Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu

Thông tin là“tài sản”quan trọng, quý giá đối với mỗi tổ chức, cá nhân. Xã hội ngày càng phát triển, các yêu cầu được bảo đảm bí mật (bảo mật) thông tin của con người ngày càng được coi trọng, đặc biệt trong các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng (HĐNH) nói riêng bởi các giao dịch của khách hàng tại các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài (CNNHNNg)1 phản ánh trực tiếp nhu cầu, lối sống, sở thích cá nhân, hội nhóm mà họ là thành viên,những vấn đềliên quan đến hoạt

động tài chính,đến quá trình hoạt động, sản xuất, kinh doanhcủakhách hàng…Các thông tin riêng tư, cá biệt nàycủakhách hàng đượcTCTD thu thập và lưu giữnhằm phục vụhoạt động kinh doanh của mình. Với tư cách là một bên trong quan hệ pháp luật, khi TCTD yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin đểphục vụcho hoạt động kinh doanh của mình, phải có nghĩa vụbảo đảm bímật thông tin khách hàng mà họcó được,đây là nghĩa vụ mà TCTD cần triệt để tuân thủ.

Tại Việt Nam, thời gian qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của của khoa học công nghệ và truyền thông, nhiều dịch vụ ngân hàngmới đãđược triển khai, đang dầnđi vào cuộc sống, phù hợp với xu thế thanh toán của các nước trong khu vực và trên thếgiới. Sự phát triển các dịch vụ đó làm cho các hành vi khai thác thông tin cũng tinh vi hơn, các nguy cơ xâm phạm bí mật thông tin của khách hàng trong HĐNH càng trở nên phổ biến và đedọađến việc bảo mật thông tin khách hàng.Sốliệu thống kêvềvấn đềbảo mật thông tin của Tổ chức chứng nhận TÜVRheinland Việt Nam cho thấy, mỗi năm có trên 30.000 mật khẩu của các tài khoản Internet bị công bố trên mạng và 30.0000 sốtài khoản tín dụng cá nhân bị trộm, mộtsố bị công bốtrên Web.2 Thực tiễn HĐNH cho thấy ngày càng nhiều khách hàng của các TCTD “bỗng dưng” mất tiền trong tài khoản

1 Theo quy định của Luật các TCTD năm 2010, hoạt động ngân hàng được thực hiện bởi các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Giấy phép thành lập và hoạt động (Điều 8 Luật các TCTD năm 2010).

Do đó, luận án sẽsửdụng thuật ngữ TCTD để thay thế cho cụm từ TCTD, CNNHNNg. Tất nhiên, đây là nghĩa vụchung của các TCTD. Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, tác giảchỉnghiên cứu nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng của các ngân hàng thương mại

2– Lê Hiệp, Bảo mật thông tin: Chuyện sống còn của doanh nghiệp, < http://vneconomy.vn/cuoc-song-so/bao-mat- thong-tin-chuyen-song-con-cua-doanh-nghiep-64737.htm>, truy cập ngày 15/6/2015

– Xem thêm bài viết: Trúc Dân, Nhân viên ngân hàng bán thông tin khách hàng, <http://vietbao.vn/An-ninh- Phap-luat/Nhan-vien-ngan-hang-ban-thong-tin-khach-hang/65636353/218/>, truy cập ngày 15/6/2015

`

2

làm cho khách hàng của các TCTD lo lắng và đặt ra các nghi ngờ về mức độ an ninh, sựbảo mật thông tin của khách hàng khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng của TCTD.

Nhận thứcđượcvịtrí,tầmquan trọng củaviệc bảo mật thông tin khách hàng, Luật cácTổchức tín dụng (Luật các TCTD) Việt Nam xácđịnhđâylà nghĩavụmàTCTDphải triệt đểtuân thủ, là một trong những tiêu chí xác định mức độ bảo đảm an toàn trong cungứng dịch vụngân hàng. Trường hợp TCTD không thực hiện nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng thì có thểbịtạm ngừng hoạt động.3 Nói cách khác, bảo mậtthông tin khách hàng đãđượcLuật các TCTD quyđịnhvà Ngân hàng nhànước (NHNN) Việt Nam cũng đã có những hướng dẫn làm cơ sở cho TCTD cụthểhóa trong thực tiễn hoạt động. Tuy nhiên, trước biến đổi nhanh của tình hình thực tếvềtính đan xen, phức tạp của các quan hệ liên quan đến lĩnh vực tín dụng, ngân hàng; sự phát triển của công nghệ thông tin; hiệu quả quản trịnội bộcủa TCTD; yêu cầu về quản lý nhànước vàvềsựđồng bộ, thống nhất, khả thi trong thực thi pháp luật vềbảo đảm bímật thông tin khách hàng trong HĐNH cần được nghiên cứu hoàn thiện. Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn chủđề“Pháp luật vềbảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàngởViệt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu

Các mục đích nghiên cứu của Luận án“Pháp luật vềbảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàngở Việt Nam”bao gồm:

– Làm sáng tỏnhững vấn đềlý luận của pháp luật vềbảo đảm bí mậtthông tin khách hàng trong HĐNH.

– Phân tích, so sánh, đối chiếu pháp luật Việt Nam với pháp luật của một sốnước trên thế giớivềnhững vấn đềpháp lý có liên quan đến việc bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH.

– Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật vềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam.

3 Điểm b Khoản 9 Điều 28 Nghịđịnh số88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định vềxửphạt vi phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

`

3

– Nghiên cứuđềxuất phương hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật vàbảo đảmthực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Đểđạt đượccác mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Thứnhất, phân tích, đánh giácó hệthống những công trình nghiên cứu trong vàngoài nước có liên quan đến pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNH làm cơ sở cho việc tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu đãđạt được, đồng thời tiếp tục nghiên cứu phát triển những vấn đề lý luận của pháp luật vềbảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNH.

Thứhai, làm rõ khái niệm, đặc điểm thông tin khách hàng; phân tích cơ sở hình thành, phát sinh và bản chất của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng; phân tích phạm vi, nguyên tắc, giới hạn nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng; làm rõ nội hàm khái niệm thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trên các khía cạnh: chủthểthực thi, phương thức thực thi, các biện pháp thúcđẩyviệc thực thi pháp luậtvềbảomật thông tin khách hàng trong HĐNH; phân tích sự cần thiết phải bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH.

Thứba, phân tích, so sánh, đánh giá những quy định pháp luật liên quan đến nghĩa vụbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam với một số nước trên thế giớiđểlàm rõ những ưu điểm, bất cập trong các qui định hiện hànhvềđiều chỉnh pháp luậtđối với hoạt động bảo mật thông tin của khách hàng trong HĐNHởViệt Nam vàđềxuất các kiến nghị hoàn thiện.

Thứtư, phân tích, đánh giá thực trạng thực thi pháp luậtvềbảomật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam nhằm phát hiện những hạn chế, bất cập; những khó khăn, vướng mắcđểtừđó xác định phương hướng cơ bản của việc hoàn thiện,đềxuất nhóm giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luậtvềbảomật thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTD.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là:

`

4

-Cơ sởlý luận ghi nhận nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động của các TCTDởViệt Nam cũng như trên thế giới.

– Các quy định của pháp luật Việt Nam vàmột sốnước trên thế giớivềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH.

– Thực tiễn thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTD.

-Định hướng chiến lượcphát triển thị trường ngân hàng theo hướng minh bạch, hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế của Nhà nước.

Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam
Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Bí mật thông tin trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm bí mật quốc gia trong ngành ngân hàng, bí mật kinh doanh ngân hàng, bí mật thông tin liên quan đến khách hàng. Trong khuôn khổ luận án này, tác giả tâp trung nghiên cứu quy định pháp luật vềbảođảm bí mật thông tin của khách hàng trong HĐNH của TCTD.

Khái niệm HĐNH trong luận án được sử dụng đồng nghĩa với quy định của Luật các TCTD năm 2010, nghĩa là, luận án nghiên cứu hoạt độngbảođảm bí mật thông tin khách hàng trong các hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cungứng dịch vụthanh toán qua tài khoản của các TCTD. Đồng thời, tác giả của luận án chỉ nghiên cứu pháp luật vềbảo đảm bí mật thông tin khách hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam mà không nghiên cứu pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng của các TCTD khác như ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã, TCTD phi ngân hàng,tổchức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân.

Những vấn đềliên quan đến hợp tácquốc tếtrong ngăn chặn rửa tiền, trốn thuế, tài trợ khủngbốcũng sẽ được xem xét/ đề cập trong luận án này. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn trong việc xem xét các tác động của vấn đề trên đối với nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng. Luận án sẽ không đềcập đến các vấn đềtài chính, kinh tế liên quan đến các vấn đề trên.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học:

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề lý luận của pháp luật vềbảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNH. Điều này thể hiện trên các khía cạnh:

`

5

– Phân tích và làm rõcơ sởhình thành, bản chất, phạm vi, nguyên tắc, các giới hạncủanghĩavụbảo mật thông tin khách hàng của TCTD.Kết quảnghiên cứu này tạo lập cơ sởkhoa học cho việc xác định nội dung cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luậtđối với nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng để làm giảm thiểu tình trạng lạm dụng các giới hạn này để tiết lộ/ cung cấp hoặc không làm hết/ làm tốt nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động kinh doanh của TCTD.

-Chỉrađượcsựcần thiết phải bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của TCTD. Các nghiên cứu này giúp củng cố và làm rõ hơn nhưng luận điểm, các kết luận khoa học được đềcập và làm rõ trong luận án.

– Phân tích, so sánh, đánh giá những quy định pháp luật liên quan đến giới hạn của nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam với một sốnước trên thế giới, từ đó làm rõ được điểm tương đồng, khác biệt và nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt. Kếtquảnghiên cứu so sánhđó sẽgiúp hiểu rõ hơn vềcơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng của TCTD trong pháp luật các nước.

– Đánh giá thực trạng thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam,đểtừđó có những kiến nghị cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật vềbảomật thông tin khách hàng thông qua các luận cứ khoahọc. Đềxuất các giải pháp bảo đảm thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam từ những bất cập, hạn chế được chỉ ra khi nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của TCTD ở Việt Nam.

Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quảnghiên cứu của đề tài có ý nghĩa cho các nhà làm luật tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng đóng góp các ýkiến đểcác TCTD và các chủthểliên quan nâng cao ý thức và trách nhiệm trong việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam.

5. Những điểm mới của luận án

Tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, đề tài đã nghiên cứu, phân tích và có một số điểm mới cơ bản như sau:

Thứnhất, luận án là công trình đầu tiênởViệt Nam nghiên cứu một cách hệ thống

`

6

dưới góc độlý luận về pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH.

Thứhai, luận án đã phân tích, làm sángtỏcơ sởhình thành, phát sinh và bản chất củanghĩavụbảo mậtthông tin khách hàng; phân tích phạm vi, nguyên tắc, giới hạn nghĩavụbảo mật; làm rõ nội hàm khái niệm thực thi pháp luật vềbảo mật thông tin khách hàng trên các khía cạnh: chủthểthực thi, phương thức thực thi, các biện pháp thúcđẩy việc thực thi pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của TCTD.

Thứba, bằng phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp tài liệu, phương pháp phân tích luật viết, đặc biệt là phương pháp Luật học so sánh, luận án đã phác họađượchiện trạng pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam.

Thứtư, thông quaviệc hệthống hóa, phân tích, so sánh pháp luật thực định vềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam trong mối tương quan với pháp luật của một sốnước trên thếgiới được tác giảlựa chọn nghiên cứu, luận án đã chỉ ra những thành công,bất cập của hệthống pháp luật ngân hàng hiện hành. Đồng thời, luậnán đã cốgắng làm sáng tỏ các vấnđềphát sinh từ thực tiễn diễn biến của việc bảo mật thông tin khách hàng trong thời gian qua. Từđó,chỉra các phương hướng,đềxuất nhóm giải pháp góp phần hoàn thiện những quy định pháp luậtvềgiới hạn nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng vàbảo đảmthực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTDởViệt Nam.

6. Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mởđầu,phần kết luận,phụlục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được trình bày thành 4 chương riêng biệt, cụthểdưới đây:

Chương 1. Tổng quan vềvấn đềnghiên cứu

Chương 2. Lý luận về nghĩavụbảo đảm bímật thông tin khách hàng trong hoạtđộng ngân hàng

Chương 3. Giới hạn của nghĩavụbảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạtđộng ngân hàng

Chương 4. Bảo đảm thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàngởViệt Nam

`

7

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Bảo mậtthông tin khách hàng trong HĐNHcủaTCTD là nghĩavụđượchình thành cùng vớisựrađời củaHĐNH. Những biến độngvềchính trị, kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ củakhoahọccông nghệ và truyền thông, kỷ nguyên số hóa đã tạo cơ sở cho sự rađời củanguyên tắc, quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng nhằm đảm bảo hài hòa hơn, phù hợp hơn với xu thế phát triển của thờiđại.Đi liền với quá trìnhđổi mới, bổ sung các quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động này là sự trăn trở đầy trách nhiệm của giới khoahọcvới nhiều công trình khoahọcđãđượccông bố. Trong đó, cókhá nhiều công trình nghiêncứu vềsựrađời củanghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, về xu thế phát triển các quy định pháp luật về bảo mật thông tin ngân hàng, về việc mởrộng các giới hạn của nghĩavụnày, yêu cầu TCTD phải tiết lộ bí mật thông tin khách hàng trước sức ép của các tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài; đến những nghiên cứu nhằm ngăn chặn sự lạm dụng bí mật ngân hàng làmảnh hưởng đến lợi ích củakhách hàng vàlợiích của quốc gia. Đó là mộtsựthuận lợiđốivớitác giả. Việc nghiên cứu các công trình khoahọccó liên quan mật thiết đến đề tài luận án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi,đó làtiền đề cho quá trình thực hiện luận án,là cơ sở đểđánh giá, tìm hiểu những vấn đềlý luận và thực tiễn đãđượcnghiên cứu, những vấn đề còn bỏ ngỏ, là gợi mở có tính định hướng chonhững vấn đềcần nghiên cứu tiếp theo mà luận án cần tập trung giải quyết. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả thấy có một số công trình nghiên cứu nổi bật, liên quan mật thiết đến đề tài luận án mà tác giả sẽ trình bày dưới đây.

