Pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế xã hội muốn có sự phát triển, cần thiết phải có sự tích tụ tư bản tồn tại. Hoạt động này sẽ làm gia tăng quy mô sản xuất kéo theo sự gia tăng quy mô ở cả hai phía cung sản xuất và cầu tiêu dùng, từ đó kéo theo sự phát triểnmạnh mẽ của nềnkinh tế. Trong các hình thức tích tụ tư bản, hoạtđộng góp vốn là mộttrong những hình thức quan trọng nhất. Sựphát triển của xãhộiloàingườingày càngvượtbậckhiến chođốitượngđược mang góp vốn cũng ngày càng có sự đa dạng, không chỉ dừng lại ở các đối tượng tài sản hữu hình mà ngay cả các tài sản vô hình cùng có thể trở thành đối tượng để tham gia vào hoạtđộngnày, trongđócó tàisảnsở hữutrí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng.
Trong giaiđoạnhiện nay, việc gópvốnbằng nhãn hiệuđã trởthành thông lệ phổ biến trên thế giới bởi vai trò hếtsức đặcbiệt của nó. Nhãn hiệu ngày càngđược thừa nhậnvớivai trò quan trọngđốivớisựphát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Với các doanh nghiệp, nhãn hiệu đóng vai trò như là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khảnăng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Bằng việc xây dựng, phát triển và sở hữucác nhãn hiệu, uy tín vàvịthếcủa doanh nghiệp luônđược củngcốvà mở rộng; khả năng cạnh tranh,thịphần và doanh thu của doanh nghiệp được nâng cao.
TạiViệt Nam, vấnđềgópvốnbằng nhãn hiệu cònhếtsức mớimẻ. Trước đây, LuậtĐầutư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 đã cho phép nhàđầu tư nướcngoài góp vốn bằng tài sản vô hình này (Khoản 1 Điều 2). Tiếpđó, Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2020 cũng như Luậtđầutư (LĐT) năm
2020đềucho phép nhà đầutưđược quyền gópvốnbằng nhãn hiệuvớitưcách là mộtloại tàisảnvô hìnhđể tiến hành các hoạtđộngđầutư, kinh doanh. Xu hướnghộinhập ngày càngmở rộng nhiều nhà đầu tư nước ngoàiđã và đang gia nhập vào thị trường nội địa của Việt Nam cùng với những tài sảntrí tuệ của họ, bao gồm không ít nhãn hiệu nổi tiếng.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng nhãn hiệu tham gia vào hoạtđộng gópvốntạiViệt Nam chưa mang tínhphổbiến và còn nhiềuhạnchế. Điều này xuất phát từ những mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định có liên quanđếnvấnđề này, cũng như nhũng khó khăn,vướngmắc trong quá trình thực thi các quyđịnhcủa pháp luật có liên quan trên thực tế dướicả góc độchủquanlẫnkhách quan. Trong đó, khung pháp luậtđiềuchỉnh cho hoạtđộng này chưa thật sự phát huy hiệu quả và tính khả thi trong quá trình áp dụng vào trong thực tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến quy định về tàisảngóp vốn là nhãn hiệu, quyền tham gia góp vốn của các chủ thể kinh doanh, các vấn đềliên quanđếnthời điểmgóp vốn, định giá đối với giá trịquyềnsở hữuhoặc quyền sử dụng nhãn hiệu để tham gia vào hoạt động góp vốn và trách nhiệm liên quanđếnhoạtđộngđịnhgiá này, vấnđề hoạch toán, kế toán khi nhãn
hiệuđược góp vào doanh nghiệp…Do đó, để khắc phục tình trạng nêu trên, việc làm rõ các vấnđề lý luậnvề gópvốnbằng nhãn hiệu, điềuchỉnh pháp luật theo hướng sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật hiện hành theo hướng quy định cụ thể và điều chỉnh thống nhất hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệutạiViệt Nam trong giaiđoạnhiện nay trở thànhvấnđề mang tính cấp thiết. Để làmđược điềunày, cầnphải nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu ở Việt Nam.
2
Vớimong muốn làm sâu sắc và toàn diệnvề mặtlý luận cũng như đánh giá về việc thực hiện chính sách và thực thi của khung pháp luật có liên quanđếnhoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệuđể từđóđưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm phát huy hiệu quả củakhung pháp luậtđiềuchỉnhvề hoạtđộng này, nghiêncứusinhđã chọnđề tài: “Pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu”làm đề tài luận án tiến sĩ luật học.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận án tiến hành nghiên cứu, phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề dưới góc độkhoa học pháp lývềlý luậnmộtcách toàn diện và chuyên sâu liên quan đến hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu; phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễnvậnhành của khung pháp luậtđiềuchỉnhvấnđề góp vốn bằng nhãn hiệu ở Việt Nam. Từ đó, NCSđề xuất cáckiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của khung pháp luật điều chỉnh về hoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệuở Việt Nam trên cơ sở nghiêncứuvà tiếp thu các kinh nghiệm lập pháp của một số nước nghiên cứu.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạtđược mục đích nghiêncứunêu trên, Luận ántậptrung làm rõnhững vấn đề sau:
Một là, luận án giới thiệu một cách toàn diện và chuyên sâu những kiến thức lý luận cơ bản về vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu cũng như nghiên cứu, phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận khoa học pháp lý về vấnđề góp vốn bằng nhãn hiệu;
Hai là, luận án thực hiện được một sự so sánh khá đầyđủ và cơ bản vềkhung pháp luật của Việt Nam liên quanđếnhoạtđộnggópvốnbằng nhãn
3
hiệu qua các giai đoạn khác nhau để từ đó phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay.
Ba là, luận án phân tích được tình huống thực tế của Việt Nam từ đó đềxuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luậtvềhoạt động vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu ở Việt Nam.
Cuối cùng, từnhữngsựphân tích nêu trên, luận ánsẽ đề xuất những giải pháp hợp lý và khoa học nhằm củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiêncứu của đề tàilà những vấn đề lý luận, luận cứ khoa học và các quyđịnh của pháp luật hiện hành liên quanđếnvấnđề góp vốn bằng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, cũng như thực tiễn của hoạtđộngáp dụng pháp luậtvề vấnđềnàytạiViệt Nam và kinh nghiệm của mộtsốquốc gia nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiêncứu
Gópvốnbằng nhãn hiệuđượctiếpcậnnghiêncứutừ nhiều gócđộkhác nhau, cóthể kể đếnnhư góc độ pháp lý và góc độ kinh tế. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiêncứucủaluận án này, tácgiảtậptrung làm rõ những vấn đề chính dướigóc độ pháp lý bao gồm việc nghiên cứu và phân tích các vấn đề về lý luận của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu, thực trạng của pháp luật Việt Nam điều chỉnh về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu và thực tiễnáp dụng các quy định này tại Việt Nam.
