau. Từ góc độ kinh tế, đến góc độ pháp lý, dù tiếp cận ở góc độ nào thì các tác giả đều ủng hộphương thức BHĐC và cho rằng đây là phương thức bán hàng hiện đại, hiệu quả, tiết kiệm chi phi cho DN, tạo công ăn việc làm cho người dân trong XH có thêm thu nhập và tiện lợi
29
chongườitiêu dùng hơn sovớibán hàng truyền thống hiện nay.Hầuhếtcác quanđiểmđưa ra rằng hình thức bán hàng này đang dàn xóa bỏ hình thức bán hàng truyền thống, thay bằng việc hàng hóa ở trên kệ tại của hàng, siêu thị thì sẽ được bán đến tận tay người tiêu dùng. Đây là quan điểm đúng phù hợp với thời đại và được nghiên cứu sinh tiếp thu phát triển trong Luận án.
– Về quan điểm BHĐC bất chính có nhiều cách lý giải khác nhau nhưng tựu chung lại nội hàm của khái niệm về hành vi này gồm những dấu hiệu: lôi kéo dụ dỗ người tham gia vào mạng lưới BHĐC bằng những thông tin gian dối không trung thực về thu nhập, lợiích kinhtế,cách thức bán hàng không đúngvớibảnchấtcủaBHĐChợppháp; Yêu cầu người tham gia bán hàng phải đ t cọc một khoản tiền để được tham gia mạng lưới, điều này thể hiện bản chất chiếm dụng vốn một cách bất hợp của DN; Nói sai, nói quá về công dụng của hàng hóa, sản phẩm của DN và giá bán cao hơn gấp nhiều lần so với giá trị hàng hóa thực tế; BHĐC bất chính chủ yếu dựa việc yêu cầu người tham BHĐC dụ dỗ thêm người tham gia vào mạng lưới để chiếm dụng tài chính của người mới tham gia.
Trên phương diện thực tiễn:
– Các công trình nghiên cứu đều thống nhất quan điểm cần phải hoàn thiện quy định pháp luậtvề quản lý hoạtđộng BHĐC và việcxửlý nghiêmđốivới các hành vi BHĐC biến tướng, bất hợp pháp là rất cần thiết. Đây là quan điểm đúng đắn và được nghiên cứu sinh tiếp thu, phát triển trong quá trình nghiên cứu chuyên sâuvề vấnđề hoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính. Đây được coi là nhiệmvụ cấpbách hiện nay khi mà các hoạtđộng BHĐC bất chính đang ngày càng diễn ra tinh vi hơn.
– Các công trình nghiên cứu trước đều đã nêu lên yêu cầu của thực tiễn đang đ t ra hiện nay là cần phải tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm đối với các trường hợp BHĐC bất chính. Điều này là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn đang diễn ra hiện nay. Trong quátrình nghiên cứu Luận án cần tiếp thu và phát triển nội dung này nhằm xây dựng các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về chống BHĐC bất chính để quản lý hoạt động BHĐC hiệu quả hơn.
Trên phương diện đề xuất giải pháp kiến nghị:
– Quan điểm về hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến khiếu nại đối với các DN có hành vi BHĐC bất chính
– Tội phạm hóa hành vi BHĐC bất chính
– Để chống hành vi BHĐC bất chính cần kiểm soát ch t chẽ bởi các biện pháp quản lý nhà nước khi các DN BHĐC ra nhập thị trường và quy định ch t chẽ về các chế tài.
30
-Vớiviệc nâng cao hiệuquảchống BHĐCbấtchính,cầntăngcườnghoạtđộng giám sát và tuyên truyền của cơ quan báo chí một cách kịp thời về DN BHĐC đa cấp bất chính và những hành vi BHĐC biến tướng đang diễn ra trong XH.
2.2. Những vấn đề nghiên cứu đƣợc triển khai trong Luận án
Có thể nhận thấy về tổng quan tình hình nghiên cứu đã phân tích ở trên, chưa cómột công trình nghiên cứu nào liên quan đến đề tài ở Việtnam hiên nay nghiên cứu cụ thể về pháp luật chống BHĐC bất chính.Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về chống BHĐC bất chính ởViệt Nam hiện nay là cơ sở, nền tảng cho việc quản lý hoạt động BHĐC đi đúng hướng và nâng cao việc phát huy hiệuquảcủa phương thức kinh doanh tiến bộnày trongnềnkinh tếhiện nay. Xuất phát từsựphân tích thực trạng tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã nêu và trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu của đề tài, Luậnán sẽkếthừa và tiếp tục nghiên cứu, làm rõ một cáchcó hệthốngcác vấn đềliên quanđến đề tài như sau:
– Tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm BHĐC bấtchính và pháp luật chống BHĐC bất chínhvề m t lý luận cụ thể ở hai khía cạnh là kiểm soát về điều kiện kinh doanh và chế tài xử lý vi phạm;
– Nhận diện bản chất, đ c điểm, các dấu hiệu đ c trưng của BHĐC bất chính
– Phân tích kinh nghiệm chống BHĐC bất chính ở một số quốc gia trên thế giới;
– Hệ thống hóa đầy đủ các văn bản pháp luật về BHĐC và chống BHĐC bất chính ởViệt Nam hiện nay; Phân tích nội dung quy định của pháp luật về BHĐC bất chính ở Việt Nam hiện nay với các quy định về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp và các chế tài xử lý vi phạm BHĐC bất chính.
– Đánh giá quyđịnh của pháp luật chống BHĐC bấtchính thông qua thực tiễn ởViệt Nam hiện nay;
– Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chống BHĐC bất chính nâng cao hiệu qủa trong việc chống BHĐC bất chính.
3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu của đề tài 3.1. Lý thuyết nghiên cứu
Với lí thuyết nghiên cứu thực hiện Luận án, nghiên cứu sinh nghiêncứu trướchết dựatrên cơsởhọcthuyết Mác-Lê nin, tưtưởngHồChí Minh vàđườnglốichủtrương chính sách củaĐảngvà Nhà nước Việt Nam về các thành phần kinh tế, hoạt động kinhtế và hội nhập kinhtếquốctế.
Luận ánđượctriển khai trênnềntảng những lý thuyết liên quanđếnkinhtếthịtrường, tự do kinh doanh trongnềnkinh tế thị trường và lí thuyết kinh doanh BHĐC nhằm
31
đảmbảocông bằng trậttựtrên thương trường.Cụthể: Lý thuyết mà Luận án tiếp cận nghiên cứu là lý thuyết về quyền tự do kinh doanh với tính cách là một quyền cơ bản của công dân được ghi nhận từ Hiến pháp 1992 đến Hiến pháp 2013, và đảm bảo thực thi thuộc trách nhiệm của Nhà nước. Lý thuyết về dân chủ và trách nhiệm trong kinh tế thị trường mà ởđó,quyền lực Nhànướcbịgiới hạn bởi tinh thần Nhà nước pháp quyền và khi đó, Nhà nước xuất hiện trong kinh tế thị trường như một tác nhân kiến tạo phát triển, không cai trị thị trường và doanh nghiệp mà tạo cơ hội và khuyến khích các nhà đầu tư tham gia thịtrường, bảo hộquyền tựdo kinh doanh theo nguyên tắc minh bạch và ngăn ngừarủiro pháp lý. Tiếp nữa, Luận án cũng sử dụng lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson thể hiện việc tự do kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và có sựđiều tiết của Nhà nước.
Ngoài ra, nghiêncứusinh còn tham khảo các quan niệmvềBHĐC, quan niệmvềBHĐC bất chính, đ c điểm nhận dạng hành vi. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nghiên cứu sinh mở rộng tìm hiểu về quy định pháp luật về chống BHĐC bất chính của một số quốc gia trên thế giới, việc tham chiếu này được đ t trong bối cảnh cụ thể ở Việt Nam.
Thông quađó,nghiêncứusinh xácđịnhchủthuyết làmnềntảng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình nghiên cứu thực hiện luận án tiến sĩ là bảo vệ thương mại công bằng, bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia BHĐC và của người tiêu dùng trong nền kinh tếthị trường .
Luận án tiếp cận các vấn đề theo hướng từ cơ sở lý luận pháp luật BHĐC bất chính.Đưa ra thực trạng pháp luật trong việc chống hành vi BHĐC bất chính, thực tiễn BHĐC bất chính ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đưa ra đánh giá quy định của pháp luật trong việc quản lýhoạt động BHĐC và chống hành vi BHĐC bất chính.
3.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu của đề tài Thứ nhất, câu hỏi nghiên cứu
Để hướng tới mục tiêu nghiên cứu của đề tài, trên cơ sở của tình hình nghiên cứu đềtài, nghiên cứu sinh xác định một số câu hỏi nghiên cứu chính mang tính chất xuất phát điểm cho việc nghiên cứu của luận án cụ thể như sau:
– Hình thức BHĐC có mang bản chất lừa đảo? Sự khác biệt của BHĐC với bán hàng truyền thống?
32
– BHĐC bất chính là gì? Sự tác động của hành vi BHĐC bất chính trong môi trường kinh doanh và trật tự công cộng? Vai trò gì của pháp luật trong việc chống BHĐC bất chính?
– Cơ sở pháp lý về chống BHĐC bất chính là gì? Làm thế nào để nhận diện hành vi BHĐC bất chính?
– Làm thế nào để kiểm soát và chống hành vi BHĐC bất chính? Hành vi BHĐC bất chính nào cần phải tội phạm hóa? Thực tiễn chống BHĐC bất chính diễn ra hiện nay như thếnào? Các biện pháp xử lý vi phạm BHĐC bất chính được thực hiện như thế nào?
-Địnhhướngvà giải pháp nàođểhoàn thiện pháp luật chống BHĐCbấtchính? Làmthếnàođểnâng cao hiệuquảquản lý nhànướctrong việc chống hành vi BHĐC bất chính hiện nay?
Thứ hai, giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về bán hàng đa cấp bất chính và pháp luật vềchống bán hàng đa cấp bất chính cũng như thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn xử lý vi phạm hành vi bán hàng đacấpbấtchínhởViệt Nam hiện nay, Luận án đ t ragiảthuyết nghiên cứu như sau:
– Xuất pháttừbảnchấtcủaphương thức BHĐC trong hoạtđộngkinh doanh, BHĐC và BHĐC bất chính đang có nhiều quan niệm khác nhau chưa thống nhất. Có ý kiến cho rằng nên cấm hình thức kinh doanh này vì đây là hình thức kinh doanh mang tính chất chộp giật, lừa đảo.
– Hậu quả của hành vi BHĐC bất chính là hành vi tiêu cực ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường kinh doanh và để lại hậu quả rất lớn tới xã hội.
– Pháp luật quy định về chống BHĐC bất chính đang còn lỏng lẻo, chưa thống nhất, chưa hiệu quả dẫn đến việc các DN kinh doanh theo phương thức đa cấp dễ lách luật để thực hiện hành vi BHĐC bất chính.
– Trên thực tế hiện naynở rộ cáchình vi huy động vốn, tín dụng đen, đầu tư kinh doanh bất động sản theo phương thức đa cấp. Đây là một dạng của hành vi BHĐC bất chính.
33
CHƢƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH VÀ
PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH
1.1. Những vấn đề lý luận về bán hàng đa cấp bất chính 1.1.1. Bán hàng đa cấp bất chính
1.1.1.1. Khái niệm bán hàng đa cấp
Carl Rehnborg sinh năm 1887 tại St. Augustine, bang Florida, Hoa Kỳ, là con trai của một nhà kinh doanh kim hoàn người M gốc Thụy Điển. Ông đến Trung Quốc vào năm 1915 và dành phần lớn thời gian cuộc đời tại đây. Chính nơi đây đã tạo cho ông cảm hứng về việc bổ sung dinh dưỡng từ thực vật. Trong suốt thời gian sinh sống và làm việc tại Trung Quốc ông đã tìm hiểu về văn hóa và y học cổ truyền của Trung Quốc. Với óc quan sát nhạy bén, Carl phát hiện ra sức khỏe con người phụ thuộc vào chế độ ăn phối hợp từ nhiều loại thực phẩm khác nhau, và trong cây cỏ thiên nhiên tồn tại rất nhiều dưỡng chất cần thiết cho sức khỏe con người. Năm 1927, Carl về M và bắt đầu thực hiện các ý tưởng của mình bằng cách chế biến các chất bổ sung dinh dưỡng. Ban đầu, do chưa có kinh phí để tiếp thị sản phẩm, ông đưa ra ýtưởngmàđócóthểlà nguyên lý cơ bản cho ngành kinh doanh theo mạng sau này. Carl đềnghị người thân của ông giới thiệu các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng này cho người quen của họ, và nếu người quen của họ mua sản phẩm thì ông sẽ trả một khoản hoa hồng cho người giới
thiệu. Cứ thế, với mô hình một giới thiệu hai, hai giới thiệubốn,…hànghóa càngbán được nhiều, nhữngngườigiới thiệu càng có lợi. Khi mô hình nàyđượctriển khai, chính Carl Rehnborg cũng không thể ngờ được kết quả thành công ngoài sức tưởng tượng. Đây chính làthờiđiểmđánhdấusựrađờicủangành kinh doanh theo mạng. Carl Rehnborg sánglậpra công ty Vitamin Products Company năm 1935, đến đầu năm 1940 ông đổi tên công ty thành Nutrilite Products, Inc. Theo đó, những nhà phân phối độc lập của ông tự tìm người mới, chỉcho người mới đầy đủ thông tin về sản phẩm và hướng dẫn cho người mới phương pháp xây dựng mạng lưới. Từ đó, mô hình lan rộng tạo thành đội ngũ phân phối đông đảo và chuyên nghiệp. Công ty đảm bảo cho tất cả nhà phân phối độc lập có đủ sản phẩm và nhận hoa hồng không chỉ dựa trên số lượng sản phẩm họ bán ra mà còn trả hoa hồng cho lượng sản phẩm do những người trong mạnglưới của họtiêuthụđược. Người tham gia mạnglưới củacông ty nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của người bảo trợ. Phương pháp phân phối hàng hoácủa Carl Rehnborg được cho là cơ sở của phương thức BHĐC ra đời và phát triển [120].
Họcthuyết giá trị th ng dư là một trong những học thuyết kinh tế quan trọng của chủnghĩa Mác Lênin. Theo quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa thì giá trị th ng dư không thể do lưu thông mà có, vì lưu thông hàng hóa chỉ là việc trao đổi ngang giá, do đó nó không có khả năng làm tăng thêm giá trị mới trong quá trình trao đổi. Muốn có giá trị th ng dư, người
34
có tiền phải tìm ra được trên thị trường một loại hàng hóa đ c biệt, đó là loại hàng hóa mà khi sử dụng nó có thể tạo ra một giá trị lớn hơn nó – đó là hàng hóa sức lao động. Trong lịch sửphát triển kinh tế của các nước phương Tây, loại hàng hóa đ c biệt này bắt đầu phát triển từ thếkỷ XV – XVI. Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) tồn tại trong một con người lao động và được người đó sử dụng vào sản xuất hàng hoá.
Giá trị hàng hoá sức lao động là toàn bộ những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất vàtái sản xuất ra sức lao động. Giá trị hàng hoá sức lao động bao gồm: giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết đủ để duy trì sức khoẻ của người lao động ở trạng thái bình thường; chi phí đào tạo tuỳtheo tính chất phức tạp của lao động; giá trị tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế. Trên thực tế, giá trị của hàng hóa sức lao động được thể hiện bằng tiền công, tiền lương. Tiền công hay tiền lương chỉ là sự biểu thị bằng tiền giá trị sức lao động, hay là giá cả của sức lao động. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động đểsản xuất ra một loại hàng hoá nào đó. Trong quá trình lao động, người công nhân có thể tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức laođộng là giá trị th ng dư. Như vậy, giá trị th ng dư chính là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người công nhân sáng tạo ra trong quá trình lao động của họ nhưng trong phạm vi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó không thuộc về người công nhân mà thuộc về nhàtư bản, tức bị nhà tư bản chiếm không. Bởi vì, trên thực tế nhà tư bản trả cho người bán sức laođộngmộtlượngtiền công (hay tiền lương)đểngườiđólàm việc cho nhà tưbảntrong một khoảng thời gian nhất định, sản phẩm lao động của người làm thuê ấy đương nhiên thuộc vềnhà tư bản. Khi nhà tư bản đem bán các sản phẩm do người công nhân làm ra họ thu về một lượng tiền (giá trị) lớn hơn tiền công đã trả cho người công nhân. Học thuyết giá trị th ng dư là biểu hiện mẫu mực của việc nghiên cứu và vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và quan điểm duy vật lịch sử vào sự phân tích các quá trình kinh tế trong xã hội tư bản.
Hình thức BHĐC là một trong những biểu hiệncủahọc thuyết này, bởi các nhà kinh doanh trong lĩnhvựcnày không phảitrảchi phí cho laođộngtham gia mạng lướibán hàng. Giátrịtiền công củanhân công bán hàng chính là hiệu suất bán hàng và doanhsốbán hàng của lực lượng lao động này được trích hoa hồng từ doanh thucó đượcbằng việc bán hàng. DN không phảimấtchi phíbỏrađểthuêlựclượngbán hàng.Đâylàmộtưu điểmcủa phương thức BHĐC, nó đem lại hiệu quả tối đa hóa lợi nhuậnđốivới DN.
Theo quan niệmcổ điển:“Bánhàng là hoạtđộngthựchiện sựtraođổi sảnphẩm hay dịch vụ của người bán chuyển cho người mua để được nhận lại từ người mua tiền, vật phẩm hoăc giá trị trao đổi đã thỏa thuận”.
Theo quan điểm hiện đại bán hàng được hiểu theo một số định nghĩa như: Bán hàng lànền tảng trong kinh doanh , là sự g p gỡ của người bán và người mua ở những nơi khác nhau
35
giúp DN đạt được mục tiêu nếu cuộc g p gỡ thành công trong cuộc đàm phán về việc traođổi sản phẩm; bán hàng là quá trình liên hệ với khách hàng tiềm năng để tìm hiểu nhu cầu khách hàng, trình bày và chứng minhsảnphẩm,đàmphán mua bán, giao hàng và thanh toán; bán hàng là sự phục vụ, giúp đỡ khách hàng nhằm cung cấp cho khách hàng những thứ
mà họ muốn…
Bán hàng có 2 hình thức cơ bản là:
Direct selling (Bán hàng trực tiếp): Người bán trực tiếp g p khách hàng.
Retail selling (Bán lẻ): Các sản phẩm được bán cho người tiêu dùng qua kênh phân phối, hình thức này được coi là hình thức bán hàng truyền thống.
BHĐC hiện nay trên thế giới có nhiều tên gọi khác nhau như ―tiếp thị đa cấp‖, ―kinh doanh đa cấp‖, ―bán hàng theo mạng‖ (network selling); tại Hàn Quốc BHĐC được biết với
tên gọi là“bán hàng tận cửa‖ (door to door selling)…
Tác giả Susan Ward (M ) cho rằng ―tiếp thị đa cấp là hình thức kinh doanh hấp dẫnđối với nhiều người, cung cấp cơ hội tham gia vào hệ thống phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng. Không giống như người bắt đầu kinh doanh từ đầu, người tham gia tiếp thị nhiều cấp có sự hỗ trợ từ một DN bán hàng trực tiếp cung cấp sản phẩm và đôi khi cũng đào tạo cách tiếp thị bán hàng người tham gia mạng lưới” [104].
Theo Giáo sư Bogdan Gregor và Tiến sĩ Aron-Axel Wadlewski, M.Sc. University of Lodz, (Poland),“Bán hàng đa cấp là hình thức bán hàng trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ tới tay người tiêu dùng trên cơ sở địa chỉ liên lạc cá nhân, thường là ở nhà của khách hàng. Bán hàng đa cấp cho phép người bán hàng tạo mạng lưới riêng lẻ cho mình và được hưởng hoa hồng từ việc bán hàng trong mạng lưới của mình” [84].
Tiến sĩ Abdul Assis Koroth và Tiến sĩ A.K.Sarada cho rằng: BHĐC là hình thức tiếp thịqua mạng, là một phương pháp phân phối sản phẩm. Sản phẩm được vận chuyển thông qua các nhà phân phối độc lập, các nhà phân phối được trao cơ hội giới thiệu các nhà phân phối khác cho DN. Thay vì phải quảng cáo trên phương tiện truyền thông với chi phí cho quảng cáo khổng lồ, số tiền này được tiết kiệm và chuyển cho người phân phối. Đồng thời, sản phẩm có sẵn cho người tiêu dùng tại giá bán buôn‖ [83].