1.1.1. Công trình nghiên cứu liên quan đến lý luậnvề nghĩa vụ bảo đảmbí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

1.1.2. Công trình nghiên cứu liên quan đến phạm vi, giới hạn của nghĩa vụ bảođảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

1.1.3. Các công trình nghiên cứu liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi ngân hàng cung cấp thông tin khách hàng cho chủ thể thứ ba

1.1.4. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.2.1. Lý thuyết nghiên cứu

Đểthực hiện luận án, tác giả luận án dựa trên những cơ sở lý thuyết sau đây:

`

24

i) Lý thuyết vềsựcan thiệp của nhà nước trong đời sống kinh tế xã hội

Giữa nhànước vàthịtrường trong nền kinh tế luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Giải quyết mối quan hệ tương quan này, cho đến nay có 3 lý thuyết sau:

Một là, lý thuyết vềtựdo kinh tế. Lý thuyết này đề cao vai trò của thị trường, ủng hộtựdo kinh tế vàhạn chếđến mức thấp nhất sựcan thiệp của nhà nước. Đại diện cho trường phái này là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh Adam Smith (1723 – 1790) với thuyết “Bàn tay vô hình”. Theo các học giảủng hộlý thuyết này, sự phát triển kinh tếbình thường không cần có sự can thiệp của nhà nước và nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế. Nhànước chỉcần thực hiện tốt các chức năng quản lý cơ bản là xây dựng thểchếpháp luật đểgiữgìn trật tự kinh tế, bảo vệ quyền sởhữu, bảo vệan ninh và trật tựan toàn xã hội, bảo vệđất nước.5

Tác giả luận án vận dụng lý thuyết này để phân tích liệu bảo mật thông tin khách hàng có phải là công việc của các TCTD và khách hàng. Có phải các chủthểnày có đủdựliệu đểtựđiều chỉnh hành động của mình sao chođạt hiệu quảnhất, do vậy không cần đến sựđiều tiết của nhà nước. Những TCTD thực hiện tốt nghĩa vụ này sẽ tạo dựngđược niềm tin cho khách hàng, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh và sẽtựđứng vững, phát triển trong nền kinh tế.

Hai là, lý thuyết kinh tế có điều tiết.Đâylà lý thuyết về nền kinh tếcó sựcan thiệp mạnh của nhà nước do J.M. Keynes (1884 – 1946) đề ra. Lý thuyết này khẳngđịnh vai trò to lớn của nhà nước trong nền kinh tế và nhấn mạnh thị trường không thểtựkhắc phục khủng hoảng kinh tế cũng như các vấn đề khác của nền kinh tế. Nhằm đảm bảo sựcân bằng của nền kinh tế và ngăn chặn các cuộc khủng hoảng thì không thể dựa vào cơchếthịtrường tựđiều tiết mà cần có sự giúp sức của “bàn tay hữu hình” của nhà nước.6Đồng thời, những ngườiủng hộhọc thuyết này cũng cho rằng nhà nước cần can thiệp thích hợp, gián tiếp vào thị trường thông qua việc định ra đường lối phát triển, khung pháp luật, môi trường,thểchếcho các tổ chức, cá nhân đi đúng hướng chứ nhànước không làm thay thị trường. Lý thuyết kinh tếcó điều tiết được sửdụng đểphân tích việc nhà nước Việt Nam có nên sử dụng pháp luật để can thiệp vào lĩnh vực HĐNH, bảo vệ

5 Nguyễn Hồng Sơn (2015), “Mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong một số lý thuyết về kinh tế”, Tạp chíLý luận chính trị, số 12/2015, tr 16.

6 Nguyễn Hồng Sơn (2015), Tlđd, tr.19.

`

25

các thông tin mà khách hàng đã tin tưởng, tín thác cho ngân hàng, bảo vệ niềm tin của khách hàng trong HĐNH.

Ba là, lý thuyết vềnền kinh tế hỗn hợp.Đâylà lý thuyết rađời từthếkỷXIX,được P.A. Samuelson nâng lên thành tưtưởng chủyếu trong “kinh tế học” của mình với chủtrương muốn phát triển kinh tế phải dựa vào cả “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình”làthịtrường và nhànước.7 Nội dung của lý thuyết này dựa trên cơ sở: thị trường cần được kiểm soát thông quasựchỉhuy vô hình của các quy luật kinh tếthịtrường, còn nhà nước nên có chức năng quản lý kinh tếbằng sựđiều tiết, kiểm soát thị trường, do tựthân thị trường không thểgiải quyết được các vấn đềnhư khủng hoảng, lạm phát, thất nghiệp…Vai trò, chức năng quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tếthịtrường làthiết lập hệ thống pháp luật, thúcđẩy thịtrường hoạt động có hiệu quả, đảm bảo sự công bằng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Tác giả vận dụng lý thuyết này để phân tích vai trò của nhà nước trong việc ban hành pháp luật để bảo đảm cho TCTD, các chủthểliên quan thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH, từđógóp phần tích cực cho việc thúc đẩy hoạtđộng kinh doanh ngân hàng vàsựphát triển nền kinh tế nói chungđược đềcập trong chương 3, 4 của luận án.

ii) Lý thuyết thông tin bất cân xứng giữa người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1970 vàđãkhẳngđịnh vịtrí của mình trong nền kinhtếhọc hiện đại bằng sựkiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế cho công trình nghiên cứu: “phân tích cácthịtrường với tình trạng thông tin bất cân xứng”.

Lý thuyết thông tin bất cân xứng xây dựng giả thuyết rằng các bên tham gia giao dịch, người cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụvà khách hàng có lượng thông tin không cân xứng nhau. Người bán có lợi thếvềthông tin và khách hàng khôngdễtiếp cận các thông tin này. Với giả thuyết đó, các nhà kinh tếsẽxem xét tác động của sự mất cân bằng thông tin tới sự lựa chọn của khách hàng và quyết định đầu tư của các doanh

7 Nguyễn Hồng Sơn (2015), Tlđd, tr.20.

`

26

nghiệp, từđórút ra kết luận rằng: thông tin bất cân xứng sẽ gây bất lợi cho cả người mua và người bán và sẽdẫn đến sựthất bại của thị trường.

Thựctế,khi yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh củamình, TCTD cần phải bảo mật thông tin khách hàng, không đượcđểthông tin khách hàng bịrò rỉ, bịđánh cắp hoặc cung cấp thông tin khách hàng cho các chủthểkhác, từ đó gây thiệt hại cho khách hàng. Khách hàng vốn làngười yếu thếhơn so với TCTD trong quan hệ bảo mật thông tin của mình trong HĐNH. Bởi khi cung cấp các thông tin liên quan cho TCTD, họkhông có đầy đủcác công cụđểgiám sát quá trình bảo mật thông tin mà mình cung cấp theo luật định. Do đó, việcbảo đảm sựcân bằng vềnghĩavụvà quyền lợi của các bên tham gia vào quan hệ bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH thông qua công cụ pháp lý của Nhà nước là cần thiếtđểnhằm khuyến khích khách hàng gửi tiền, thực hiện các giao dịch qua ngân hàng, thúcđẩyhiệu quảkinh doanh ngân hàng, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Tácgiảvậndụng lý thuyết nàyđểphân tích mối quan hệgiữa ngân hàng với khách hàng trong việc thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng, từđókiến nghị các giải phápbảo đảmthực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàngởchương 4 của luận án.

iii) Lý thuyết về hiệu quả của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nền kinh tếthịtrường

Hiệu quả của pháp luật là yếu tố rất quan trọng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, là“cái đích”của sựđiều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xãhội. Vấn đềhiệu quảcủapháp luật cũng đượcnhiều nhà khoahọcpháp lý quan tâm nghiên cứu như:

Ð.A.Kerimov, Ph.N.Phaculin, L.Ð.Truliukin, B.I.Nikitinxki, V.V.Glarupin,…Ở Việt Nam, một sốhọc giảtập trung nghiên cứu về hiệu quả của pháp luật như Đào Trí Úc, LêMinh Tâm, Nguyễn Minh Đoan… Về cơ bản, hiệu quả của pháp luật làsựso sánh giữa kết quảđạt được do sựđiều chỉnh, tác động của pháp luật mang lại, trong những phạm vi và điều kiện nhất định, biểu hiệnởtrạng thái của các quan hệ xã hội, phù hợp với những mụcđích, yêu cầu vàđịnh hướng củapháp luật, với mứcchi phí thấp.8 Nhìn chung, tiêu chí đánh giá hiệu quả của pháp luật vừa thể hiện trong bản thân pháp luật,

8 Nguyễn Minh Ðoan (2012), Hiệu quả của pháp luật, những vấnđềlý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, tr 30.

`

27

vừa thểhiện trong môi trường tác động của nó. Đối với bản thân pháp luật thìđó làchất lượng của pháp luật, những mục đích, yêu cầu và định hướng của pháp luật. Cònđối với môi trường tác động của pháp luật thìđó làkết quảtác động của pháp luật thể hiệnởtrạng thái của các quan hệ xã hội trước và sau khi có sự điều chỉnh, tác động của pháp luật cùng với mức chi phí đểđạt được các kết quảđó.9

Tác giả vận dụng lý thuyếtvềhiệu quả của pháp luật vào việc điều chỉnh các quan hệxã hội trong nền kinh tếthịtrường đểđánh giá thực trạng thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng, từđó đềxuất những định hướng, giải pháp và kiến nghịbảođảmthực thi pháp luậtvềbảo mậtthông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Namởchương 3 và 4 của luận án.

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

Từcơ sởlý thuyết nêu trên, luận án được triển khai với các câu hỏi nghiên cứu dưới đây.

Câu hỏi nghiên cứu chung: Luận án“Phápluật vềbảo đảmbí mật thông tin khách hàng trong hoạtđộngngân hàngở ViệtNam”đượctiến hành để trả lời cho câu hỏi: Pháp luật ngân hàng có thực sựbảo đảm đượcbí mật thông tin khách hàng trong HĐNH không; đồng thời pháp luật ngân hàng cần thiết phải quy định/ làm rõ những nội dung nào để TCTD và các chủthểliên quanbảo đảmthực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH.

Giả thuyết nghiên cứu chung

– Pháp luật ngân hàng đã làm rõ bản chất, phạm vi, giớihạncủanghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH.

– TCTD chưa thực hiệnđầy đủnghĩavụcủamình trong việc bảo mật thông tin của khách hàng.

– Quyềnđượcbảo mật thông tincủakhách hàng trong HĐNHchưa đượcTCTD và các chủ thể có liên quan trong quan hệ pháp luật này bảo đảm một cách đầyđủ.

Cơ sở khoa học giải quyết giả thuyết nghiên cứu

– Dựa trên các lý thuyết vềsựcan thiệp của nhà nước trong đời sống kinh tế xãhội, lý thuyết thông tin bất cân xứng giữa người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng,

9 Nguyễn Minh Đoan (2012), Tlđd, tr 39.

`

28

lý thuyết về hiệu quả của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nền kinh tếthịtrườngđể làm rõbản chất của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng; phạm vi, giới hạn của nghĩa vụ bảo mật; làm rõ các khoảng trống về thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của TCTD.

– Dựa trên hiện trạng pháp luật, thực trạng thực thi pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH, xác định trách nhiệm của các TCTD và các chủ thể liên quan trong việc thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng;đồngthời tìm kiếm các biện pháp để giám sát có hiệu quả hoạt động của TCTD trong việc bảo mật thông tin khách hàng.

– Tham khảo xu hướng lập pháp liên quan đến nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH củamột số nướctrên thế giới, xác định mối tương quan, những hạn chế củapháp luật Việt Nam so với pháp luật một số nước trên thế giới khi điều chỉnh nghĩa vụ này. Từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, đồng thời đưa ra các khuyến nghịnhằmbảo đảmthực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH.

Đểtrảlời câu hỏi vàgiảthuyết nghiên cứu chung trên đây, luận án sẽ đi vào trảlời các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu cụthểsau đây:

– Câu hỏi nghiên cứu 1:

Tại sao bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNHvẫnlà nghĩavụbuộc TCTD phải tuân thủ?

Giảthuyết nghiên cứu liên quan đến câu hỏi nghiên cứu 1

Bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH cóýnghĩa quan trọngđốivới khách hàng, hoạt động kinh doanh ngân hàng, sự an toàn củahệthống ngân hàng và sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoahọccông nghệvà truyền thông.Đồngthời, nguy cơ xâm phạm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNH ngày càng phổ biếnđãảnh hưởngđến đặc quyền đượcbảo mật thông tin của khách hàng.

Dựkiến kết quả nghiên cứu liên quan đến câu hỏi nghiên cứu 1

Xác định đượcbản chất của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, cơ sở pháp lý làm phát sinh nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng, phạm vi của nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH; luận giải lý do cần thiết phải bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTD.

– Câu hỏi nghiên cứu 2

`

29

Có cần phải giới hạn nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTD không?

Giảthuyết nghiên cứu liên quan đến câu hỏi nghiên cứu 2

Bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH làhệquảphát sinh theo cam kết trong hợp đồng; bên cạnh đó, nghĩa vụ này cũngđược hìnhthành dựa trên sự tôn trọng quyền riêng tư của cá nhân, nghĩavụliên quan đến hoạt động chuyên môn nghề nghiệp nên các TCTD phải triệt để tuân thủ. Tuy nhiên, việc bảo mật tuyệt đối có thểảnh hưởng đến lợiích của các chủthểkhác, trong đó có cả lợi ích tư nhân và lợi ích của nhà nước. Do đócầnxác định giới hạncụthểcủa nghĩa vụ này.

Dựkiến kết quả nghiên cứu liên quan đến câu hỏi nghiên cứu 2

Xác định được nguyên tắc nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTD; làm rõ các giới hạn của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTD.

– Câu hỏi nghiên cứu 3

Làm thế nàođểbảo đảmthực thi pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam?

Giảthuyết nghiên cứu liên quan đến câu hỏi nghiên cứu 3

Pháp luật hiện hành còn những hạn chế, bất cập nên chưa thực sựbảo đảm được quyền được bảo mật thông tin khách hàng. Do đó,đểbảo đảmthực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH cần có giải pháp toàn diện từchủtrương, chính sách, pháp luật đến cơ chế thực thi pháp luật phù hợp.

Dựkiến kết quả nghiên cứu liên quan đến câu hỏi nghiên cứu

Làm rõ nội hàm của khái niệm thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH. Phân tích, đánh giá những ưu điểm, bất cập, hạn chếvềthực trạng thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH. Đề xuất các kiến nghịbảo đảm thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam.