4
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đểthực hiệnđượcnhiệmvụvàmụcđích nghiên cứu, luận ánđược tiếpcậntheo phương pháp luậncủachủnghĩa Mác – Lênin; các quanđiểm của Đảngvà Nhànướcvềhoàn thiệnthểchế kinhtếthịtrường,hộinhập quốc tế. Đối với từng nội dung của luận án, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháphệ thống hóa; phương pháp luật học so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp khảo sát thực tế; phương pháp dự báo để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của đề tài, cụ thểnhư sau:
– Phương pháp phân tích, tổng hợp đượcsử dụng trong tất cảcác chươngcủaluận án nhằmđảmbảonộidung được nghiên cứu vừa có tính hệ thống, khái quát,vừacó tính chuyên sâu. Phương pháp nàyđượcsử dụng để tìm hiểu, trình bày các hiện tượng, các quanđiểmpháp lý về góp vốn bằng nhãn hiệu; khái quát để phân tích và rút ra các thuộc tính, đặc trưng,bảnchất và vai trò của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu; các quanđiểm,quy địnhvà thực trạng của các quyđịnh pháp luật về hoạt động gópvốnbằng nhãn hiệutạiChương 2 vàChương 3 cũng nhưmộtphầnnộidung của Chương 4 liên quanđến thực tiễn của hoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệutạiViệt Nam trong những năm gần đây. Từ đó, luận án đưa ra những đánh giá, kết luận và kiến nghị giải pháp phùhợpnhằm hoàn thiện pháp luậtvềgóp vốn bằng nhãn hiệu (Chương 4).
– Phương pháp so sánh luật học bao gồm các phương pháp so sánh chức năng, phương pháp so sánh quy phạm và phương pháp so sánh lịchsử đượcsử dụng một cách linh hoạt và cósự kếthợpcụthể để so
5
sánh các khái niệm, quyđịnhcủa pháp luật thựcđịnhvớicác khái niệm, quyđịnhkhác của pháp luật trongnước và nước ngoài có liên quan.Từđólý giải nhữngđiểmtương đồng, khác biệt và nguồn gốc của những điểm tương đồng khác biệt này. Qua đó, rút ra những kinh nghiệm có khả năng tiếp thuđể hoàn thiện khung pháp luậtvề góp vốn bằng nhãn hiệutạiViệt Nam hiện nay. Phương pháp nàyđượcsử dụng ở một phần của Chương 3 và Chương 4 của luận án.
– Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án nhằm trình bày các vấn đề, nội dung của luận án theo một trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, gắn kết, kế thừa kết quả nghiên cứutrước đó đồng thời phát triển những nội dung mới đã được xác định trong luận án.
– Phương pháp lịchsửđượcsửdụngđểnghiêncứuquá trình hình thành và phát triểncủapháp luậtđiềuchỉnhvềhoạtđộnggóp vốn bằng nhãn hiệu. Phương pháp nàyđượcsử dụng ở một phần Chương 2 và Chương 3 của luận án.
– Phương pháp phân tích – dự báo khoa họcđượcsử dụng để dự báo xu hướng phát triển của pháp luật góp vốn bằng nhãn hiệu và các yêu cầuhoàn thiện pháp luật gópvốnbằng nhãn hiệu. Phương pháp này chủyếuáp dụngtạiChương 4củaluận án nhằm đưa ra những kiến nghị và giải phápcụ thểnhằm hoàn thiện khung phápluật điềuchỉnh về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam.
Hướng tiếp cận nghiên cứu của luận án:
Luận án tiếp cận nội dung nghiên cứu của đề tài ở góc độ các quy định của pháp luật Việt Nam về việc góp vốn bằng nhãn hiệu trêncơ sở đó có sựkế thừa và chọn lọc các quan điểm phù hợp với thực tiễn pháp luật Việt Nam,
6
vớimục tiêu nghiêncứucủa luận án, từđóphân tích, đánh giávậndụng thành các giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu. Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu các quy định của phápluật ở các nước ảnh hưởngđến môi trường đầu tư, kinh doanh từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và
lựa chọn những quy định của pháp luật phù hợp với Việt Nam trong thời gian tới. Bên cạnh đó, luận án cònsửdụng các công trình nghiêncứucó giá trịcủa nước ngoài, số liệu thống kê do các tổ chức phi chính phủ có uy tín trên
thếgiới và ởViệt Namđược côngbốtrên các phương tiện thông tinđại chúng. Từ đó tác giả phân tích, bình luận, đánh giá, so sánh giữa quá khứ và hiện tại giữa Việt Nam và các nước nhằm làm nổi bật những ưu điểm, nhược điểm trong việc góp vốn bằng nhãn hiệu. Mặc khác, các giải pháp, các ý kiến của các nhà khoa học nướcngoàivềgóp vốn bằng nhãn hiệu, cải thiện môi trườngđầutư, kinh doanh, mởrộng quyềntựdo kinh doanh của doanh nghiệp cũng là nguồn tài liệu quý báo để luận án chọn lọc, tiếp thu và đề xuất nhà nước Việt Nam hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Trên cơsởkếthừa có chọnlọccác kếtquảnghiêncứutrong vàngoài nướctrước đâyvềkhung pháp luật liên quan đến hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu, cùng với quá trình nghiên cứu độc lậpvà nghiêm túc, luậnán có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
Thứnhất, luận ánhệthống cácvấnđề lý luận về pháp luật góp vốn bằng nhãn hiệutạiViệt Nam, baogồmcácnộidung như: Khái niệm,đặc trưng, vai tròcủagópvốnbằng nhãn hiệu; phân biệt gópvốnbằng nhãn hiệuvớicác hình thức gópvốnkhác; khái niệm,đặcđiểmcủapháp luật vềgóp vốn bằng nhãn hiệu, cácyếutốchi phốiđếnpháp luậtvềgóp vốn
7
bằng nhãn hiệu; xácđịnhnộidungcủapháp luậtvềgópvốnbằng nhãn hiệu bao gồm các quyđịnhvềhình thức góp vốn,chủthể góp vốn,đặcthùcủa nhãn hiệulà đốitượngđưagóp vốn, định giá nhãn hiệu, chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu, hợp đồng góp vốn, thủ tục góp vốn, xử lý nhãn hiệu khi chấm dứt góp vốn.
Thứhai, luận án khái quát và phân tích tương đốitoàn diện thực trạng pháp luật vàvấnđềthực thi pháp luậtvềgópvốnbằng nhãn hiệuởViệt Nam,chỉra nhữnghạnchế, bấtcậpcủapháp luật hiện hành và những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành.
Thứ ba, luận án đưara định hướng và đề xuất các giải phápcụ thể đểhoàn thiện khung pháp luậtvềgópvốnbằng nhãn hiệu,đápứngyêu cầu phát triển kinh tế – xã hộiở nướcta trong giai đoạn tới, đặc biệt là đápứng yêu cầu và nhu cầu của quá trình hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay
tại Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
– Vềmặtkhoa học, luận án là công trình nghiêncứukhá toàn diện về pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu, góp phần giúp các nhà lập pháp, cơquan nhànướccó thẩm quyền, các nhà nghiêncứutrong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu.
– Vềmặtthực tiễn,kếtquảnghiêncứucủaluận án góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu, đồng thời có thểsử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảngdạytạicác cơsởđàotạopháp luật như pháp luật về sở hữu trí tuệ.
8
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phầnLờinóiđầu, Kếtluận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được chia thành các chương như sau:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về nhãn hiệu và góp vốn bằng nhãn hiệu
Chƣơng 3: Thực trạng pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam
Chƣơng 4: Thực tiễn áp dụng pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam – Kiến nghị hoàn thiện và giải pháp thực thi

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
ỞViệt Nam,đã có nhiều công trình nghiêncứuliên quan, đánh giá, thực trạng liên quan đến góp vốn bằng nhãn hiệu nói riêng và các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề góp vốn nói chung.