Theo quanđiểmcủaRadha Rani và tiến sĩ Narender KumarĐạihọcMaharshi Dayanand, Rohtak – Ấn Độ, trong bài viết “Bán hàng đa cấp và bán hàng theo mô hình kim
tự tháp”cho rằng BHĐC có nguồn gốc từ bán hàng trực tiếp. Bán hàng trực tiếp theo truyền thống chỉ có một cấp ho c là người được trả lương ho c đại lý dựa trên hoa hồng được sửdụng để bán sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng, BHĐC là phiên bản mở rộng của bán hàng trực tiếp [105].
36
Theo pháp luật Việt Nam, BHĐClầnđầutiên chính thứcđượcghi nhậntạikhoản 11Điều 3 LCT 2004. Luật này không định nghĩa BHĐC mà thay vào đó là đưa ra các điều kiệnđể xác định ranh giới ―chân chính‖ hay ―bất chính‖, tức là xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp của hoạt động bán hàng này.
Hiện nay, hành vi BHĐCđượcđiềuchỉnh trong vănbảnriêng biệt là Nghịđịnhsố40/2018/NĐ-CP. Theo quy định của nghị định này, BHĐC được hiểu là“hoạt động kinh doah sửdụng mạnglướingườitham giagồmnhiều cấp, nhiều nhánh, trongđó,ngườitham giađược hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình vàcủa những người khác trong mạng lưới” Khoản 1 Điều 3 [20].
Trước hết phải khẳng định BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hoá. Nghĩa là, trong phương thức kinh doanh này phải có sự luân chuyển hàng hóa từ người kinh doanh tới tay người tiêu dùng. Tuy nhiên sự vận động của hàng hóa tới tay người tiêu dùng có điểm khác biệt so với bán hàng truyền thống: Thứ nhất, việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia BHĐC gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau; Thứ hai, hàng hóa được bán trực tiếp tới tay người tiêu dùng không thông qua những địa điểm bán lẻ cốđịnh;Thứ ba, thù lao mà những người tham gia được hưởng xuất phát từ hai nguồn: Hoa hồng trực tiếp (được tính trên doanh số bán hàng trực tiếp của người tham gia, và của những người tham gia cấp dưới được DN BHĐC chấp thuận) và hoa hồng gián tiếp (là khoản tiền thưởng cho công sức xây dựng mạng lưới tiêu thụ của người tham gia).
Xuất pháttừnhữngbảnchất và nguyên lý hoạtđộngtheo quyđịnhcủapháp luật nói trên. BHĐC có thể hiểu là một dạng của bán hàng trực tiếp.
Bán hàng trực tiếp2 là phương thức bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ trực tiếp tới người tiêu dùng thông qua người bán hàng độc lập tại địa điểm bán hàng không phải là điểm bán lẻ thường xuyên. Điểm nổi bật của của phương thức bán hàng này là người bán hàng độc lập tìmđến người tiêu dùng cuối cùng để tiêu thụ sản phẩm chứ không phải người cần mua hàng đến tìm nhà phân phối như bán truyền thống. Phương thức này cólợithếvềkhảnăng phát tán quan hệ rất lớn, nhờ vậy có thể tăng doanh thu nhanh chóng. Thu nhập của người tham gia bán hàng trực tiếp sẽ tăng lên cùng với lượng hàng hoá, dịch vụ mà họ bán ra. Vì vậy nó tận dụngđượcnỗ lực củamỗi cá nhân cố gắng bán thật nhiềuhàng đểcó nguồn thu nhập cao tươngứng. Có hai hình thức bán hàng trực tiếp chủ yếu là bán hàng đơn cấp và BHĐC:
Bán hàng đơn cấp (Single level Sale): Là hình thức bán hàng trực tiếp mà nhân viên bán hàng bánlẻsảnphẩm trực tiếp chongườitiêu dùng vàhưởnghoa hồng trênsốlượngsản phẩm do mình tiêu thụ được. Hình thức này thường được sử dụng cho cả mục đích quảng cáo,
2 M c dù gọi là Bán hàng trực tiếp (Direct Selling) nhưng hoạt động này bao gồm cả việc môi giới để cung ứng dịch vụ, do vậy những nội dung liên quan đến Direct Selling có thể được hiểu như Direct Marketing (Multi Level Marketing)
37
tiếp thị bên cạnh mục đích bán hàng. Vì vậy hình thức này thường được sử dụng kết hợp với các phương thức bán hàng truyền thống. Để triển khai bán hàng đơn cấp, DN thường phải cókhả năng tài chính để tổ chức được mạng lưới nhân viên và cộng tác viên bán hàng hoạt động nhanh nhạy ở từng thị trường địa lý. Nhân viên bán hàng thường đến tận nhà, công sở… để tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng cùng với các chương trình quảng cáo, khuyến mại… (Sơ đồ số 1)
Bán hàng đa cấp (Multi levelMarketing): BHĐC là hình thức bán hàng trực tiếp về bản chất cũng giống với bán hàng đơn cấp. Tuy nhiên điểm khác biệt của hình thức này so với bán hàngđơncấplàngườiphân phối banđầucó quyềnbảotrợthêmngườitham giamớivào mạng lưới bán hàng và hưởng hoa hồng trên khối lượng hàng hóa ho c dịch vụ mà người được bảo trợ tiêu thụ được. Chính nhờ có đ c điểm này mà việc mở rộng mạng lưới phân phối diễn ra nhanh chóng. BHĐC tập hợp đội ngũ các nhà phân phối độc lập, họ tự do hoạch định kếhoạch làm việc cũng như thời gian thực hiện, lại không cần phải bỏ vốn lớn nên không chịu sự
mạo hiểm về tài chính, không cần văn phòng, không trả lương người làm thuê…chính vì thếmà số người tham gia vào đội ngũ các nhà phân phối ngày càng gia tăng. (Sơ đồ số 2)
Từ những tìm hiểu và phân tích các quan điểm và quy định của pháp luật nêu trên có thểhiểu: Bán hàng đa cấp là một dạng của bán hàng trực tiếp, được chia thành nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau. Người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp được hưởng hoa hồng từ việc bán hàng của mình và của mạng lưới bán hàng cấp dưới do mình quản lý.
Với nhưng phân tích trên, có thể thấy hành vi BHĐC có đ c trưng sau:
Thứ nhất, BHĐC là loại hình bán hàng trực tiếp, là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa. Đây là phương thức bán lẻ hàng hóa, nói cách khác, thông qua mạng lưới tiếp thị, DN tổchức BHĐC sẽ thiết lập được mối quan hệ mua bán sản phẩm trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng mà khôngtốnphí các khoảnđầutư thành lập, duy trì mạnglướiphân phốidưới dạng cửa hàng giới thiệu sản phẩm ho c các đại lý phân phối theo pháp luật thương mại. Đồng thời, người tiêu dùng có cơ hội mua được sản phẩm từ gốc sản xuất, tránh những rủi ro có thểphát sinh trong quá trình phân phối như hàng giả, hàng kém chất lượng, giácảkhông trung thực… Do đó, DN BHĐC có thể là DN trực tiếp sản xuất hàng hóa được tiếp thị và bán lẻ bằng phương thức đa cấp ho c chỉ là DN phân phối hàng hóa do DN khác sản xuất.
Thứ hai, DN BHĐC tiếp thị hàng hóa thông qua những người tham gia được tổ chức ởnhiều cấp khác nhau. Người tham gia BHĐC được hiểu đơn giản là những cộng tác viên trong việc tiếp thị, bán lẻ hàng hóa cho DN dù họ được gọi với những tên gọi như đại lý, nhà phân phối độc lập,…Trong hoạt động của mình, người tham gia thực hiện việc giới thiệu, bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng mà không nhân danh DN. Như vậy, khi giới thiệu và bán lẻsản phẩm, DN đã không phải là người trực tiếp thiết lập quan hệ với người tiêu dùng mà thực
38
hiện thông qua mạng lưới người tham gia nên họ độc lập trong quan hệ với khách hàng. Người tham gia BHĐC cũng không là nhân viên của DN.Vì vậy, DN không phải chịu trách nhiệm vềhành vi của người tham gia trước khách hàng tiêu thụ sản phẩm. Trách nhiệm của DN chỉ giới hạn trong phạm vi chất lượng sản phẩm và các thông tin liên quan đến sản phẩm họ cung cấp.
M t khác, khi tham gia mạng lưới BHĐC người tham gia không phải là các đại lý phân phối theo quyđịnh củaLuật Thương mại, không là cáccửahàng tiêuthụ sảnphẩm do DN thành lập. Theo đó, người tham gia trực tiếp g p gỡ người tiêu dùng để giới thiệu và bán lẻ sản phẩm, họ không phải đăng ký kinh doanh khi tham gia BHĐC. Bên cạnh đó, người tham giađược tổ chức thành những cấp khác nhau theo phương thức: mỗi người tham gia tổ chức một mạng lưới phân phối mới, khi được DN chấp nhận. Mạng lưới mới tạo ra cấp phân phối tiếp sau cấp phân phối của người đã tạo ra chúng. Vì thế số người tham gia ở cấp sau luôn nhiều hơn sovới cấptrướcnó. Vì vậy, phương thức kinh doanh nàyđãtạoramộthệ thống phân phối theo hình tháp. Trong quan hệ nội bộ, người tham gia ở cấp trên có vai trò tổ chức và điều hành hoạt động của những người trong mạng lưới cấp dưới.
Thứ ba, người tham gia được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng của mình và của người tham gia khác trong mạng lưới do họ tổ chức ra.Cách thức phân chia lợi ích như trên không chỉ kích thích người tham gia tích cực tiêu thụ hàng hóa mà còn kích thích họ tích cực tạo lập hệ thống phân phối cấp dưới. BHĐC có thể đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng như: mua được hàng trực tiếp từ nhà sản xuất nên tránhđược nạn hàng giả, hàng kém chất lượng. Đối với DN, BHĐC tiết kiệm được chi phí quảng cáo, cắt giảm được hàng loạt các chi phí khác như chi phí thuê m t bằng trưng bày, chi phí vận chuyển; m t khác, do mạng lưới phân phối được tổ chức để đưa hàng hóa trực tiếp đến người tiêu dùng nên có nhiều thuậnlợitrong việc quảng bán hàng hóa một cách trực tiếp vàhữu
hiệu. Bên cạnhđó,BHĐC còntạora nhiều việc làm cho xãhộivì cơchếhoạtđộngcủa phương thức kinh doanh này không giới hạn số lượng người tham gia.
Có thể nhận thấy BHĐC là phương thức kinh doanh tiến bộ, phù hợp với xã hội hiện đại hiện nay. Phương thức này đem lại nhiều lợi ích cho DN cũng như người tiêu dùng. Ngoài ra,đây là một hình thức mang lại công việc, thu nhập cho nhiều người dân mà không cần bị ràng buộc bởi bằng cấp trình độ.
1.1.1.2. Khái niệm bán hàng đa cấp bất chính
BHĐC hiện nay được xem như là một phương thức kinh doanh hiện đại, được rất nhiều các nhà kinh doanhsửdụngvớinhững ưuthếvượttrội sovớihình thức bán hàng thông thường. Tuy nhiên, vì cách thức vận hành của mô hình BHĐC có những đ c thù riêng và sựhiểu biết về hình thức kinh doanh này đối với đại bộ phận người dân còn hạn chế, dẫn đến một
39
sốDN kinh doanh đa cấp lợi dụng, lừa đảo, biến tướng tiêu cực để nhằm thu lời bất chính, hiện tượng kinh doanh không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn phát triển mạnh trên thế giới.
ThuậtngữBHĐCbấtchính trênthếgiớiđượcsửdụngvớicác têngọikhác nhau như:
illegal Multi – Level Marketing (bán hàng đa cấp bất chính), illegal polyhierarchy (đa cấp bất chính) hay Pyamid Scheme (mô hình kim tự tháp).
BHĐCbấtchính xuất hiện vào những năm 60củathếkỉtrướctạiM , Glen Turner làngười thành lập ra công ty Glen W.Turner Enterpises. Ông đã làm chấn động nước M bởi hai tậpđoàn lớn nhất có tên Koscot Interplanetary và Dare to Be Great.Bị cuốnhút bởi cơ hội kiếm tiền mở ra, hàng nghìn người đã quy tụ về Turner. Rất nhiều chủ DN đã chịu ơn ông vềthành công của họ. Nhờ nỗ lực của Glen Terner-một người đã hướng dẫn nhiều những k năng
làm việc mới vào kinh doanh mạng, kinh doanh theo mạng đã mang bản chất mới. Ông nhận thấy rõ vai trò của thành đạt cá nhân trong cuộc sống con người. Ông chỉ cho mọi người thấy những chân trời mới trong cuộc sống và khẳng định rằng mỗi người đều có tiềm năng lớn laođể đạt được mọi mục đích. Ông thành lập công ty và dạy cho mọi người k năng thành đạt, giúp cho họ khai thác khả năng tiềm ẩn rất lớn trong mỗi con người. Rất nhiều người nhờ áp dụng chương trình huấn luyện của ông đã tìm thấy và đánh thức được những bản chất tốt đẹp nhất và đạt nhiều thành quả lớn. Chương trình huấn luyện của ông vẫn được áp dụng cho đến ngày nay. Tuy nhiên, Glen W.Turner Enterprises cũng chính là người đã hoàn tất cơ chế làm việc kiểu “Kim tự tháp lừa bịp-mô hình hình thápảo”.Các nhà phân phối của Turner kiếm tiền bằng việc tuyển mộ, lôi kéo dụ dỗ người khác vào hệ thống bán hàng [81-Tr45].
Để lí giải mô hình Pyamid Scheme (mô hình kim tự tháp), trong bài viết Pyramid schemeđã đưa ra mô hình và phân tích:
Sơ đồ kim tự tháp (sơ đồ bán hàng đa cấp bất chính)
1
10
100
1,000 10,000
100,000
1,000,000 10,000,000
100,000,000
1,000,000,000 10,000,000,000
40
Một kế hoạch bán hàng theo mô hình kim tự tháp là hệ thống kiếm tiền gian lận,đòihỏidòng tuyển dụng vôtậnđểthành công. Các tân binhđưatiền cho các nhà tuyển dụng và tranh thủ những tân binh mới để cho họ tiền. Gọi là sơ đồ kim tự tháp vì hình dạng của kim tự tháp: hình tam giác ba chiều. Nếu một kimtự tháp đượcbắt đầu bởi một người ở trênđỉnhchỉcó 10 người bên dưới anh ta, và 100 người bên dưới họ, và 1000 người bên dưới họ, v.v. Đây là một sơ đồ kim tự tháp đơn giản, nhà tuyển dụng được yêu cầu đưa một khoản tiền, vídụ100đôla, chomộtnhà tuyển dụng. Tuyển dụngmớisauđóthêm 10 người tham gia, để bỏ 100 đô la mỗi người. Trong ví dụ mỗi nhà tuyển dụng đưa ra 100 đôla để đổi lấy 900 đô la (100 đô la từ mỗi người trong số 10 người tham gia mạnglưới của anh ta trừ đi 100 đô la mà anh ta đã cho nhà tuyển dụng của mình). Để không ai mất tiền, việc tuyển dụng phải tiếp tục mãi mãi [118].
Dưới góc độ kinh tế BHĐC bất chính được một số các nhà nghiên cứu đưa ra như sau:
TácgiảSusan Ward (M ),trong bài viết Learn to Distinguish between Multi–Level Marketing and Pyramid Schemes đưa ra các dâu hiệu để nhận biết hành vi BHĐC bất chính như: Phải đóng một khoản tiền trước khi tham gia mạng lưới đa cấp, không mua lại hàng hóa với giá trị banđầuít nhất là 80%, tiền hoa hồng được hưởng không phải từ việc bán hàng mà từ việc dụ dỗ người khác tham gia vào mạng lưới đa cấp, chất lượng hàng hóa bán không đúng như quảng cáo [104].
VớiquanđiểmcủaRadha Rani -Họcgiảnghiên cứu, Khoa thương mại,Đạihọc Maharshi Dayanand, Rohtak, Ấn Độ và Narender Kumar -Giáo sư, Khoa thương mại, Đại học Maharshi Dayanand, Rohtak, trong bài viết:“BHĐCvà bán hàng theo mô hình kim tự tháp”. Hai nhà nghiên cứu cho rằng: Bán hàng theo mô hình kim tự tháp về cơ bản là gian lận.Trong kếhoạch bán hàng này, việc làmthếnào có nhiều các thành viên tronghệthốngđượcchútrọng hơnchứviệc bánsảnphẩm. DN không cósảnphẩm ho csảnphẩm không có giátrịho c đôi khi sản phẩm được định giá quá cao so với chất lượng. Lợi nhuận có được phụ thuộc vào việc tiếp nhận thành viên mới. Các thành viênmớimuốn tham gia mạng lưới bán hàng này phải đóng một khoản tiền khá cao. Trong hệ thống này, mạng lưới được tổ chức là một chuỗi vô tận của các thành viên mới. Nhưng cuối cùng bão hòa thị trường xảy ra, không thểtiếp nhận thêm thành viên mới và những người mới ở tầng đáy sẽ là những người thiệt hại, các thành viên trên đỉnh kim tự tháp là những người duy nhất đạt được nguồn lợi tài chính [105].
41
Theo Hiệp hội bán hàng trực tiếp của Hoa Kỳ thì: ―kinh doanh đacấpbất chính làmột chuỗi người (gồm nhiều tầng) mà trong đó những người thuộc tầng cuối cùng trả tiền cho một vài người ở tầng cao nhất‖.
Như vậy, định nghĩa của hiệp hội bán hàng trực tiếp Hoa Kỳ cho thấy cấu trúc của môhình BHĐC bất chính cũng giống như BHĐC chân chính, phân phối viên tham gia mạng lưới có quyền tuyển thêm phân phối viên mới và nhờ đó quy mô mạng lưới ngày càng mở rộng. Tuy nhiên trong BHĐC bất chính những người cấp dưới sẽ trả tiền cho những người thuộc cấp trên dưới hình thức các khoản đóng góp phát sinh từ việc tham gia mạng lưới.
Dưới góc độ pháp lý, có rất nhiều các văn bản luật ở các quốc gia đã định nghĩa, đưa ra các dấu hiệu nhận dạng hành vi BHĐC bất chính:
Luật chống mô hình thápảocủa Hoa Kỳ định nghĩa: ―kinh doanh đa cấp bất chính (pyramid promotional shemes) làmộtkếhoạch mà trongđóngườitham gia quan tâmđến quyền được nhận tiền hoa hồng chủ yếutừviệc tuyển người mới tham gia vào mạng lưới hơn làtừtiền bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho những người tham gia khác hoặc bởi những người tham gia cho người khác‖ [125].
Luật Bảo vệ người tiêu dùng Bang Illinois (M ) định nghĩa BHĐC bất chính là ―bất kỳ kế hoạch hoặc sự tổ chức kinh doanh trong đó một cá nhân trả tiền có cơ hội nhận được lợi ích bằng tiền hoặc bằng các giátrịkhác, mà nhữnglợiích nàychủyếudựavào việc giới thiệu, dụ dỗ người khác tham gia vào kế hoạch hoặc mô hình kinh doanh này, không tính đến số lượng người tham gia; lợi ích họ nhận được không phụ thuộc vào số lượng hoặc doanh sốbán hàng hóa, dịch vụ đã bán cho người khác để sau đó bán tiếp cho người tiêu dùng” [116].
Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền ở Hoa Kỳ thường dẫn chiếu về BHĐC bất chính trong phán quyết của ỦyBan thươngmạiLiên bangđốivớivụkiện công ty Koscot Interplanetery, Inc: “Kinh doanh đacấpbấtchính là mô hình mà trongđóngườitham gia phải trả một khoản tiền cho công ty để được quyền bán sản phẩm và được quyền nhận tiền thưởng từ việc tuyển những người khác tham gia vào chương trình mà những khoản thu nhập đó không liên quan đến việc bán sản phẩm cho người tiêu dùng thực sự” [126].