1.2.3. Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ vấn đềnghiên cứu, luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sửcủa Chủnghĩa Mác – Lênin. Ngoài ra, để giải quyết

các nhiệm vụ đặt ra, luận án còn sửdụng một sốphương pháp nghiên cứu khác như:

Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp tài liệu

`

30

Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt luận án để tìm hiểu tình hình nghiên cứu và áp dụng khi nghiên cứu chuyên sâu từng khíacạnh vềpháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH. Thông qua phương pháp này sẽ xác định, đánh giá và làm sáng tỏnhững vấn đềlý luậnvềnguồn gốc, bản chất, phạm vi và giới hạn của nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng; cũng như thực trạng thực thi pháp luậtvềbảo đảm bímật thông tin khách hàng trong HĐNH. Trên cơ sở đó, phương pháp này cũng được sử dụng triệt đểtrong việc đề xuất các kiến nghị hoàn hiện pháp luật, các giải pháp bảo đảm thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam.

Phương pháp Luật học so sánh

Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt luận án như là công cụđểso sánh, đối chiếu, đánh giá các quan điểm khoa học trong chương tổng quan vềcác vấn đềnghiên cứu của luận án.

So sánh,đối chiếu những quyđịnh pháp luật vềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của Việt Namởtừng thời kì khác nhau. Thông quađó,sẽnhận thấy được những thay đổi theo hướng tích cực của pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam thời gian qua. Đồng thời, phương pháp này cònđược sửdụng đểso sánh quy định pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNH của Việt Nam vàmột sốnước trên thế giới, nhằm hiểu rõ hơn hệ thống pháp luật của Việt Nam, nhận diệnđượcnhững bất cập của pháp luật Việt Nam, khám pháđược sựtương đồng và khác biệt giữa hệ thống luật được đưa ra so sánh, tham khảo kinh nghiệm vàđềxuất các giải pháp pháp lý có liên quan.

Phương pháp phân tích luật viết

Phương pháp phân tích luật viết bao gồm các phương pháp cụthểkhác nhau từđơn giản đến phức tạp nhằm phân tích, đánh giá các quy định pháp luật trong mối tương quan so sánh với pháp luật của các quốc gia hoặc văn bản pháp luật có liên quan. Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt luận án nhằm đánh giá hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với các vấn đềcó liên quan; đồng thời chỉ ra những điểm hạn chế, thiếu sót trong hệthống pháp luật Việt Nam nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

`

31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả luận án đã trình bày và phân tíchđược tổngquan tình hình nghiên cứu của luận án liên quan đến ba nội dung sau: (i) Tình hình nghiên cứu của luận án liên quan đến lý luận về nghĩavụbảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNH. (ii) Tình hình nghiên cứu của luận án liên quan đến phạm vi, giới hạn của nghĩavụbảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNH. (iii) Tình hình nghiên cứu của luận án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi ngân hàng cung cấp thông tin khách hàng chochủthểthứba. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích cơ sởlý thuyết của đề tài vàtừcơ sởlý thuyết nêu trên, tác giả luận án đã đưa ra các câu hỏi nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu củađềtài luận án. Trên cơ sởnghiên cứu đó, tác giả đưa ramột sốkết luận dưới đây:

Thứnhất, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án đã phân tích khái quát về bản chấtcủanghĩavụbảo mật, giới hạn của nghĩa vụbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH vàsựcần thiết phải bảo đảm sựcân bằng vềbảo mật và cung cấp thông tin khách hàng cho bên thứ ba vì các mục đích liên quan đến trốn thuế, rửa tiền, tài trợ khủng bố.

Thứhai,một sốvấn đềtuy đã được các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đềcập đến nhưng vẫn cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển. Đặc biệt là làm sáng tỏcơ sởlý luận của nghĩavụbảomật thông tin khách hàng, phạm vi, giới hạn của nghĩavụnày, thực trạng thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam, từđó đềxuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật, các giải pháp bảo đảm thực thi pháp luậtvềbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam dựa trên nền tảng lý thuyết phù hợp và khoa học.

Thứba, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNHởViệt Nam là vấn đềmới, có ý nghĩa thựcsựvềmặt khoa học cũng như thực tiễn trong bối cảnh của nền kinh tế – xã hộiởViệt Nam hiện nay.

Thứtư, tác giả phân tích cơ sở lý thuyết trong việc nghiên cứu đề tài của luậnán, thông qua việc xác định ba câu hỏi nghiên cứu chính tương ứng với các nội dung chính cần phải giải quyết trong đề tài, cùng với đó là các giả thuyết nghiên cứu vàdựkiến kết quả nghiên cứu.

`

32

CHƯƠNG 2. LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ BẢO ĐẢM BÍ MẬT THÔNG TIN

KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

Các TCTD thông quahoạt độngnghiệp vụ của mìnhđãnắm giữrất nhiều thông tin của khách hàng.Họbiết các thông tin riêng tư của khách hàng, tình trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng, thậm chí cảsởthích, chi tiêu, lối sống,

hội nhóm mà khách hàng là thành viên…Cóthểnói, thông tin mà các TCTD nắm giữ lànhững thông tin rất quan trọng và nhạy cảm đối với khách hàng. Vấn đề đặt ra là khi nắm giữnhiều thông tin của khách hàng như vậy thì nghĩavụcủa tổchức này đối với những thông tin màhọcó quyền nắm giữ đó là gì?

Mụcđích nghiên cứu củachương này là: i) làm rõ thông tin khách hàng trong HĐNH; ii) làm rõ nguồn gốc của nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng; iii) phân tích bản chất,cơ sởpháp lý phát sinh nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH; iv) phân tích phạm vi thông tin khách hàng cần được bảo mật; v) phân tích sự cần thiết phải bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong HĐNH.

2.1. Khái quát về thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

2.1.1. Khái niệm thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Trong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản. Nhucầuđó không ngừng tăng lên cùngvớisựgia tăng các mối quan hệ trong xã hội.Sựquan tâm đến hiện tượng thông tin gia tăng đột biến vào thếkỷXX và ngày nay chúng trởthành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành chuyên môn, trong đó có triết học, vật lý, sinh học, ngôn ngữ học, thông tin học và tin học, kỹ thuật điện tử và truyền thông, khoa họcquản lý và nhiều ngành khoahọcxã hội. Về phương diện thương mại, công nghiệp dịch vụ, thông tin đã trở thành một nền công nghiệp mới mẻ mang tính toàn cầu. Ngày nay, hầu như không một ngành công nghiệp, sản xuất và dịch vụ nào lại không quan tâmđến thông tin. Những quan điểm và hiện tượng khác nhau của lĩnhvực này đã dẫn đến những khái niệm và định nghĩa khác nhau về thông tin.10 Vậy thông tin là gì?

Theo Từ điển TiếngViệt, “thông tin làđiều hoặctin được truyền đi cho biết sựtruyền đạt,sựphản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung

10 Đoàn Phan Tân (2001),Vềkhái niệm thông tin và các thuộc tính làm nên giátrịcủa thông tin, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật,số(3)

`

33

quanh và những quá trình xảy ra trong nó.”11

Theo nghĩa thông thường, thông tin làtất cảcác sự việc, sự kiện, ý tưởng, phánđoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từtất cảcác hiện tượng quan sátđược trong môi trường xung quanh.

Trong lĩnh vực tin học, thông tin là tập hợp các dữ liệu sau khi được xử lý cho ta những hiểu biết vềmộtvấn đềnào đó. Thông tin là những dữ liệu có thể làm thay đổi tình trạng kiến thức của một người (những gì mà người đó biết) và đại diện vật chất cho những gì trừu tượng có thể tạo ra được sự thay đổi này.12

Dưới gócđộkinh tế, thông tinđượchiểu là tin tức, nội dung thông tin phải hàm chứa giá trị nhất định, đặc biệt phải thể hiện tính mới hoặc có tính tri thức.13

Như vậy, mỗi lĩnh vực khác nhau thì cóđịnhnghĩa khác nhau về thông tin. Các khái niệm, quan điểm về thông tin rất đa dạng tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu.

Trong lĩnh vực HĐNH, chủthểcung ứng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng là các TCTD – đó là doanh nghiệp kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cungứng dịch vụthanh toán qua tài khoản.14Chủthểcòn lại là khách hàng – bên còn lại trong quan hệ dân sự, thương mại với tư cách làngười mua sản phẩm, dịch vụtừTCTD. Để thực hiện việc cung ứng các sản phẩm dịch vụcủa mình, đồng thời thực hiện việc kiểm soát các giao dịch thì TCTD cần phải biết thông tin khách hàng. Vậy thông tin khách hàng trong HĐNH của TCTD là gì?

Thông tin khách hàng trong HĐNH là những thông tin mà các TCTD có được thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình. Tuy nhiên, thông tinấy cụthểgồm những gìthì được quy định không giống nhauởtừng nước. Việc xác định và ghi nhận khái niệm thông tin khách hàng của các TCTD cóthểkhái quát thành hai nhóm:

Một là, thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp liệt kê.

Ởnhững quốc gia thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp này thì thường liệt kêcụthểtất cảcác thông tin liên quan đến các giao dịch được thực

11 Trung tâm Từ điển học (2011),Từđiển Tiếng Việt Đà nẵng, Hà nội, tr.1226

12 Học viện Chính trị Quốc giaHồChí Minh, Bộ môn Tin học (1996), Tập bài giảng tinhọc, tập 1, tr.8 13 Viện Nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa (1998),Từđiển kinh tếthịtrường, tr.1173

14 Khoản 1, Khoản 12 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017

`

34

hiện giữa TCTD với khách hàng. Chẳng hạn, theo Luật Ngân hàng của Singapore năm 1970, được sửa đổi,bổsung năm 2018, thông tin khách hàng là: “a) thông tin liên quanđến hoặc bất kỳthông tin nào về tài khoản của khách hàng, cho dù tài khoản đó là khoản vay, đầu tưhoặc bất kỳloại giao dịch nào khác, nhưng không bao gồm thông tin không thểtham chiếu đến khách hàng hoặc nhóm khách hàng được định danh; hoặc b) “thông tin tiền gửi”, – thông tin tiền gửi là thông tin liên quan đến i) bất kỳ khoản tiền gửi nào của khách hàng, ii) các quỹ của khách hàng do ngân hàng quản lý; hoặc là c) két an toàn hoặc bất kỳ thỏa thuận lưu ký an toàn được thực hiện bởi một khách hàng với ngân hàng, nhưng cũng không bao gồm thông tinkhông được đềcập đến bất kỳkhách hàng hoặc nhóm khách hàng định danh nào”.15

Như vậy, theo quy định của Luật Ngân hàng Singapore, thông tin khách hàng làthông tin mà phải xác định được danh tính của khách hàng, những thông tin không thểxác định được danh tính của khách hàng không được coi là thông tin khách hàng. Ví dụ:

thông tin về tài khoản, tiền gửi được trao đổi thông qua các cuộc trò chuyện điện thoại với khách hàng mà chỉ xác định là A, B hoặc C thì không bị coi là thông tin khách hàng. Hoặc theo quy định của Luật Ngân hàng và công ty ủy thác Bahamas năm 2000,

được sửa đổi bổsung năm 2010,16 thông tin khách hàng là“thông tin liên quan đến danh tính, tài sản, nợ, giao dịch hoặc tài khoản của khách hàng hoặcbất kỳthông tin nào trong hồ sơ yêu cầu của khách hàng tiềm năng”. Như vậy, theo quy định của pháp luật Bahamas, thông tin khách hàng trong HĐNH mặc dù được liệt kê nhưng nội hàm thông

15 Điều 40A, Singapore Banking Act năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2018 “customer information”, in relation to a bank, means—

(a) any information relating to, or any particulars of, an account of a customer of the bank, whether the account is in respect of a loan, investment or any other type of transaction, but does not include any information that is not referable to any named customer or group of named customers; or

(b) deposit information;

“deposit information”, in relation to a bank, means any information relating to—

(a) any deposit of a customer of the bank;

(b) funds of a customer under management by the bank; or

(c) any safe deposit box maintained by, or any safe custody arrangements made by, a customer with the bank, but does not include any information that is not referable to any named person or group of named persons;

16 – Cộng đồng Thịnh vượng Bahamas, hay Quần đảo Bahamas là một quốc gia nói tiếng Anh tại Tây Ấn. Là một quần đảo với 700 hòn đảo và đảo nhỏ, Bahamas nằm ở Đại Tây Dương, phía đông Florida và Hoa Kỳ, phía bắc Cuba và vùng Caribe, phía tây lãnh thổ phụ thuộc Anh Turks and Caicos Islands.

Bahamas là một quốc gia ổn định, phát triển với nền kinh tếphụthuộc nhiều vào du lịch và dịch vụ ngân hàng nước ngoài. Bahamas được coi là một trong những trung tâm tài chính nước ngoài hàng đầu thế giới.

– Điều 19 (1) Banks and Trust Companies Regulation Act năm 2000 (No. 38 of 2000) – Statute Law of the Bahamas, Chapter 316, được sửa đổi bổ sung năm 2010

`

35

tin khách hàng khá bao quát, bao gồm tất cả các thông tincó đượctrước khi trở thành khách hàngcủangân hàng. Thông tinđókhông chỉlà những thông tin liên quanđến

danh tính, tài sản, nợ, giao dịch…có trong hồsơ khách hàng hiện hữu màcảnhững thông tin này có trong hồ sơ của khách hàng tiềm năng.

Hai là, thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp loại trừ.

Tại một sốquốc gia, khái niệm “thông tin khách hàng” của TCTD được ghi nhận thông qua phương pháp loại trừ thì thường ghi nhận tất cả các thông tin liên quan trong quá trình giao dịch của khách hàng với các TCTD và loại trừ những thông tin khách hàngđã công bố rộng rãi hoặc được nhiều người biết đến. Chẳng hạn Thụy Sĩ, theo quy định của luật pháp nước này thì các ngân hàng bị ràng buộc về mặt pháp lýđểgiữbí mật liên quan đến những giao dịch với khách hàng cũng như bất kỳ thông tin nào có được từ các giao dịch đó.17 Có thể thấy, theo pháp luật Thụy Sĩ, thông tin khách hàng được quy định rất rộnggồmbất cứthông tin phát sinh trong mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng. Như vậy, mặc dù có sự khác nhauvềcách thức ghi nhận, nhưng có thể thấy rằng,

hầu hết các quốc gia đều thống nhất thông tin khách hàng trong HĐNH không chỉ là các thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi và các giao dịch khác của khách hàng mà còn bất kỳthông tin nào trong hồ sơ yêu cầu của khách hàng.