Những công trình nghiên cứu chung nhất liên quan đến nhãn hiệu và hoạt động góp vốn có thể kể đến như:
Các công trình nghiên cứu trực tiếpvềhoạtđộnggóp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ và nhãn hiệu cóthể kể đến như:
1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên, có thể rút ra những nhận xét chung về tình hình nghiên cứu đề tài, những nội dung này sẽ được NCS kế thừa và phát triểnmộtcách toàn diện và đầyđủhơn trong luận án:
Thứ nhất, nghiêncứuvà phân tích các vấnđề lý luận cơ bảnvềgóp vốn, về nhãn hiệu và góp vốn bằng nhãn hiệu. Tuy nhiên, việc hệ thống hóa và đánh giá một cách toàn diện về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu thì chưa có công trình nghiên cứu nào đã được thực hiện ở cấp độ của một luận án tiến sĩ luật học.
Thứ hai, một số công trình có đề cập vàxác định được nhữngvai tròcơ bảncủa hoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệu trongđờisống kinhtế.Tuy nhiên, nộidung này chưa được hệ thống hoá mộtcáchđầyđủvà chi tiếttừviệc xác định khái niệm, đặc điểm, các hình thức, thủ tục, điều kiện đối với tài
sản là quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng nhãn hiệu đem góp vốn…
Thứba,mộtsốcông trình nghiêncứuđã đánh giá được mộtsốthực trạng của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc điều chỉnh về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu. Luận án sẽ hệ thống hoá và đánh giá một cách toàn diện
28
hơn về khung pháp luật có liên quan trong việc điều chỉnh về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu.
Thứ tư, nghiêncứuvà xác địnhđược mộtsốvướngmắc, khó khăn trong quá trình áp dụng các quyđịnhđiềuchỉnhđốivớihoạtđộnggóp vốn bằng nhãn hiệu. Tuy vậy, cùng tươngtựnhưvấnđềđánh giávề thực trạng của pháp luật có liên quan về vấn đề này, các khó khăn và vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu chưađược hệ thống hoá và đánh giá một cách toàn diện dựa trên nền tảng lý luận về hoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệu, cũng như tham khảo kinh nghiệmtừmột số nước điển hình.
Dựatrên nhận xét chungvề tình hình nghiên cứu trên đây, NCS cho rằng liên quan đến đề tàicủaLuận án, vẫn còn nhiều vấn đề chưađược phân tích và luận giải một cách cụ thể và thấu đáo. Đó là:
– Vấn đề hệ thốnghóamộtcách đầyđủcác vấn đề lý luận liên quanđến hoạt động gópvốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam.
– Vấnđềnghiêncứuchuyên sâu và cụthểvềnhữngvấnđềpháp lýliên quanđến hoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệu như xác địnhquyền góp vốn, các hình thức góp vốn, điều kiện và vấn đề định giá tài sản góp vốn lànhãn hiệu; cũng như chưa có công trình phân tích chuyên sâu những ảnh hưởng trực tiếp của quy định pháp luật đối với hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu ở Việt Nam trong thời gian qua.
– Vấnđềđánh giá toàn diện thực trạng pháp luậtvềgópvốnbằng nhãn hiệu ở Việt Nam để từ đó xác định những khó khăn, vướng mắc cụ thểtrong quá trình thực thi của pháp luật, làm cơ sở cho những đề xuất liên quanđếncác kiến nghị và giải pháp mang tính toàn diện cho việc điềuchỉnh khung phápluật về vấn đề này.
29
– Vấn đề nghiên cứu cụ thể về kinh nghiệm của các nước, đặc biệt là những quốc gia có nền kinhtếchuyển đổi như Việt Nam liên quanđến vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu để từ đó tìm kiếm các giải pháp pháp lý hiệu quảnhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Đây là bốn (04) vấn đề còn bỏ ngỏ và cũng chính là nhiệm vụ mà Luận án này phải nghiên cứu, luận giải để làm rõ.Cụthể, cácvấnđềmà luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu bao gồm:
Thứ nhất, hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan đến nhãn hiệu vàgóp vốn bằng nhãn hiệu. Trên cơ sở khái niệm và đặc trưng của góp vốn bằng nhãn hiệu đã có, luận án bổ sung khái niệm, đặc trưng, vai trò của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu với tư cách là một hình thức góp vốn đặt trong mối quan hệgiữa quyềncủabên sở hữu nhãn hiệuvớipháp luậtvềtàisảntrên cơ sở đảm bảo tính minh bạch, thống nhất và hiệu quả.
Thứhai, phân tích và đánh giá sâusắchơn thực trạng pháp luật và thực tiễn vận hành của các quy định liên quan đến hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệuởViệt Nam hiện nay. Luận ánsẽ phân tích sâusắchơnhệthống quyđịnhcủapháp luậtvềgópvốnbằng nhãn hiệu như: Hình thức góp vốn, chủ thể, nhãn hiệu được góp vốn, hợp đồng góp vốn, thủ tục góp vốn, định giá, chấm dứt gópvốnvà xử lý nhãn hiệu khi chấm dứt góp vốn. Từ đó, luận án đánh giá thực trạng pháp luật và vấn đề thực thi pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu để chỉ ra những hạn chế, bất cập trong hệ thống pháp luật cũng như thực trạng áp dụng ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, luận ánđề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềgópvốnbằng nhãn hiệu nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trên cả phương diện lý luận và pháp luật thực định.
30
Thứba, nghiêncứuvà đánh giá về cácvấnđềpháp lýmớiliên quan đếnviệc gópvốnbằng nhãn hiệu. Luận ánđượcthực hiện trong bối cảnh Luậtsở hữutrítuệ2005, sửađổibổsung năm 2009,Bộluật Dânsựnăm 2015 Luật Doanh nghiệp năm 2020, LuậtĐầutư năm 2020đã bắtđầu phát sinh hiệu lực. Vì vậy, việc tiếp thu, kếthừa những quy địnhcủapháp luậtvềgópvốnbằng nhãn hiệutrướcđólàđặcbiệt quan trọngđểđềxuất xây dựng quy định hướng dẫnthi hành đảm bảo tính đồng bộ.
Thứtư, nghiêncứuvà tìm kiếm các giải pháp pháp lý hiệuquảtừkinh nghiệm của các nước để từ đó đưa ra những kiến nghị cho việc hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề góp vốn bằng nhãn hiệu.
1.2. Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu 1.2.1. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Các lý thuyết được áp dụng trong quá trình thực hiện đề tài như:
– Lý thuyết về tự do kinh doanh. Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền kinhtếcủa conngười[53], là lý thuyếtvề quyềntựdo kinh doanh với tính cách là một quyền cơbảncủa công dân được ghi nhận từ Hiến pháp 1992 đến Hiến pháp 2013 được ghi nhận, và đảm bảo thực thi thuộc trách nhiệm của nhà nước. Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh hướng đến việc đảm bảo quyền được tự do lựa chọn hình thức và phương thức đầu tư kinh doanh cụthể. Lý thuyết này được vận dụng để khẳng định quyền tham gia góp vốn bằng nhãn hiệu của các chủ thể cũng như quyền định giá nhãn hiệu.
– Lý thuyết về tự do hợp đồng. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bảnnhấtđiềuchỉnh quanhệ hợpđồng, là mộttrong nhữngbộphận cơ bản cấuthànhnộidung quyềntựdo kinh doanh. Lý thuyếtvềtựdohợpđồng cùng với những giới hạn của quyền tự do kinh doanh được sử dụng để nghiên cứucác nộidung liên quanđếnthoả thuậnvề việc gópvốnbằng nhãn hiệu của chủ thể quyền vào các công ty.