Ở Việt Nam, thuật ngữ BHĐC bất chính lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 48 của LCT 2004 và được coi là hành vi CTKLM. Nhưng điều này không đưa ra định nghĩa mà chỉ đưa ra dấu hiệu nhận diện BHĐC nhằm thu lợi bất chính. Đây chính là các điều kiện để xác định ranh giới ―chân chính‖ hay―bất chính‖, tức là xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp của BHĐC.
42
Trong Nghị định 42/2010/NĐ-CP về quản lý hoạtđộngbán hàng đacấpkhôngsửdụng thuật ngữ BHĐC bất chính mà sử dụng thuật ngữ BHĐC theo mô hình kim tự tháp (làhình thức BHĐC bất chính) tại Khoản 10 Điều 3: ―Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp làviệc tiến hành hoạt động KDTPTĐC, trong đó thu nhập của người tham gia xuất phát chủ yếu từ việc tuyển dụng người tham gia mới; việc gia hạn hợp đồng của người đã tham gia; phí, tiền đặt cọc hoặc khoản đầutư của người tham gia trong mạng lưới”.
Với quy định này có thể nhận diễn rõ kinh doanh theo mô hình kim tự tháp là hành vi BHĐC bất chính bởi các dấu hiệu được liệt kê trong định nghĩa này đều đi ngược lại với hành vi BHĐC chân chính xâm phạm vào lợi ích của các chủ thể có liên quan.
Tuy nhiên hiện nay, LCT 2004 và Nghị định số 42/2010/NĐ-CP đã hết hiệu lực thi hành. Quản lý KDTPTĐC được thực hiện theo Nghị định số 40/2018/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Trong nghị định này không đưa khái niệm BHĐC bất chính mà chỉ quy định hành vi bị cấm đối với BHĐC. Quy định cấm này có khá nhiều hành vi được nhận diện là hành vi BHĐC bất chính tương đồng trong LCT 2004.
Ngoài những quy định của pháp luật và quan niệm của một số tác giả về BHĐC bất chính. Để giải thích thuật ngữ ―bất chính‖ có một số từ điển lý giải như sau:
Theo từ điển Black‘s Law dictionarytừ “illicit” được giải thích là illegal or improper nghĩa làbấtchính, không chính đáng, tráiđạođức,trái pháp luật [85-tr815].Từđiển Tiếng Việt từ ―bất chính” được giải nghĩa là không chính đáng, không ngay thẳng [31- tr27], hay Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, ―bất chính‖ là không chính đáng, trái với đạo đức luật pháp[82-Tr132].
Để nói về trái với chuẩn mực đạo đức kinh doanh thì cần phải xác định được nội hàm của đạo đức kinh doanh là gì? Nghiên cứu về ―đạo đức kinh doanh‖ xuất phát từ đạo đức nói chung của con người.Đạo đức làmột truyền thống lâu đời bắt nguồn từ những niềm tin của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa và tưtưởngtriết học. Đạo đức liên quan đến những cam kết vàluôn lý, trách nhiệm và công bằng xã hội.Đạođứctrong tiếng anh là ―Ethics‖,từnày bắt nguồn trong tiếng Hy Lạp ―Ethiko‖ và ―Ethos‖ nghĩa là phong tục tập quán. Hai danh từ này chứng tỏ rằng khi ta nói đếnđạo đức, tức là nói đếnnhững lề thóitậptục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Đạo đức được hiểu “Làhệthống các quy tắc, chuẩnmựcxãhộimànhờđóconngườitựgiácđiềuchỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội”. Đạo đức phản ảnh tính cách của cá nhân và trong thời đại hiện nay có thể nói lên cả văn hóa, tính chất của cả một DN.
43
Đạo đức kinh doanh trong tiếng Anh là Business Ethics, là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh được đề cập và nghiên cứu từ rất lâu đời. Cho đến nay định nghĩađạođức kinh doanh đãđượcrấtnhiều nhà nghiêncứuđưa ra. Chính vì vậy, giáo sư Phillip V.Lewis từ trườngĐạihọcAbilene Christian HoaKỳđã tiếnhành điều tra và thu thập 185địnhnghĩađượcđưara trong các sách giáo khoa và bài nghiêncứutừnăm 1961đếnnăm 1981. Sau khi tìm ra những điểm chung của các định nghĩa, ông tổng hợp lại và đưa ra khái niệmvềđạođứckinh doanh như sau:―Đạođứckinh doanh làtấtcảcác nguyên tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp, chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực vàsự trung thực của một tổ chức trong những trường hợp nhất định” [97].
Điều này có thểthấy, đạo đức kinh doanh chính là thểhiện sựtrung thực, tuân thủpháp luật, tôn trọng quyền lợi của khách hàng. Đạo đức kinh doanh là yếu tốnền tảng cho sựtin tưởng của khách hàng đối với doanh nghiệp, tăng cường sựtrung thành của nhân viên, điều chỉnh hành vi của doanh nhân, nâng cao hình ảnh DN và từ đó nâng cao lợi nhuận của DN.Muốn đạt được thànhcông bền vững, các DN phải xây dựng được nền tảng đạo đức kinh doanh cho DN.
Rõ ràng, doanh nghiệp BHĐC hợp pháp trong quá trình hoạt động phải thể hiện hành vi kinh doanh chân chính, biểu hiện như:
– Tuân thủ pháp luật
– Tôn trọng truyền thống, tập quán kinh doanh
– Phù hợp với đạo đức kinh doanh
– Phù hợp với thông lệ quốc tế
– Là động lực phát triển kinh tế -xã hội.
Điều này có nghĩa rằng, hành vi BHĐC bất chính là việc các DN BHĐC đi ngược lại với các biểu hiện trên. Từ các góc độ nghiên cứu và sự phân tích về thuật ngữ nêu trên có thểthấy BHĐC bất chính là hành vi kinh doanh không trung thực, không minh bạch, không chínhđáng, lừa đảo, trái với đạo đức và tập quán kinh doanh, vi phạm pháp luật của DN bằng những cách thức khác nhau nhằm kiếm lời một cách bất chính.
Vì vậy, BHĐC bất chính có thể định nghĩa như sau: ―BHĐC bất chính là hành vi kinh doanh theo phương thức đa cấp mà trong đó DN, người tham gia bán hàng đã sử dụng các thủ đoạn lừa dối, vi phạm pháp luật về BHĐC hoặc trái với chuẩn mực đạo đức, tập quán kinh doanh nhằm chiếm dụng tài chính của người tham gia mạng lưới bán hàng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng nhằm trục lợi bất hợp pháp. DN thực hiện hành
44
vi BHĐCbấtchính cóthểlà các DN đăng ký kinh doanh theo quyđịnhcủapháp luậtvềBHĐC hoặc không đăng ký kinh doanh theo phương thức đa cấp.”
BHĐC bất chính m c dù cũng mangmộtsố dấuhiệu giốngvớiBHĐC chân chính như: người tham gia đều được tổ chức theo cấu trúc hình tháp nhiều tầng và mỗi người đều cóquyền tuyển dụng người tham gia vào mạng lưới, nên rất dễ gây nhầm lẫn. Tuy nhiên, mô hình này cũng có nét khác riêng biệt, qua phân tích đ cđiểmcủaBHĐCbấtchínhđồngthời so sánh, đối chiếu với những đ c điểm của kinh doanh đa cấp chân chính sẽ cho thấy rõ ràng hơn về sự khác biệt trong mô hình này. Dù hiểu ở góc độ nào thì BHĐC bất chính cũng là một kếhoạch, một âm mưu mà trong đó DN và những người thuộc tầng trên trong mạng lưới người tham gia được hưởng các khoản lợi ích kinh tế chủ yếu từ tiền đóng góp của những người mới tham gia chứ không phải lợi nhuận của việc bán lẻ sản phẩm cho người tiêu dùng.
Từ định nghĩa và các quy định của pháp luật, hành vi BHĐC bất chính phải đáp ứng 2điều kiện: (Một) đó là thực hiên một trong số những hành vi mà pháp luật cấm. (Hai) là các hành vi BHĐC được xác định nhằm thu lợi bất chính.
Dựa vào bản chất của phương thức BHĐC và các quan điểm, định nghĩa về BHĐC bất chính, có thể xác định BHĐC bất chính có những đ c điểm như sau:
Thứ nhất, yêu cầu người khác phải đặt cọc hoặc nộp một khoản tiền nhất định hoặc phải mua một số lượng hàng hóa nhất định để tham gia vào hệ thống
Các DN BHĐCbấtchính thường thường tìm cáchdụdỗ,lôi kéongườitham gia BHĐC bỏ ra một khoản tiền để vào mạng lưới BHĐC xem như là chi phí gia nhập hệ thống. Chi phí này có thể được yêu cầu dưới nhiều hình thức khác nhau như nộp tiền để làm thủ tục tuyển dụng hay đào tạo; nộp tiền đ t cọc; mua một lượng hàng nhất định (thường là sản phẩm với giá đắt hơn giá thị trường ho c gói sản phẩm theo mức giá cố định); nộp tiền làm thẻ thành
viên; nộp tiền mua tài liệu đào tạo…Đây là hình thức diễn ra phổ biến hiện nay kể từ thời điểm hình thức BHĐC du nhập vào Việt Nam. Đây là một dạng lừa đảo, nhằm chiếm dụng vốn, tài sản của người tham gia BHĐC.
Bảnchất của BHĐC là người tham gia tiếp thị sản phẩm giúp DN,đượchưởng lợiích, hoa hồngtừkếtquảtiếp thị, bán hàngcủamình vàcủamạnglướido mìnhtổchức ra. Quan hệ qua lại về lợi ích và nghĩa vụ giữa DN với người tham gia thực sự chỉ phát sinh khi người tham gia thực hiện việc tiếp thị, bán sản phẩm. Việc gia nhập mạng lưới chưa đem lại cho người tham gia bất cứ lợi ích gì, nên chưa thể ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với họ. Không những thế, về bản chất, đ t cọc là biện pháp bảo đảmvậtchất mà mà cácchủthể phải
45
thực hiện với nhau nhằm đảm bảo cho việc thực hiện một nghĩa vụ; việc trả tiền là nghĩa vụthanh toán của một chủ thể cho việc được hưởng một lợi ích ngang giá.Vì vậy, việc DN buộc người muốn tham gia phải thực hiện các nghĩa vụ nói trên như một điều kiện để xem xét việc có được tham gia mạng lưới hay không là trái với bản chất của việc đ t cọc hay của nghĩa vụtrả tiền. Trong thực tế, khi thực hiện BHĐC, DN phải bỏ ra những khoản tiền lớn để thành lập mạng lưới đa cấp trong khi thu nhập từ việc bán hàng hóa là không đáng kể và không khống chế thế hệ, cấp bán hàng được hưởng hoa hồng, tiền thưởng. Số tiền DN phải trả cho người tham gia sẽ tăng dần theo cấp số lượng người tham gia mới. Lúc này, nguy cơ xảy ra các cuộc khủng hoảngvềtài chính cho DN làtấtyếu. Dođó,các DN luôn tìmmọicáchđểbùđắp khoản chi phí đã trả cho người tham gia.Thông thường DN BHĐC đ t ra những điều kiện vềmức hàng hóa tối thiểu mà người muốn gia nhập phải mua ho c đ t ra mức phí gia nhập đối với thành viên mới.
Thực hiện hành vi trên, DN BHĐC vừa thu được khoản lợi nhuận bất chính vừa khiến người tham gia có động cơ lôi kéo dụ dỗ người khác tham gia vào mạng lưới của DN BHĐC bất chính nhằm gỡ gạc, bù đắp khoản chi phí đã bỏ ra.
Thứ hai, cho người tham gia nhận hoa hồng từ việc tuyển dụng, giới thiệu người khác tham gia vào mạng lưới BHĐC
Nhưđãnêu trên,ngườitham giahệthống BHĐCbấtchính thườngsẽmấtmột khoản tiền chi phí ban đầu. Chi phí này được DN trích một phần để trả công cho người giới thiệu, các DN BHĐCbấtchínhvẫngọiđâylà hoa hồng. Tuy nhiên, hoa hồng này không phải là thành quả của hoạt động bán hàng, hay nói chính xác là từ lợi nhuận mà người tham gia BHĐC thu về từ việc bán hàng hóa cho DN BHĐC mà xuất phát từ tiền của người mới bịdụ dỗ tham gia mạng lưới. Hình thức cho người tham gia nhận tiền từ việc tuyển dụng người mới.Trảtiền cho việc tuyển dụng làmộttrong nhữngdấuhiệu nhận biết cănbảnđốivới hoạt động bán hàng đa cấp bất chính. Ở những DN này, việc bán hàng không được chú trọng mà chỉ tập trung tuyển dụng, lôi kéo người mới tham gia. Để khuyến khích tuyển dụng, DN chi trả một khoản hoa hồng cho người tham gia khi người đó tuyển được một người mới.
Tuy nhiên, việc tuyển dụng của các DN này thường gắn với việc người được tuyển dụng nộp một khoản tiền dưới các hình thức khác nhau như đ t cọc hay mua hàng. Nguồn gốc khoản tiền thưởng dành chongườituyển dụng cũng chính làtừkhoản tiền dongườiđượctuyển dụngnộpcho Công ty. Các DN nàysẽtồntạiđếnkhi không tuyểnđượcngườimớinữa, không còn tiềnđểchitrảcho tuyến trênnữathìsẽtựsụpđổ.Đ c biệt, trong hoạtđộng BHĐC chính thống, mỗi người tham gia chỉ ký một hợp đồng tham gia và được cấp một mã
46
số để xác nhận vị trí trong mạng lưới của DN. Tuy nhiên, ở các DN BHĐC bất chính, người tham gia được khuyến khích đầu tư nhiều tiền, thông qua việc một người ký nhiều hợp đồng,
tạo lập nhiều mã số trên hệ thống, mỗi mã số nộp một khoản tiền, hệ thống sẽ xếp các mã sốđể mã số trên được hưởng hoa hồng từ mã số phía dưới. Theo cách này, khi mới gia nhập, người tham gia sẽ được nhận một khoản hoa hồng nhất định, thực chất là từ doanh số của các mã số tuyến dưới của chính mình. Tuy nhiên, đến các kỳ tính thưởng tiếp theo, người đó sẽkhông còn được hưởng hoa hồng gì nếu không đầu tư thêm tiền, bởi các mã số này đều là mãsố ảo, không tự phát sinh được hoa hồng do không có hoạt động mua bán liên quan đến mãsố đó. Đâylà cách thức được một số DN BHĐC sử dụng để kêu gọi đầu tư vì người đầu tư bịthu hút bởi khoản hoa hồng ban đầu khi họ mới nộp tiền vào hệ thống mà không ýthức được việc khoản hoa hồng đó chỉ phát sinh một lần ho c chỉ phát sinh khi họ đầu tư thêm tiền cho các mã số phía dưới.
Do đó, nếu được giới thiệu tham gia hệ thống BHĐC nào có chính sách trả hoa hồng cho việc tuyển dụngngườimớitham gia BHĐC thìhệthống kinh doanhđócódấuhiệu BHĐC bất chính. Bởi, BHĐC là một phương thức bán hàng mà người bán được hưởng hoa hồng từ kết quả bán hàng của mình và kết quả bán hàng của mạng lưới người tham gia phía dưới không phải nhận hoa hồng từ việc tuyển dụng.
Thứ ba, bán hàng đa cấp bất chính mang bản chất lừa dối, cung cấp thông tin sai sựthật gây nhầm lẫn để dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới BHĐC
Cung cấp thông tin sai sự thật gây nhầm lẫn ho c nói quá, quảng cáo gian dối là hình thức cơ bản để các đối tượng BHĐC bất chính thu phục người mới, khiến họ mờ mắt trước những thông tin không có thật. Việc nói quácủađốitượngBHĐCbấtchínhđượcthểhiện dưới nhiều hình thức khác nhau:
Nói quávềcơhộilàm giàu:người bịdụ dỗtham gia vào các DN đacấpbất chính thường được nghe những lời quảng cáo về khả năng có thể giàu lên nhanh chóng sau một thời gian tham gia vào mạng lưới. Thành viên của DN đa cấp bất chính sẽ vẽ ra những cảnh tượng giàu sang, nêu nhữngtấmgương giàu cóđãthành côngởdoanh nghiệp, ho cbảnthânhọcũngtỏra hiểu biết giàu cóvớicách ăn m c hào nhoáng. Các DN đacấpbấtchính cũng thườngtổchức cácsựkiện vinh danhrầmrộ,chongườilên vinh danhvớinhững khoản thưởng được giá trị hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỉ đồng để khiến những người ngồi dưới cóniềm tin rằng họ cũng sẽ làm được như vậy.
Tuy nhiên, các thông tin này thực chất đều là giả tạo, những người lên nhận thưởng thường chỉ đeo dải băng chéo với số tiền lớn nhưng không được trao số tiền như đúng mệnh
47
giá trên dải băng của họ, ho c số tiền đó là số tiền thưởng của cả hệ thống hàng ngàn người chứ không phải của riêng họ. Người nhẹ dạ có thể sẽ tin tưởng và đầu tư nhiều tiền để nhanh chóng có được thành công như vậy.
Nói quá về công dụng sản phẩm: Thực hiện hành vi dụ dỗ khách hàng bất chính làviệc các DN BHĐC đã biến tướng hành vi kinh doanh của mình để tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đưa thông tin gian dối, không chính xác về công dụng sản phẩm của DN làm cho khách hàng tin tưởng sử dụng sản phẩm, Hình thức này phổ biến ở dạng quảng cáo sản phẩm của DN BHĐC có công dụng thần kỳ, chữa được các bệnh nan y, bệnh hiểm nghèo. Để tăng tính thuyết phục, nhiều DN bố trí người vào vai bệnh nhân để làm nhân chứng sống cho việc sửdụng sản phẩm của DN đã khỏi bệnh m c dù bệnh viện không thể chữa khỏi. Với việc chứng kiến ―người thật,việc thật‖ rấtnhiều ngườiđã bỏkhoản tiền lớn đểmua sản phẩmvớihy vọng ―chữa‖ được bệnh cho bản thân ho c người thân của mình, nhiều người cũng mang các câu chuyện này chia sẻ lại với người thân dẫn đến có nhiều nạn nhân hơn tham gia mua các sản phẩm này. Tuy nhiên, thực tế sản phẩm của các DN này chỉ là các sản phẩm thực phẩm chức năng, không có tác dụng chữa bệnh. Đây chỉ là chiêu thức lừa dối khách hàng để trục lợi bất chính.
Nói quá về quy mô, sức mạnh của doanh nghiệp:Để dụ dỗ lôi kéo được nhiều người tham gia vào mạng lưới BHĐC. Nhiều DN BHĐC bất chính chỉ là DN do người Việt Nam thành lập, lấy tên giống một DN nước ngoài, nhưng để lấy niềm tin của người khác, họ thường quảng cáo họ là DN đa quốc gia, hoạt động trên nhiều quốc gia trên thế giới, có nhà máy, trụsở, văn phòng ở nhiều quốc gia khác nhau và DN có chính sách đãi ngộ hấp dẫn. Người tham gia mạng lưới BHĐC sẽ được đi du lịch hay giao lưu học tập kinh nghiệm bán hàng ở nhiều nước trên thế giới. Ho c lừa đảo người tham gia bởi những thông tin gây nhầm lẫn như DN BHĐC đó thuộc sở hữu của một tổ chức uy tín nào nó, tạo nên sự tin tưởng để nhiều người tham gia vào mạng lưới BHĐC bất chính đó. Hình thức nói quá này thường nhằm nhắm đến những người có nhận thức hạn chế, nghĩ rằng mình được làm việc cho doanh nghiệp quốc tế, cảm thấy tự hào và càng tin tưởng là không bị lừa.
Thứ tư, kinh doanh đa cấp nhưng không có hàng hóa hoặc hàng hóa không có giá trị, chất lượng chỉ mang tính tượng trưng
Các DN BHĐC bất chính chỉ tập trung tuyển dụng người mới để thu tiền mà không quan tâm đến mua bán hàng hóa, do đó họ thường không có hàng hóa ho c có nhưng chỉ là các hàng hóa giá rẻ, thô sơ để làm bình phong cho hoạt động thu tiền. Một số DN có giao hàng
48
nhưng hàng hóa giátrịrất thấp so với số tiền thu của người tham gia, vídụnhư thực phẩm chức năng sản xuất trong nước, đồ gia dụng xuất xứ Trung Quốc được bán với giá hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu đồng. Saumộtthời gian,ngườinộptiền không đượctrảhoa hồng như hứa hẹn, muốn đến đòi lại tiền thì không thể đòi lại được vì giấy tờ thể hiện họ đã nhận hàng, ho c việc mua bán đã được thực hiện trên cơ sở thuận mua vừa bán, dù đắt nhưng người mua đã đồng ý bỏ tiền mua nên không thể đòi lại.