ỞViệt Nam, thông tin khách hàng không được ghi nhận trong Luật các TCTD năm 2010, tuy nhiên theohướngdẫn tạiKhoản 1 Điều 3 Nghịđịnhsố117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 của Chính phủvềviệc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổchức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nướcngoài (Nghịđịnh số117/2018/NĐ-CP) thì:

“Thông tin khách hàngcủaTCTD, CNNHNNg (sau đây gọi là thông tin khách hàng) làthông tin do khách hàng cung cấp, thông tin phát sinh trong quá trình khách hàngđềnghịhoặc đượcTCTD, CNNHNNg cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụtrong hoạt động được phép, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin

17 Điều 47 Luật Ngân hàng Liên bang Thụy Sĩ – The Swiss Banking Act (The Federal Law on Banks and Savings Banks) năm 1934, được sửa đổi,bổsung năm 2019

Whoever intentionally does the following shall be imprisoned up to three years or fined accordingly:

a. disclose confidential information entrusted to them in their capacity as a member of an executive or supervisory body, employee, representative, or liquidator of a bank or a person in accordance with Article 1b, as member of a body or employee of an audit firm or that they have observed in this capacity;

b. attempt to induce an infraction of the professional secrecy;

c. disclose confidential information to third parties or use this information for own benefits or the benefit of others

`

36

sau đây: thông tin về tài khoản, thông tin về tiền gửi, thông tin về tài sản gửi, thông tin vềgiao dịch, thông tin vềtổchức, cá nhân là bên bảo đảm tại TCTD, CNNHNNg và các thông tin có liên quan khác.”

Như vậy, thông tin khách hàng là những thông tin mà các TCTD có được thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình, có thể gồm những thông tin sau: thông tin thuộc vềlý lịch của cá nhân,tổchức; các thông tin cá biệt hóa cá nhân, tổ chức (tên, tuổi, chứng

minh thư, hộ chiếu, địa chỉ, điện thoại, email…; tên gọi tổ chức, trụsởcủa tổchức, thông tin vềcơ cấu tổchức…); thông tin về ngành nghề hiện tại của khách hàng; thông tin liên quan đến tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng; thông tin liên quan đến khách hàng trong hoạt động cungứng dịch vụthanh toán…

Nếu trước đây, Nghịđịnh số70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàngđãkhông hướng dẫn một cách rõ ràng, cụthểcác thông tin khách hàng thì hiện nay, Nghịđịnh số117/2018/NĐ-CP đã hướng dẫn rất chi tiết về thông tin khách hàng tại Điều 3. Theo đó, thông tin định danh khách hàng là thông tin sau đây:“Đối với khách hàng cánhân: họvà tên, mẫu chữký, chữkýđiện tử, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, nghềnghiệp, địa chỉ nơi đăng ký thường trú, nơiởhiện tại, địa chỉnơi đăng ký cư trúởnước ngoài đối với người nước ngoài, số điện thoại,địa chỉthư điện tử, số, ngày cấp, nơi cấp chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu (thông tin vềthịthựcđối với khách hàng cá nhân là người nước ngoài) của khách hàng hoặc của người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền (gọi chung là người đại diện hợp pháp) và các thông tin có liên quan khác;

Đối với khách hàng là tổ chức: tên giao dịch đầy đủ, tên viết tắt, giấy phép hoặc quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương;địa chỉ đặt trụ sởchính, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử và thông tin quyđịnh tại điểm a khoản này của người đại diện hợp pháp và các thông tin có liên quan khác”. Thông tin về tài khoản của khách hàng là “thông tin định danh khách hàng và

thông tin sau đây: tên tài khoản, số hiệu tài khoản, số dư tài khoản, thông tin liên quanđến giao dịch nộp tiền, rút tiền, chuyển tiền, nhận tiền của khách hàng và các thông tin có liên quan khác”.

`

37

Thông tin về tiền gửi của khách hàng là “thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: thông tin liên quan đến giao dịch gửi tiền của khách hàng, số dư các loại tiền gửi theo quy định của pháp luật của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg và các thông tin có liên quan khác”.

Thông tin về tài sản gửi của khách hàng là “thông tin về tài sản của khách hàng (vật, tiền, giấytờcó giá, các quyền tài sản) gửi tại TCTD, CNNHNNg, thông tin về tài sản của khách hàng do TCTD, CNNHNNg nhận quản lý, bảo quản theo quyđịnh của pháp luật, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: tên loại tài sản, giá trị tài sản, chứng từ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hoặc lợi ích hợp pháp đối với tài sản của khách hàng và các thông tin có liên quan khác”.

Thông tin về giao dịch của khách hàng là “thông tin phát sinh từ các giao dịch của khách hàng vớiTCTD, CNNHNNg, baogồmthông tin định danh khách hàng vàthông tin sau đây: chứng từ giao dịch, thời điểm giao dịch, số lượng giao dịch, giá trịgiao dịch, số dư giao dịch và các thông tin có liên quan khác”.

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận khái niệm thông tin khách hàng khácụthểvà theo phương pháp liệt kê. Theo đó, thông tin khách hàng là những thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi và các giao dịch của khách hàng. Đồng thời pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định cụthểhơn về thông tin khách hàng. Đó không chỉ làthông tin được hình thành khi thiết lập hợp đồng mà còn là những thông tin được hình thành trong quá trình khách hàngđềnghị TCTD cungứngcác sản phẩm, dịch vụ. Điều này có nghĩa là, theo quy định của pháp luật Việt Nam, thông tin khách hàng còn bao gồm cảnhững thông tin của các khách hàng tiềm năng của các TCTD. Việc quy định như vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ niềm tin của khách hàng cũng nhưxác định phạm vi, giới hạn, trách nhiệm của TCTD sau này.

Cùng với xu thế phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, một khái niệm được sử dụng kháphổbiến và có mối liên hệ nhất định với thông tin khách hàng đó làdữliệu cá nhân. Có thểhiểu dữliệu cá nhân là các dữliệu vềmột cá nhân mà qua đó có thể xác định được danh tính của người đó.

Dưới gócđộpháp lý, luật pháp một số nước đã ghi nhận khái niệm này như sau:

Theo Điều 4.1 Luật Bảo vệDữliệu châu Âu 2016 (General Data Protection Regulation – GDPR), dữ liệu cá nhân là“bất kỳthông tin nào liên quan đến một cá thểdữliệu (“data

`

38

subject”) đãđược nhậnđịnh danh tính, hoặc có thể được nhận định danh tính, dù trực tiếp hay gián tiếp, cụthểlà bằng cách chỉ ra một định danh như tên,sốđịnh danh, dữliệu vịtrí, định danh trên mạng, hay một hoặc nhiều yếu tốchỉđịnh danh tính của một cá nhân mang tính vật lý, sinh lý, sinh thực, tâm lý, kinh tế, văn hoá, hoặc xã hội”.18

Hay theo quyđịnh củaĐiều 2.1 Luật BảovệDữliệu cá nhân Singapore năm 2012, dữ liệu cá nhân là các dữ liệu, dù đúng hay sai,vềmột cá nhân mà có thể xác địnhđược danh tính của họtừcác dữ liệu đó; hoặc từ các dữ liệu đó và các thông tin khác màcác tổ chức có hoặc có thể có quyền truy cập.

Như vậy, thông tin khách hàng và thông tin dữ liệu cá nhân có những điểm giao nhau dù mục đích điều chỉnh có sự khác nhau. Nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng củangân hàng tập trung vào việc giới hạn việc tiết lộ/ cung cấp thông tin khách hàng. Bởi bảo mậtthông tin khách hàng là bảo đảmcác thông tin biết đượcvềkhách hàngđược an toàn, bí mật, ngăn chặn những người không có thẩm quyền tiếp cận thông tin của khách hàngđểbảo đảm quyền được bảo mật thông tincủa họ,bảo vệniềm tin của khách hàng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nghĩavụnày sẽbịcan thiệp bởi những người có thẩm quyền tương ứng.19 Do đó, pháp luật phải quy địnhgiới hạn cụthểđểbảo vệkhách hàng. Còn các quy tắc bảo vệdữliệu cá nhân thì rộng hơn vàảnh hưởng đến việc thu thập, lưu trữ và sử dụng dữ liệu cá nhân. Song, so với dữ liệu cá nhân, thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTD có những điểm khác biệt sau.

2.1.2. Đặc điểm thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Thứnhất, thông tin khách hàng trong HĐNH là những thông tin được hình thành trong quá trình TCTD thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp của mình.Đólà những thông tin do khách hàng cung cấp, thông tin phát sinh trong quá trình khách hàng đềnghị hoặc được TCTD cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụtrong hoạt động được phép. Trong khi đó,dữliệu cá nhân được hình thành từ nhiều mối quan hệ của cá nhân và thuộc các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội như các lĩnh vực dân sự, hình sự, hành chính, kinh tế, giáo dục, ytế,công nghệ thông tin, viễn thông,

18 “personal data” means any information relating to an identified or identifiable natural person (‘data subject’); an identifiable natural person is one who can be identified, directly or indirectly, in particular by reference to an identifier such as a name, an identification number, location data, an online identifier or to one or more factors specific to the physical, physiological, genetic, mental, economic, cultural or social identity of that natural person; 19 Bởi vì bảo mật được hiểu là giữ kín bí mật trong phạm vi một số ít người,không để lộcho người ngoài biết.

`

39

an ninh… Đồng thời,dữliệu cá nhân có thểđược chứa đựngtrong nhiều loại hình của vật mang tin như trong văn bản,hồsơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác theo quy định của pháp luật, qua đó có thể nhận diện, xác định được con người đó trong xã hội.

Thứhai, nội dung thông tin khách hàng trong HĐNH rất phong phú, đa dạng bao gồm cảnhững thông tin riêng tư cá nhân như các thông tin định danh, thông tin liên quan

đến nghềnghiệp, tuổi tác, tình trạng hôn nhân của khách hàng, thói quen tiêu dùng.… và gần như toàn bộ các thông tin liên quan đến tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng, kểcảnhững bí mật kinh doanh khác của khách hàng. Chẳng hạn, các thông tin liên quan đến phương án sản xuất kinh doanh, doanh số hoạt động, kết quả

kinh doanh củakhách hàng…Có thểnhận thấy, nội dung thông tin khách hàng trong HĐNH rộng hợn nội dung thông tin liên quan đến dữ liệu cá nhân được pháp luậtdữliệu cá nhân bảo vệ, bởi các thông tin liên quan đến tổ chức, thông tin kinh doanh không được xem là dữ liệu cá nhân.

Thứba, thông tin của khách hàng do TCTD lưu giữ là những nội dung có giátrịkinh tế cao. Thông quahoạt độngchuyên môn nghề nghiệp của mình, TCTD nắm giữnhiều thông tin liên quan đến tình hình tài chính, ưu đãi chi tiêu của khách hàng cá nhân. Bên cạnh đó, tùy thuộc vào loại thông tin, nội dung thông tin vàchủthểchiếm hữu, sửdụng thông tin mà thông tin khách hàng có giátrịkinhtếkhác nhau. Chẳng hạn, biếtđược thông tin tiền gửi, mật khẩu hay mã giao dịch của khách hàng,kẻxấu có thể lợi dụng đểrút tiền của khách hàng hoặc yêu cầu TCTD thực hiện những giao dịch gây bất lợi cho khách hàng, quấy rối hoạt động kinh doanh bình thường của khách hàng hoặc nếu các đối thủcạnh tranh của khách hàng biết được các thông tin liên quan đến phươngán sản xuất, kinh doanh, mối quan hệ với các đối tác của khách hàng thì có thểdẫn đến những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại lớn cho khách hàng của TCTD. Chính vì tính chất, tầm quan trọng của thông tin khách hàng mà bên cạnh việc

tăng cường cung ứng các dịch vụ đa dạng, tiện lợi, TCTD còn phải có nghĩavụbảo đảm bí mật thông tin khách hàng.

2.2. Cơ sở hình thành và phát sinh nghĩa vụ bảođảm bímậtthông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

`

40

2.2.1. Quá trình hình thành nghĩa vụbảo đảmbí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH không phải làsảnphẩm của thếgiới hiện đại. Sựhình thành nghĩavụnày gắn liền với lịch sử hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nghĩavụbảo mậtthông tin khách hàng của ngân hàng đãmanh nha hình thành cách đây khoảng 4000 năm vào thời kỳ Babilon cổđại,được ghi nhận trong Bộluật Hammurapi với quy định rằng một nhân viên ngân hàng có thể công khai hồ sơ của khách hàng chỉkhi xảyra những tranh chấp với khách hàng đó.20 Điều này cho thấy rằng, các nhân viên ngân hàng phải có nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng của mình nhưng nghĩavụnày có thểbịgiới hạn trong những trường hợp nhất định. Nghĩavụnày cũng được tìm thấy trong nền văn minh Hy Lạp – La Mã vào thời Trung cổ, khoảng năm 1118 tại Jerusalem với các HĐNH của các The Knights Templar (Hiệp sĩ dòngđền).21 Nghĩavụbảomậtthông tin khách hàng là một trong những nộidung đượcquyđịnh trong “Luật lệ của Hiệp sĩ dòngĐền”buộc các hiệp sĩ phải triệt để tuân thủ trong các hoạt động quản lý tài chính, HĐNH, lãnh thổ, đất đai của mình.