31
– Lý thuyếtvề thươngmạicân bằng và hợplý. Lý thuyết nàyhướngđến sự hợp tác đặttrên nền tảng đối thoại, minh bạch và tôn trọng, hướng đến cân bằng thương mại giữa các bên có liên quanđếnhoạt động góp vốn là bên góp vốn và bên nhận góp vốn trong quá trình góp vốn nhằmtạolậphoặc làm gia tăngvốnđiềulệ của doanh nghiệpđểphục vụhoạtđộngsảnxuất, kinh doanh. Lý thuyết nàyđược vận dụngđể giảiquyết các vấnđề liên quan đến hoạt động định giá nhãn hiệu khi góp vốn.
– Lý thuyết về quyềnsở hữu được vận dụng để luậngiải cho các vấn đề liên quanđếnviệc ràng buộc điềukiện dành chochủsở hữunhãn hiệu khi tham gia góp vốn, liên quanđếnviệc xáclậpquyềnsở hữudành cho doanh nghiệp đối với nhãn hiệu khi được góp vốn.
– Lý thuyết liên quanđếnquyềnsở hữutrítuệđốivớinhãn hiệu: Lýthuyết về tính thực dụng và giá trị kinh tế của nhãn hiệu. Quyền sở hữu trí tuệliên quan đến đối tượng nhãn hiệu được xem là phần thưởng hay động lực cho hoạt động phát minh – sáng tạo. Giá trị kinh tế của quyền này có thể chuyển giao hay chuyển nhượng chongườikhác.Đâyđược xem là cơ sở lý thuyết quan trọng chonềntảng các quyđịnhcủa pháp luậtvề gópvốnbằng nhãn hiệu tại Việt Nam, cũng như các quốc gia khác nhau trên thế giới.
– Lý thuyếtvềcông khai, minh bạch liên quanđếncác nộidung của quan hệ hợp đồng trong giao lưu dân sự. Lý thuyết nàyđược vận dụng để giải quyết các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu nhằmđảm bảosự công khai, minh bạch trong việc đăng ký tàisảnlà nhãn hiệu đemgóp vốn để hạnchế rủiro pháp lý, bảovệ được quyền, lợi ích của các bên có liên quan.
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
Câuhỏinghiêncứuchung: Pháp luậtvề gópvốnbằng nhãn hiệu bao gồm những nội dung nào? Khung pháp luật điềuchỉnh đối vớihoạt động góp
32
vốnnàyđã đảmbảođược nhucầucủa các chủthể có liên quan và yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế hiện nay hay không? Việc điều chỉnh, bổ sung khung pháp luật nàyđược dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nào? Cũng như dựa trên những kinh nghiệm nào của các nước.
Để giải quyết vấn đề này cần giảiquyết các câu hỏi sau:
Thứ nhất: Bản chất của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu là gì? Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động này hiện nay tại Việt Nam.
Thứhai: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu như thế nào khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền góp vốn, điềukiện thực hiện hoạtđộnggóp vốn, vấnđềđịnhgiá và thủtục
góp vốn…
Thứ ba: Giải pháp cơ bản nào để hoàn thiện các quy định của pháp luật vềgóp vốn bằng nhãn hiệu trong giai đoạn hiện nay liên quan đến quyền góp vốn,
điều kiện thực hiện hoạt động góp vốn, vấn đề định giá và thủ tục góp vốn…
Thứ tư: Thực tiễn hoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệutạimộtsốnước (điểnhình) trên thế giới như thế nào và đem lại những kinh nghiệmgì đối với thực tiễn hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu tại Việt Nam hiện nay liên quanđến quyền góp vốn, điều kiện thực hiện hoạt động góp vốn, vấn đề định giá và
thủ tục góp vốn…
Thứnăm, nhữngđịnhhướngvà giải pháp cơ bảnđể xây dựng, hoàn thiện pháp luậtvề gópvốnbằng nhãn hiệu trong LDN, LĐT, Luật SHTT vàcác nguồn luật khác có liên quan.
1.2.3. Giả thuyết nghiên cứu
– Gópvốnbằng nhãn hiệu là mộthành vi pháp lý do nhà đầutưchủđộng thực hiện nhằm hiện thực hoá quyền tự do kinh doanh của mình và hoạtđộngnàyđược Nhà nước và pháp luậtbảohộ, cũng nhưđảmbảoan toàn pháp lý. Tuy nhiên, vớiđặc điểmcủa loại tàisảnđem gópvốnlà nhãn hiệu
33
(quyềnsở hữuhoặc quyền sử dụng) –một loại tàisảnvô hình. Do đó, pháp luật điều chỉnh đối vớihoạt động này có sự khác biệt so với việc điều chỉnhđối vớihoạt động góp vốn bằng các loại tài sản khác.
– Quan hệ góp vốn bằng nhãn hiệu là quan hệ được pháp luật điều chỉnh nên các bên có quyền và nghĩa vụtheo pháp luật quy định. Hoạtđộngnàyđược điều chỉnh đồng thời bởi pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về sở hữu trí tuệ và các nguồn luật khác có liên quan như luậtđầutư, pháp luậtvề kế
toán, kiểm toán…Do đó, các vấnđề liên quanđếnhoạtđộngnày tươngđối phức tạp, mang tính đa ngành, đa lĩnh vực. Vì thế pháp luậtđiềuchỉnh về hoạtđộng này cần phải đảm bảo được tính thống nhất và đồng bộ.
34
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Trên cơ sở thống kê tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quanđến khung pháp luật điều chỉnh về hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu, có thểnhận thấy, pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu là một hình thức góp vốn phổ biến ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam trong giaiđoạn hiệnnay. Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu, bài viếtvề pháp luậtvề góp vốn bằng nhãn hiệu được công bố ngày càng nhiều cả trong và ngoài nước vớisựđa dạngtừcác công trình là giáo trình, tậpbài giảng, đếncác sách chuyên khảo, luận án, luận văn và các bài viết học thuật được công bố trong và ngoài nước. Trong đó, các tác giả đã bước đầulàm rõđược mộtsốvấnđề về lýluận, thực trạngcủapháp luật và nhữngvướngmắc, bấtcậpvà khó khăn trong thực tiễn thực thi các quyđịnhliên quanđếnhoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệu. Thông qua việc nghiên cứu đó, các tác giả cũng có những đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu.
Về lý luận, các công trình nghiên cứu, bài viết về pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu bướcđầuđưa ra khái niệm và các đặc trưng cơ bản của Pháp luậtvề gópvốnbằng nhãn hiệu. Tuy nhiên, các bài viết, công trình nghiên cứu mớichỉ cập đếnmột số vấnđề về lý luận mà chưa giải quyết, làm sâu sắc những vấn đề lý luận chung liên quan đến hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu như: Khái niệm,đặc điểm của pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu; các hình thức pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu; các yếu tố chi phối đến pháp luật vềgóp vốn bằng nhãn hiệu.