Thứ năm, kinh doanh đa cấp khi chưa có giấy phép hoạt động BHĐC
Kinh doanh đacấplà hoạtđộngkinh doanh cóđiềukiện, DNchỉđượctổchức KDTPTĐC khi đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy đinh của pháp luật. Do đó khi được mời chào, tuyển dụng vào DN kinh doanh đa cấp nào, người tham gia cần kiểm tra DN đó đã được cấp giấy chứng nhận hoạt động BHĐC hay chưa để tránh tham gia vào những công ty lừa đảo.
Tóm lại, BHĐC bất chính là hành vi biến tướng, sai lệch, tiêu cực của hình thức BHĐC. Hành vi này có bản chất lừa dối, trục lợi một cách bất chính gây thiệt hại cho người tham gia BHĐC và người tiêu dùng. Vì vậy, để chống lại hành vi này Nhà nước cần phải có những biện pháp kiểm soát ch t chẽ và xử lý nghiêm minh đối với hoạt động kinh doanh phi pháp này.
1.1.2. Vai trò của bán hàng đa cấp và sự tác động của bán hàng đa cấp bất chính 1.1.2.1. Vai trò của bán hàng đa cấp trong đời sống xã hội hiện nay
Về bản chất, BHĐC là hình thức kinh doanh tiến bộ của một xã hội hiện đại. Nó mangđếnsựtiệnlợicho khách hàng, giúp khách hàng cóthểtrực tiếp mua hàng mà không cần thông qua các cửa hàng bán lẻ hay đại lý trung gian như việc bán hàng truyền thống từ trước đến nay. Điều này giúp tiết kiệm chi phí cho DN và cả người tiêu dùng, cũng như tinh gọn bộmáy quản lý của công ty bớt cồng kềnh, và linh hoạt trong kinh doanh. Người mua hàng có thểtrở thành kênh phân phối trực tiếp và thu được lợi nhuận thông qua việc giới thiệu sản phẩm tốt, chất lượng cho người thân, bạn bè của mình và mọi người xung quanh. BHĐC không xấu, mà ngược lại đã mang lại lợi ích cho DN, cho người tiêu dùng, cho người tham gia BHĐC.
Thứ nhất, đối với DN kinh doanh bán hàng đa cấp
Một, DN KDTPTĐC sẽ giảm chi phí nhiều hơn so với kinh doanh truyền thống. Bởi lẽ, đâylà hình thức bán hàng trực tiếp, không thông qua các cửa hàng mà thông qua những người bán hàng của mạng lưới phân phối đa cấp. Nghĩa là sản phẩm từ nhà sản xuất thông qua tư vấn viên, người bán hàng đến tay người tiêu dùng, DN tiết kiệm được chi phí thuê, mua m t bằng để làm cửa hàng. Đối với việc bán hàng hóa, sản phẩm, do có sự tư vấn thông tin trực tiếp nên các DN BHĐC cũng tiết kiệm chi phí quảng cáo, quảng bá sản phẩm và thương hiệu tớikhách hàng vàngườitiêu dùng. Tiếp nữa,vớingườitham gia mạnglướibán hàng, DN
49
không phải trả lương cho việc họ mang hàng đi bán mà những người bán hàng này sẽ được
trích hoa hồngtừlợinhuậnhọtạora…DN tiết kiệmđượcchi phítổchứcbộmáy nhânsựhành chính. Ngoài ra, các DN này khôngmấtchi phí lưu kho haynợđọng.Bởimạnglưới tham gia bán hàng,sẽlà nhữngngườitrực tiếplấyhàng, lưu hàngđểchủđộngtrong việc mang đi bán. Khi người bán hàng lấy sản phảm của DN thì phải đ t cọc số tiền tương đương với giá trị hàng hóa đó, DN có thể kiểm soát được lưu lượng vốn,và hàng hóa lưu thông của mình.Tuy nhiên, đối với DN bán hàng truyền thống, sản phẩm của họ muốn tới tay người tiêu dùng phải qua rất nhiều công đoạn, từ nhà sản xuất qua rất nhiều khâu trung gian mới đến tay khách hàng. Vì vậy, công ty kinh doanh đa cấp sẽ tiết kiệm được chi phí rất lớn mà đối với các DN kinh doanh theo hình thức truyền thống phải bỏ ra.
Hai, quy mô mạng lưới BHĐC phát triển nhanh hơn so với bán hàng truyền thống. Bằng kinh nghiệmsửdụngsảnphẩm,ngườitham gia giới thiệusảnphẩmtớingườitiêu dùng và giới thiệu họ đến với cơ hội tham gia hoạt động BHĐC. Với phương thức này, DN có thể mở rộng mạng lưới nhanh chóng và có được thị trường tiêu thụ mạnh, hiệu quả; có cơhội tích lu vốn để đầu tư cho DN ngày càng lớn mạnh. Giúp DN nhất là DN vừa và nhỏ tiếp cận người tiêu dùng nhanh chóng thông qua hệ thống bán hàng độc lập.
Thứ hai, xét dưới góc độ lao động, việc làm
Với cơ chế mở rộng mạng lưới bán hàng không giới hạn, BHĐC tạo nên công ăn việc làm, thu nhập cho nhiều người lao động. Những quy định không quá khắt khe về đối tượng tham gia bán hàng, hình thức hoạt động như: không giới hạn độ tuổi, không yêu cầu chuyên
môn, bằng cấp,…đối với người tham gia BHĐC đã tạo điều kiện cho nguồn lao động dư thừa do chuyên môn, trình độ, sức khỏe không tốt ho c độ tuổi đã cao (trên 45 tuổi) không có điều kiện xin việc vẫn có thể tham gia bán hàng theo phương thức này. Năm 2018 số lượng người tham gia BHĐC tại Việt Nam là 1.246.195 người tăng khoảng 43% so với cuối năm 2017. Cóthể thấy, đây là con số không nhỏ mà các DN BHĐC đã tạo ra công ăn việc làm cho xã hội.
Ngoài ra, nguồn thu nhập từ kinh doanh đa cấp không chỉ đến từ sản phẩm mà là cảmộthệthống, Vì vậy,nếuxây dựngđượchệthống vững mạnh, phát triểntốtthìlợinhuận mang đến cho tham gia mạng lưới là rất cao. Đây chính là ưu điểm nổi bật nhất của hình thức kinh doanh này. Thời gian tham gia bán hàng cũng rất linh hoạt nên đây cũng được coi là việc làm thêm tăng thu nhập cho bản thân và cho gia đình của nhiều người nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và đóng góp nhiều xã hội.
Thứ ba, đối với nhu cầu tiêu dùng trong xã hội
Đời sống và nhu cầu tiêu dùng của người dân Việt Nam ngày càng nâng cao. Người dân đã biết hưởng thụ, làm đẹp nhiều hơn, biết phòng bệnh và xu hướng sử dụng những sản
50
phẩm sạch tốt cho sức khỏe. Các DN BHĐC thường kinh doanh m t hàng về m phẩm, thực
phẩm chức năng, thời trang, vật lý trị liệu, dụng cụ thể thao… để hướng tới những nhu cầu đó. Sảnphẩm trong công ty đacấpchấtlượngđảmbảo, phong phú, giá thànhhợplýđápứng đượcnhucầutiêu dùngcủangườidân.Ngườitiêu dùngđượcsửdụng cácsảnphẩm chất lượng tốt, giá thành rẻ.
Ngoải ra, người tiêu dùng khi muốn mua hàng hóa sản phẩm của các DN sẽ thuận lợi nhanh chóng, và dễ dàng hơn so với phương thức bán hàng truyền thống, thay bằng cách phải đến các cửa hàng bán lẻ, các siêu thị thì nay hàng hóa sẽ được mang tới tận nhà, tận nơi làm việc khi khách hàng có nhu cầu. Được hướng dẫn, tư vấn trực tiếp miễn phí về hàng hóa trước khi ra quyết định mua hàng, giá cá hợp lý vì không bị đội lên chi phí trung gian, cửa hàng. Bên cạnh đó, chính người tiêu dùng còn có thể trở thành nhà phân phối độc lập của bất kì công ty hay DN kinh doanh đa cấp nào họ muốn nếu đầy đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, BHĐC góp phần thúc đẩy nền kinh tế, đóng góp vào ngân sách Nhà nước
Theo báo cáo hoạt động BHĐC năm 2017, tính đến tháng 3/2018 số lượng DN giảm xuống còn 33 DN. Theosốliệu báo cáocủacác DN, tổng doanh thu BHĐC năm 2017đạt khoảng 8.000 tỷ đồng, tăng hơn 330 tỷ đồng so với doanh thu năm 2016 [39]. Trong báo cáo
tổng kết công tác quản lý BHĐC năm 2018, m c dù số lượng DN và số lượng người tham gia giảm, doanh thu của ngành BHĐC lại có xu hướng gia tăng. Giai đoạn 2016 đến 2017 doanh thu toàn ngành đạt khoảng 8000 tỷ/năm. Năm 2018 đạt 10.782 tỷ đồng/năm tăng 2700 tỷ đồng (hơn 30% so với 2017) đóng góp ngân sách nhà nước 1365 tỷ đồng [40]. Năm 2019 doanh thu của 26 DN BHĐC đạt 12.575 tỷ đồng. Theo số liệu báo cáo của các DN, tổng số thuế nộp vềngân sách nhà nước trong năm 2018 đạt 1.365,317 tỷ đồng, trong đó thuế giá trị gia tăng chiếm 33,29%, thuế xuất nhập khẩu chiếm 34,434%, thuế thu nhập cá nhâncủangườilaođộng 4,28%, thuế thu nhập cá nhân nộp hộ cho người tham gia BHĐC chiếm 9,331%, thuế thu nhập DN chiếm 11,268%, các loại thuế khác 2,1%. Tổng số thuế đã nộp về ngân sách nhà nước năm 2019 là 1.661 tỷ đồng. Tổng số hoa hồng và các lợi ích kinh tế khác mà các DN BHĐC đã chi trả cho người tham gia BHĐC đạt khoảng 3963 tỷ đồng, chiếm khoảng 34 % tổng doanh thu (doanh thu chưa baogồmVAT) [41]. Trongđó,giátrịkhuyếnmạiquyđổithành tiềnđạt 39,450 tỷ đồng, chiếm khoảng 2% tổng giá trị hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế [107].
Từ những số liệu nêu trên có thể thấy, các DN KDTPTĐC đóng góp vào ngân sách nhànướcmộtconsốkhông nhỏ. M c dùsốlượngDN kinh doanh đacấpcó chiều hướng giảm dosựthắt ch t quản lýcủaNhànướcnhưng cũng khôngthểphủnhậnsựđóng góp không nhỏ của các DN này đối với nền kinh tế và ngân sách của đất nước.
51
Tóm lại, BHĐC có khá nhiều ưu điểm và thuận lợi nhưng vẫn có một số DN vì muốn kiếm tiền nhanh chóng, không phải mất thời gian đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật, lòng tin của khách hàng, sự kém hiểu biết của một bộ phận người dân đã sử dụng thủ đoạn lừa đảo nhằm thu lợi bất chính gây nên hậu quả n ng nề cho xã hội.
1.1.2.2. Sự tác động tiêu cực của bán hàng đa cấp bất chính tới xã hội hiện nay Thứnhất, đối với các DN kinh doanh đacấpchân chính
DN có hành vi BHĐC bất chínhđãlàm vấy bẩn bộ m t của những DN kinh doanh chân chính, làm ảnh hưởng không tốt, và rất tiêu cực đến những DN kinh doanh đa cấp hợp pháp. Do ngày càng nhiều người tham gia bịdụdỗ, bịlửa đảo đểrồi trởthành nạn nhân của kinh doanh đa cấp bất chính dẫn đến tiếng xấu về kinh doanh đa cấp ngày càng tăng. Điển hình làvụlừa đảocủacông ty BHĐC Liên Kết Việt năm 2016 đã gây chấn động dư luận, gây thiêt hại không nhỏ tới xã hội (Công ty Liên Kết Việt đã lôi kéo được hơn 68.000ngườitại49 tỉnh, thành phốtham gia vào hệ thống kinh doanh đa cấp, đã lừađảo chiếmđoạt hơn 1.121 tỷ đồng) [110]. Từ những vụ lừa đảo của các DN BHĐC biến tướng dẫn đến tâm lý e ngại, dè chừng của người tiêu dùng đối với DN đa cấp và những sản phẩm của các DN này; cùng với tâm lý vơđũacảnắmkhông phân biệt là DN BHĐC chân chính hay bất chính hiện hữu trong đasốngười tiêu dùng. Vì vậy, DN BHĐC hiện nay đã khó khăn trong việc tạo niềm tin với người tiêu dùng, nay g p tiếng xấu lại càng khó khăn hơn. Không những vậy, hành vi bất chính của những DN này còn làm cho môi trường cạnh tranh trở nên không lành mạnh, trong khi DN kinh doanh chân chínhtạodựng thương hiệucủamình thông qua việc không ngừng tiếp thị rộng rãi và nâng cao chất lượng sản phẩm thì DN bất chính lại phá hủy thành quả đó, tạo tiếng xấu gây những nhầm lẫn hiểu sai về phương thức kinh doanh chân chính này.
Thứ hai, đối với người tham gia bán hàng đa cấp và người tiêu dùng
Hơn ai hết, người tham gia BHĐC bất chính là những người đầu tiên bị thiệt hại trực tiếp. DN BHĐC bất chính thường sử dụng thủ đoạn lôi kéo dụdỗngười tham gia bánhàng đểhưởng lợi ích kinh tếtừviệc người tham gia đóng một khoản tiền ban đầu khi tham gia mạng lưới màkhông phải từ việc bán hàng hóa. Điều này đồng nghĩa với lợi ích kinh tế mà các DN này có được khôngphải từhoạt động kinh doanh. Đây là thủ đoạn phổ biến của DN BHĐC bất chính. Người tham gia BHĐC là người mất không một khoản tiền lớn đểtrởthành thành viên của mạng lưới. Đối với mỗi người dân khoản tiền này làtừmồhôi, nước mắt là thu nhập lớn laocủa họnên khimấtđihọsẽcốgắnglấylạibằng cách lôi kéo những người khácđểhưởng hoa hồng từsốtiền màngười bịlôi kéo đóng vào. Nhưng đâu biết rằng, hành viđóbản chất là gian dối, khiến người người khác cũng bị lừa. Không những mất đi niềm tin trong mắt bạn bè, người thân, những người đãbịdụdỗcònbịmang tiếng làlừa đảo vìđãdụdỗlôi kéo người thân và gian dốivềnhững thông tin sai lầmvềcông dụng của sản phẩm do người tham
52
gia bị DN cung cấp một cách không chính xác. Tiền mất, tật mang là những gì mà người tham gia trong DN BHĐC bất chính phải hứng chịu. DN BHĐC bất chính thường tập trung vào việc dụdỗngườitham gia hơn là việc nâng cao chấtlượngsảnphẩm. Việc xuất hiện các DN BHĐC bất chính làm chongườitiêu dùng hoang mang về chấtlượngsản phẩm đang dùng, thêm vào đó hàng kém chất lượng, không đúng với tiếp thị xuất hiện ngày càng nhiều, việc người tiêu dùng bỏ ra hàng trăm, hàng triệu hàngchục triệu đểmua hàng nhưng không tương xứng với mức tiền là cũng chuyện thường tình. Việc DN đưa ra những thông tin gian dối đểngưởi tiêu dùng mua sản phẩm là hành vi lừa đảo, nhưng hành vi này ngày càng tinh vi với nhiều chiêu thức. Vì vậy, không phải người tiêu dùng nàocũng đủthông minh, đủ kiến thức và trình độđểphân biệt và không trở thành nạn nhân của hành vi BHĐC bất chính.
Thứ ba, ảnh hưởng tiêu cực đối với xãhội
Bất cứhiện tượng tiêu cực nào xuất hiện thì dần dần toàn xã hội cũng phải gánh chịu hậuquảcủanó. BHĐC biếntướngcũng vậy, môi trường CTKLMthểhiện ởviệc lôi kéo, giành giậtngườitham gia, nóixấulàmảnhhưởnguy tín nhau giữa nhữngngườitham gia
cũng như giữa các DNvớinhau…nghiêm trọng hơn, những việc trên cóthểgâyđổvỡcác quan hệ giữa con người với con người, gây rối trật tự an ninh xã hội, tạo nên một môi trường CTKLM,ảnhhưởngtruyền thốngđạođứccủadân tộc.Thươngmạihoámốiquanhệgiữa người với người: mọi mối quan hệ trong xã hội đều có thể trở thành quan hệ thương mại. Bạn
bè, người thân, làng xóm, đồng nghiệp… đều có thể là khách hàng tiềm năng. Mối quan hệgiữa người với người sẽ không chỉ đơn thuần xuất phát từ huyết thống, từ những tình cảm gắn
bó…màcòn xuất pháttừnhữnglợiích kinhtếđượcthụhưởngtừcôngsứchoạtđộng của nhau. Điều này có thể tạo tâm lý ganh ghét, bất mãn giữa người với người khi bạn bè, người
thân…lại hưởng lợi từ công sức của mình. Hành vi này làm phá vỡ các mối quan hệtốt đẹp trong xã hội, vì BHĐC bất chính màmấtđi bạn bè, người quen thậm chí là những người thân trong gia đình. Con người luôn trong trạng thái hoài nghi, mất niềm tin với mọi người xung quanh, gây tâm lý losợkhi tham gia vào các mối quan hệ trong xã hội. Không những thế, bằng nhiều cách thức khác nhau, cùng với những thủ đoạn lừa dối tinh vi trong kinh doanh đa cấp bất chính làm gia tăng sốnạnnhân, số thiệt hại và cũng giamột sốtội phạm như lừa đảo chiếm
đoạt tài sản, quảng cáo gian dối…làm cho xãhội vốn bất ổnnay càng nhiều bất ổn hơn.
Tóm lại, BHĐC bất chính là một hành vi tiêu cực ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của con người, từ cá nhân, tổchức đếntoàn xã hội. Hành vi này đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều, xâm lấn môi trường kinh doanh của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
53
riêng. Vì vậy, việc ngăn ch n vàxửlýkịpthời hành vi bất chính này là vô cùng thiết yếu đểbảo vệquyền lợi cho các DN, người tiêu dùng và toàn xã hội.
1.4. Những vấn đề lý luận về pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính 1.4.1. Khái niệm pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính
Trong phạm vi mỗi quốc gia, pháp luật được hiểu là tổng hợp những quy tắc xửsự có tính bắt buộc chung, được biểu thị bằng hình thức nhất định, do nhà nước ban hành ho c thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các QHXH theo định hướng của nhà nước. Về nguyên tắc, các nhànước cóquyền ban hành pháp luật để điều chỉnh mọi QHXH. Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật tại các quốc gia cho thấy, nhà nước chỉ ban hành pháp luật đểđiềuchỉnh các QHXH mà nhànướccho là cơ bản, quan trọng và tươngđối ổnđịnh; những QHXH khác có thểđượcđiềuchỉnhbởicác quy phạm xãhộikhác nhưđạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo, điều lệ của các tổ chức…Cùng với sự hình thành và phát triểncủaBHĐC, QHXH phát sinh trong lĩnhvựcnày luônđượccác quốc gia quan tâmđiều chỉnh bằng pháp luật. Pháp luật BHĐCtrởthànhmộtbộphận ngày càng quan trọng tronghệthống pháp luật các quốc gia bởi sựphát triển không ngừng của phương thức bán hàng này vàsựbiến tướng ngày càng tinh vi củaDNđãlàm cho phương thức BHĐCtrởthành bất chính. Để bảo vệ môi trường kinh doanh trong sạch, bảo đảm sự cạnh tranh công bằng bìnhđẳnggiữa các doanh nghiệp BHĐC. Pháp luật chống BHĐC bất chính là những quy định không thể thiếu để điều chỉnh hoạt động BHĐC hiện nay.