Đến thời kỳPhục Hưng, nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng được ghi nhận trong các quy định của ngân hàng Banco Ambrosiano Milano năm 1593 với quy định rằng: ngân hàng nào vi phạm nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng thì sẽ rút giấy phép kinh doanh. Năm 1619, một quy định tương tự cũng đãđượcghi nhận bởi ngân hàng Hamburger.22 Vào thế kỷ XIX, nghĩavụnàyđãđượcáp dụng nhiều hơn và thường xuyên hơn, trở thành một điều khoản mặc nhiên trongĐiều lệcủaHiệp hội các ngân hàng Đức. Tuy nhiên, nghĩavụbảo mật thông tin khách hàngcủaTCTDchỉ có bướcphát

triển đáng kể trong việc công nhận và cho thi hành như một nghĩavụpháp lý sau chiến tranh thế giới I (1914 – 1918). Cuộc chiến tranh đó đã dẫn đến hệ quả là nhiều cá nhân giàu có di chuyển tài sản của mình đến các ngân hàngở nướcngoài. Tại Pháp và Đức, nhiều công dânđã bímật mang tiền gửi vào các ngân hàngcủaThuỵ Sĩ – quốc gia láng giềng của họ, nước đã tuyên bố trung lập từ năm 1815. Điều này dẫn đến những xung

20 Nghĩavụnày được ghi nhận trong Bộ luật Hammurabi (Edouard Chambost (1983), Bank Accounts: A World Guide to Confidentiality, Publisher: John Wiley & Sons, tr.3

21 Elisa Rangel Nunes (2014), Relevant Aspects of Banking Secrecy in Angola, American International Journal of Research in Humanities, Arts and Social Sciences, Vol. 7 (1).

22 Werner De Capitani (1998), Recent Developments – Banking Secrecy Today, University of Pennsylvania Journal of International Law, Vol 10, Issue 1, Article 2. tr.57-70

`

41

độtlợi ích giữa Pháp, Đức và Thụy Sĩ.Đây là cơ sở đểcác quy định về bí mật ngân hàng, các ngân hàng nổi tiếng với chếđộ bí mật nhấtthế giớiđãđược hình thành trong giaiđoạn này, trong đó có Thụy Sĩ. Năm 1934, Thụy Sĩ đã thông qua Luật Ngân hàng liên bang quy định hình phạt hình sự nếu ngân hàng nào vi phạm nghĩavụ bảo mật. Cơ sởcủaviệc ghi nhận hình phạt nghiêm khắc này là do những sự kiện lịch sử đedọađến sựriêng tư vàổn định củacả hệthống ngân hàng và nền kinh tế Thụy Sĩ. Cụ thể là: chính phủ Pháp – dưới thời Herriot đã yêu cầu các ngân hàng và tổ chức tài chínhở Thụy Sĩtrả lại tài sản mà 2.000 khách hàng người Pháp đã gửi tại các ngân hàng và tổ chức tài chính củanướcnày. Còn tại Đức, năm 1933 chính phủĐức Quốc xãđãmởchiến dịch thu hồi và tịch thu các khoản tiền mà công dân Đức gửi tại các ngân hàng Thụy Sĩ vềĐức,họđãban hành một đạo luật quy định rằng: bất kỳ công dân Đức nào cố ý hay vôý vì sự ích kỷ của mình, có hành vi tích tụ tài sản ở nước ngoài hoặc chuyển tiền, tài sản củamình rakhỏi nướcĐức sẽphải chịu hình phạt tử hình.23 Trên cơ sở quy định củađạo luật này, bangườiDo Thái bị tử hình do có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Thụy Sĩ. Trướcsức ép đó, đểbảo vệkhách hàng, nhân viên làm việc trong các ngân hàng, sự ổnđịnh nền tài chính quốc gia, Thụy Sĩ đã ban hành Luật Ngân hàng liên bang năm 1934,áp đặt cả trách nhiệm dân sự và hình phạt hình sự đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo mật ngân hàng.

Tại Anh, bảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng là nghĩavụhợp đồng vớiđiều khoản ngụ ý rằng một ngân hàng sẽ không tiết lộ thông tin khách hàng của mình cho bên thứ ba. Nghĩavụnày được ghi nhận trongán lệTournier v National Provincial and Union Bank of England năm 1924. Năm 1988, Ủyban đánh giá Jack (Jack Committee)24 đã khẳng định rằngán lệTournier là khởi điểm của quy định nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng tại Anh vì trước vụ án Tournier, đã có các vụ kiện liên quanđến vi phạmvềbảo đảm bí mật thông tin khách hàng nhưvụHardy v Veasey năm 1868 nhưng không có phán quyết nào đưa ra, rằng ngân hàng liệu có tồn tại một nghĩa vụ pháp lý liên quanđếnbí mật thông tin khách hàngcủahọhay không. Các tòa ánđãmiễn

23 Robert S. Ladd (2011), Swiss Miss: The Future of Banking Secrecy Laws in Light of Recent Changes in the Swiss System and International Attitudes, Transnational Law & Contemporary Problems; Summer 2011, Vol. 20 Issue 2, tr. 540-560.

24 Ủy ban Đánh giá Luật Dịch vụ Ngân hàngđược bổnhiệm vào tháng 1 năm 1987 dưới sựchủtrì của Giáo sư R B Jack (Jack Committee). Nhiệm vụcủaỦy ban này là kiểm tra văn bản luật và án lệ liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng tại Vương quốc Anh cho các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp

`

42

cưỡng áp đặt nghĩavụbảo đảm bí mật thông tin khách hàng và đúng hơn làngụý rằngđó lànghĩavụđạođức. Vì rằng, ngân hàng có trách nhiệm thực hiện sự tin tưởng, tín thác của khách hàng với họ và không cần phải áp đặt nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng.25 Với phán quyết trongán lệTournier, rằng ngân hàng có nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng của mình, khôngđược tiết lộthông tin khách hàng của mình cho bên thứba đã trở thành khuôn mẫu cho hầu hết các nước theo hệ thống thông luật.

Kết thúc chiến tranh Thế giới II (1939 – 1945), nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng đãđượcghi nhận trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên toàn thế giới. Theođó, TCTD phải kiềm chế khôngđượctiết lộ thông tin khách hàng mà mình cóđượctrong quá trình hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp của mình. Tuy nhiên, căn cứ làm phát sinh nghĩavụ đó lại có sựkhác nhauở các nướckhác nhau. Nghĩa vụ này có thể được phát sinh từ nguyên tắc đạo đức, danh dự, nghĩavụchuyên môn nghề nghiệp; hoặc được tạo lập nên bởi ý chí của ngân hàng và khách hàng, hoặc bởi ý chí của nhà làm luật. Vậy thực chất của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH là gì?

2.2.2. Bản chấtcủanghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong hoạtđộng ngân hàng

Bản chất của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH làchủđềgây tranh cãi giữa nhiều nguời, giữa các hệ thống pháp luật khác nhau. Có quan điểm cho rằng, nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng tương ứng với quyền được bảo mật thông tin khách hàng, đây là quyền con người và là quyền mang tính tuyệt đối, là một biểu hiện của quyền riêng tư.

Tuy nhiên, Maria José Oliveira L. Roquechỉtrích quan điểm liên kết quyền được bảo mật thông tin khách hàng với quyền con người với những lập luận sau: Một là, mọi người sinh ra đều có quyền sống, tự do, an toàn tính mạng, quyền được bảo vệvềdanh dự, nhân phẩm nhưng không ai được sinh ravớiquyền được bảo mật thông tin trong HĐNH. Hai là, có những người không đủkhảnăng đểtrởthành khách hàng củacác ngân hàng. Ba là, quyền con người là quyền đối nghịch với nghĩavụerga omnes (nghĩa vụcó hiệu lực đối với tất cảmọi người) và điều này không xảy ra đối với nghĩavụbảo

25 Teklit Hailemichael Berhe (2014), Conflict between anti-money laundering and anti-terrorism finance laws requirements and bank secrecy and confidentiality laws, LLM – Institute of Advanced Legal Studies, School of Advanced Study, University of London.

`

43

mật thông tin khách hàng khi mà thông tin của khách hàng vẫn có thểbịtiết lộtrong một sốtrường hợp nhất định. Cuối cùng, tác giả này cho rằng không thể xem quyền được bảo mật thông tin khách hàng là quyền riêng tư, mang tính tuyệt đối vì trong mối quan hệgiữa khách hàng và ngân hàng, trong trường hợp hợp pháp, cũng liên quan đến nhiều hơn hai nguời, đó là: khách hàng, ngân hàng và bên thứ ba, ít nhất là kho bạc.26

Quan điểm khác cho rằng, bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH là sản phẩm của tựdo hợp đồng, dựa trên thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng đểgiữgìn sự tin cậy và ủy thác của khách hàng.

Với quan điểm này, Maria Eduarda Azevedo cũng đã phảnđối vàcho rằng, hợpđồng giữa ngân hàng và khách hàng không phải lúc nào cũng có quy định điều khoản vềbảo mật thông tin, thậm chí dù điều khoản đó làngụý. Đặc biệt trong trườnghợp hợpđồng chưa hình thành thì nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng sẽ không bị ràng buộc.Điều này cũng xảy ra tương tự khi hợp đồng bịhủy bỏhoặc bịtuyên bố vô hiệu.27

Một quan điểm được khá nhiều ngườiủng hộđó là, bảo mật thông tin khách hàng là một loại bí mật nghề nghiệp. Bởi, thông tin khách hàng mà ngân hàng có được là do hoạt động chuyên môn nghề nghiệp của ngân hàng, ngân hàng yêu cầu khách hàng cung cấp những thông tin đểphục vụcho hoạt động chuyên môn nghề nghiệp của họ và khách hàng chỉ cung cấp thông tin cho ngân hàng khihọtin tưởng rằng thông tincủa họkhông bịcung cấp cho những tổ chức, cá nhân khác. Trường hợp này, nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng gần giống như các nghĩavụbảo mật nghề nghiệp của luật sư, bác sĩ. Theo Maria Célia Ramos, nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng xuất hiện nhằm hai mục đích là duy trì niềm tin của khách hàng vào hệ thống ngân hàng và bảo vệ quyền riêng tư.28

Saldanha Sanches, phản bác lập luận trên và cho rằng, quyền riêng tư là quyền liên quan đến cuộc sống, gia đình, nhà cửa. Bảo mật thông tin khách hàng khôngđược ghi nhận và được thể hiện trong nguyên tắc lập hiến liên quan đến quyền riêng tư.29

26 Maria José O. L. Roque, Banking Secrecy and Right to Privacy, dẫn lại từ Elisa Rangel Nunes (2014), Relevant Aspects of Banking Secrecy in Angola, American International Journal of Research in Humanities, Artsand Social Sciences , Vol. 7 (1).

27 Maria Eduarda Azevedo, The Banking Secrecy, dẫn lại từ Elisa Rangel Nunes (2014), Tlđd. 28Dẫn lại từElisa Rangel Nunes (2014), Tlđd

29 Elisa Rangel Nunes (2014), Tlđd

`

44

Như vậy, có thể thấy mỗi quan điểm liên quan đến bản chất của nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng đều có những lý lẽ riêng của nó, tùy vào cách tiếp cận. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả luận án, bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH dù khôngđược quy định một cách trực tiếp từ nguyên tắc lập hiến về quyền con người30 nhưng thông qua những thông tin mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng, có thểbiết được

những thông tin cá nhân, tiền gửi ngân hàng, ưu đãi chitiêu…Những thông tin này cũng chứa đựng những yếu tố riêng tư, cần được bảo vệhợp pháp đểngăn chặn sự xâm phạm quyền cá nhân hoặc xâm phạm sở hữu cá nhân. Do đó, bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH cũng phải được coi là một giátrịđểgópphần bảo vệcác quyền riêng tưđó. Đồngthời, nếu xét từ nguồn gốc và mục đích của nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng, có thể nhận thấy, đây một nghĩavụbảo đảm bí mật nghềnghiệp, bắt nguồn từ mối quan hệ tin cậy, dần dần trở thành một nguyên tắc pháp lý được ghi nhận và bảo vệ, cóliên quan đến quyền quyền riêng tư của con người bởi các giao dịch của một cá nhân tại ngân hàng phản ánh trực tiếp nhu cầu, lối sống, sở thích cá nhân, hội nhómmà họlà

thành viên, những vấn đề liên quan đến hoạt động tài chính, kinh doanh của một người,… các thông tin riêng tư, cá biệt này của khách hàng được ngân hàng thu thập và lưu giữnhằm phục vụ hoạt động kinh doanh của mình. Do đó, với tư cách là một bên trong quan hệpháp luật, khi ngân hàng yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin đểphục vụcho hoạt động kinh doanh của mình thì các tổ chức này phải có nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng mà họcó được vàtrong chừng mực nào đó ngân hàng phải có nghĩavụngăn chặn việc tiết lộ bất hợp pháp thông tin liên quan đến khách hàng đểbảo vệkhách hàng khỏi bịquấy rầy đến cuộc sống hay công việc kinh doanh của họ.

2.2.3. Cơ sở pháp lý làm phát sinh nghĩa bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Những tranh luận liên quan đến bản chất của nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH nhưđềcập trên có liên quan đếncác cơ sởpháp lý làm phát sinh nghĩa vụbảo đảmbí mật thông tin khách hàng. Cụthểdưới đây:

Thứnhất, nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng trong HĐNH có thể phát

30 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, tại Điều 12 “Không ai có thểbịxâm phạm một cách độc đoán vàođời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệchống lại những xâm phạmấy.” Nhiềunước đã ghi nhận quyền con người này trong Hiến pháp.

`

45

sinh từ nguyên tắc bảo vệ quyền con người và quyền riêng tư cá nhân được ghi nhận trong Hiến pháp, luật chuyên ngành.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền riêng tư, theo đó quyền riêng tưđược hiểu là“quyền đượccho phép một mình”31 hay“sựkỳvọng rằng những thông tin cánhân được đềcập tại một nơi riêng tưsẽkhông được tiết lộ cho bất kỳ bên thứ ba nào biết; khi việc tiết lộđócó thể gây ra sự xấu hổ, đau khổ cho người có thông tin bị tiết

lộ”32…Nhưng nhìn chung có thể hiểu, đó là quyền của các cá nhân được phép giữ kín những thông tin, tư liệu, dữ liệu gắn liền với cuộc sống riêng tư của mình, quyền bất khảxâm phạm về thân thể, về nơiở, vềthư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tửkhác mà không một chủthểnào có quyền tiếp cận, công khai trừ trường hợp được chính người này đồng ý hoặc đượcbằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.33

Quyền được bímật thông tin là quyền cơ bản của con người. Nhiều nước trên thếgiới có quy địnhcụthểtrong Hiến pháp quyền này. Quyền riêng tư của cá nhân này làcơ sởcho nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng. Chẳng hạn, Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ quy định: mọi người đều có quyền được bảo vệ chống lại việc lạm dụng dữ liệu cánhân của họ.34 Quyđịnhnày cũng tìm thấy trong pháp luật của Đức, nơi mà các quyền cơ bản, đặc biệt là quyền riêng tư của cá nhân và của pháp nhân cũngđược quy định cụthểtrong Hiến pháp liên bang.35 Tại Mỹ, quyền riêng tư cá nhân trong lĩnh vực tài chính cũng đãđượccông nhận thường xuyên và duy trì bởi các tòa án,“quyền riêng tư” đóđược xem như là một quyền hiến định đã được công nhận bởi Tòa án Tối cao.36

Có thể thấy, nghĩavụbảo mật thông tin của khách hàng được một sốnướcban hành trong quy địnhcủaluật chungvới mụcđích chủ yếu là bảo vệ quyền riêng tưvềnhân thân, quyền con người. Tuy nhiên, việc xác định cơ chếbảo vệquyền riêng tư này

31– Toby Mendel, Andrew Puddephatt, Ben Wagner, Dixie Hawtin, Natalia Torres (2012), Global Survey on Internet Privacy and Freedom of Expression, the United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization, tr.9

– Global Internet Liberty Campaign (2002), Privacy and human righgts An International Survey of Privacy Laws and Practice, <http://gilc.org/privacy/survey/intro.html>, truy cập ngày 17/3/2016

32 Ronald B. Standler (1997), Privacy law in USA, <http://www.rbs2.com/privacy.htm.>, truy cập ngày 17/3/2016 33 Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền riêng tư trong thời đại công nghệ thông tin, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (9).