Vềthực trạng pháp luật, các công trình nghiên cứu, bài viếtđãphân tích nhữnghạnchế,bấtcậpcủapháp luậtvề gópvốnbằng nhãn hiệu. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá quy định pháp luậtvề gópvốnbằng nhãn hiệu trong từngđạo luật riêng biệt như: Luật
35
SHTT năm 2013,Bộ luậtDânsựnăm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014, LuậtĐầutư năm 2014, mà chưa đánh giá một cách toàn diện và có hệthốngvề khung pháp luậtđiềuchỉnhvề hoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệu. Thựctếcho thấy, thành viên thực hiện quyền về góp vốn bằng nhãn hiệu còn hạn chế so với những quyền khác. Điều nàyđặtra nhiệm vụ cần đánh giá một cách tổngthểvà toàn diệnvềthực trạng pháp luật vàvấnđề thực thi pháp luật trên thực tiễncủahoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệuđể tìm ra nguyên nhân của những hạn chế,bấtcập.
Những đề xuất, giải pháp hoàn thiện khung pháp luậtvề góp vốn bằng nhãn hiệuđượccác bài viết, công trình nghiêncứuđềcậpkhá nhiều nhưng tính hiệu quả chưa cao. Ngoài những hạn chế, bất cập của pháp luật còn những vướngmắc mới phát sinh trong thực thi pháp luật. Yêucầuđặtrađốivớihoàn thiện pháp luậtvề gópvốnbằng nhãn hiệu là phảiđảmbảo tínhđồngbộ,phù hợp với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung.
Từ việc đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoàinướctrướcđó,tác giả xácđịnh nhữngvấnđềmà luận ánsẽkế thừa và phát triển một cách sâusắcvà toàn diện hơn, cũng như nhữngvấnđềmà các công trình nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu mà còn bỏ ngõ và đó là những vấnđề cầnđượcNCS giải quyết trong Luận án. Trên cơsở đó, NCS xácđịnhcác nhiệmvụnghiêncứuliên quanđếncácvấnđềvềlý luận và thực trạng của khung pháp luậtđiềuchỉnhvề hoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệu cũng nhưđưa ra những kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềvấnđề này. Những nhiệmvụ này sẽ đượcgiải quyết một cách cụ thể và chi tiết ở Chương 2, Chương 3 và Chương 4 của Luận án.
Ngoài ra, để thực hiệnđược nhiệmvụnghiên cứu, NCS cũngđã xácđịnh các cơ sở cụthể của lý thuyết nghiên cứu của luậnán, từ đó đặtra câu
36
hỏi nghiên cứu tổng quát và các câu hỏi nghiêncứu cụthể liên quanđếnhoạtđộnggópvốnbằng nhãn hiệutạiViệt Nam hiện nay. Các câuhỏinàysẽđược NCS tiến hành trả lờivà luận giải trong các Chương 2, Chương 3 vàChương 4 của Luận án trên cơ sở giả thuyết nghiêncứu cụthể cũng đã được NCS xác định trong Chương này.
37
Chƣơng 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÃN HIỆU VÀ GÓPVỐN
BẰNG NHÃN HIỆU
2.1. Khái niệm về nhãn hiệu và góp vốn bằng nhãn hiệu 2.1.1. Khái niệm nhãn hiệu
Trên thế giới hiện nay, hầuhếttấtcả các mặthàng, sảnphẩm,từloại nhuyếuphẩm hằng ngàyđếncác loạiđược xếpvàosảnphẩm tiêuthụđặc biệt dù có giá trịcao hay thấpđềuđượckinh doanh và phân phối trênthịtrường dưới một nhãn hiệu riêng biệt. Nhãn hiệu từ đó trở thành yếu tố quan trọng giúp người tiêu dùng phân biệt cácsảnphẩm, dịch vụ và quyếtđịnh sựlựa chọn của mình đối với sản phẩm, dịch vụ trên thị trường.
Vănbảnpháp lýđầutiên trênthếgiớiđiềuchỉnhvềnhãn hiệuđược ban hànhbởiQuốc hộiAnhdướithời caitrịcủa Hoàngđế Hennry III năm 1266. Theo văn bản pháp lý này, tất cả những người làm bánh mì trong vương quốc Anh bị yêu cầu phải sử dụng nhãn hiệu riêng của họ cho các sản phẩm bánh mì trước khi bán chúng ra bên ngoài.
TạiHoa Kỳ, hệ thống bảo hộ nhãn hiệu bao gồm hai cấp độ: Liên bang và tiểu bang. Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Liên Bang (“a federal trademark registration”) sẽ được điều chỉnh theoĐạo LuậtLanham. Nhãn hiệu hàng hóađược Đạoluật Lanham định nghĩa như sau: “Thuật ngữ “nhãn hiệu” bao gồm bấtkỳtừ, tên, biểu tượng, hoặc hình ảnh, hoặc bấtkỳsựkếthợpnào của chúng đangđược mộtngườisửdụng hoặc cóýđịnhsửdụng trong thương mạivà tiến hành nộp đơn đăng ký nhằm xác định và phân biệt hàng hoá của mìnhtừnhững hàng hóa được sảnxuất hoặc được bánbởingườikhác vànhằmđể chỉra nguồngốccủa hàng hóa, ngaycả khi nguồn gốc của chúng chưa đượcbiết đến”. Như vậy, theo qui định của pháp luật Hoa Kỳ, nhãn hiệu
38
nói chung sẽ được hiểu là bất kỳ từ, tên, biểu tượng, hoặc hình ảnh, hoặc bất kỳ sự kết hợpnào của chúng đang được một người sử dụng hoặc có ý định sửdụng trong thương mại và tiến hành nộp đơn đăng ký nhằm xác định và phân biệt hàng hoá/dịch vụ của mình từ những hàng hóa/dịch vụ của người khác vànhằm đểchỉ ra nguồn gốc của hàng hóa/dịch vụ đó.
Địnhnghĩa nàykếthợphai chức năng khác nhau của nhãn hiệu:thứnhất, chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá, và thứ hai, phân biệt hàng hoá của chủthể nàyvớihàng hoá của chủthể khác. Hoa Kỳcũng quyđịnhcho các dấu
hiệudễ dàng nhận ra nhưtừngữ, tên gọi, biểu tượng, khẩuhiệu… là nhãn hiệu theo truyền thống thông thường. Tuy nhiên, dần dần, Hoa Kỳđã mở rộng bảovệ các loại nhãn hiệu khôngdễ dàngđược nhận ra, chẳnghạnnhư hình
dạng sản phẩm, mầu sắc, âm thanh, mùi thơm… Mục 1052 đạo luật Lanham quy định một nhãn hiệusẽ được đăng ký vàoHệ thống đăng ký gốc nếu nó cókhả năng phân biệt hàng hoá của chủ thể nàyvớihàng hoá của chủ thể khác trừkhi nó bị ngăn cấm bởi các quy định của pháp luật: “Không có nhãn hiệu nào mà hàng hoácủangườinộpđơncókhảnăng phân biệt hàng hoácủanhững
người khác lại bị từ chối đăng ký vào hệ thống đăng bạ gốc, trừ…”. Như vậy, theo tinh thần của điều luật, bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt không rơi vào các trường hợp bị từ chối đều có thể được đăng ký là nhãn hiệu [32].
Nhãn hiệu theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) là “Dấuhiệu dùngđể phân biệt hàng hóa hoặc dịchvụcủadoanh nghiệp công nghiệp hoặc thươngmạihoặc của mộtnhóm các doanh nghiệpđó. Dấuhiệu này có thể là mộthoặc nhiềutừngữ, chữ, số, hình, hình ảnh, biểu tượng, màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bàyđặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm. Dấu hiệu này cóthể là sự kếthợp của nhiều yếu tố nói trên. Nhãn hiệu chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệuđó sử dụng
39
hoặc nhãn hiệuđókhôngđược trùng hoặc tươngtựđếnmức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm.”