Trongtừđiểntiếng Việt―chốnglại‖đượchiểu là làm tráingượclại,cựlại[31- tr66]. Theo từ điển sohatừ“chống lại”đượcđịnh nghĩa là hoạt động ngược lại, gây cản trở ngại cho hành động của ai, ho c làmcản trởsức tácđộngcủa cái gì đó [114]. Trong từđiển Lạc Việt từ“chốnglại‖ làkhông chịu làm theo [103]. Từ“chống lại”trong tiếng anh là “antagonize” được hiểu là gây phản tác dụng, gây nên đối kháng, phản kháng [108].
Như vậy, có thể xác định―chống lại”là việc sử dụng các biện pháp nhằm ngăn ch n, gây cản trở, làmhạnchế, ngăn cản tác động nào đó tới xã hội. Ở Việt Nam và trên thế giới chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra quan niệm về pháp luật chống BHĐCbấtchính là gì? Tuy nhiên về nội hàm quan trọng và đ c điểm của pháp luật chống BHĐC bất chínhđược thể hiện trong quy định của pháp luật về BHĐC, đó là:
– Pháp luật BHĐC là tổng hợp của các quy tắc xử sự chung do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành ho c thừa nhận nhằm điều chỉnh các QHXH theo định hướng của
54
Nhà nước. Các QPPL tồn tại ở những hình thức như tập quán pháp hay tiền lệ pháp do Nhànước thừa nhận, các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành.
– Pháp luật BHĐC điều chỉnh các QHXH phát sinh trong lĩnh vực BHĐC. Cụ thể hóa củacác QHXH phát sinh trong lĩnhvựcBHĐC chính là cácmốiquanhệkinhtế- xã hội phát sinh trong quan hệ pháp luật giữa các thành viên tham gia mạng lưới BHĐC với nhau, giữa DN BHĐC và người tham gia BHĐC.Việc tổ chứcmạng lướiBHĐC của DN và thụhưởng hoa hồng được chia của người tham gia BHĐC. Để bảo vệ hoạt động kinh doanh đa cấpchân chính, pháp luậtcủacácnướccóđưara nhữngdấuhiệu phân biệt BHĐC chân chính và BHĐC bất chính để từ đó đưa ra các chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm.
– Pháp luật chống BHĐC bất chính là tổng hợp các quy định của pháp luật về các biện pháp được Nhà nước sử dụng với mục đích nhằm kiểm soát, ngăn ch n, xử lý bằng các biện pháp chế tài đối với hành vi BHĐC bất chính gây tác động xấu tới XH với mục đích bảo vệ hoạt động kinh doanh đa cấp chân chính, lành mạnh.
Với những lý do trên, pháp luật chống BHĐC bất chính có thể định nghĩa:
“Pháp luật chống BHĐC bất chính là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhànướccó thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằmmụcđích ngăn chặn hành vi BHĐCbấtchínhcủaDN vàngườitham gia BHĐC bằng cách xácđịnhdấuhiệu hành vi BHĐC bất chính; đồng thời quy định kiểm soát, ngăn ngừa và các biện pháp xử lý bán hàngđa cấp bất chính. Mục tiêu là ngăn chặn hành vi này gây thiệt hại cho xã hội,cho môi trường kinh doanhcủadoanh nghiệp bán hàng đacấpbấtchính vàbảovệlợiíchhợppháp cho người tham gia BHĐC và người tiêu dùng”.
Từnhững phân tích vàđịnhnghĩa tổng quát nêu trên, pháp luật chống BHĐC bất chính có những đ c điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật chống BHĐC bất chính là một bộ phận của pháp luật về BHĐC Pháp luật chống BHĐC bất chính là bộ phận không thể tách rời và rất quan trọng của
pháp luật về BHĐC. Quy định pháp luật trong vấn đề này giúp cho các chủ thể trong quan hệpháp luật BHĐC nhận thức rõ ràng hành vi mình thực hiện là hợp pháp hay bất hợp pháp. Nếu chủ thể nào nhận thức được nhưng cố tình vi phạm sẽ có những chế tài áp dụng nhằm mục đích trừng phạt, răn đe. Vì vậy, xây dựng pháp luật chống BHĐC bất chính là nền tảngđể bảo vệ BHĐC chân chính.
Thứ hai, pháp luật chống BHĐC bất chính xác định đối tượng, cách thức BHĐC bất chính
Chủ thể thực hiện hành vi BHĐC bất chính là các DN và người tham gia mạng lưới BHĐC. Theođó,các doanh nghiệp cóthểlà doanh nghiệp trongnướcho c doanh nghiệp
55
nước ngoài hoạt động tại Việt Nam thực hiện các hành vi lừa dối, tổ chức lôi kéo người tham gia BHĐC để chiếm dụng tài chính và lừa dối khách hàng nhằm trục lợi bất chính.
Đối với người tham gia BHĐC thực hiện hành vi BHĐC bất chính bằng cách dụ dỗ lôi kéo người khác tham gia mạng lưới của mình để hưởng hoa hồng từ việc dụ dỗ ho c quảng cáo sai sự thật về chất lượng hàng hóa để kiếm lời bất chính từ người tiêu dùng.
Thứ ba, pháp luật chống BHĐC bất chính quy định điều kiện kinh doanh đa cấp
Điều kiện kinh doanh đối với hoạt động BHĐC trước hết phải được hiểu là một trong những công cụ quản lý được Nhà nước sử dụng để thiết lập và duy trì trật tự trong hoạt động kinh doanh BHĐC. Nó đ t ra những yêu cầu mà doanh nghiệp BHĐC phải đáp ứng như yêu cầuvềtài chính, quy trình quản lý, quy trình k thuật,địađiểmkinh doanh v.v… Do vậy, điềukiện kinh doanh khôngchỉlà những yêucầuvềgia nhậpthịtrườngđốivớidoanh nghiệp BHĐC mà còn là những yêu cầu mà doanh nghiệp phải duy trì trong suốt quá trình hoạtđộngkinh doanh đa cấp.Pháp luật chống BHĐCbấtchính quyđịnhvềcácđiềukiện kinh doanh BHĐC để kiểm soát hoạt động kinh doanh của các DN BHĐC nhằm mục đích hạn chế các hành vi BHĐC bất chính xảy ra.
Thứ tư, pháp luật chống BHĐC bất chính quy định dấu hiệu nhận diện các hành vi BHĐC bất chính BHĐCbấtchính là hành vi mà pháp luật không thừa nhận không cho phép. Vi phạm
pháp luật nói chung là hành vi trái pháp luật xâm hại các QHXH được pháp luật bảo vệ do các chủ thể có năng lực hành vi thực hiện nột cách cố ý ho c vô ý gây hậu quả thiệt hại cho xã hội. Tính chất trái pháp luật của hành vi, tức là hành vi đó trái với các yêu cầu của những QPPL nhất định, dưới hình thức hành động là làm điều pháp luật cấm ho c làm không đúngđiều pháp luật cho phép. Dưới hình thức không hành động là không thực hiện nghĩa vụ màpháp luậtđãquyđịnhm c dùcầnphải và cóthểthực hiện nghĩavụđó.Pháp luật chống BHĐC bất chính quy định rõ các dấu hiệu nhận diện rõ ràng hành vi BHĐC vi phạm pháp luật này. Xácđịnhđược DN KDTPTĐC nào có hành vi BHĐCbấtchính.Vớiviệc nhận diện rõ ràngdấuhiệu hành vi nhưvậysẽtránhđượcnhững hành vilừađảogây thiệt hại khônlườngcho bản thân và cho gia đình. Cơ quản lý nhà nướcsẽdễ dàng trong việc xácđịnhvi phạm để có thể đưa ra các chế tài kịp thời ngăn ch n hành vi BHĐC bất chính.
Thứ năm, điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động phòng chống, phát hiện và xử lý đối với hành vi BHĐC bất chính
Quanhệgiữa cácchủthểtrong hoạtđộngphòng chống, phát hiện vàxửlýđốivới hành vi BHĐC bất chính là một QHPL. QHPL là QHXH được các QPPL điều chỉnh trong
56
đócác bênchủthể tham gia mang những quyềnchủthểvà nghĩa vụ pháp lý do pháp luật quy định và được nhà nước bảo đảm thực hiện. Các bên tham gia QHPL ràng buộc với nhau bằng các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý. Đây chính là yếu tố làm cho QHPL được thực hiện. Quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của chủ thể kia và ngược lại. QHPL được Nhà nước bảo đảm thực hiện và cả bằng biện pháp cưỡng chế. Trước hết, nhà nước bảo đảm thực hiện quan hệ pháp luật bằng biện pháp giáo dục thuyết phục. Bên cạnh đó nhà nước còn bảo đảm
thực hiện pháp luật bằng biện pháp kinh tế, tổ chức – hành chính. Những biện pháp đó không có hiệu quả khi áp dụng, thì khi cần thiết nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế.
Với mối quan hệ đ c thù giữa chủ thể trong hoạt động phòng chống, phát hiện, xử lýhành vi BHĐC bất chính Nhà nước trao quyền cho các cơ quan quản lý nhà nước giám sát phối hợp trong việc quản lý BHĐC. Có biện pháp ngăn ch n kịp thời với các hành vi BHĐC bất chính. Đưa ra chế tài nghiêm minh nhằm xử lý, răn đe đối với chủ thể có vi phạm .
Thứ sáu, quy định trách nhiệm của các chủ thể BHĐC bất chính
Trách nhiệm của cácchủthểvớihành vi BHĐC bất chính là trách nhiệm pháp lýđược áp dụng trong hoạt động quản lý BHĐC. Trách nhiệm pháp lý tồn tại và được thực hiện trong khuôn khổ các quan hệ pháp luật. Trách nhiệm pháp lý luôn dẫn đến những hậu quảbất lợi đối với người vi phạm những quy định của pháp luật. Trách nhiệm pháp lý là kết quả(hậu quả) của vi phạm pháp luật và là một QHXH đ c thù. Nó xuất hiện do có sự kiện pháp lý – vi phạm pháp luật, chính sự vi phạm đó đã gắn người vi phạm vào quan hệ pháp lý với nhà nước. Tùy từng mức độ vi phạm BHĐC bất chính của từng chủ thể sẽ áp dụng những loại trách nhiêm pháp lý khác nhau: Dân sự, Hành chính, Hình sự.
Thứbảy, quyđịnhvềchức năng nhiệmvụquyềnhạncủacơ quan có thẩm quyền chống bán hàng đa cấp bất chính
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nướcđối với hành vi của cá nhân, tổ chức, xã hội do các cơ quan trong hệ thống hành pháp tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì an ninh trật tự, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân.
Theo nghĩa rộng, quản lý hành chính Nhà nước là việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn cơ quan trongbộmáy Nhànướcvàcủabấtkỳtổchức, cá nhân khiđượcNhànướctrao quyền nhân danh Nhà nước.Theo nghĩa hẹp, quản lý hành chính nhà nước là hình thức hoạtđộng của Nhà nước thuộc lĩnh vực chấp hành và điều hành được thực thi chủ yếu bởi các cơquan hành chính nhànướcnhằmđảmbảochấp hành các quyđịnhcủacơ quan quyềnlực
57
nhànước.Vì vậy, trong việc quản lý hoạtđộngBHĐC nói chung, và chốnglạihành vi BHĐC bất chính nói riêng, việc quy định cụ thể cơ quan Nhà nước quản lý trong lĩnh vực này là rất cần thiết để hoạt động này đi đúng hướng với bản chất vốn có của nó và đúng theo quy định của pháp luật.
1.4.2. Nguyên tắc của pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính
Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật là tập hợp những nguyên lý, những tư tưởng chủđạo, xuyên suốt, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật. Bên cạnh những nguyên tắc điều chỉnh chung của toàn bộ hệ thống pháp luật trong một quốc gia, mỗi lĩnh vực pháp luật có những nguyên tắc điều chỉnh phù hợp với phạm vi, đối tượng điều chỉnh của nó, thể hiện rõ nét định hướng điều chỉnh của Nhà nước. BHĐC là một hành vi thương mạicủacác DN BHĐC. Dođó,nguyêntắcpháp luật chống BHĐC bấtchínhsẽdựavào những nguyên tắc chung của pháp luật thươngmạivàmộtsố nguyên tắccủapháp luật liên ngành. Nguyên tắc pháp luật chống BHĐC bất chính là tổng hợp những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về BHĐC nói chung và pháp luật chống BHĐC bất chính nói riêng, nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp đi đúng hướng mà Nhà nước cho phép, góp phần bảo vệ trật tựxã hội, môi trường kinh doanh.
Pháp luật chống BHĐC bất chính và các nguyên tắc của pháp luật chống BHĐC bất chính có mối quan hệ ch t chẽ với nhau. Có thể hiểu và vận dụng tốt, có hiệu quả các quy định củapháp luật chống BHĐCbấtchính thông quanộidungcủacác nguyêntắccủalĩnh vực pháp luật này. Pháp luật chống BHĐC bất chính được xây dựng trên các nguyên tắc sau:
Thứnhất, nguyêntắcbảovệtrậttựcông cộng vàđạođứckinh doanh, cạnh tranh trung thực, công bằng và lành mạnh, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của DN khác.
Lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của các DN là những lợi ích quan trọng, gắn liền đến sự phát triển của đất nước và xã hội. Nó có ý nghĩa to lớn về m t chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, sự tồn vong của đất nước. Lợi ích lớn nhất của quốc gia, dân tộc chính làmụctiêu dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,mọingườicó cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Một nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải có nhiều DN mạnh, thực lực tồn tại phát triển, việc xâm phạm lợi ích, gây thiệt hại tới DN khác là hành vi nguy hiểm có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế
58
quốc dân. Vì thế, khi kinh doanh các DN phải tôn trọng và bảo vệ lợi ích của quốc gia, cộng đồng và lợi ích của các DN khác.
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện: Trong giao dịch, kinh doanh, cạnh tranh nhằm thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích vật chất, DN không được thực hiện các hành vi trái với đạo đức kinh doanh, chuẩn mực xã hội mà phải chú ý đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng vàquyền lợi hợp pháp của các DN khác. Nói cách khác, DN BHĐC khi thực hiện hành vi kinh doanh phải trong giới hạn của pháp luật bởi quyền của cá nhân, pháp nhân luôn bị giới hạn bởi lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những đối tượng có liên quan khác. Việc xâm phạm đến các lợi ích này đều bị pháp luật cấm và nếu gây thiệt hại cho DN khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và bị xử lý nghiêm minh.
Thứ hai, nguyên tắc đảm bảo quyền tự do, bình đẳng trong việc tham gia BHĐC của các chủ thể kinh doanh
Đảmbảo quyền tựdo kinh doanh được Nhànước cụthểhóa trong nhiều nội dung pháp lý quan trọng, đ c biệt cụ thể trong Hiến pháp, các đạo luật quy địnhcụ thể vềhoạt động kinh doanh thương mại. Với nguyên tắc tự do kinh doanh trong nền kinh tế thịtrường địnhhướngxã hội chủnghĩa, việc tựdo lựa chọn phương thức, cách thức kinh doanh được coi là quyền cơ bản của các nhà đầu tư, không phân biệt đối xử giữa các chủthể kinh doanh trong các thành phần kinh tế. Vì vậy, các chủ thể kinh doanh hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn hình thức kinh doanh theo phương thức đa cấp nếu đáp ứng được các điều kiện mà pháp luật quy định để gia nhập thị trường.
Thứba, nguyêntắctựdo, tựnguyện thoả thuận và trung thực giữa DN và người tham gia mạng lưới BHĐC
Các DN BHĐC và người tham gia mạng lưới BHĐC có quyền tự do thoả thuận các nội dung liên quan đến hợp đồng tham gia BHĐC mà không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong m tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động BHĐC. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đ t, cưỡng ép, đe doạ, lừa dối bên nào. DN phải bảođảm tính trung thực và độ chính xác của các thông tin cung cấp cho người tham gia BHĐC. Nguyên tắc này nhằm tránh tình trạng lừa đảo, dụ dỗ, lôi kéo, đe dọa một cách bất hợp pháp cuả các DN BHĐC với người tham gia BHĐC.
Thứ tư, nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng
Người tiêu dùng hay người tiêu thụ là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ các cá nhân ho c hộ gia đình dùng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ để đáp ứng mục đích sinh hoạt và sản xuất
59
kinh doanh. Theo đó, người tiêu dùng đóng vai trò quyết định đến sản phẩm hàng hóa của các DN, nếu quyền lợi của người tiêu dùng không được bảo vệ đ t lên hàng đầu và bị gây thiệt hại sẽ có những ảnh hưởng tác động nguy hiểm đến người tiêu dùng về sức khỏe tiền bạc, chất lượng cuộc sống. Hơn hết, điều này, sẽ khiến cho người quay lưng lại với sản thẩm, hàng hóa của DN, lúc này DN chính là đối tượng sẽ bị ảnh hưởng n ng nề nhất. Do đó, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng chính là hành động thiết thực để bảo vệ chính quyền lợi cho các DN kinh doanh đa cấp chân chính. DN BHĐC có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá, sản phẩm mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác củacác thông tinđó.DN thực hiện hoạtđộngkinh doanh thương mại với hình thức đa cấp phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, sản phẩm kinh doanh.
Thứ năm, nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành vi BHĐC bất chính
Đây là một nguyên tắc rất đ c thù nhằm bảo về quyền lợi cho những cá nhân tổ chức có liên quan. Thông thườngtốtụngtrướccơ quan tư pháp phải qua haicấpxétxử.Tốtụng cạnh tranh được thực hiện trước cơ quan hành chính chỉ thực hiện một cấp điều trần và xử lý. Tuy nhiên, vì quyết định của Cục CT & BVNTD vẫn là quyết định của cơ quan hành chính nên vẫn thuộc phạm điều chỉnh của Luật khiếu nại tố cáo, tức là các bên liên quan có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp. Trường hợp các bên vẫn không nhất trí với quyết định giải quyết khiếu nại, các bên liên quan có quyền khởi kiện vụ án hành chính ra Toàán nhân dân. Ngoài ra, các cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích liên quan khi bị DN BHĐC bất chính lừa đảo gây thiệt hại có quyền khởi kiện lên tòa án nhân dân yêu cầu bồi thường tổn thất, thiệt hại mà các DN này gây ra.
Thứ sáu, nguyên tắc quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp
Nguyên tắc quản lý của Nhà nước là tư tưởng chỉ đạo hoạt động của tổ chức và hoạt động quản lý Nhà nước xã hội chủ nghĩa [51,Tr11].
Nguyên tắc quản lý Nhà nước không phải do Nhà nước hay do một cơ quan nào, một người nào tự ý đ t ra mà nó được hình thành dựa trên cơ sở đòi hỏi của các quy luật khách quan, trên kết quả nghiên cứu sâu sắc các điều kiện thực tế xã hội, trên bản chất chế độ chính trị, xã hội trong thời gian và hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Nguyên tắc quản lý Nhà nước phải luôn phát triển cho phù hợp với sự biến động của các hiện tượng chính trị, xã hội mà nguyên
tắc phản ánh cũng như sự phát triển nhận thức của con người, đồng thời nó cũng có những yếu tố tồn tạivàsự ổnđịnh lâu dài. Vì thế, quảnlý đối vớihoạt động BHĐC phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý nói chung của Nhà nước và được vận dụng cụ thể vào lĩnh vực kinh tế đểhình thành các nguyên tắc quản lý đối với hoạt động BHĐC nhất định. Vậy, các nguyên tắc
60
quản lý đối với hoạt động BHĐC của Nhà nước là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn của hành vi mà các cơ quan quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực BHĐC phải tuân thủ trong quátrình quản lý kinh tế nhằm kiểm soát và chống lại các hành vi BHĐC bất chính [33].
Thứ bảy, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được thể hiện tại Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013“Nhà nước được tổ chức và hoạt độngtheo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hết sức quan trọng, cơ bản của quá trình xây dựng và đổi mới pháp luật Việt Nam. Nguyên tắc này có nguồn gốc từ nguyên lýkhông có tội nếu không có luật. Với pháp luật chống BHĐC bất chính, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được coi là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt toàn bộ các hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật. Như vậy, cơ sở trách nhiệm pháp lý đối với hành vi BHĐC bất chính và việc áp dụngchếtài cũng như việc áp dụngmọihình thức trách nhiệmvớitính cách làhậuquảpháp lý của hành vi vi phạm đều phải do pháp luật quy định.