34 Khoản 2 Điều 13 Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ

35 Nguyễn Thanh Tú (2004), Nghĩavụ giữbí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, Tạp chí Khoa học pháp lý (1).

36 Robert S. Pasley (2002), Privacy Rights v. Anti-Money Laundering Enforcement, North Carolina Banking Institute, Volume 6, Issue 1, Article 7

`

46

có sựkhác nhauởtừng nước, trong từng hệthống pháp luật,điều nàyđượcthểhiện trong việc quyđịnh giới hạn bảo mật thông tin và cácchếtài ápđặt lên các vi phạm quyền riêng tư này. Bên cạnh đó, cũng có nhiều nước vì các lý do thực dụng hơn nhưnhằm thu hút tài chính từ các cá nhân, tổ chức không chỉ trong nướcmà cả ở nướcngoài; tăng cường năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng của quốc gia và hỗ trợ tăng trưởng trong lĩnh vực tài chính đã quy định nghĩa vụ này trong các luật chuyên biệt.37Đồng thời, cùng với những tiến bộcủakhoa học, công nghệ, những thay đổi trongđời sống xã hội đã dẫn đến sựhình thành và phát triển củaLuật bảo vệdữ liệu riêng tư của cá nhân trong pháp luật của các nước cả dân luật và thông luật, tính đến tháng 12 năm 2014, đã có 109 khu vực pháp lý có luật riêng tư bảo vệ dữ liệu cá nhân trên thế giới.38

Thứhai, nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng trong HĐNH có thể phát sinh từnghĩa vụbảo đảm bí mật nghềnghiệp.

Khi giao dịch với các TCTD, khách hàng mong muốn các tổ chức này sẽ bảo mật các thông tin củahọ.TCTD có nghĩavụbảo vệvàtừchối tiết lộ những thông tin màmình có được khi giao dịch với khách hàng. Nghĩavụnày tươngtựnhư nghĩavụcủa bác sĩ đối với bệnh nhân – bác sĩ có nghĩavụgiữcác bí mật riêng tư liên quan đến hồ sơbệnh án của bệnh nhân, đó làlời thềnghề nghiệp của bác sĩ -“Lời thềHippocrate” màmọi Y sinh trước khi được công nhận trở thành một thầy thuốc đều phải tuyên thệ;39 hay nghĩavụluật sư đối với khách hàng40 – luật sư phải giữ bí mật mọi thông tin của thân chủmình, đây là quy tắc đạo đức vàứng xửnghề nghiệp của luật sưđãđược công nhận. Các quy địnhvềyêu cầu giữ bí mật chuyên môn vàđạo đức nghềnghiệp trong

việcbảo mậtthông tin của khách hàng tồn tại trong các quy định của pháp luật nhiều nước theo hệ thống dân luật. Chẳng hạn Điều 28 Bộ luật dân sự Thụy Sĩ năm 1907 (Swiss Civil Code), sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định những thông tin liên quan đến các vấn

37 Hu Ying (2015), Report of Proceedings: Bank Secrecy Symposium, A Symposium at the Faculty of Law, National University of Singapore, 4-5 December 2014

38 Hu Ying (2015), Tlđd, tr.15

39 Hà Nguyên, Quyền riêng tư và được bảo mật thông tin của bệnh nhân,

<http://www.ykhoanet.com/binhluan/hanguyen/36.htm.>, truy cập ngày 1/2/2016

40 Luật sư phải giữ bí mật mọi thông tin của thân chủ mình, đây là quy tắc đạo đức vàứng xửnghề nghiệp của luật sư đãđược công nhậnởnhiều nước trên thế giới. Chẳng hạn, trong khoản 2.2.3 Quy tắcứng xửcủa Luật sư trong Liên minh châu Âu

Council of the Bars and Law Societies of the European Community–CCBE (2002), Code of Conduct for Lawyers in the European Union, <http://www.idhae.org/pdf/code2002_en.pdf>, truy cập ngày 18/3/2016

`

47

đề kinh tếcủamột người luôn đượccoi là riêng tư vàluôn đượcpháp luật bảo vệ bằng những chế tài khác nhau.ỞLuxembourg, Luật Bí mật ngân hàng áp đặt một nghĩavụchung lên bất kỳ nhân viên và những người khác làm việc cho tổ chức tài chính để duy trì bí mật bất cứ thông tin có được trong hoạt động chuyên môn của mình.

Thứba, nghĩavụbảo mật thông tin của khách hàng trong HĐNH có thể phát sinh từnghĩa vụ hợp đồng giữa ngân hàng và khách hàng.

Khác với cácnướctheo hệthống dân luật, cácnướctheo hệthống thông luật không ghi nhận nghĩavụbảo đảm bí mật thông tin khách hàng như một dạng của bí mật nghề nghiệp. Các nghĩa vụ liên quan đến bí mật thông tin khách hàng đều xuất phát từmối quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng và khách hàng.41

Các nước theo hệ thống dân luật thường xem nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng của TCTD là nghĩavụhợp đồng được xác định một cách mặc nhiên.42 TCTD với tư cách làmộtbên trong hợp đồng, phải tận tâm với khách hàng của mình trên cơ sởnguyên tắc thiện chí và trung thực.43 Thực hiện nguyên tắc đó, họ không được phép tiết lộthông tinvềtài khoản và các giao dịch của khách hàng cho bên thứ ba. Nghĩavụgiữbí mật này là một nghĩa vụngụý và không phụ thuộc vào thỏa thuận rõ ràng giữa các bên.44 Chẳng hạn, theo phápluật của Đức “không có bất kỳ quy định pháp lý rõ ràng nào quyđịnhrằng cáctổchức tài chính có trách nhiệm xử lýnhững vấn đềvềbảo mật thông tin khách hàng của mình hoặc người thứ ba. Thay vào đó, nghĩa vụgiữbí mật cho các vấn đềnhư vậy xuất phát từ quanhệhợp đồng hiện có giữa tổchức tài chính và các khách hàng, mối quan hệ nàythường được ngụý là một trách nhiệm ủy thác”.45 Tại Bỉ, nghĩavụgiữbí mật thông tin khách hàng phải được thỏa thuận thông quahợp đồng.Tuy

41 OECD (2000), Improving Access to Bank Information for Tax Purposes, tr.52

42 Sandra Booysen, Dora Neo (2017), Can Banks Still Keep a Secret? Bank secrecy in Financial Centres around the World, Cambridge University Press, tr.9

43 OECD (2000), Tlđd, tr.52

– Trung thực, thiện chí là thực hiện hành vi với ý định tốt một cách ngay thẳng, chính trực. Xem: HoàngThếLiên (Chủ biên) (2008), Bình luận khoahọcBLDS năm 2005,tậpI, Nxb Chínhtrịquốc gia, HàNội, tr. 28

– Nguyêntắctrung thực, thiện chívềmặtlý luận mang tínhgiảđịnh,nghĩa là các bên khi tham gia vào giao dịch dânsựmặcnhiênđượccoi là trung thực, thiện chí, bên nào cho rằng bên kia không hànhxửnhưvậythì phải chứng minh. Xem: TrườngĐạihọcLuật Hà Nội, Giáo trình Luật DânsựViệt Nam,tậpI, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, tr.55.

44 Beth A. Rushford (1984), The Effect of Swiss Bank Secrecy on the Enforcement of Insider Trading Regulations and the Memorandum of Understanding Between the United States and Switzerland, Boston College International and Comparative Law Review, Volume 7, Issue 2, tr.546

45 Alexander Vishnevskiy (2015), Bank Secrecy: a Look at Modern Trends from a Theoretical Standpoint, Pravo.

Zhurnal Vysshey shkoly ekonomiki, no 4, tr. 140–146 (in English)

`

48

nhiên, nếu các bên không thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng thì trách nhiệm bảo mật cóthểdựa trên một thỏa thuận ngụ ý,46 theo nguyên tắc thiện chí trung thực.47 Pháp luật Thụy Sĩ quy định: “nhân viên ngân hàng có nghĩa vụ duy trì bí mật liên quan đến các hoạt động của khách hàng là một phần trong hợp đồng gửi tiền. Nghĩa vụhợp đồng nàyđược bắt nguồn từLuật vềđại lý”.Theo đó, ngân hàng là một đại lý cho khách hàng của mình vànợhọmột nhiệm vụ của lòng trung thành, bao gồm cả nhiệm vụ phải giữ bí mật thông tin biết được khi thay mặt một ngân hàng. Đây là một nghĩavụngụý và không phụthuộc vào thỏa thuận rõ ràng.48

Cơ sởcủa nghĩavụbảo mật theo khía cạnh này cũng được ghi nhậnởnhiều nước

theo hệthống thông luật như Anh, Mỹ, Australia, Ireland…49 Theo đó, khi tiến hành giao dịch với các TCTD, các cá nhân hay pháp nhân đều có sự tin tưởng và tín thác đối vớiTCTD đó. Vì vậy, hợp đồng, giao dịch giữa TCTD và khách hàng có thể không quyđịnh cụthể, rõ ràng nghĩavụcủaTCTD trong việc giữ bí mật thông tin khách hàng. Tuy nhiên, các bên tham gia hợp đồng cần phải ngầm hiểu rằng đó là nghĩavụbắt buộc của TCTD trong quá trình tiến hành HĐNH. Mặt khác, nghĩavụnày còn xuất phát từ nguyên tắc thiện chí, tôn trọng lợi ích của nhau trong các giao dịch dân sự, thương mại. Điều nàyđược khẳng định rõ trong pháp luật của các quốc gia theo hệ thống thông luật.50

Như vậy, theo khía cạnh này, quy định pháp luật các nước dân luật và thông luậtđều thống nhất rằng bảo mật thông tin khách hàng là nghĩa vụ mặc nhiên của các TCTD xuất phát từ điều khoản ngầm về giữ bí mật thông tin trong hợp đồng.

Tóm lại, bảo mật thông tin khách hàng của các TCTD không chỉ phát sinh từsựtôn trọng quyền riêng tưcủacá nhân, nghĩavụliên quan đến hoạt động chuyên môn nghề nghiệp mà còn dựa trên nguyên tắc thiện chí, trung thực trongluật vềhợp đồng, pháp luật vềđại lý.

ỞViệt Nam, nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng được hình thành dựa vào nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền riêng tư trong Hiến pháp và trong Bộ luật

46 Jacques Richelle v. Freya Mareels (2014), 4 Belgium in Neate and Godfrey: Bank Confidentiality, Fifth edition, Bloomsbury Professional, tr.83-102.

47 European Financial market lawyer Group (2014), Survey on Banking Secrecy Regimes in the Euro Area 48 Beth A. Rushford, Tlđd.

49 The European Banking Federation, Anti-Fraud and Anti-Money Laundering Committee & Fiscal Committee (2004), Report on Banking Secrecy, tr.27, 69, 11,18.

50 Hu Ying (2015), Tlđd

`

49

dân sự. Cụ thể, tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định:“Mọi người có quyền bất khảxâmphạm vềđời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đìnhđược pháp luật bảo đảm an toàn. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín vàcác hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữtrái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.”

Với căn cứ này chưa giải thích được nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của ngân hàng đối với pháp nhân vàtổchức khác tham gia giao dịch với ngân hàng nhưng quyđịnh trên được xem là có ý nghĩa pháp lý để xây dựng những quy định về nghĩavụbảo mật của các chủthểnắm giữthông tin của khách hàng.

Đồng thời, BLDS năm 2015 đã ghi nhận một số nghĩavụchung về bảo mật thông tin:51đời sốngriêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình làbất khảxâm phạm vàđược

pháp luật bảo vệ…Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tinvềđời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Bên cạnh đó,bảo mật thông tin khách hàng còn có thểcăn cứvào nguyên tắc thiện chí và hợp tác, tôn trọng lợi ích của nhau trong giao dịch dân sự, thương mại. CụthểKhoản 3 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định:“Cánhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sựcủa mình một cách thiện chí, trung thực”.52 Nguyên tắc này không có giátrịbắt buộc đối với nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng, chỉlà định hướng cho những quy định cụthểvềgiao dịch giữa TCTD và khách hàng.