Định nghĩa tương tự về nhãn hiệu còn được thể hiện trong Hiệp định vềcác khía cạnh liên quan tới thương mại của quyềnsở hữu trí tuệ (Được viếttắt là HiệpđịnhTRIPS);cụthể tạiKhoản 1Điều15 của HiệpđịnhTRIPS quyđịnh: “Bấtkỳ mộtdấuhiệuhoặc tổ hợpcác dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịchvụcủa một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịchvụcủa các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệuđó, đặc biệt là các từ, kể cảtên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếutốhình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa. Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các thành viên cóthểquy địnhrằngkhảnăngđược đăng ký phụthuộc vào tính phân biệtđạtđược thông qua việc sử dụng. Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải nhìn thấy được.”(Điều 15 khoản 1 mục 2 của hiệp định TRIPS).
Trong HiệpđịnhThươngmạiViệt Nam và Hoa kỳ, tạikhoản 1Điều6đưa ra khái niệm nhãn hiệu hàng hoá thông qua việc xác định các yếutố cấu thành. Theo đó, nhãn hiệu hàng hoá đượccấuthành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợpbất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người vớihàng hoá hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữcái, chữsố, tổhợpmầusắc, các yếutốhình hoặc hình dạng của hàng hoá hoặc hình dạng của bao bì hàng hoá.
Như vậy, có thể nhận thấy hiện nay đang tồn tại nhiều cách hiểu tươngđốikhác nhauvề nhãn hiệu, songhầuhếtcác cách hiểu nàyđềuthống nhất với nhau ở một điểm quan trọng rằng nhãn hiệu là bất kỳ một dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một chủ thể với hàng hóa hoặc dịch
40
vụ của các chủ thể khác. Các dấu hiệu đó có thể là cáctừ, kể cả tênriêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bấtkỳcác màusắcđó hoặc là cácyếutố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa(Điều6 khoản 1 Hiệpđịnhthương mại Việt Nam và Hoa Kỳ), những dấu hiệu gắn liền với hàng hóa, dịch vụ và dùngđể phân biệt hàng hóa, dịchvụcủa mộtchủthể nhấtđịnhvớicác chủthểkhác. Do đó, có thể kếtluận rằng các dấuhiệuđược bảohộdướihình thức nhãn hiệu theo pháp luật quốc tế rấtrộng, baogồmcả dấuhiệu có thể nhìn thấyđược hoặc các dấuhiệu không nhìn thấy được nhưng có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các chủ thể khác nhau.
Nhữngdấuhiệu như thế sẽ làđặc điểmđầutiên cho phépngườitiêu dùng nhận diện được các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được đại diện bởi dấu hiệu. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là làm thế nàođể xácđịnh những dấu hiệu đó. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), nhãnhiệu được hiểu làmột dấuhiệu có tính phân biệt giúp xác định những hàng hóa hay dịch vụ nàođó được sản xuất hay cung cấp bởi một cá nhân hay một công ty cụ thể. Cách hiểu nàybắtnguồntừthời xa xưa, khi mà nhữngngườithợ thủcông đã môphỏnglạichữký hay“nhãnhiệu” của họtrêncả nhữngsảnphẩm gia dụng hay những tác phẩm nghệ thuật. Trải qua một thời gian dài, những chữ ký môphỏng hay những nhãn hiệu thô sơ như thế đã “tiếnhóa” thành những nhãn hiệu hiệnđạitrong các hệ thống đăng ký và bảohộnhãn hiệu của chúng ta ngày nay. Những hệ thống này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp người tiêu dùng xác định đúng và chọn mua những sản phẩm hay dịchvụ bởi vì bản chất và giá trị của nó, được chỉ ra bởi một nhãn hiệu duy nhất, đáp ứng các nhu cầu của họ [93].
Tóm lại, ở góc độ chung nhất, nhãn hiệucó thể được hiểu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể nhận biết được bao gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu
41
tượng, thiết kế, hình vẽ haybấtkỳ sự kếthợp nào của chúng, và kiểu dáng hay bao bì hàng hóa được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng trong thương mạiđể xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác. Tuy nhiên, mỗi quốc gia khác nhauđềucóthể đưa ra những yêucầukhác nhau theo quyđịnhcủa pháp luật của quốc gia mình.
TạiViệt Nam, sovớilịchsửhình thành và phát triển của pháp luật nhãn hiệu Hoa Kỳ, lịch sử pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung vàbảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng của Việt Nam chưa dài. Vănbảnpháp luậtđầutiêncủaViệt Nam chính thức quiđịnhvềnhãn hiệu và bảohộnhãn hiệu là Nghịđịnhsố175-TTg ngày 03 tháng 04 năm 1958 quyđịnhvề Thể lệ dùng nhãn hiệu Thương phẩm (sauđâyđược viết tắt là “Nghị định số 175-TTg”). Sau ngày Việt Nam thống nhấtđấtnước, các vănbảnpháp luật quiđịnhvề nhãn hiệu chính thức bịbãibỏbởiNghịđịnh số 197/HĐBT ngày 14 tháng 12 năm 1982 của Hội đồng Bộ Trưởng Ban hành điều lệ về nhãn hiệu (sau đây được viết tắt là “Nghị định số197/HĐBT”). Mặc dù các vấnđề về bảo hộ nhãnhiệu đã được qui định chính thức nhưng các văn bản pháp luậtđếntrước năm 1989chỉ được tồn tạitheo hình thức nghị định và các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn.
Đếnthờiđiểmnày, theo Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam công bố các điềuước quốc tế quan trọng qui định về nhãn hiệu mà Việt Nam đã là thành viên bao gồm: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (“Công ước Paris”), Thoả ước Madridvềđăng ký quốc tế nhãn hiệu(“Thỏa ước Madrid”), Nghịđịnh thư liên quan đến Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãnhiệu (“Nghịđịnh thư Madrid”), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyềnsở hữu trí tuệ (“Hiệpđịnh TRIPS”) và Hiệp định thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2000.
42
Từnhững camkếttrong các Điềuước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cũng như dựa trên thông lệ chung của quốc tế, khái niệm về nhãn hiệu nói riêng và các vấnđề về quyềnSHTT nói chung lần đầu tiênđược luật hóa vào Bộ luật Dân sự 1995 và sau này được kế thừa trong Bộ Luật dân sự 2005. Cụthể,tạiĐiều785Bộluật dânsự2005 quy định “Nhãn hiệu hàng hóa lànhững dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơsởsảnxuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể làtừ ngữ, hìnhảnhhoặc sự kếthợpcác yếutốđóđược thể hiện bằngmộthoặc nhiều màu sắc“. Khi thay thế bằng BLDS 2005, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa không còn được ghi nhận trực tiếp vàoBộluật mới mà khái niệm chi tiết được thể hiện trong nguồn luật chuyên ngành là Luật SHTT 2005 nhưngđã thay khái niệm nhãn hiệu hàng hoá bằng khái niệm chung nhất về nhãn hiệu. Khoản 16Điều4 của đạoluật này quy định: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịchvụcủa các tổ chức, cá nhân khác nhau“. Trong đó, nhãn hiệu bao gồm cả nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ. Tuy nhiên, không phải bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt cũng có thể trở thành nhãn hiệu vì điều kiện chungđốivớinhãn hiệuđược bảohộđược quyđịnhtạiĐiều72 Luật SHTT như sau:
1- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hìnhảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sựkếthợpcác yếutốđó, đượcthể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
2- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác”.