Ngoài ra, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp luật chống BHĐC bất chính phảiđược xâydựng trên những cơ sở khoa học,được xâydựng một cách hoàn thiện,đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống lại các hành vi vi phạm. Quy định của pháp luật BHĐC phải được xây dựng cụ thể, chính xác với các dấu hiệu của từng hành vi vi phạm và hậu quả pháp lý của nó. Nhà nước chỉ giải quyết khi có vi phạm được quy định trong luật. Từđó, xácđịnhmứcđộvi phạmđểđưamứcáp dụng, như bồi thường thiệt hại, phạt hành chính, ho c truy cứu TNHS. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự chính xác vàthống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Điều đó có nghĩa là trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam, pháp luật chống BHĐCbấtchính phảiđượcáp dụng như nhau, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, thành phần XH…của chủ thể vi phạm .
1.4.3. Nội dung pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính
So với ngành công nghiệp BHĐC trên thế giới đã tồn tại gần 100 năm, ngành BHĐCở Việt Nam còn khá non trẻ với tuổi đời khoảng 20 năm. Tuy nhiên từ năm 1998 tới nay lợi dụng sự mới mẻ của hình thức kinh doanh này đã có nhiều DN BHĐC biến tướng thành đa cấp bất chính gây thiệt hại không nhỏ cho cộng đồng và xã hội. Đòi hỏi Nhà nước phải ban hành pháp luật để điều chỉnh hoạt động kinh doanh đi đúng hướng. Tạo hành lang pháp lý cho các DN BHĐC phát triển bền vững ở Việt Nam.
61
Pháp luật về chống BHĐC bất chính không phải là một đạo luật riêng biệt mà nó được quy định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nhiều luật chuyên ngành
như: Pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp luật hành chính, pháp luật tố tụng… Hành vi BHĐC bất chính, cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này và các biện pháp xử lý vi phạm BHĐC bất chính được quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, với các thứbậc khác nhau. Từ các bộ luật (Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật
tố tụng dân sự), luật (Luật Cạnh Tranh, Luật thương mại…) đến các Nghị định quy định liên quan (Nghị định số 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động KDTPTĐC, Nghị định số141/2018/NĐ-CPvềsửađổicác Nghịđịnhxửphạt vi phạm trong BHĐC, Nghịđịnhsố
78/2015/NĐ-CP về đăng ký DN…). Do đó, có thể nói hình thức pháp luật về chống BHĐC bất chính rất đa dạng, các quy định về chống BHĐC bất chính được quy định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật có thứ bậc khác nhau.
Pháp luật chống BHĐC bất chính có nội dung chủ yếu:
Thứ nhất, pháp luật chống BHĐC bất chính xác định các dấu hiệu nhận diện hành vi BHĐC bất chính
Khả năng mở rộng mạnglưới của hoạt độngBHĐC và cách thức tiêu thụ hàng hóađ c thù của phương thức này đã đ t ra cho pháp luật nhiều vấn đề phải giải quyết để vừa cóthểtôn trọng quyền tự do kinh doanh của DN mà vẫn đảm bảo trật tự thị trường, bảo vệ lợi ích chính đáng cho các chủ thể, tránh hành vi biến tướng của BHĐC. M t khác, yêu cầu quản lýnhà nước đối với BHĐC cũng đ t trọng tâm vào các biện pháp ngăn ch n phương thức kinh doanh biến tướng BHĐC bất chính gây thiệt hại cho người tham gia và người tiêu dùng. Đểphát hiện kịp thời hành vi BHĐC bất chính, điều mà các nhà làm luật đều hiểu rằng cần quyđịnh các dấu hiệu để nhận diện một cách nhanh chóng, rõ ràng và chính xác nhất, nhằm ngăn ch n kịp thời trước khi hành vi đó gây thiệt thại cho người tiêu dùng và xã hội. Dấu hiệu nhận diệncủaBHĐCbấtchínhđượcxácđịnh ởnhững hành vi BHĐCbịcấmho c các hành vi BHĐC trái với chuẩn mực đạo đức, tập quán kinh doanh có mục đích thu lợi bất chính.
Thứ hai, về quy định điều kiện kinh doanh theo phương thức đa cấp
Mụcđích quyđịnhđiềukiện kinh doanh BHĐC nhằmhạnchếtốiđa hoạtđộng BHĐC bất chính đã diễn ra trong thời gian vừa qua, đề ra những giới hạn nhất định đối với hoạt động BHĐC một cách rõ ràng, những giới hạn đó là ―rào cản‖ buộc các DN muốn hoạtđộng trong lĩnh vực BHĐC ở Việt Nam phải vượt qua như giới hạn về vốn, nhân sự, tài chính,điều kiện về ngành nghề, giới hạn về chuẩn mực chất lượng, tiêu chuẩn của sản phẩm, giới hạn
62
về chỉ tiêu, phân phối… Nếu như các ―rào cản‖ này được đ t ra đồng nghĩa với việc chỉ những DN có đủ tiềm lực mới có khả năng ra đời, tồn tại và phát triển trong lĩnh vực BHĐC, ngược lại, những DN yếu kém, mục đích không rõ ràng sẽ bị đào thải.
Về chủ thể và đối tượng được phép kinh doanh BHĐC
Quyđịnhchủthểvàđốitượngđượcphép kinh doanh BHĐC cũng làmộttrong những cách thức để Nhà nước giám sát và phòng người hành vi BHĐC bất chính. M c dùNhà nướcthừa nhận KDTPTĐC như làmộtnộidung thuộc quyềntựdo kinh doanh,thếnhưng để hạn chế những biểu hiện tiêu cực có thể phát sinh trong lĩnh vực BHĐC, nhất làphòng ngừa BHĐC bất chính nên tổ chức BHĐC phải đăng ký trước cơ quan nhà nước cóthẩm quyền và chủ thể được phép kinh doanh đa cấp phải là DN [33].
Hiện nay, BHĐC ở Việt Nam chỉ gắn liền với kinh doanh hàng hóa, sử dụng mạng lưới người tham gia để đưa hàng trực tiếp đến người tiêu dùng. Lí lẽ chỉ thừa nhận hàng hóa làđối tượng duy nhất được phép BHĐC là nhằm mục đích ngăn ch n phòng ngừa việc tổ chức huy động tín dụng đen và tài chính trái phép gây thiệt hại cho những chủ thể có liên quan.
Về điều kiện vốn pháp định và kí quỹ
Nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHĐC, người có quyền lợi liên quan. DN muốn kinh doanh BHĐC phải đáp ứng điều kiện về vốn và ký qu . Theo đó, phải có số vốn điều lệtốithiểu mà pháp luật quyđịnh đểhoạt độngvà góp phần hạnchếrủ ro, khắc phục những hậu quả nếu DN kinh doanh không hiệu quả. Trên thực tế, có nhiều ngành cũng quyđịnh vốn điều lệ tối thiểu cho DN hoạt động trong ngành nhằm đảm bảo các DN đó có đủnăng lực tài chính để hoạt động. BHĐC cũng là một ngành kinh doanh có điều kiện và có tácđộng đến số lượng lớn người tham gia, do vậy việc đưa ra điều kiện về vốn là phù hợp. Dođ c thù của BHĐC, việc phát triển mạng lưới lớn hay nhỏ đều phụ thuộc vào khả năng của những thành viên tham gia mạng lưới. DN đóng vai trò hỗ trợ công tác phát triển mạng lưới củacác thành viênchủchốt như việc cungcấptài liệu, kýhợpđồngvớingườitham gia, cung cấp địa điểm làm việc cho người tham gia, cung ứng hàng hóa cho hệ thống. Do đó, trong nhiều trường hợp các DN với năng lực tài chính hạn hẹp sẽ không đáp ứng được yêu cầu phát triển của hệ thống, dẫn đến hạn chế trong quá trình phát triển mạng lưới bán hàng.
Ngoài ra, tiền kí qu chính là nhằmđảmbảoviệc thực hiện các nghĩavụcủaDN BHĐC với người tham gia BHĐC, người có quyền lợi liên quan và Nhà nước nên việc pháp luật quy định DN BHĐC phải thực hiện việc kí qu hoàn toàn hợp lý và chính đáng.
63
Về tài liệu tham gia bán hàng đa cấp: Một trong những điều kiện quan trọng để đăng kýhoạt độngBHĐC là DN phải cóbộtài liệu BHĐC gồm: Hợp đồng tham gia BHĐC, kếhoạch trả thưởng, chương trình đào tạo cơ bản, quy tắc hoạt động. Nghị định số 40/2018/NĐ- CP quy định cụ thể nội dung cơ bản cần đáp ứng và hình thức của Bộ tài liệu BHĐC.
Hệ thống công nghệ thông tin quản lý người tham gia BHĐC và trang thông tin điện tử: Đây là quy định mới tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP của Chính Phủ nhằm mục đích giám sát ch t chẽ hơn nữa hoạt động BHĐC của các DN. Hệ thống thông tin liên lạc sẽ tiếp nhận, giải quyết thắc mắc, khiếu nại của người tham gia BHĐC và để đáp ứng những yêu cầu mới vềhoạt động BHĐC theo quy định này.
Thứ ba, quy định các biện pháp xử lý đối với hành vi BHĐC bất chính
Một trong những nội dung quan trọng nhất của cơ chế kiểm soát BHĐC bất chính đólà quy định chế tài xử lý và mức xử lý đối với hành vi này. Hầu hết pháp luật của các nước đều xem việc quy định các hình thức xử lý đối với hành vi BHĐC bất chính là cách thức răn đe nhất đối với các chủ thể vi phạm. Các vi phạm BHĐC bất chính của DN và người tham gia BHĐC được xem xét xử lý dưới góc độ quản lý chuyên ngành cụ thể. Để xử lý vi phạm của DN và người tham gia BHĐC thực hiện hành vi BHĐC bất chính thì tùy từng mức theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ho c bị truy cứu TNHS theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, do vi phạm gây thiệt hại cho tổchức, cá nhân khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Vềxửlý hành chính: Chếtài hành chínhđốivới hành vi BHĐC bất chính là biện pháp xử lí của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về BHĐC bất chính màkhông phải làtộiphạm, chưađếnmứctruycứutrách nhiệm hình sự.Trongchếtàixửphạt hành chính đối với vi phạm BHĐC bất chính, sẽ có chế tài xử phạt chính và chế tài xử phạt bổsung. Chế tài xử phạt chính gồm cảnh cáo và phạt tiền đối với vi phạm. Ngoài việc bị phạt tiền, cảnh cáo còn có thể bị áp dụng một, một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậuquảnhư: Buộccảichính công khai; tịch thu tang vật, phương tiệnđượcsửdụngđểvi
phạm pháp luậ tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề…
Về xử lý dân sự: Chế tài dân sự được áp dụng với các chủ thể có vi phạm pháp luật dân sự. Chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm dân sự có thể phải gánh chịu các biện pháp chế tài pháp luật như buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực
hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; phạt vi phạm…Chế tài xử lý theo quy định của pháp luật dân sự cũng có thể đi kèm các loại biện pháp khác nếu có hành vi phạm tội, vi
64
phạm hành chính hay vi phạmkỉluật nhànướcmà những hành vi này cũng xâmhạiđến quyền dân sự của cá nhân, tổ chức xã hội (mà đồng thời cũng vi phạm dân sự). Xỷ lý hành vi BHĐC bất chính của DN BHĐ và người tham gia BHĐC có vi phạm pháp luật dân sự thườngđược áp dụng là chế tài bồi thường thiệt hại khi những chủ thể này gây thiệt hại cho tổ chức, cánhân khác theo thỏa thuận trong hợp đồng tham gia BHĐC ho c bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi có hành vi vi phạm gây nên thiệt hại xảy ra.
Căn cứ xác định bồi thường thiệt hại trong hợp đồng: Hành vi này là hành vi vi phạm những cam kết cụ thể, những nghĩa vụ mà hai bên tự ràng buộc nhau trong hợp đồng tham gia BHĐC, tức là hành vi này chưa chắc đã vi phạm các quy định pháp luật chung mà chỉ vi phạm pháp luật thiết lập giữa những người tham gia giao kết hợp đồng;
Căn cứ xác định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Hành vi này là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật về chống BHĐC bất chính dẫn đến thiệt hại xảy ra. Vì vậy đó cóthể là hành vi vi phạm pháp luật chuyên ngành khác như hình sự; hành chính; kinh tế.
Về xử lý hình sự: BHĐC bất chính như đã phân tích là hành vi có tác động tiêu cực, nghiêm trọng tới xã hội và môi trường kinh doanh. Vì vậy, cần phải có chế tài hình sự cụ thểđể xử lý nghiêm minh với hành vi vi phạm này, chế tài hình sự là loại chế tài nghiêm khắc nhất do toàn án áp dụng đối với các chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội. Chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự có thể phải gánh chịu các biện pháp chế tài pháp luật như cảnh cáo, phạt tiền, tù
có thời hạn, tù chung thân, tử hình…[52-Tr.433]. Hình phạt này do tòa án quyết định trên cơsở của pháp luật Hình sự thể hiện sự lên án, sự trừng phạt của nhà nước đối với người phạm tội và là một trong những biện pháp để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh. Ở dạng chế tài này chủ thể áp dụng là Nhà nước và chủ thể bị áp dụng là cá nhân, pháp nhân thương mại có hành vi vi phạm pháp luật hình sự bị coi là tội phạm theo quy định của BLHS. Mục đích của chế tài này là giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Thứ tư, quy định về nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc quản lývà kiểm soát hoạt động BHĐC nhằm chống BHĐC bất chính
Đểkiểm soát và chống hành vi BHĐCbấtchính, bên cạnh việc quyđịnhdấuhiệu nhận diện thì Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định cơquan có thẩm quyền quản lý cũng như phối hợp trong vấn đề phát hiện, xử lý hành vi BHĐC bất chính. Các chủ thể có chức năng quản lý và được phân cấp thẩm quyền quản lý nhà nước đốivớihoạt động BHĐC nói chung gồm Chính phủ, BCT, UBND cấp tỉnh, thànhphốtrực
65
thuộc Trung ương, SCT. Chính phủ có nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước với BHĐC. Tuy nhiên, Chính phủ chỉ là chủ thể quản lý mang tính đại diện hành pháp cao nhất (chỉ ban hành Nghị định điều chỉnh hoạt động BHĐC, nghĩa là điều hành ở tầm vĩ mô bằng chính sách, pháp luật), không thực hiện các quyềnchỉđạo,điềuhành trực tiếp mà giao cho BCT thực hiện. Ngoài cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm chính là BCT thì Chính phủ cũng quy định về cơchế kiểm soát liên ngành giữa cơ quan này cơ quan chuyên môn khác như: Bộ Công an, Bộ Tưpháp, Bộ Y tế, Bộ Tài Chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.2.4. Vai trò của pháp luật trong việc chống bán hàng đa cấp bất chính
Là một trong những yếu tố của thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luật có quan hệ mật
thiết với kinh tế – yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng. Trong đó, kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật. Nó quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật cũng có tính độc lập tương đối và có sự tác động mạnh mẽ tới kinh tế.Với tư cách là yếu tốđiều chỉnh các QHXH thì pháp luật có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tồn tại và phát triển xã hội. Kinh tế Việt Nam đang vận hành theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vì thế phải chấp nhận những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, như sản xuất và kinh doanh hàng giả, ho c hành vi chạy theolợinhuậncủanhững nhàsảnxuất, kinh doanh,bấtchấp những quy định của pháp luật và lợi ích cộng đồng để trục lợi. Đ c biệt trong thời gian qua, một số DN kinh doanh đa cấp đã sử dụng những thủ đoạn lừa gạt nhằm thu lợi bất chính gây nên nhiều hệ lũy xấu cho cộng đồng, cho xã hội. Pháp luật chống BHĐC bất chính đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế bền vững, đem lại trật tự trong môi trường kinh doanh. Ngăn ch n các hành vi gây tổn hại đến xã hội và quyền lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.
Pháp luật chống BHĐC bất chính là cơ sở pháp lý quan trọng bảo vệ quyền lợi hợp phápcủacácchủthểliên quanđếnhoạtđộngBHĐC trongđócóngườitham gia BHĐC. Người tham gia BHĐC là đối tượng quan trọng và chủ yếu để tạo nên sự thành công và phát triển quy mô hoạt động của các DN BHĐC chân chính. Tuy nhiên, vì lợi ích kinh tế các DN BHĐC sẵn sàng xâm phạm tới quyền lợi của các đối tượng này, Quan hệ giữa người tiêu dùng và DN là một loại quan hệ dân sự (phổ biến trong đời sống xã hội). Như vậy chúng phải được thiết lập, thực hiện vàbảovệtheo các nguyêntắccơbảncủapháp luật dânsự,bao gồm nguyêntắctựdo thỏa thuận, nguyêntắcbìnhđẳng,thiện chí và trung thực,tựchịu trách nhiệm, tôn trọng đạo đức tốt đẹp, tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, tôn trọng lợi ích Nhà nước,
lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, nguyên tắc tuân thủ pháp luật và
66
nguyêntắchòa giải. Tuy nhiên, giữa cácchủthểpháp luật dânsựkhôngtồntạitrạng thái―bình đẳng‖ một cách tuyệt đối trên thực tế, mà bản thân pháp luật (bao gồm các lĩnh vực pháp luật khác) phải góp phần tạo lập và gìn giữ và bảo đảm sự bình đẳng này.
Trong mối quan hệ này, NTD thường ở vị trí yếu thế bởi sự hạn chế về thông tin, kiến thức chuyên môn, khả năng đàm phán hợp đồng, khả năng tự bảo vệ mình. Để tạo lập, gìn giữvà bảo vệ sự bình đẳng giữa NTD và DN cần có sự can thiệp mạnh mẽ của pháp luật.
Pháp luật chống BHĐC bất chính làmộtbộ phậncủaphápluật vềBHĐC là cơsởpháp lý quan trọng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan đến hoạt động BHĐC, bảo đảm cho cạnh tranh tồn tại là các quy định về tự do kinh doanh và quyền bình đẳng của các DN. Pháp luật quy định rõ các dấu hiệu được coi là BHĐC bất chính để cá nhân tổ chức trong xã hội có thể nhận diện và phân biệt chân chính và bất chính bởi vẫn còn nhiều cá nhân trong xã hội vẫn nhầm lẫn giữa mô hình ―chuẩn‖ của BHĐC với BHĐC bất chính. Pháp luật đưa ra những quy định cụ thể để người dân có thể phân biệt, nhận biết rõ tránh những rủi ro cóthể xảy ra, tránh tình trạng bị lừa đảo dẫn đến bị thiệt hại về tài chính của tổ chức, cá nhân vàgia đình.Tạo khuôn khổ pháp lý để ngăn ch n phòng ngừa hành vi BHĐC bất chính, bảo vệquyền lợi cho DN BHĐC chân chính và cácchủthểmuốn tham gia mạnglướiBHĐC hợp pháp. Pháp luật chống BHĐC bất chính cần thiết đóng vai trò cần thiết quan trọng trong việc duy trì trật tự trong môi trường kinh doanh nói chung và trong lĩnh vực BHĐC nói riêng.
Thựctếcho thấy,vớinhữngvụánlừađảodướihình thức BHĐC, thườngđểlại những hậu quả khá n ng nề, bởi số lượng người tham gia rất đông, rải rác tại nhiều tỉnh, thành phố. Đối tượng tham gia đa số ở nông thôn, thu nhập thấp nhưng lại dành hết số tiền chắt chiu, vay mượn để tham gia vào hệ thống BHĐC. Đối tượng của mô hình kim tự tháp là tiền, cho dùnó thường được quy đổi thành sản phẩm, hay dịch vụ nhất định thì nó vẫn là hình tháp ảo khi sốlượngsản phẩm tiêu thụ được sẽ luôn tương xứngvớisố người tham gia. Về phía người dân, để nhận biết được công ty BHĐC làm ăn có nghiêm túc hay không, cần phải nắm được những thông tin cơ bản như: BHĐC bất chính hay mô hình kim tự tháp là một hiện tượng biến tướng của phương thức kinh doanh đa cấp; trong đó, lợi nhuận không xuất phát từ giới thiệu
sản phẩm mà từ việc tuyển dụng các thành viên mới…Ngoài ra với các DN BHĐC chân chính cũng bị ảnh hưởng không nhỏ đến danh tiếng, uy tín. Đó là thiệt hại ngay trước mắt và lâu dài nếuuy tíncủangànhbịảnhhưởng,đểbảovệngườitham giatrướchoạtđộngBHĐC bất chính, pháp luật chống BHĐC bất chính cũng có nhiều quy định hướng BHĐC đi vào đúng bản chất là một hình thức phân phối hàng hóa, không bị lợi dụng để thực hiện hoạt động huyđộng tài chính trái phép. Pháp luật tạo nên trật tự xã hội trong hoạt động BHĐC, tạo lập “sân
67
chơi”, “luật chơi” cho các DN và những người tham gia BHĐC. Giúp cho đời sống xã hội ổn định và phát triển, quyền lợi của mỗi DN, cá nhân, tổ chức được thực thi trên cơ sở tôn trọng
tự do tham gia của các bên. Pháp luật chống BHĐC bất chính có vai trò chống lại các tiêu cực, bảo vệ lợi ích hợp pháp của tất cả các chủ thể trong xã hội.