Ngoài ra, vấn đề bảo mật thông tin cũng được đề cập trong các quy định về giao kếthợp đồng, cungứng dịch vụ. Cụthể: Điều 387 BLDS năm 2015vềthông tin trong giao kếthợp đồng:“Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.” Nếu vi phạm, gây thiệt hại thì phải bồi thường. Hoặc Điều 517 BLDS năm 2015 cũng có quyđịnh vềnghĩavụ củabên cung ứng dịch vụ:“Giữ bí mật thông tin mà mình biết được

51Vấn đềnày đã được quy định tại Điều 34 BLDS năm 1995, Điều 38 BLDS năm 2005, Điều 38 BLDS năm 2015. 52 Trước đây, nội dung này cũng được quy định tại Điều 6 BLDS năm 2005

`

50

trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quyđịnh”.Nếu tiết lộ bí mật thông tin của bênsử dụng dịch vụthì phải bồi thường. Ngoài ra, Điều 565 BLDS năm 2015 cũng có quyđịnh vềnghĩavụ củabên đượcủyquyền: “Giữbí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việcủyquyền”

Đây là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng những quy định về bảo mật thông tin đối với các loại chủ thể, trong từng lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế – xã hội, trongđó có bảo mật thông tin khách hàng trong lĩnh vực HĐNH. Nhằm thực hiện quy định vềbảo mật thông tin của khách hàng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đãđược các cơquan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Theo đó, nghĩavụbảo mật thông tin của khách hàng đượcquyđịnhnhư sau: TCTD, CNNHNNg phải bảo đảmbímậtthông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch củakhách hàng tại TCTD, CNNHNNg; không được cung cấp thông tin này cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặcđược sựchấp thuận của khách hàng.53 TCTD, CNNHNNg có trách nhiệm từ chối việcđiều tra, phong tỏa, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi của khách hàng, trừ trường hợp cóyêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sựchấp thuận của khách hàng.54 Bên cạnh đó, pháp luật cũng ghi nhận nghĩavụcủa các chủthểcó thẩm quyền tương ứng: cán bộ, công chức NHNN có nghĩavụgiữbí mật thông tin hoạt động nghiệp vụ của NHNN, của các TCTD và bí mật tiền gửi của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.55 Nhân viên, người quản lý, người điều hành TCTD, CNNHNNg,56 các TCTD khác57 có nghĩavụbảomật thông tin khách hàng tại các TCTD, CNNHNNg.

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, bảo mật thông tin khách hàng lànghĩavụbuộc các TCTD phải triệt để tuân thủ. TCTD không đượcđểcho thông tin vềcuộc sống riêng tư cá nhân, riêng tư tài chính của khách hàng bị chủ thể khác tự do tiếp cận, khai thác nếu những thông tin đó TCTD có đượcdo khách hàng cung cấp hoặc

53 Khoản 2, 3 Điều 14 Luật Các TCTD năm 2010. 54 Khoản 3 Điều 10 Luật Các TCTD năm 2010.

55 Khoản 3 Điều 38 Luật NHNNVN năm 2010. 56 Khoản 2 Điều 14 Luật Các TCTD năm 2010.

57 Các tổ chức này bên cạnh việc nắm giữ các thông tin về khách hàng mà nó giao dịch trực tiếp, TCTD còn có thểbiết được các thông tin về khách hàng của các TCTD khác thông qua hoạt động trao đổi thông tin giữa các TCTD (Khoản 3 Điều 13 Luật các TCTD năm 2010).

`

51

thông tin phát sinh trong quá trình giao dịch, cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng của mình.

Vấn đềđặt ra là liệu có phải tất cả các thông tin khách hàng mà TCTD có được trong quá trình này bắt buộc phải bảo mật không?

2.3. Phạm vi của nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Đểxác định đúng đắn phạm vi của nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH cần làm rõ: i) phạm vi thông tin nào của khách hàng cần được các TCTD bảo mật; ii) thời điểm phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng.

2.3.1. Phạm vi thông tin của khách hàng cần được bảo đảm bí mật

Về nguyên tắc, TCTD có nghĩa vụ bảo mật tất cả các thông tin khách hàng phát sinh trong mối quan hệgiữa khách hàng và TCTD. Bởi trong quanhệpháp luật giữa khách hàng và các TCTD, quyền và nghĩavụcủacác chủ thể này luôn thống nhất, phùhợp với nhau. Đối với các TCTD, khi các tổ chức này yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình thì các tổ chức này phải cónghĩavụbảo mật thông tin khách hàng mà họ có được, đồng thời các TCTD cũng cóquyền từ chối yêu cầu cung cấp thông tin của bên thứ ba nhằm bảo đảm lợi ích của khách hàng. Đối với khách hàng, khi tham gia vào quan hệ với các TCTD sẽ có nghĩa vụ cung cấp các thông tin theo yêu cầu, đồng thời khách hàng cũng có đặc quyền là các thông tin về tài khoản, giao dịch và một số thông tin khác củamình phải được bảo vệmột cách hợp pháp và không thể bị xâm hại bởi bên thứ ba.

Nhưvậy, vềmặt lý luận, loại thông tin khách hàng cần được bảo mật có thểgiảđịnh các trường hợp sau: i) TCTD phải bảo mật tất cả các thông tin được liệt kê chẳng hạn như thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch khác của khách hàng. ii) TCTD phải có nghĩa vụ bảo mật tất cả những thông tin phát sinh trong mối quan hệ giữa khách hàng và TCTD. iii) TCTD phải có nghĩavụbảo mật tất cả những thông tin phát sinh trong mối quan hệ giữa khách hàng và TCTD, trừ những thông tin khách hàng được công bố rộng rãi hoặc được nhiều người biết đến.

Việc xác định loại thông tin mà TCTD có nghĩa vụ bảo mật trong mỗi trường hợpđều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Chẳng hạn,đối với trường hợp thứnhất, ưuđiểm là đã xác định rõ phạm vi thông tin nào của khách hàng cần đượcbảo mật. Điều

`

52

này tạo ra một cơchếrõ ràng trong việcbảomật, dễdàng xácđịnh trách nhiệm của TCTD trong việc bảo mật thông tin của khách hàng. Nhưng thông tin khách hàng mà các TCTD nắm giữ không chỉ bao gồm thông tin về tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch khác của khách hàng mà còn có thể có những thông tin liên quan đến tình hình tài chính của cá nhân, doanh nghiệp và dự án đầu tư, phương thức sản xuất, kinh doanh củakhách hàng và cũng có thể bao gồm cả tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh

doanh củacác đốitác của khách hàng.…Nếu đối thủcạnh tranh của khách hàng được ngân hàng cung cấp những thông tin này, từđó có biện pháp cạnh tranh không lành mạnh. Điều này sẽ gây thiệt hại cho khách hàng của TCTD.

Đối với trường hợp thứ hai, TCTD phải có nghĩa vụ bảo mật tất cả những thông tin phát sinh trong mối quan hệ giữa khách hàng và TCTD thì phạm vicủanghĩavụ bảo mật thông tin quá rộng.Điều này sẽ tạo đượcsự tin tưởng tuyệt đối cho khách hàng. Bởi mọi khách hàng đều mong muốnđượcgiữbí mật những thông tinđó và họ có sựtin tưởng, tín thác đối với TCTD. Nhưng điều này một mặt có thể sẽ gây những rủi ro pháp lý cho TCTD trong quá trình kinh doanh của mình, mặt khác cũng có thể tạo cơ hội thuận lợi cho một số khách hàng thực hiện những hành vi sai trái như mua bán ma túy, rửa

tiền, tài trợ khủng bố…gây thiệt hại cho lợi ích chung.

Đối với trường hợp thứ ba, TCTD phải có nghĩa vụ bảo mật tất cả những thông tin phát sinh trong mối quan hệ giữa khách hàng và TCTD, trừ những thông tin khách hàng đượccông bố rộng rãi hoặc được nhiều người biết đến. Quan điểm này vừa có ưuđiểm, vừa có nhữnghạn chếđólà rất khó trong việc xác định trách nhiệm của TCTD vàkhách hàng, thông tin nào của khách hàng được coi làđãđượcnhiều người biết đến?Điều này sẽ gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm của các bên.

Thực tiễn pháp luật các nước cũng đã có những quy định liên quan đến nội dung này và theo hai cách sau:

i) Một là, liệt kê các thông tin khách hàng mà TCTD có được thông qua việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ của mình.

Theo cách thức này, loại thông tin khách hàng mà TCTD có nghĩavụbảomậtđược liệt kêchi tiết thông qua việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ của TCTD. Chẳng hạn, tại Singapore, Điều 40A Chương 19 Luật Ngân hàng Singapore năm 1970, sửa đổi bổsung năm 2018 quy định:“ngân hàng có nghĩa vụ bảo mật các thông tin liên quan

`

53

đến tài khoản, tiền gửi, các khoản đầu tư của khách hàng và các hợp đồng lưu ký an toàn của khách hàng/thỏa thuận dịch vụ két an toàn” hoặc Nga, Luật liên bangvềNgân hàng và hoạt động ngân hàng, tại Điều 26 về bí mật ngân hàng quy định: ngân hàng cónghĩa vụ bảo mật thông tin về giao dịch, tài khoản, tiền gửi của khách hàng và ngân hàng giao dịch của họ cũng nhưbất kỳthông tin nào khác nếu không mâu thuẫn với Luật Liên bang.58 Còn tại Thụy Điển, Đạo luật Kinh doanh ngân hàng (Chương 1, Điều 10) có quy định ngân hàng có nghĩavụbảo mật tất cảnhững thông tin về mối quanhệgiữa ngân hàng và khách hàng (ví dụ: tài sản, giao dịch, khoản vay). Ngân hàng thậm chí còn không được thông báo cho người khác biết rằng một người nào đó là khách hàng của ngân hàng.59

Tại Anh, theoán lệTournier v. National provincial and Union bank of England:60 “ngân hàng sẽ khôngtiết lộcho người thứ ba mà không có sự đồng ý của khách hàng một cách rõ ràng hayngụý, trạng thái của tài khoản của khách hàng hoặc bất kỳ giao dịch nào của khách hàng với ngân hàng, hoặc bất kỳ thông tin nào liên quan đến khách hàng có được thông qua việc giữ tài khoản của khách hàng, trừ khi ngân hàng buộc phải thực hiện theo lệnh của Tòa án, hoặc các trường hợp làm phát sinh nhiệm vụ công khai hoặc bảo vệquyền lợi của chính ngân hàng.”

ii) Hai là, quyđịnh tấtcảcácdữliệu tài chính, thông tin liên quanđến khách hàng mà TCTD có được thông quahoạt độngnghiệp vụ của mình, ngoại trừ những thông tin khách hàng được công bố rộng rãi hoặc được nhiều người biết đến, chẳng hạn Thụy Sĩ, Điều 47 Luật liên bang về Ngân hàng và các Ngân hàng tiết kiệm cấm tiết lộbất cứthông tin nào mà khách hàng đã ủy thác cho ngân hàng.61 Tuy nhiên, theo các quyết định của tòa án, các ngân hàng khôngđược tiết lộcho bên thứ ba, cho dù là cá nhân hoặc cơ

58 The European Banking Federation, Anti-Fraud and Anti-Money Laundering Committee & Fiscal Committee (2004), Report on Banking Secrecy, Tlđd, tr.59

59 The European Banking Federation, Anti-Fraud and Anti-Money Laundering Committee & Fiscal Committee (2004), Report on Banking Secrecy, Tlđd, tr.23

60 Tournier v. National Provincial and Union Bank of England (1924), 1 KB 461,

“It is an implied term of the contract between a banker and his customer that the banker will not divulge to third persons, without the consent of the customer express or implied, either the state of the customer’s account, or any of his transactions with the bank, or any information relating to the customer acquired through the keeping of his account, unless the banker is compelled to do so by order of a Court, or the circumstances give rise to a public duty of disclosure, or the protection of the banker’s own interests requires it.”,

<http://www.uniset.ca/other/css/19241KB461.html>, truy cập ngày 18/3/2016

61 Swiss Federal Act on Banks and Savings Banks năm 1934, được sửa đổi,bổsung năm 2019.

`

54

quan chính phủ các thông tin có tính bí mật của khách hàng, trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác. Cụthểgồm các thông tin sau: thông tin về mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, thông tin của khách hàng về tình hình tài chính, mối quan hệ giữa khách hàng với các ngân hàng khác (nếu có), các giao dịch của chính ngân hàng nếu việc tiết lộđó gây hại cho khách hàng;62 ỞLuxembourg, Điều 41 Luật bí mật ngân hàng năm 1993 áp đặt một nhiệm vụ chung trên bất kỳ nhân viên và những người khác làm việc cho một tổchức tài chính để duy trì bímật bất cứthông tin có được trong hoạt động chuyên môn của mình;63 tại Ý, bảo mật thông tin khách hàng là một nghĩa vụ ngụ ý, theođó các tổ chức tài chính bắt buộcphải từchối tiết lộ bất kỳ thông tin liên quan đến mối quan hệ giữa họ và khách hàng củahọ;64 cònởNhật Bản không có luật về bí mật ngân hàng cụ thể, trong đó quy định nghĩavụbảo mật và các vi phạm cụ thể. Tuy nhiên, bímật ngân hàng được công nhận là một nghĩavụpháp lý,cảtrên thực tế và trongtiền lệpháp, trong đó quy định nhiệm vụ của ngân hàng là bảo mật tất cả các dữ liệu tài chính, thông tin liên quan đến khách hàng.65

Có thể thấy, việc quy định phạm vi thông tin khách hàng cần được bảo mật cósựkhác nhau giữa hai hệ thống pháp luật. Cụthểpháp luật các nước dân luật thường quyđịnhnghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng không chỉ giới hạn trong phạm vi thông tin khách hàng cung cấp, mà còn làbất kỳthông tin nào liên quan đến khách hàng trong quátrình khách hàng giao dịch với TCTD sẽ được bảo mật nếu thông tin đó có tính bí mật; còn pháp luật của các nước thông luật thì lại quy định liệt kê thông tin khách hàng cầnđược bảo mật.Việc xác định phạm vi thông tin khách hàng cần bảo mật như trên xuất phát từ truyền thống lịch sử(bảo vệquyền riêng tư), tăng cường năng lực cạnh tranh, thu hút tài chính từ các tổ chức, cá nhân khác không chỉ trong nước mà cảởnước ngoài. Tuy nhiên điểm chung của cả hai hệ thống pháp luật làđều quy định bảo mật bất kỳthông tin nào liên quan đến khách hàng trong quá trình TCTD giao dịch với khách hàng.

62 Maurice Aubert (1984), The Limits of Swiss Banking Secrecy under Domestic and International Law, tr.275. 63Luxembourg banking secrecy (Law of 5 April 1993 on the financial sector, as amended),

<https://www.imolin.org/doc/amlid/Luxembourg_Law_1993.pdf>, truy cập ngày 18/3/2016

– The European Banking Federation, Anti-Fraud and Anti-Money Laundering Committee & Fiscal Committee (2004), Report on Banking Secrecy, Tlđd, tr.20

64 The European Banking Federation, Anti-Fraud and Anti-Money Laundering Committee & Fiscal Committee (2004), Report on Banking Secrecy, Tlđd, tr. 19.