Như vậy, một nhãn hiệu cóthể được bảo hộ nếu đáp ứng được haiđiều kiện. Thứnhất, dấuhiệu phải“nhìnthấyđược”. Quyđịnhnàyhẹphơn quyđịnh của TRIPs “bấtkỳ dấuhiệu nào”. Điềunày có nghĩa rằng, các dấu hiệu
như âm thanh, mùi vị… không thể được đăng ký là nhãn hiệu theo quy định
43
của pháp luật SHTT Việt Nam. Thứ hai, “khả năng phân biệt” là điều kiện bắt buộc của nhãn hiệu. Đâycũng là chức năng chính của nhãn hiệu. Đặc điểm này là đặc điểmchung của nhãn hiệu và do đó, nó giốngvớicác điềuước quốc tế cũng như luật về nhãn hiệu của các nước trên thế giới [32].
Như vậy, ngay bản thân các quy định trong Luật SHTT đã dẫn đến sựhiểu chưa thống nhất giữa quy định tại Điều 4, khoản 16 và Điều 72. Nếu theo quy định tại Điều 4 Luật SHTT (giải thích từ ngữ) thì sẽ bị hiểu rằng dấu hiệu chỉ cần đáp ứng chức năng phân biệt là đủ để được đăng ký nhãn hiệu, trong khiĐiều72chỉchấp nhận các dấuhiệu nhìn thấyđược.Nghiêncứukinh nghiệm các nước và thônglệchung quốctếcho thấychỉquyđịnhcác dấu hiệu có khả năng phân biệt được qua cả các giác quan khác nhau chứ không chỉ giới hạn khả năng nhìn thấy được của các dấu hiệu thông qua thị giác. Bởi vì, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, các công tynước ngoài vào Việt Nam đầu tư ngày càng nhiều và như vậy, số lượng đơnđề nghịbảo hộ nhãn hiệu ngày càng tăng. Đó là chưa kể khi trình độ dân trí càng cao thì khả năng xuất hiện những nhân tố mới là rất có thể. Ví dụ như vấn đề bảo
hộ nhãn hiệu đối với dấu hiệu là âm thanh, nhãn hiệu mùi…như quy định tại
Điều18.18 của CPTPP…Do đó, NCS đềxuất xây dựngmộtkhái niệmvềnhãn hiệu trong Luật SHTT Việt Nam như sau:
“Nhãn hiệu làbấtkỳdấuhiệu nào cókhảnăng phân biệt hàng hoá, dịchvụcủacác chủthểkhác nhau không thuộc các trườnghợpbịtừchối đăng ký”.
2.1.2. Khái niệm góp vốn và góp vốn bằng nhãn hiệu 2.1.2.1. Khái niệm về góp vốn
Để hiểu về khái niệm góp vốn và góp vốn bằng nhãn hiệu là gì, trước hếtcần làm rõ khái niệm về vốn. Theo Từ điển tiếng Việt, vốn là tổng thể nói
44
chung những tài sản bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất kinh doanh [41]. Vốncóvịtrí quan trọng trongnềnkinh tế, vì thế các quốc gia trên thế giớiđềucó những biện pháp nhằm thu hútvốnđầutư vào sảnxuất, kinh doanh. Trongnềnkinhtế thịtrường, vốnđược quan niệm làtoànbộnhững giá trịứngra lúc banđầuvà các quá trìnhsảnxuất tiếp theo của doanh nghiệp. Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyếtđịnh tới mọi khâu trong quá trình sản xuất, kinh doanh [56, tr.29].
Như vậy, có thể nhận thấy,vốnlà tiềnđề chosựra đờicủa doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào (ngoạitrừdoanh nghiệp tư nhân) muốn hoạt động hợp pháp cũng phải đăng ký vốn điều lệ nộp cùng hồ sơ xin đăng ký kinh doanh. “Vốn điều lệ theo pháp luật được hiểu là tổng giá trị tài sản do các thành viênđã góp hoặc camkếtgóp khi thànhlậpcông ty trách nhiệm hữu hạn, công tyhợpdanh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phầnđã bán hoặc đãđược đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần” [51, khoản 29 Điều 4]. Vốn điều lệ được đưa ra theo ý chí chủ quan của các thành viên tham gia góp vốn, nhưngýchíchủquan nàylạilà sựphản ánh khách quan vì một công tycầnvốn điều lệ là bao nhiêu phụ thuộc vào ngành nghềkinh doanh, khả năng tài chính của các thành viên tham gia góp vốn, khả năng vaynợ sau khi công tyđược thành lập. Vốnđầutư banđầunàysẽ là một trong những cơ sở quan trọngđể cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét liệu doanh nghiệp có tồn tại trong tương lai được không và trên cơ sở đó, sẽcấphay không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Pháp luật các nước
(hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa) thường quyđịnh vốntốithiểu phải cóđể thànhlậpdoanh nghiệpđốivớitừng ngành, nghề gọilà vốnpháp định. Khoản 7Điều4 LDN năm 2015 cũng quyđịnh”Vốnphápđịnhlà mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp“.
45
Đốivớicác doanh nghiệp, vốnđiềulệsẽ là nềnmóng cho doanh nghiệpđặtnhững viên gạchđầutiên chosựhình thành và phát triển của doanh nghiệp. Nếunềnmóng vững chắc, vốnđiềulệ cànglớnthì doanh nghiệp càng có cơ hộiphát triển. Nếunềnmóng yếu, vốnđiềulệ thấp thìdoanh nghiệp phải đấu tranh với sự tồn tại của mình trên thị trường và vớisựcạnh tranh khốc liệt của cơ chếthịtrường, dễ rơi vào tình trạng phásảndo ảnhhưởngđếnkhả năng thanh toán. Nói tóm lại, vốnlà lượngtiềnđạidiện choyếutốđầuvào của doanh nghiệp, là biểu hiện bằng tiền của toànbộtài sảncủa doanh nghiệp được sử dụng vào hoạtđộng sản xuấtkinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp có thể là vốn hữu hình baogồmtiền, các loại giấytờ có giá và những tàisảnbiểu hiện bằng hiện vật khác như đất đai, nhà xưởng hoặc là vốn vô hình là giá trị những tài sảnvô hình như: vị trí địa lý của doanh nghiệp, bí quyết và công nghệ chế tạo
sảnphẩm, mức độuy tín của nhãn hiệusảnphẩm trênthịtrường… Vì thế, pháp luật cho phép các thành viên có thể góp vốn bằng tiền, vật tư, máy móc, thiết bị, nhà xưởng và cả bí quyết kỹ thuật hoặc khả năng uy tín kinh doanh,
quyềnsở hữutrítuệ,… Tấtnhiên, khi góp vốn, những tàisảnđóphảiđược lượng hóa để quy về một cùng giá trị nhất định.
Vớinhững phân tích về khái niệmvà đặc điểmcủa vốn, vậy góp vốn làgì? Có thể nhận thấy, thực tiễn, góp vốn thường được hiểu là việc một ngườiđưatiền bạc hay tài sản vàomộthoạtđộngkinh doanh và mong muốn nhậnđược lợiíchtừhoạtđộngđó.Đâyđược xem là mộttrong những hình thức tíchtụvốnbằng nguồnnộilực hoặc ngoại lực, tức là hoạtđộnghuyđộng thêmvốntừcác chủsở hữuhiện hành hoặc huyđộngcác chủsở hữukhác tham gia đóng góp vốn vào công ty [8, tr.43]. Cụ thể hơn, góp vốn có thể hiểu là việc nhà đầu tư đưa tàisảndướicác hình thức khác nhau vào doanh nghiệpđể trở thànhchủsở hữu hoặc đồngchủ sở hữu doanh nghiệp [41]. Điềunày
46
xuất pháttừthực tế, vốnlà điềukiện không thể thiếuđể mộtdoanh nghiệpđược thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tự chủ và tùy thuộc vào hình thức sở hữu doanh nghiệp mà quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng trong mức độcho phép. Trên bình diện tài chính, mỗi doanh nghiệp tự tìm kiếm nguồn vốn trên thị trường và tự chủ trong việc sử dụng vốn. Nhu cầu về vốn của doanh nghiệpđược thể hiệnở khâu thành lập doanh nghiệp, trong chu kì kinh doanh và khi mở rộng đầu tư kinh doanh. Giai đoạn nào doanh nghiệp cũng có nhu cầuvề vốn. Do đó, hoạt động góp vốn của các chủ thể vào các doanh nghiệp có thể được thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động này đã trở thành quyền được luật hóa tại khoản 13điều 4 LDN 2014 và sau này là khoản 18 Điều 4 LDN 2020 bằng khái niệm:
“Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốnbaogồmgópvốnđể thànhlậpcông ty hoặc góp thêmvốnđiềulệ của công ty đã được thành lập”.
2.1.2.2. Khái niệm góp vốn bằng nhãn hiệu
Về vấnđề gópvốnbằng nhãn hiệu, nhìn chung, hiện nay pháp luật của các nước đềughi nhận nhãn hiệu là tàisảnhợppháp và được nhà nước bảo hộ, chủ sở hữu được quyềnsử dụng nhãn hiệu đi gópvốntrong hoạt độngđầu tư, kinh doanh. Tài sản gópvốncó thể là tài sản hữu hình hay tài sản vôhình (trong đó, gồm cả nhãn hiệu) đều phải có giá trị và được phép lưu thông trong các giao dịch dân sự.
Ngoài ra, điềukiện quan trọng mà cả bên gópvốnlẫndoanh nghiệp nhận góp vốn phải đáp ứng đó là cả hai bên đều là chủ thể được phép sở hữu tài sản gópvốnđó. Bên cạnh đó, theo quyđịnhcủa pháp luật, cá nhân, tổchức là bên góp vốn phảilà chủ sở hữu hợppháp đối với các quyền nói trên mớicó quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn. Tức là, khi đem nhãn hiệu
47
góp vốn, nhãn hiệu đó phải thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của thành viên tham gia góp vốn. Nếu nhãn hiệu góp vốn là tài sản thuộc sở hữu chung của thành viên tham gia gópvốnvớicácchủsở hữukhác thì phải có thỏa thuận của các chủ sở hữu chung.
Nhìn chung, xét trên phương diện kinh tế, gópvốnbằng nhãn hiệu đã tạora tàisảncho doanh nghiệp nhằmđảm bảocho hoạtđộng sảnxuất, kinh doanh. Khi gópvốnbằng nhãn hiệu vào doanh nghiệp, tàisảnnàyđược chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng từ thành viên góp vốn sang doanh nghiệp. Việc dịch chuyển quyền sở hữu, sử dụng tàisảnthông qua hợp đồng góp vốn, hợp đồng thành lập công ty. Bằng hành vi góp vốn, các thành viên đã tạo ra tàisảncho doanh nghiệp và đổilạiquyềnlợicủa mình trong doanh nghiệp. Những quyềnlợinàyđược xác địnhtheo quyđịnhcủa pháp luật và điềulệdoanh nghiệp. Có thể thấy rằng, góp vốn bằng nhãn hiệu là việc nhiều người cùng góp nguồn lực của mình (giá trịcủatàisảnvô hình là giá trịquyềnsửdụng nhãnhiệu) để tạonên nguồn lực chung lớn hơn nhằm thực hiện ý tưởng kinh doanh [56, tr.30].
Bên cạnh đó, trên phương diện pháp lý, góp vốn bằng nhãn hiệuđược xem là hành vi pháp lý liên quanđếnviệc chuyển giao nhãn hiệu (quyềnsởhữu, quyền sử dụng nhãn hiệu), nói cách khác đó là hành vi chuyển các quyềnđốivớitàisảnvô hình là nhãn hiệu trở thànhvốngópđể chủsở hữunhãn hiệu có thể trở thànhchủsở hữucông ty. Nghĩavụđốiứnggiữa ngườigóp vốn thành lập công ty hoặc góp vốn vào công ty đã thành lập với chính công ty được thành lập hoặc nhận góp vốn khác với nghĩa vụ đối ứng giữa các bên trong quan hệ mua bán hay cho thuê ở chỗ quyền lợi mà người bỏ tiền ra nhận lạilà một thứ đặc quyền đó là quyền sở hữu công ty. Hành vi góp vốn đổi lấy quyền lợi cũng khác với hành vi mua bán hay hành vi cho thuê tài sản ở chỗkhi chuyển giao quyền sở hữu tài sản hay quyềnsửdụng tài sản cho công ty,
48
thì người góp vốn không nhận được bất kể khoản tiền nào từ việc chuyển giaođó mà chỉ nhận lại được là một thứ quyềnđặc biệtđó là quyền sở hữu, quyền lợicông ty. Quyềnlợinày có thể chuyểnđổithành tiền, tuy nhiên cònphụthuộc vào từng hình thức công ty và quy chế riêng có thể có. Quyềnsở hữu
công ty này là quyềnsở hữu một phầntài sản của công ty tương ứng vớitỷ lệ gópvốnvà sốcổphần mà ngườiđónắmgiữ. Như vậy, việc gópvốnthành
lậpcông ty có nét giốngvớisựtraođổitàisảngiữa haichủthể, trongđóngười góp vốnbỏra tài sản và nhận lại quyềnlợi từcông ty. Đặc biệt trong công ty cổ phần thì các cổ phần không phải là một vật xác định hay quyền lợi gắnvớivậtđómà ngườisở hữuđượcthừa hưởng.Cổphần thực chấtchỉlà mộttờ giấy nhưng nó ghi nhận quyền tàisảnquan trọng ràng buộc giữa cổđông và công ty, đó là quyền quản lý và quyền thu lợi từ lợi tức của công ty. Như vậy, cổ phần luôn luôn gắn với công ty, có giá trị thay đổi theo tình hình tài chínhcủacông ty và khi công ty không còntồntạithì quyền tàisảnnày cũng sẽ mất đi [4, tr.27-28].
Từnhững nghiêncứuvà phân tích trên, NCS cóthểđưara khái niệm góp vốn bằng nhãn hiệu như sau:
“Góp vốn bằng nhãn hiệu là hành vi pháp lý mà theo đó người góp vốn là chủ sở hữu hoặc người có quyền sử dụng nhãn hiệu chuyển giao quyền sởhữuhoặc quyềnsử dụng nhãn hiệucủamình chongườikinh doanh (doanh nghiệp) để đổi lại những quyền và lợi ích phát sinh từ việc góp vốn”.
2.1.3. Đặc điểm của hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN BẰNG NHÃN HIỆU