Pháp luật chống BHĐC bất chính có vai trò bảo vệ môi trường kinh doanh nói chung và môi trường BHĐC nói riêng. Đối với kinh tế pháp luật chống BHĐC bất chính đóng một vai trò là phuơng tiện quan trọng trong việc xác định địa vị pháp lý, vị trí của DN BHĐC, đối với chủ thể tham gia quan hệ pháp lý BHĐC, tạo ―hành lang‖ pháp lý để các DN BHĐC bìnhđẳng trong cạnh tranh khi kinh doanh cùng phương thức đa cấp hay với các DN kinh doanh theo phương thức bán hàng truyền thống. M t khác với tư cách là chủ thể tham gia quản lý thìNhà nước dựa vào các chuẩn mực pháp lý để điều khiển hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua pháp luật Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi tin cậy và chính thức cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, pháp luật là phương tiện làm cho các quan hệ kinh tế trở thành quan hệpháp luật. Khi đó nó xácđịnh rõchủ thể tham gia hoạtđộngkinh tế, quyền và nghĩa vụpháp lý của các bên tham gia hoạt động kinh tế; đồng thời pháp luật tham gia bảo vệ củng cốnhững nguyêntắc vốncó của nền kinh tế như là tính quy định của lợi ích, nhu cầu của con người tiêu dùng đối với sản xuất, đảm bảo sự tôn trọng sự cạnh tranh, cạnh tranh lành mạnh tính trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh. Pháp luật là phương tiện bảo vệ lợi ích kinh tế
tốt nhất đối với các bên tham gia hoạt động kinh tế trong trường hợp xảy ra tranh chấp kinh tế, vi phạm hợp đồng trong kinh doanh thương mại.
1.5. Kinh nghiệmđiềuchỉnh pháp luậtvềchống bán hàng đacấpbấtchính trên thế giới và bài học cho Việt Nam
Quy định pháp luật về chống bán BHĐC bất chính như đã lý giải tại mục 1.2.1 làbiện pháp nhằm ngăn ch n, hạn chế, ngăn cản tác động của hành vi BHĐC bất chính tới xãhội. Các biện pháp ngăn ch n đó được hiểu là các biện pháp ―tiền kiểm‖ và ―hậu kiểm‖ đối với hành vi này.Cụthểlà quyđịnhvềdấuhiệu BHĐCbấtchínhđểxácđâylà những hành vi BHĐC bị pháp cấm, quy định về điều kiện kinh doanh đối với BHĐC là cách thức để các quốc gia trong khu vực và trên thế giới kiểm soát hoạt động BHĐC, nói cách khác đây là hoạt động―tiền kiểm‖ nhằm chống lại hành vi BHĐC bất chính. Quy định ―hậu kiểm‖ chính là những quy định về biện pháp, chế tài áp dụng đối với những vi phạm này.
1.5.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 1.5.1.1. Kinh nghiệm tại Hòa kỳ
68
Quan điểm xây dựng pháp luật điều chỉnh BHĐC, chính phủ Hoa Kỳ không ban hành một đạo luật riêng biệt nào quản lý hoạt động BHĐC. DN BHĐC ở bang nào sẽ tuân thủ các quy định pháp luật tại bang đó. Về m t nguyên tắc chung, hiệp hội bán hàng trực tiếp Hoa Kỳđã ban hành Bộ tiêu chuẩn đạo đức (Code of ethics, Business ethics) gồm các quy định chung về đạo đức, hành vi mà các DN bán hàng trực tiếp là thành viên của hiệp hội phải tuân thủ.
Về việc xác định dấu hiệu của hành vi BHĐC bất chính ở Hoa Kỳ
Dấu hiệu của hành vi BHĐC bất chính ở Hoa Kỳ cũng được thể hiện rõ trong Bộ tiêu chuẩnđạođứcnêu trên.ĐiểmA.1củaBộtiêu chí quyđịnhnhư sau: Khôngmộtcông ty thành viên nào của hiệp hội được phép thực hiện hành vi gian dối, vi phạm pháp luật, hành vi tuyển dụng người trái phép ho c hành vi gian dối và trái đạo đức với người tiêu dùng, các công ty thành viên phải đảm bảo không có bất kỳ tuyên bố nào được đưa ra mà có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, người sẽ trở thành người bán hàng. Tiếp theo, Mục A.8 của Bộ tiêu chíquy định về quảng cáo liên quan đến thu nhập: ―Không DN nào được phép quảng cáo gây hiểu nhầm về thu nhập thực tế ho c thu nhập tương lai từ việc bán hàng của người tham gia bán hàng, bất kỳ thông tin nào về thu nhập, doanh số được DN thành viên nêu ra phải dựa vào sốliệu ghi trong sổ sách‖. Quy định về đưa thông tin liên quan đến doanh thu cũng được quyđịnhtrongbộtiêu chuẩnđạođứccủaHiệphộibán hàng trực tiếp toàn cầu, các DN khôngđược phép đưa thông tin gây nhầm lẫn về thu nhập thực tế của người bán hàng trực tiếp trong hệ thống DN của họ. Ngoài dấu hiệu BHĐC bất chính được xác định trong bộ tiêu chuẩn đạođức chung thì các dấu hiệu này cũng được xác định cụ thể tại pháp luật của các Bang.
Hoa Kỳ có tổng số 5 Bang ban hành luật quản lý đ c biệt đối với các công ty BHĐC, gồm: Georgia, Lousiana, Maryland, Massachusetts và Wyoming. Những quiđịnhtrong luật của các bang nói trên đưa ra những hạn chế đối với hoạt động của công ty BHĐC. Một trong số đó là yêu cầu mua lại, đây là yêu cầu đảm bảo cho nhà phân phối được quyền chấm dứt hợpđồng với bất kỳ lý do nào tại bất kỳ thời điểm nào và yêu cầu công ty phải mua lại số hàng tồnđọng từ nhà phân phối với mức giá không thấp hơn 90% giá sau thuế ban đầu, nhưng nhà phân phối phải chịu phí gửi trả lại hàng. Ngoài ra, 5 bang này nghiêm cấm các công ty quảng cáo vềthu nhập mà nhà phân phối sẽ ho c có thể đạt được bằng đô la M . Bang Texas và Oklahoma qui định về yêu cầu mua lại trong vòng 12 tháng với 90% của giá trị bán. Bang Lousiana đưa ra yêu cầu mua lại trong thời hạn 12 tháng. Texas coi hành vi kinh doanh theo mô hình kim tựtháp là một trong những hành vi thương mại gian dối, phi pháp. Sản phẩm của BHĐC theo môhình kim tự tháp bị cấm tại bang Texas bao gồm hàng hóa và dịch vụ (Điểm 4 Mục 17.461 Pyramid Promotional Scheme). BHĐC bất chính là một kế hoạch kinh doanh theo hình thức một cá nhân sẽ trả tiền cho việc có được cơ hội để nhận hoa hồng phát sinh chủ yếu từ việc giới thiệu người khác tham gia vào mang lưới hơn là bán sản phẩm.
69
Luật pháp Bang Oregon coi hành vi kinh doanh kiểu ―kim tự tháp‖ là hành vi thương mạivi phạm pháp luật, cụthểvềcâulạcbộhình kimtựtháp (pyramid club) như sau: Bán hàng kiểu kim tự tháp nghĩa là cách bán hàng trong đó một cá nhân dựa vào những điều kiện người đó đã đầu tư, được đảm bảo quyền ho c dược cho phép tuyển dụng một ho c nhiều hơn những người tham gia cấp dưới, đổi lại họ sẽ nhận được lợi nhuận. Người tham gia cấp dưới được thủ lĩnh cấp trên hứa hẹn quyền lợi đầu tư và có thể tiếp tục lôi kéo người khác tham gia dưới những điều kiện như vậy. Mô hình này bao gồm những hình thức bán hàng không liên quan đến việc bán ho c phân phối bất kỳ sản phẩm thực tế hay dịch vụ.
Cũng theo quy định tại Bang này, các khoản lợi nhuận sau bị cấm: (1) Một khoản phícụ thể để có quyền tham gia vào kinh doanh đa cấp; (2) bán với giá chênh lệch cao trong đókhoản giá chênh lệchđượccoi là khoản tiền thưởng trái luật; (3) bắt buộc mua trước lượng hàng hóa ban đầu với một số lượng lớn trong đó lượng hàng hóa thừa bị coi là điều kiện để cánhân mua để đầu tư để có thể tham gia vào mạng lưới; (4) khi được hiểu là người mua chỉ mua sản phẩm để mua cơ hội và (5) khoản tiền bị nghiêm cấm thu là số tiền sử dụng để mua một bộgiới thiệu sản phẩm. Doanh số ho c lợi nhuận không liên quan đến việc bán hàng có thể là tiền thưởng có được từ việc tuyển dụng; một chương trình trong đó người bảo trợ trả hoa hồng từsố tiền họ thu dược từ người tham gia qua việc bán các sản phẩm bất hợp lý; một chương trình trong đó không có chứng cứ thể hiện nhà phân phối bán sản phẩm ngoài mạng lưới [127].
Luật Bang Georgia không cho phép DN BHĐC và người tham gia thực hiện những việc sau đây: (1)Tổ chức ho c tham gia trực tiếp ho c gián tiếp vào bất kỳ chương trình tiếp thịnào trong đó người tham gia nhận được lợi ích tài chính chủ yếu từ việc tuyển dụng liên tục người khác tham gia vào mạng lưới này và doanh số bán hàng cho người không phải là thành viên không phải là yếu tố để tạo nên tăng trưởng kinh doanh cho người tham gia; (2)Trả ho c hứa sẽ trả tiền ho c những khoản lợi nhuận, phí, hoa hồng cho bất kỳ thành viên của một môhình BHĐC hoạt động dựa vào việc tuyển người tham gia vào mạng lưới; (3)Công ty BHĐC không được quảng cáo một cách gián tiếp ho c trực tiếp về khả năng đạt được lợi nhuận của người tham gia cũng như không được quảng cáo rằng người tham gia đều thành công [122].
Bang Illinois: Luật bảo vệ người tiêu dùng của bang Illinois định nghĩa ―mô hình bán hàng kiểu kimtựtháp‖(pyramid sales scheme) là―bấtkỳkếhoạch ho csựtổchức kinh doanh trong đó một cá nhân trả tiền có cơ hội nhận được lợi ích bằng tiền ho c bằng các giá trịkhác, mà những lợi ích này chủ yếu dựa vào việc giới thiệu, dụ dỗ người khác tham gia vào kếhoạch ho c mô hình kinh doanh này, không tính đến số lượng người tham gia; lợi ích họ nhận được không phụ thuộc vào số lượng ho c doanh số bán hàng hóa, dịch vụ đã bán cho người khác để sau đó bán tiếp cho người tiêu dùng. Mô hình kinh doanhh kiểu kim tự tháp cũng vi phạm Luật về hành vi thương mại gian dối và lừa đảo người tiêu dùng của bang Illinois[116].
70
Tại Hoa Kỳ, hệ thống pháp luật nói chung và quy định riêng ở các Bang không quyđịnh về điều kiện ―tiền kiểm‖ đối với hoạt động BHĐC, chỉ khi hành vi BHĐC bất chính xảy ra sẽ có những biện pháp, chế tài áp dụng để xử lý vi phạm này.
Về chế tài xử lý bán hàng đa cấp bất chính ở Hoa Kỳ
Cơ quan thực thi pháp luật chống BHĐC bất chính tại Hoa Kỳ là Ủy ban thương mại liên bang, Ủy ban chứng khoán và ngoại tệ cũng là một trong các cơ quan khác theo dõi những mô hình này, nhận được những thông tin chống lại mô hình có tên là mạng lưới phân phối tài chính trên thựctếbán cáccổphiếu không đăng ký.Bộtư pháp HoaKỳ(DOJ)hợptác với những cơ quan điều tra như Cục điều tra liên bang và Cục điều tra bưu chính Hoa kỳ, là các cơquan thực hiện tố tụng đối với hình vi vi phạm kiểu mô hình kim tự tháp, có tính chất vi phạm hình sự xảy ra trong lừa đảo thư tín, lừa đảo cổ phiếu, chứng khoán, và rửa tiền. Các cơ quan quản lý cấp bang tố tụng lên tòa án cấp bang một cách độc lập dựa vào qui định cụ thể riêng biệt của từng bang có cấm mô hình kim tự tháp bất chính. Ủy ban thương mại liên bang xét xửcácvụviệc căncứtrên Luật thươngmạiliên bang, trongđónghiêmcấm―hànhvi gây ảnh hưởng đến kinh doanh một cách không lành mạnh ho c gian dối‖. Luật thương mại liên bang cho phép Ủy ban nộp đơn kiện tại tòa án cấp bang và áp dụng một số các biện pháp xử lý bao gồm: khắc phục hậu quả, phong tỏa tài sản, bồi thường cho người tiêu dùng, trách nhiệm của người quản lý tài sản [123].
Một số Bang có quy định cụ thể như: Bang Illinois, DN BHĐC bất chính vi phạm luật về hành vi thương mại gian dối và lừa đảo người tiêu dùng. Cơ quan thực thi luật này làCơ quan phụ trách tư pháp của bang Illinois chịu trách nhiệm thưc thi. Đạo luật này cho phép cơ quan tư pháp của bang yêu cầu tòa án áp mức phạt dân sự giá trị 50 ngàn đô la M đối với vi phạm. Bang Lousiana, theo quyđịnh tài điều 362 Luật bang Lousiana, quảng bá một mô hình BHĐC bất chính tại bang này là hành vi vi phạm pháp luật của bang. Chề tài đối với vi phạm BHĐC bất chính ở bang Lousiana bao gồm phạt tiền và án hình sự. Điều 363 qui định trường hợp quảng cáo một mô hình kinh doanh đa cấp kiểu kim tự tháp sẽ bị phạt cao nhất là 10 ngàn đô la, ho c có thể bị giam giữ, hình phạt tù cao nhất là 10 năm tù giam và có thể kèm theo lao động mang tính cưỡng chế.
1.5.1.2. Kinh nghiệm tại Canada
Luật Cạnh tranh Canada phục vụ cho quản lý nhà nước về BHĐC. LCT Canada được ban hành lần đầu tiên vào năm 1889. Năm 1975, luật này được sửa đổi và tiếp theo đó những sửađổigiaiđoạnII năm 1986 tiếptụchoàn chỉnh nhữngthủlụcpháp lýcủaLCT Canada. LCT được tiếp tục sửa đổi vào năm 1999, 2001 và lần cuối cùng năm 2009.
Về xác định dấu hiệu bán hàng đa cấp bất chính
71
Các điều 55 và 55.1 của Luât Cạnh tranh Canada xác định các dấu hiệu hành vi gian dối phổ biến trong BHĐC bất chính bao gồm: (1)Giới thiệu liên quan đến thù lao nhưng không công bố một cách thỏa đáng thông tin về thu nhập của những thành viên điển hình được nhận; (2)Thù lao tuyển dụng (tìm kiếm người quản lý); (3)Mua hàng bắt buộc như là một điều kiện để tham gia vào kế hoạch bán hàng; (4)Tích trữ hàng hoá và chính sách trả lại sản phẩm không thỏa đáng ho c không được công bố công khai.
Giống như pháp luật HoaKỳ,pháp luật Canada không quyđịnhvềđiềukiện―tiền kiểm‖ đối với hoạt động BHĐC mà chỉ quy định những biện pháp, chế tài áp dụng để xử lýkhi hành vi BHĐC bất chính xảy ra.
Về chế tài xử lý bán hàng đa cấp bất chính
Trongđiều55 Luât Cạnh tranh Canada quyđịnhvềchếtàixửlý BHĐCbấtchính như sau: Nếu ai vi phạm, thực hiện những hành vi bị cấm tại điều 55 sẽ bị kết án với khoản phạt tiền không quá 200.000 đô la ho c chịu phạt tù với thời hạn không quá 1 năm ho c cả 2 hình phạt trên. Đối với vi phạm thiết lập, tổ chức, quảng cáo hay xúc tiến một mô hình BHĐC bất chính (mô hình tháp ảo): Khi bị kết án thực hiện hành vi BHĐC bất chính, bên vi phạm phải nộp phạt tiền theo mức do tòa án quyết định ho c chịu phạt án tù với thời hạn không quá5 năm ho c kết hợp cả 2 hình phạt trên ho c bị phạt tiền với mức phạt không quá 200.000 đôla ho c chịu án tù lên đến 1 năm ho c kết hợp cả 2 hình thức trên [91].
1.3.1.3. Kinh nghiệm tại Nhật Bản
Năm 1976, Nhật Bản đã ban hành Luật các giao dịch thương mại (Specified Commercial Transactions Law) với mục đích bảo vệ quyền lợi người mua, hướng tới sựphù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho DN phân phối hàng hóa, cung cấp dịch vụ bằng cáchđảm bảo công bằng trong giao dịch. Những giao dịch do Luật điều chỉnh gồm bán hàng tận cửa(Door-to-door sales), bán hàng qua email, bán hàng quađiệnthoại (Telemarketing), BHĐC, cung cấp một chuỗi dịch vụ liên tục. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, luật đãphải điều chỉnh nhiều lần để phù hợp hơn nữa với thực tế tạo điều kiện phát triển ổn định nềnkinhtếquốc gia. Các quyđịnhvềnộidungđiềuchỉnh hoạtđộngBHĐCđượcquyđịnh tại Chương 3 từ Điều 33 tới Điều 40 của Luật này.
Xác định dấu hiệu bán hàng đa cấp bất chính
Pháp luật Nhật Bản không đưa ra định nghĩa xác định các dấu hiệu BHĐC bất chính màquy định các hành vi bị cấm tại Điều 34, 36 Luật các giao dịch thương mại Nhật Bản:
– Cấm người trong mạng lưới BHĐC không được cố ý giấu thông tin thực tế, xuyên tạc thông tin nhằm mục đích lôi kéo ký kết hợp đồng, bán hàng ho c ngăn ch n để không cóhiện tượng huỷ hợp đồng từ người mua. Hay những thông tin cần được cung cấp đầy đủ cho
72
người mua hàng, người được mời vào mạng lưới bao gồm: tính năng của sản phẩm, nhãn hiệu ho c tên của nhà sản xuất, số lượng hàng hoá, tính năng dịch vụ ho c dịch vụ liên quan khác.
– Cấm người trong mạng lưới BHĐC thực hiện mời chào người khác vào mạng lưới cũng như ký kết hợp đồng ở ngoài những địa điểm sau: văn phòng kinh doanh, đại lý, quầy bán hàng ho c những địa điểm tương tự như kho chứa hàng mà công ty dùng để trưng bày sản phẩm hay bán hàng tại thời điểm cụ thể.
– Cấm quảng cáo sai sự thật về BHĐC, cụ thể điều phối viên, người cố vấn luật hay tổng phân phối BHĐC không được thực hiện hành vi đưa ra các thông tin quảng cáo sai lệch so với thực tế để gây nhầm lẫn cho người được mời chào vào mạng lưới.
Tương tự với quan điểm tiếp cận của M và Canada cách tiếp cận của Nhật Bản đối với hình thức kinh doanh đa cấp không quá khắt khe, Luật không đưa ra những quy định ―tiền kiểm‖ là các điều kiện kinh doanh đối với DN BHĐC.
Về chế tài xử lý bán hàng đa cấp bất chính
Hình thức xử phạt vi phạm BHĐC bất chính ở Nhật Bản được quy định tại Chương 7 Luật các giao dịch thương mại Nhật Bản. Hình thức xử phạt khá đa dạng từ lao động công ích 6 tháng; phạt tiền từ 100 nghìn Yên đến 300 triệu Yên, phạt tù từ 1 năm cho đến 3 năm [94].
1.3.1.4. Kinh nghiệm tại Hàn Quốc
BHĐC được quy định tại Chương 3 Luật bán hàng tận cửa Hàn Quốc 1995, luật nàyđược sửa đổi vào ngày 19 tháng 7 năm 2007 và có hiệu lực từ ngày 20 tháng 10 năm 2007. So với Luật bán hàng tận cửa năm 1995 Luật đã có nhiều sửa đổi, đ c biệt là trong phần quản lýBHĐC, các quy định đã được siết ch t hơn rất nhiều.
Về xác định dấu hiệu bán hàng đa cấp bất chính
Luật bán hàngtậncửaHàn Quốc khôngđưara cácdấuhiệu xácđịnhBHĐC bất chính mà chỉ quy định các hành vi bị cấm BHĐC:
– Ép buộc bên mua ký kết hợp đồng ho c đe dọa ngăn không cho bên mua hủy hợp đồngđã kí kết.
– Gây nhầm lẫn, phóngđại sự thật,gạ gẫm bên muaký hợp đồngthông qua các hành vi lừa dối ho c thực hiện hành vi nhằm ngăn cản bên mua rút/hủy hợp đồng, thông
qua việc cung cấp thông tin sai sự thật về giá, chất lượng hàng hóa…
– p đ t một số nghĩa vụ nhất định đối với người muốn trở thành nhà phân phối vídụ như ép buộc người này phải trả một khoản tiền nhất định lớn hơn 100.000 won.
– Trả các lợi ích kinh tế cho nhà phân phối dựa trên việc người đó tuyển dụng được cấp dưới.
– Thay đổi địa chỉ ho c điện thoại với lý do ngăn cản bên mua rút/hủy hợp đồng
73
– Giao hàng cho bên mua và yêu cầu phải trả tiền trong trường hợp bên mua chưa kýhợp đồng ho c ép buộc bên mua/nhà phân phối phải mua hàng ho c dịch vụ.
– Ép buộc bên mua bằng điện thoại, fax ho c các phương tiện truyền thông máy tính phải mua hàng hóa ho c dịch vụ, m c dù bên mua đã thể hiện rằng anh ta không có ý định mua hàng hóa ho c dịch vụ đó. (Trong trường hợp nhà phân phối đa cấp), sử dụng địa vị xã hội của một người nào đó để buộc một người khác phải đăng ký trở thành nhà phân phối thuộc cấp dưới của anh ta ho c ép buộc cấp dưới của anh ta phải mua hàng hóa ho c dịch vụ.
– Ép buộc người muốn trở thành nhà phân phối phải tham gia đào tạo ho c tham gia vào một tổchức tập thể mà đi ngược lại với lợi ích của người đó.
– Đại diện cho một nhà phân phối chưa đăng ký trong hệ thống đa cấp ho c cho phép nhà phân phối chưa đăng ký này làm việc dưới sự giám sát của mình.
– Thực hiện BHĐC mà không có chính sách bảo hiểm đảm bảo thiệt hại của người tiêu dùng. – Bán hàng cho bên mua với giá cao hơn quy định trong nghị định Tổng thống.
– Sử dụng thông tin về người tiêu dùng mà không được sự đồng ý của người tiêu dùng ho c dùng sai với mục đích mà người tiêu dùng đã đồng ý.
Về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp
Quy định ―tiền kiểm‖ này được ghi nhận tại Điều 13 về đăng ký BHĐC, Cụ thể người muốn kinh doanh đa cấp phải đăng ký hoạt động BHĐC với thị trưởng thành phố/thống đốc tỉnh. Các tài liệu phải xuất trình để xin đăng ký hoạt động đa cấp bao gồm: (i) mẫu đăng ký cónội dung: tên, địa chỉ, số điện thoại, địa chỉ email (trong trường hợp pháp nhân thì phải bao gồm tên, số đăng ký cư trú, địa chỉ của đại diện thương mại); (ii) tài liệu chứng minh khoản vốnđiều lệlớnhơn 500 nghìn Won; (iii) các tài liệu chứng minh cótồntạihợpđồngbảo hiểm trong đó có quy định về trách nhiệm đối với các thiệt hại của người tiêu dùng theo quyđịnhtạiĐiều34; (iv) tài liệuvềphương thức tính toán vàtrảhoa hồng; tài liệu giải thích cách hoạt động BHĐC gồm quản lý hàng tồn kho, thanh toán hoa hồng; (v) các tài liệu khác quy định trong Nghị định của Thủ tướng, là những tài liệu cần thiết để xác minh lý lịch của nhà phân phối BHĐC.
Về chế tài xử lý bán hàng đa cấp bất chính
Nhà điều hành mạng lưới vi phạm các quy định cấm có thể bị buộc tạm ngừng kinh doanh đa cấp ho c bị buộc chấm dứt kinh doanh đa cấp theo Điều 42. Nếu các vi phạm đó gây ra thiệt hại thì nhà điều hành mạng lưới phải bồi thường thiệt hại cho nhà phân phối ho c khách hàng khi xâm hại vào lợi đích chính đáng của họ. Tiêu chí để đòi bồi thường thiệt hại sẽ được quy định cụ thể tại Nghị địnhhướngdẫn chi tiết một số điều của Luật bán hàng
74
tận cửa Hàn Quốc bản sửa đổi mới nhất có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31 tháng 12 năm 2008. Điều35củaNghị định quyđịnhvề các tiêu chí xácđịnhkhoảnbồithường thiệt hại, chứng minh thiệt hại có liên quan trực tiếp tới hành vi vi phạm [93].
1.3.1.5. Kinh nghiệm tại Trung Quốc
BHĐC tại Trung Quốc được điều chỉnh bởi 2 văn bản luật là Luật về quản lý hành chínhđối với hoạt động bán hàng trực tiếp 2005 (mục đích của luật này là tiêu chuẩn hoá hoạt động BHĐC, tăng cường điều tiết BHĐC, ngăn ngừa gian lận và bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi íchngườitiêu dùng) và Luật chống BHĐCbấtchính 2005 (mục đíchcủaluật này là ngăn ngừa hành vi lừa đảo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tố chức khác, giữ gìn trật tự của nền kinh tế và duy trì ổn định trong xã hội).
Về xác định dấu hiệu bán hàng đa cấp bất chính
BHĐC bất chính được nhìn nhận trong Luật chống BHĐC bất chính 2005 như sau:
– Tổ chức, cá nhân kiếm lời bất chính bằng hoạt động tuyển dụng, yêu cầu cá nhân được tuyển dụng tiếp tục lôi kéo người khác tham gia mạng lưới trong đó tiền thưởng, hoa hồng vàcác lợi ích kinh tế khác được tính toán và trả cho những người tham gia này dựa theo số lượng người họ có thể lôi kéo vào mạng lưới một cách trực tiếp hay gián tiếp;
– Tổ chức ho c cá nhân thu lợi nhuận trái luật khi yêu cầu người tham gia BHĐC phải trả những khoản phí bất hợp lý để được quyền tham gia vào mạng lưới BHĐC;
– Cá nhân, người tổ chức kiếm lời bất chính thông qua mạng lưới BHĐC trong đó ngườiở cấp trên nhận thưởng từ kết quả lao động, tuyển dụng thêm người gia nhập mạng lưới [95].
Về điều kiện kinh doanh bán hàng đa cấp
Luật quản lý bán hàng trực tiếp ở Trung quốc tập trung vào quy định thủ tục thành lập, thayđổivớiDN BHĐC nhằmđưara chuẩnmựcvềđăng ký và nhữngthủtụchành chính đối với các DN này. Điều 7 của Luật này quy định điều kiện kinh doanh BHĐC nhưsau: Nhà đầu tư có nền tảng kinh doanh vững chắc, không có tiền án vi phạm pháp luật 5 năm trở lên, nếunhà đầutư làngườinước ngoài yêu cầu phải chứng minh ít có ít nhất 3 năm kinh nghiệm hoạtđộngBHĐC ngoài Trung Quốc;Vốnđiềulệkhông ít hơn 80 triệu NDT; Ký quỹ an ninh đảm bảo được trả đầy đủ tại nhà băng được chỉ định; Được yêu cầu lập hồ sơ và công bố thông tin.
Điều 8 của luật quy định tài liệu mà DN phải cung cấp cho cơ quan quản lý kèm vớiđơn là những tài liệu nêu ở Điều 7, bản thông báo thành lập công ty, hợp đồng liên doanh,kếhoạch kinh doanh,kếhoạch kinh doanh BHĐC liên quanđếnđiềusố10củaluật này (quy
75
định dành cho tổ chức hoạt động chi nhánh); chi tiết sản phẩm đã được kiểm định; mẫu hợpđồng ký với người sẽ trở thành tư vấn viên, bản kê tài chính do công ty kiểm toán cung cấp, hợp đồng giữa công ty và ngân hàng về cách thức sử dụng ký qu an ninh.
Vềký qu củaDN BHĐCđượcquyđịnhrấtchi tiết,tạithờiđiểmthànhlậpDN BHĐC lượng ký qu đảm bảo tại ngân hàng nên là 20 triệu NDT. Sau khi DN BHĐC đi vào hoạt động, khoản ký qu được phép điều chỉnh sao cho sẽ chiếm khoảng 15% doanh số của tháng trước đó nhưng tối thiểu là 20 triệu NDT và tối đa là 100 triệu NDT [96].
Về chế tài xử lý bán hàng đa cấp bất chính
Cơ quan xử lý vi phạm sẽ tịch thu sung công tài sản và lợi nhuận trái phép đồng thời yán phạt từ 500.000 NDT trở lên, trong trường hợp xảy ra phạm tội nghiêm trọng thì mức phạt hình sự sẽ được xem xét, cân nhắc. Đối với vi phạm BHĐC bất chính liên quan đến lôi kéo, dụdỗ, ép buộc người khác tham gia vàotổchức BHĐC phi pháp này, cơ quan xử lý sẽ ra quyết định chấm dứt hoạt động, y án phạt từ 100.000 đến 500.000 NDT; đối với cá nhân liên quan, họ sẽ qui định có mức phạt nhiều nhất là 2000 NDT [95]. Một điểm đáng chú ý của luật này là người cung cấp địa điểm hoạt động cho tổ chức BHĐC bất chính ho c những cá nhân, tổ chức tuyên truyền về hoạt động BHĐC bất chính qua mạng Internet có thể bị phạt, điều này cho thấy sự khác biệt về quản lý BHĐC ở Trung quốc so với các quốc gia khác trên thế giới.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua những tìm hiểu, phân tích về quá trình hình thành, sửa đổi, quy định hiện hành vềquản lý hoạtđộngBHĐCtạimộtsốquốc gia như HoaKỳ,Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc có thể đưa ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu sinh nhận thấy hệ thống pháp luật các nước điều chỉnh BHĐCđều có những điểm tương đồng nhất định về m t cấu trúc văn bản pháp luật, cách phân định các vấn đề cần điều chỉnh gồm khái niệm BHĐC bất chính các dấu hiệu nhận diện, cách thức hoạtđộng củaBHĐC hợp pháp vàvềquy định trách nhiệm và nghĩavụcủangườitổchức BHĐC đối với nhà phân phối thuộc mạng lưới BHĐC của mình và trách nhiệm, nghĩa vụ đối với người tiêu dùng về các hành vi bị cấm trong quá trình hoạt động. Về quan niệm BHĐC vàBHĐC bất chính , m c dù mỗi quốc gia đều đưa ra những tên gọi khác nhau cho hình thức BHĐCbấtchính như mô hình hình thápảo,mô hình chuỗilừađảo,mô hình giao dịch tài
chính không dựa trên việc mua bán thực sự…thì về bản chất khi diễn giải trong điều luật của mình, các quốc gia đều có chung quan điểm đây là một hình thức biến tướng của BHĐC, trongđó lợi nhuận và hoa hồng trả cho các cấp tham gia trong mạng lưới không thực sự xuất phát từviệc bán sản phẩm mà chủ yếu phát sinh từ việc tuyển dụng thêm thành viên vào mạng lưới.
76
Xuất phát từ việc tương đồng trong cách hiểu về bản chất của hoạt động BHĐC nên việc thiếtkếcác quyđịnhquản lý hoạtđộngBHĐCtạinhững quốc gia này cũng có nhiềuđiểmtươngđồng.Tuy nhiên, tùy theohệthống pháp luật (theo ánlệCommon Law hayhệthống luật thành văn Civil Law) mà mỗi quốc gia sẽ có những quy định chi tiết cụ thể hay chỉđưa ra những nguyên tắc chung mang tính hướng dẫn hành động. Ngoài ra còn phụ thuộc vào quan điểm tiếp cận điều chỉnh của từng quốc gia cũng khiến việc thiết kế và nội dung các quyđịnh của pháp luật nảy sinh những khác biệt nhất định.
Thứ hai, từ phân tích trên NCS phân nhóm các quy định điều chỉnh hoạt động BHĐC tại các quốc gia thành hai nhóm cơ bản: Nhóm 1 là nhóm các quy định ―tiền kiểm‖, có thể hiểuđây là những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của DN BHĐC tại thời điểm trước khi DNđược cho phép BHĐC tại một quốc gia nhất định, bao gồm những quy định về điều kiện để cánhân ho c tổ chức được phép kinh doanh đa cấp trên một địa bàn nhất định, ví dụ như điều kiệnvềvốnphápđịnh,ký qu , điềukiệnvềbộhồsơnộplên cơ quan nhànướccó thẩm
quyền để xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đa cấp, …Nhóm 2 là nhóm các quyđịnh điều chỉnh hoạt động BHĐC của cá nhân, tổ chức BHĐC khi đã đi vào hoạt động, nhóm này sẽ bao gồm những quy định về điều chỉnh hành vi của DN BHĐC, quy định điều chỉnh hành vi của nhà phân phối đa cấp, quyđịnhtrách nhiệm của DN BHĐC đối với nhà phân phối đacấpvàđốivớingườitiêu dùng, quyđịnhtrách nhiệmcủanhà phân phốiđốivới người tiêu dùng, quy định về chế tài xử lý vi phạm của DN với những hành vi bị cấm trong
quá trình kinh doanh đa cấp…
Hai nhóm quy định trên đều thể hiện tinh thần pháp luật là kiểm soát ch t chẽ với hành vi BHĐC bất chính, tuy nhiên như đã phân tích ở trên về cách tiếp cận điều chỉnh pháp luật của mỗi quốc gia nên cách thức chống BHĐC bất chính ở những quốc gia này cũng khác nhau. Sau khi phân tích hệ thống pháp luật của các quốc gia này, NCS đưa ra những nhận định sau:
Liên quan tới Nhóm quy định về ―tiền kiểm‖: Quy định về tiền kiểm này xuất hiện ở các quốc gia có hệ thống luật thành văn được quy định khá ch t chẽ. Quốc gia có quy định ch t chẽ nhất là Trung Quốc với những quy định về điều kiện đăng ký kinh doanh đa cấp: Có nền tảng kinh doanh vững chắc, không có tiền án vi phạm pháp luật trong vòng 5 năm trở lên, nếu là nhà đầu tư nước ngoài thì phải chứng minh có ít nhất 3 năm kinh nghiệm trong hoạt động đa
cấp, có vốn điều lệ tối thiểu 80 triệu NDT, phải ký qu tại một ngân hàng… Hàn Quốc cũng có một số quy định tương tự đối với cá nhân, tổ chức muốn cấp giấy phép kinh doanh đa cấp như: yêu cầu vốn điều lệ tối thiểu 500.000 won, những cá nhân bị cấm tổ chức kinh doanh đa
77
cấp gồm người không có năng lực hành vi, phá sản và chưa phục hồi được khả năng tài chính,đã từng bị phạt từ vì BHĐC bất chính mà thời điểm kết thúc thi hành án chưa quá 5 năm, đang trong thời gian thử thách, bộ hồ sơ trong đó có quy định về chính sách bảo hiểm đối với thiệt
hại của người tiêu dùng… Luật Hàn Quốc còn cấm các cá nhân, pháp nhân trong vòng 5 năm sau khi bị thu hồi đăng BHĐC không được phép đăng ký kinh doanh đa cấp, pháp nhân có cổđông không đạt điều kiện cũng không được phép đăng ký kinh doanh đa cấp.
Như vậy, những quy định về ―tiền kiểm‖ tại các quốc gia trên có phần yêu cầu cao vàthắt ch t các điều kiện hơn BHĐC, cả điều kiện về vốn điều lệ tối thiểu và điều kiện đối với cánhân, tổ chức muốn kinh doanh đa cấp.
Liên quan tới nhóm quy định kiểm soát quá trình hoạt động, ―hậu kiểm‖ của DN BHĐC:
Vềđiềukiệnđốivớingườimuốn tham gia BHĐC,mỗinướcđềucó những quyđịnh khác nhau nhưng đều đồng quan điểm trong các điều kiện: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không có tiền án và có những điều kiện nhất định đối với người nước ngoài muốn trở thành nhà phân phối đa cấp, tuy nhiên về mức độ siết ch t quản lý thì mỗi nước có những quy định khác nhau. Tại Trung Quốc, ngoài đáp ứng những điều kiện trên, nhà phân phối đa cấp khôngđược làm trong các ngành y tế, dược, không được là công chức, sĩ quan quân đội, sinh viên chính quy, giáo viên, người nước ngoài không được trở thành nhà phân phối đa cấp.
Về đối tượng kinh doanh theo phương thức BHĐC, pháp luật các quốc gia đều điều chỉnh đối với cả hàng hóa và dịch vụ, riêng Luật Bang Georgia của Hoa Kỳ không xếp đại lýbảo hiểm, bất động sản, kinh doanh chứng khoán vào danh mục được phép BHĐC.
Về trách nhiệm của DN BHĐC, hợp đồng tham gia BHĐC, chấm dứt hợp đồng tham gia BHĐC, quyđịnhvềmualạihàng hóa khi chấmdứthợpđồng,cácnướcđềucó chiều hướng bảo vệ cho quyền lợi của nhà phân phối đa cấp nhiều hơn. Ví dụ như tại Trung Quốc, nhà phân phối có quyền chấm dứt hợp đồng bất kỳ lúc nào trong 60 ngày đầu tiên sau khi kýhợp đồng; tại Hàn Quốc, nhà phân phối có quyền rút khỏi mạng lưới đa cấp bất cứ lúc nào chỉcần có thông báo viết tay; pháp luật Bang Texas, Oklahoma và Lousiana đều có quy định yêu cầu DN đa cấp phải mua lại trong vòng 12 tháng với 90% của giá trị bán.
Về những hành vi bị cấm của DN BHĐC, các quốc gia đều có quy định các hành vi bịcấm thực hiện khác. Tại M , Luật Bang Oregon cấm không được bán hàng hóa với giá chênh lệch cao trong đó khoản giá chênh lệch được coi là khoản tiền thưởng trái pháp luật, nghiêm cấm thu một số tiền nào đó để mua bộ giới thiệu; Luật Bang Georgia cấm DN đa cấp khôngđược quảng cáo gián tiếp ho c trực tiếp về khả năng đạt được lợi nhuận của người tham gia
78
cũng như khôngđượcquảng cáo rằngngườitham giađềuthành công; Luật Bang Alabama cấm không được đưa thông tin gian dối về bản chất thị trường của sản phẩm, dịch vụ. Tại Hàn Quốc, quy định về hành vi bị cấm đối với DN tổ chức BHĐC được bổ sung nhiều hành vi bịcấm mới: ép buộc ký hợp đồng, gây nhầm lẫn, gạ gẫm để ký hợp đồng; không quan tâm đến sự thiếu hụt về nhân sự ho c tiện ích cần thiết để giải quyết khiếu nại cho người tiêu dùng, ép mua hàng hóa khi chưa kí hợp đồng; sử dụng địa vị xã hội để ép buộc mua hàng, cho phép ngườichưađạtđiều kiệnBHĐC trở thành nhà phân phối đa cấp, giá bán hàng hóalớnhơn 1.300.000 won; sử dụng thông tin của người tiêu dùng mà chưa được sự đồng ý, chuyển giao ho c mua lạimộtmạng lướiBHĐC, dùng những thông tin về thu nhập củangườitham gia BHĐC để dụ dỗ, lôi kéo người mới tham gia vào mạng lưới mà không có tài liệu chứng minh;
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