65 The European Banking Federation, Anti-Fraud and Anti-Money Laundering Committee & Fiscal Committee (2004), Report on Banking Secrecy, Tlđd, tr.68.

`

55

Tại Việt Nam, phạm vi thông tin khách hàng cần đượcbảo mật đượcquy định tạiĐiều 14 Luật các TCTD năm 2010: “TCTD, CNNHNNg phải bảo mậtđólà những thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg”. Như vậy, pháp luật Việt Nam đã quy định phạm vi thông tin khách hàng mà các TCTD có nghĩa vụ bảo mật theo phương thức liệt kê và rõ ràng, đây là các thông tin rất quan trọng của khách hàng, nếu TCTDtiết lộmột trong các thông tinđịnh danh, chẳnghạn mẫu chữký của khách hàng, kẻ gian có thểlợi dụng đểrút tiền hoặc cónhững hành vi khác như mạo danh khách hàng để thực hiện các giao dịch mà khách hàng

không mong muốn, yêu cầu TCTD cung cấp thông tin về khách hàng… trên cơ sở giảmạo chữ ký gây thiệt hại cho tài sản của khách hàng.

Liên quan đến thông tin số dư tài khoản, nắm được các thông tin này có thể biếtđược tình hình kinh doanh, khả năng tài chính hiện tại của khách hàng tại một thời điểm nhất định. Điều này cũng có nghĩa là hoàn toàn có thể đánh giáđược khảnăng cạnh tranh của khách hàng với các đối thủ. Nếu TCTD tiết lộsốdư tài khoản của khách hàng, trong nhiều trường hợp sẽ làm mất cơ hội kinh doanh của khách hàng. Các đối thủ cạnh tranh khai thác thông tinnày đểdành chiến thắng trong kinh doanh, gây thiệt hại cho khách hàng. Khi đó lợi ích chính đáng của khách hàng đã bị xâm hại. Ví dụ, đối thủ cạnh tranh có thể chèn ép khách hàng trong việc cùng mua, bán sản phẩm do đánh giáđược khảnăng chi trả của khách hàng trong thời điểm đó.

Còn thông tin liên quanđếngiao dịch nộp tiền, rút tiền, chuyển tiền, nhận tiền của khách hàng. Đây là hoạt động cung ứng dịch vụ tương đối đơn giản của ngân hàng đối với khách hàng. Đểthực hiện các giao dịch nộp tiền, rút tiền, chuyển tiền, nhận tiền, khách hàng thường phải cung cấp cho ngân hàng các thông tin cần thiết về người chuyển

tiền, người nhận tiền, nơi nhận, số lượng tiền chuyển…. Tất cả những thông tin này ngân hàng có nghĩa vụ bảo mật vì đó là quyền được giữ bí mật riêng tư của khách hàng.

Đối với thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng, ngân hàng phải có nghĩa vụ bảo mật nhằm bảo đảm an toàn tiền gửi, tài sản gửi, bảo đảm được các bí mật riêng tư của người gửi tiền, tài sản.

Điều này cũngđãđược hướng dẫn cụthểtại Khoản 15, Khoản 18, Khoản 20 Điều 5 Quyết định số 45/QĐ-NHNN ngày 11 tháng 12 năm 2007vềđộmật của từng loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trong ngành ngân hàng thì tài liệu, vật mang bí mật nhà

`

56

nước trong ngành Ngân hàngthuộc độ“Mật” gồm:Tài liệu liên quan đến tiền gửi và tài sản khác của từng khách hàng tại các TCTD. Mẫu chữ kýcủa chủtài khoản,mẫu chữkýdùng trong công tác thanh toán; mã số quy định cho khách hàng để xác định thẻ cá nhân của người dùng thẻ thanh toán, thẻ tín dụng và các loại thẻ khác dùng trong HĐNH.

Tuy nhiên, do tính đặc thù của HĐNH, nên các thông tin mà khách hàng cung cấp cho TCTD không chỉ là các thông tin của chính khách hàng mà có thể còn bao gồm các thông tin từ các đối tác của khách hàng.Ví dụnhư trong thanh toán bằng thư tín dụng, ngân hàng thông báo (ngân hàng của bên bán) có thể không có mối quan hệ trực tiếp với bên mua hàng nhưng ngân hàng thông báo có thểbiết được nhữngthông tin như khối

lượng, giá cả, thời gian nhận hàng, thời gian thanh toán… của bên mua. Nếu đối thủ cạnh tranh của bên mua hàng được ngân hàng thông báo cung cấp những thông tin này thìđối thủđó có thểcó biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép bên mua hàng và kết quảlà có thể gây thiệt hại cho bên mua hàng. Do đó TCTD cũng cần phải có nghĩavụbảo mật những thông tin của đối tác của khách hàng.

Đồng thời, thông tin khách hàng trong HĐNH không chỉ gồm các thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi và các giao dịch khác của khách hàng như hướng dẫn tại Nghị định số 117/2018/NĐ-CP bởi HĐNHgồmcác hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Song thông tin khách hàng liên quan đến hoạtđộng cấp tín dụng lại chưa được quan tâm điều chỉnh.

Trong hoạt động cấp tín dụng, TCTD có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sửdụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng.66 Ngoài ra, các TCTD còn có thể yêu cầu khách hàng cung cấp toàn bộ các báo cáo hàng quý, năm về tình hình sản xuất kinh doanh và những thông tin khác liên quan đến vốn vay. Như vậy, TCTD thông qua quá trình xét duyệt dự án cho vay đã sở hữu gần nhưtoàn bộ các thông tin liên quan đến tài chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng, kểcảnhững bí mật kinh doanh khác của khách hàng. Tuy nhiên, pháp luật đã không ghi nhận TCTD phải bảo mật các thông tin ấy của khách hàng. Việc này có thểảnh hưởngđến lợi ích chính đáng của khách hàng.

66 Khoản 1 Điều 94 Luật các TCTD năm 2010

`

57

Ởgóc nhìn khác, thiếu những quy định về bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt độngcấptín dụng không chỉ gây thiệt hại cho khách hàng mà còn gián tiếp gây thiệt hại cho các TCTD. Vì TCTD không bị ràng buộc rõ ràng về nghĩavụbảo mật các thông tin trong hoạt động này, do đó trong quá trình cung cấp các thông tin để vay vốn, khách hàng cũng rất e dè, lo ngại thông tin bịtiết lộsẽgây thiệt hại, từ đó cung cấp thông tin khôngđầy đủ, điều này có thểgây khó khăn cho hoạt động xét duyệt cấp tín dụng vàTCTD có thể đưa ra các quyết định sai lầm. Chẳng hạn, TCTD ra quyết định không chấp thuận khách hàng có lịch sử tín dụng tốt. Trường hợp này sẽ dẫn đến việc khách hàng gặp khó khăn trong vay vốn, trở ngại trong chiến lược kinh doanh,ảnh hưởng đếnhoạtđộng sản xuất. Vềphía TCTD, mất đi cơ hội tăng thu nhập, mất đi một khách hàng.

Tóm lại, cóthểthấy rằng các thông tin liên quan đến khách hàng mà các TCTD thông qua hoạt động nghiệp vụ của mìnhnắm giữrất đa dạng và là những thông tin rất quan trọng, một khi bị các chủthểkhông có quyền tiếp cận vàcác đối thủcạnh tranh khai thác, sửdụng sẽgây nhiều bất lợi, nhữngtổn thất vềkinh tế cho khách hàng, quấy

rối hoạt động kinh doanh bình thường của khách hàng…MộtTCTD không giữ bí mật thông tin khách hàng thường sẽ mất lòng tin của khách hàng nói riêng và của công chúng nói chung, từđó sẽảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh của mình. Song, nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của TCTD sẽ phải duy trì đến khi nào, khi nào nghĩavụnày sẽchấm dứt?

Việc xác định thời hạn bảo mật thông tin khách hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của TCTD trong việc bảo mật thông tin khách hàng. Chẳng hạn, những khách hàng dù đã chấm dứt giao dịch với các TCTD nhưng những thông tin củahọvẫn còn giá trịnếu bịđối thủ cạnh tranh của khách hàng khai thác hay những thông tin này vẫn cần được giữ bí mật vì vấn đề riêng tư.

2.3.2. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin khách hàng

Về mặt lý luận, có nhiều lý dohợp lý đểbuộc các TCTD phải bảo mật thông tin của khách hàng cả trước, trong và sau khi kết thúc quan hệhợp đồng.

Trước hết, thông tin được khách hàng cung cấp cho TCTD trước khi bắt đầu thỏa thuận hợp đồng có thể là thông tin tương tự được cung cấp bởi khách hàng sau khi thỏa thuận đó được đưa ra; do đó các thông tin như vậy thuộc trách nhiệm bảo mật của TCTD.

`

58

Thứhai, thông tin cung cấp cho TCTD vào bất kỳ thời điểm nào trong mối quan hệgiữa TCTD và khách hàngthực sựthuộc trách nhiệm bảo mật của TCTD theo nguyên tắc tin cậy, tín thác và theo nghĩa vụ chuyên môn nghề nghiệp.

Thứba, các thông tin liên quan đến riêng tư, cá nhân của khách hàng cần phảiđược TCTD tôn trọng và bảo đảm bí mật bởi việc tiết lộbất kỳthông tin bí mật nào của khách hàng sau khi chấm dứt mối quanhệgiữa TCTD và khách hàng có thể gây ra tổn thất hoặc thiệt hại cho người đó.

Cuối cùng, thông tin bí mật của khách hàng có thể có tính nhạy cảm vềmặtthương mại và việc tiết lộ có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh sau đó của họ.

Với cácyếu tốtrên, dường như trách nhiệm bảo mật của ngân hàng phải được duy trì vô thời hạn, ngay cả sau khi khách hàng qua đời, miễn là luật pháp không quyđịnh thời gian cụthểcho việc chấm dứt nghĩavụ.

Tuy nhiên, trên thực tiễn, việc xác định thời hạn bảo mật thông tin khách hàngđược quy định không giống nhauởtừng nước. Chẳng hạn,ởAnh, trong Án lệ Tounier năm 1924, Tòa án Anh đã xác định rõ rằng nghĩa vụ bảo mật không chỉ giới hạn khi tồn tại mối quan hệ với khác hàng mà còn tiếp tục sau khi chấm dứt;67 cònởAi Len, nghĩa vụbảo mật thông tin khách được áp dụng cả trước khi mối quan hệ giữa ngân hàng vàkhách hàng bắt đầu, sau khi nó chấm dứt, và không bị xóasổkhi đóng tài khoản;68 ThụyĐiển cũng quy định: nghĩa vụ bảo mật tiếp tục ngaycảsau khi mối quan hệ đã chấm dứt;69 pháp luật Đức quy địnhtất cảcác thông tin có được trong hợp đồng và trước giaiđoạn ký kết hợp đồng giữa ngân hàng và khách hàng đều được ngân hàng bảo mật.70

Có thể nhận thấy rằng, pháp luật nhiều nước trên thế giới đã quyđịnhnghĩavụbảo mật thông tin khách hàng không chỉ giới hạn khi tồn tại mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng mà còn áp dụng cả trước và sau khi mối quan hệ này chấm dứt.

ỞViệt Nam, Luật các TCTD năm 2010 và các văn bản hướng dẫn liên quan cũng quyđịnhthông tin TCTD, CNNHNNg phải bảo đảmbí mật thông tin do khách hàng

67– Tournier v. National Provincial and Union Bank of England (1924), 1 KB 467

– Ameera Alqayem (2014), The banker customer confidential relationship, The degree of PhD in law, Brunel University, tr.101

68 The European Banking Federation, Anti-Fraud and Anti-Money Laundering Committee & Fiscal Committee (2004), Report on Banking Secrecy, Tlđd, tr.18

69 The European Banking Federation, Anti-Fraud and Anti-Money Laundering Committee & Fiscal Committee (2004), Report on Banking Secrecy, Tlđd, tr.23

70 Hu Ying (2015), Tlđd, tr.20

`

59

cung cấp, thông tin phát sinh trong quá trình khách hàngđềnghị hoặcđượcTCTD, CNNHNNg cungứngcác nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động được phép.71 Điều này cho thấy, pháp luật Việt Nam bước đầu cũng đã thừa nhận việc bảo mật thông tintrướckhi hình thành mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Vậy khi nào việc bảo mật thông tin của các TCTD sẽ chấm dứt?.

Theo Điểm b Khoản 2 Điều 14 Nghịđịnhsố117/2018/NĐ-CP, quy định về trách nhiệm của TCTD: “Đảm bảo an toàn, bí mật thông tin khách hàng trong quá trình cung cấp, quản lý, sử dụng, lưu trữ thông tin khách hàng”. Theo quy định này, có thể hiểu lànghĩavụbảo mật thông tin khách hàng củaTCTD không giới hạnvềthời gian. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 15, Khoản 18, Khoản 20 Điều 5 Quyết địnhsố45/QĐ- NHNN ngày 11 tháng 12 năm 2007 vềđộmật của từng loại tài liệu, vật mang bí mật nhànước trong ngành ngân hàng nhưđãđềcậpthì theo Điểm c Khoản 1 Điều 19 Luật Bảo vệbí mật nhà nước năm 2018, thời hạn giải mật đối với những thông tin này là 10 năm. Có thể nhận thấy,một mặtpháp luật Việt Nam hiện hànhcó sựtương thích với

pháp luật của nhiều nước trên thế giới khi quy định nghĩavụbảo mật thông tin khách hàng khôngchỉtồn tại khi hình thành mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng màcòn áp dụng cả trước và sau khi mối quan hệ này chấm dứt. Quy định này là phù hợp, đãkhắc phục được những hạn chế trong các quy định pháp luật trước đây.72 Mặt khác, quyđịnh thời hạn chấm dứt nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH của TCTD chưa có sự thống nhất, rõ ràng, nên chăng cần được hướng dẫn rõ ràng, cụthểhơn.

Tóm lại, bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH là nguyên tắc được ghi nhận trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Việc xác định cụthểphạm vi của nghĩa vụcó ý nghĩa rất quan trọng. Đây làcơ sởđểxác định vàxửlý vi phạm nghĩa vụbảomật thông tin và là cơ sởbảo đảmquyền đượcbảo mật thông tin củakhách hàng trong HĐNH.

2.4. Sự cần thiết phải bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động Ngân hàng ở Việt Nam

Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam Pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *