PHÁP LUẬT PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG SẠCH TẠI VIỆT NAM

PHÁP LUẬT PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG SẠCH TẠI VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nhu cầu sử dụng năng lượng trên thế giới ngày càng tăng mạnh mẽ cùng với tiến trình phát triển kinh tế- xã hội. Hiện nay, năng lượng hóa thạch đặc biệt lànăng lượng dầu mỏ, thanđávẫn chiếm vai trò vô cùng quan trọng và chưa có nguồn năng lượng nào có thể thay thế. Tuy nhiên, các nguồn năng lượng hiện tại chủ yếu ởdạng không tái tạo được, đang trong tình trạng nhanh chóng bị cạn kiệt và việc sửdụng chúng có nhiều tác độngtiêucựctới môi trường, gây biếnđổi khí hậu, hiệu

ứng nhà kính… Những quốc gia không có sẵn hoặc không khai thác, sản xuất được những nguồn năng lượng hóa thạch phảiphụthuộc vào nhập khẩu năng lượng từnước ngoài. Thủy điện lớn và nhiệt điện đã mang đến văn minh điện cho nhân loại nhưng ngành công nghiệp này cũng đãbộc lộ những hạn chế đối với môi trường. Công nghệ điện hạt nhân từng được coi là giải pháp bổ sung, thay thế cho nhiệtđiện, thủy điện và được thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, sau những thảm họa phóng xạ như Checnobưn (1986), Fukushima (2011) vớihậuquả vô cùng nghiêm trọng cho môi trường, sức khỏe con người thì các quốc gia đã dè dặt trong phát triển điện hạt nhân và điện hạt nhân không được coi là nguồn năng lượng thân thiện với môi trường nữa.

Trước tình hình đó, nhiều quốc gia trên thế giới đã cố gắng nghiên cứu, tìm kiếm và đưa vào sử dụng các nguồn năng lượng mới thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống và đã thành công trong lĩnh vực này mang lại hiệu quả lớn về kinh tế và môi trường. Nguồn năng lượng mới phải có trữ lượng gần như vô tận hoặc tái tạo được và việc khai thác, sản xuất,sửdụng ít hoặc không gây tác hại tới môi trường, chi phí thấp. Trên thực tế, hiện nay, chúng ta thường hay dùng khái niệm năng lượngsạchđể chỉnhững nguồn năng lượngcó tính năng tiết kiệm chi phí và thân thiện với môi trường. Những nguồn năng lượng sạch có thểkhai thác, sản xuất và sử dụngtrong đời sốngđãđược nhận diện đến nay gồm có: thủyđiện nhỏ, năng lượnggió, năng lượngmặttrời, năng lượngsinh khối, năng lượng khí sinh học, nhiên liệu sinh học, năng lượng từnguồn rác thải sinh hoạt, năng lượng

địa nhiệt, năng lượng từ sóng biển…

2

Trong những năm qua để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, chúng ta đã khai thác các nguồn năng lượng hóa thạch sẵn có như than đá, dầu khí. Việc khai thác quá mức làm cho các nguồn năng lượng này đang dần cạn kiệt. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởngmạnh mẽ của biến đổi khí hậu. Hai nguồn cung điện chính là thủyđiệnlớnvà nhiệt điện không đáp ứng nhu cầu vànước ta vẫn phải nhập khẩu điện. Trong khi đó, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về năng lượng sạch. Chúng ta có hầu hết các nguồn năng lượng

sạch và các điều kiện tự nhiên khác như địa hình, khí hậu, thời tiết… cũng cho phép chúng ta phát triển khai thác, sản xuất, sửdụng năng lượng sạch. Trong số các nguồn năng lượng sạch thì năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học là có triển vọng phát triển nhất. Vì vậy, xu hướng tất yếu trong tương lai gần là nước ta sẽ mở rộng khai thác, sản xuất và sử dụng các nguồn năng lượng sạch phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Vấn đề phát triển năng lượng sạch có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật của nhà nước. Nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ,Brazil, Đức, Úc,

Philippin… đã ban hành các quy định pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển khai thác, sản xuất và sửdụng năng lượng sạch. Những quyđịnhnày có thểnằmtrong văn bản pháp luật chuyên biệt về năng lượng sạch (Luật năng lượng xanh, Luật năng lượng sạch, Luật năng lượng tái tạo) hoặc có thể được lồng ghép trong các văn bản pháp luật khác nhau. Nội dungnổibật nhất của chính sách pháp luật về năng lượng sạch là xác định rất nhiều các ưu đãi, hỗ trợ đối với các chủ thể khai thác, sản xuất và sửdụng năng lượng sạch như thành lập quỹquốc gia về phát triển năng lượng

sạch, ưu đãi cho vay vốn, ưu đãi thuế…

Trong những năm gần đây, ở nước ta, vấn đề phát triển năng lượng sạch đãđược Đảng Cộng sản quan tâm và chỉ đạo thực hiện. Trong Nghị quyết số24- NQ/TWcủaBan chấp hành Trung ương Đảng khóa XIvềchủđộng ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, xác định một trong những nhiệm vụ của hoạt động bảo vệ môi trườnglà: “Phát triển ngành kinh

tế môi trường trên cơ sở ngành công nghiệp môi trường, dịch vụ bảo vệ môi trường

3

và tái chế chất thải. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, sản xuất và tiêu dùng bền vững”.Đểthực hiện nhiệmvụnói trên, Nghị quyết đềra giải pháp: “Có lộ trình đến năm 2020 xóa bỏ các cơ chế, chính sách hỗ trợ giáđối với nhiên liệu hóa thạch; thực hiện bù giá 10 năm đầu đối với các dựán phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, tái chếchất thải, sản xuất điện từ chất thải”.

Trong Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030 tầmnhìn đến năm 2050 đã xác định mục tiêu tăng dần tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu các nguồn năng lượng qua các thời kỳ và đến năm 2050 tỷ trọng nguồn năng lượng tái tạo đạtkhoảng 44% trong cơ cấu các nguồn năng lượng. Để thực hiện được mục tiêu đó, nhà nước ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật với các nội dung về ưu đãi, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Cụthể: Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/06/2011 vềcơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam, Quyết định số24/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/05/2014 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối tại Việt Nam, Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/04/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án

điện mặt trời tại Việt Nam… Các biện pháp ưu đãi, hỗtrợphát triển năng lượng sạch chủ yếu là ưu đãi về vốn đầu tư, thuế, ưu đãi về hạ tầng đất đai, ưu đãi về thị

trường đầu ra… Đây là điều kiện quan trọng nhằm hu thút các nhà đầu tư vào lĩnh vực phát triển năng lượng sạch. Tuy nhiên, có thể đánh giá hệ thống văn bản pháp luật vềphát triển năng lượng sạch ở nước ta còn nhiều hạn chế như: các quyđịnh còn sơ sài, mang tính chất chung chung chưa điều chỉnh hết các quan hệ phát sinh; các quyđịnh nằmrải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau và phần lớn là các văn bản dưới luật, nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo; chưa có một văn bản luật chuyên biệt về phát triển năng lượng sạch; thiếu các bản quy hoạch phát triển năng lượng sạch với những số liệu đáng tin cậy về tiềm năng năng lượng sạch; thiếu các bộquy chuẩn kỹthuật vềcông nghệ năng lượng sạch; thiếu các quyđịnh vềphát triển thị trường năng lượng sạch; thiếu các quy định về chính sách hỗ trợ đối

4

với chủthểkhai thác, sản xuất, sửdụng năng lượngsạch quy mô nhỏmang tính chất tiêu dùng; việc phát triển khoa học công nghệ năng lượng sạch còn gặp nhiều khó khăn, Việt Nam vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu thiết bị, máy móc cho các dựán phát triển năng lượng sạch; năng lượng hóa thạch vẫn được nhà nước trợ

giá… Tất cả những khó khăn đó làm cho thực tế khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch ở nước ta chưa tương xứng với tiềm năng. Chúng ta chưa có nhiều dự án phát triển nănglượngsạch quy mô lớn. Doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân không mặn mà với việc khai thác, sử dụng năng lượng sạch quy mô nhỏ. Trước xu hướng phát triển nănglượngsạch trong tương lai, một yêucầubức thiếtđặt ra là nghiên cứu xây dựng lý luận pháp luật về phát năng lượng sạch. Trên cơ sở lý luận đã xây dựng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, hoàn thiện những quy định pháp luật có tác dụng kích thích phát triển năng lượng sạch.

Nhận thức đượctầmquan trọng của pháp luật trong việc phát triển năng lượng sạch và nhu cầu xây dựng, hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này ở nước ta, tác giả xin chọn đề tài “Pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam” làm luận án nghiên cứu sinh.

2. Mục đích nghiên cứu

Với đềtài “Pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam”, luận ánđược thực hiện nhằm hướng đến việc đạt được các mục đích cơ bản sau đây:

– Góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận của pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam.

– Phân tích, đánh giáđượcưu điểm, nhược điểmthực trạng pháp luật phát triển năng lượng sạch.

– Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật phát triển năng lượng sạch và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu cơ bản như trên, nhiệm vụ cụ thể của luận án gồm:

5

– Phân tích và nhận diện bản chất của các khái niệm, gồm: Khái niệm năng lượng sạch, khái niệm phát triển năng lượng sạch, khái niệm pháp luật phát triển năng lượng sạch.

– Luận giải những vấn đề lý luận về năng lượng sạch, phát triển năng lượng sạch, pháp luật phát triển năng lượng sạch.

– Đánh giá thực trạng các quyđịnh pháp luật Việt Nam hiện hành vềphát triển năng lượng sạch.

– Đánh giá thực tiễn thi hành quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về phát triển năng lượng sạch.

– Tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới (Trung Quốc, Ấn

Độ, Nhật Bản…)trong việc xây dựng pháp luật phát triển năng lượng sạch vàđềxuất những bài học cho Việt Nam.

– Phân tíchđịnhhướngvà đềxuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quyđịnh pháp luật phát triển nănglượngsạch tại Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn.

4. Phạm vi và đốitƣợngnghiên cứu 4.1. Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài: “Pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam”, luận án cóphạm vi nghiên cứu như sau:

– Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật về phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam.

– Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu pháp luật phát triển năng lượng sạch trong khoảng thời gian từ năm 1993 đến thời điểm hiện tại.

– Phạm vi văn bản quy phạm pháp luật: Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành vềphát triển năng lượng sạch trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vựcpháp luật chủyếusau: pháp luật bảo vệmôi trường, pháp luật đầu tư, pháp luật doanh nghiệp, pháp luật điện lực, pháp luật thuế…

Đề tài nghiên cứu pháp luật phát triển năng lượng sạch của một số quốc gia

trên thếgiới như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin… nhằmđềxuất bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

6

Đềtài nghiên cứu vấnđềlý luận pháp luật, quyđịnh của pháp luật có tác động trực tiếp và gián tiếp tới sự phát triển năng lượng sạch.

– Phạm vi các nguồn năng lượng sạch: Đề tài tập trung nghiên cứu pháp luật về phát triển các nguồn năng lượng sạch mà Việt Nam có triển vọng bao gồm năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học.

4.2. Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài “Pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam”, luận án xác định đối tượng nghiên cứu bao gồm:

– Quanđiểm, đườnglối của Đảng,chính sách của nhà nước về khai thác, sửdụng và phát triển năng lượng sạch.

– Xu hướng phát triển năng lượng sạch ở các quốc gia trên thế giới,đặc biệt là các quốc gia đã thành công trong phát triển năng lượng sạch.

– Bối cảnh năng lượngvà tình hình phát triển năng lượng sạch ởViệt Nam trong khoảng thời gian gần đây.

– Các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch, đặc biệt các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật sau:

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Điện lực năm 2004 (sửa đổi, bổsung năm 2012), Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017, Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/03/2016của Thủtướng Chính phủ Phê duyệtđiều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030, Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/05/2014 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối tại Việt Nam, Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/06/2011 về cơ chế hỗtrợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam, Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/04/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự ánđiện mặt trời tại Việt Nam.

– Thực tiễn thi hành pháp luật phát triển năng lượng sạch ở nước ta.

7

– Một sốkinh nghiệm của Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản trong xây dựng pháp luật phát triển năng lượng sạch.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đíchnghiên cứu, luận án sử dựng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

– Luận án sửdụng phương pháp luận nghiên cứu khoa họcduy vật biện

chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhànước và pháp luật.

– Ngoài ra, luận án còn sửdụng các phương pháp nghiên cứu cụthểnhưphân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, quy nạp, diễn giải, bình luận, lập luận, đánh giá, suy luận logic… Các phương phápnày đều được sử dụngxuyên suốt quá trình viết luận án. Tuy nhiên, trong mỗi chương của luận án, tác giả lại tập trung sử dụng các phương pháp khác nhau để phù hợp với nội dung nghiên cứu. Điều đó được thểhiện như sau:

+ Trong Chương 1, Chương 2 của luận án, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp, khái quát, diễn giải… để tìm hiểu tổng quan tình hình nghiên cứu, đánh giá nhữngđiểmcònbỏngỏvà lý giải, soi sáng những vấn đề lý luận đặt ra.

+ Trong Chương 3 của luận án, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, bình luận, lập luận, diễn giải, đánh giá, so sánh, tổnghợpđểnghiên cứubối cảnh năng lượng sạch và tình hình phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam; làm rõnhững thành công và những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật phát triển năng lượng sạch và thực tiễn tiễn thi hành.

+ Trong Chương 4, tác giảchủyếu sửdụng phương pháp bình luận, tổng hợp, suy luận logic, so sánh, lập luận để xác định yêu cầu và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật phát triển năng lượng sạch và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn.

6. Những điểm mới của luận án

Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa kết quả nghiên cứu ở các công trình khoa học của các tácgiảđi trước, luận án “Pháp luật phát triển năng lương sạch tại Việt Nam” dự kiến có những điểm mới như sau:

8

– Luận án này góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về năng lượng sạch, phát triển năng lượng sạch và pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam.

– Luận án góp phần làm rõ khái niệm năng lượng sạch, khái niệm phát triển năng lượng sạch.

– Luận án phân tích, giải mã nội hàm của khái niệm pháp luật phát triển năng lượng sạch.

– Luận án đánh giá ưu điểm, nhược điểm của pháp luật hiện hành vềphát triển năng lượng sạch tại Việt Nam và thực tiễn thi hành.

– Luận án phân tích các yêu cầu đặt ra khi hoàn thiện pháp luật phát triển năng lượng sạch và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn.

– Luận án đềxuất các giải pháp mang tính khoa học nhằm mục đích hoàn thiện pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận ánđược kết cấu thành 4 chương như sau:

– Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài.

– Chương 2: Những vấn đề lý luận về năng lượng sạch, phát triển năng lượng sạch và pháp luật phát triển năng lượng sạch.

– Chương 3: Thực trạng pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam.

– Chương 4: Hoàn thiện pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam vànâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn.

 

PHÁP LUẬT PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG SẠCH TẠI VIỆT NAM
PHÁP LUẬT PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG SẠCH TẠI VIỆT NAM

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ

THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Pháp luật phát triển năng lượng sạch được xem xét như là một bộphận của pháp luật bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, lĩnh vực pháp luật này còn tương đối mới mẻ. Thực tế, trước năm 1986 vấn đề phát triển năng lượng sạch không được đề cập trong các văn bản pháp luật. Ngay cả khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề bảo vệ môi trường đã được quan tâm thể hiện bằng việc ra đời của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác vềbảovệmôi trường thì vấn đềphát triển năng lượng sạch cũng chưa được chú ý. Khoảng hơn chục năm trở lại đây, khi ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng nghiêm trọng, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, tình trạng thiếu điện

trong sản xuất, sinh hoạt và báo động vấn đềan ninh năng lượng… thì việc phát triển năng lượng sạch được coi là cần thiết và cấp bách. Trong khoảng thời gian này, nhiều quy định của pháp luật về phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo được ban hành. Các quy định về phát triển năng lượng sạch nằm rải rác trong Luật Điện lực năm 2004 (Điều 4, Điều 13, Điều 29, Điều 60, Điều 61), Luật Đầu tư năm 2014 (Điều 16), Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Điều 5, Điều 6, Điều 43, Điều 45) Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 (Điều 9), Quyết định 1208/2011/QĐ- TTg của Thủtướng Chính phủngày 21/07/2011 Phê duyệt Quy hoạch phát triển

điện lực quốc gia giaiđoạn2011–2020 có xétđến năm 2030, Quyết định số428/QĐ-TTg ngày 18/03/2016 của Thủtướng Chính phủđiều chỉnh Quy hoạch

phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030, Quyết định số 1855/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/12/2007 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượngquốc giacủaViệt Nam đếnnăm 2010, tầm nhìn đến năm 2050, Quyết định số 130/2007/QĐ-TTgcủa Thủ tướngChính phủ ngày 02/08/2007 vềmột sốcơ chếchính sách, tài chính đối với các dựán đầu tư theo cơ chếphát triển sạch, Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Chiến lược phát năng lượng tái tạo của Việt Namđến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Quyết định số24/2014/QĐ-TTgcủaThủtướng Chính phủ

10

ngày 10/05/2014 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối tại Việt Nam, Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ ngày 29/06/2011về cơchế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam, Quyết định số 11/2017/QĐ- TTg ngày 11/04/2017 vềcơ chếkhuyến khích phát phát triển các dựán điện mặt

trời tại Việt Nam…Cùng với đó, các nhà nghiên cứu khoa học đã đề cập tới vấn đềnăng lượng sạch, phát triển năng lượng sạch, pháp luật phát triển năng lượng sạch ởnhiều góc độ khác nhau.

1.1.1. Những công trình liên quan đến khái niệm năng lượng sạch

Nội dung đầu tiên, quan trọng cần phải giải quyết khi nghiên cứu pháp luật phát triển năng lượng sạch là vấn đềkhái niệm năng lượng sạch. Bởi vì, hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lượng sạch và hầu hết các quan điểm đều đồng nhất khái niệm năng lượng sạch với khái niệm năng lượng tái tạo, năng lượng xanh. Muốn xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về phát triển năng lượng sạch thì trước hết phải xác định được thế nào là năng lượng sạch? Năng lượng sạch có những đặc điểmcơ bản nhưthếnào? Trên thực tế, người ta hay dùng các khái niệm năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng xanh để chỉ các nguồn năng lượng phi hóa thạch, thân thiện với môi trường. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có đề cập, phân tích làm rõ khái niệm năng lượng sạch và các khái niệm gần gũi với khái niệm năng lượng sạch gồm:

Trong công trình nghiên cứu “Renewable energy resources: Current status, future prospects and their enabling technology. Renewable and Sustainable Energy Reviews”, Omar và cộng sự đưa ra khái niệm năng lượng tái tạo mang tính liệt kê và nhấn mạnh vào khả năng tái tạo. Cụ thể: “Năng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh là năng lượng từ những nguồn liên tục mà theo chuẩn mực của con người là vô hạn như năng lượng mặt trời, gió, mưa, thủy triều, sóng và địa nhiệt”.

Tương tự như Omar và cộng sự, Krishnan trong nghiên cứu “Implementation of Renewable Energy to Reduce Carbon Consumption and Fuel Cell as a Back-up Power for National Broadband Network (NBN) in Australia” đánh giá cao khả năng tái tạo và cho rằng là đó là một lợi thế của năng lượng tái tạo so với năng lượng hóa thạch truyền thống. Do vậy, việc sử dụng năng lượng tái tạo sẽ bền vững hơn so với năng lượng hóa thạch.

11

Trong công trình nghiên cứu: “Risk management methods applied to renewable and sustainable energy: A review”, hai tác giảWing và Jin nhấn mạnh vào đặc tính bảo vệ môi trường của năng lượng tái tạo. Theo hai tác giả này, năng lượng tái tạo giúp giảm phát thải khí nhà kính và phát thải khí ô nhiễm khác, giảm tác động tới môi trường, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống và đa dạng hóa phát điện hỗn hợp.

Luận văn thạc sĩ luật học của Phan Duy An – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2010: “Pháp luật vềcác biện pháp khuyến khích, hỗtrợphát triển năng lượng tái tạo ởViệt Nam hiện nay”. Luận văn đã phân tích khái niệm năng lượng tái tạo dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo định nghĩa của từ điển Bách khoa toàn thư, theo ý nghĩa vật lý, dưới góc độ pháp luật. Cuối cùng luận văn đưa ra kết luận khái niệm năng lượng tái tạo trong các văn bản pháp lý hiện nay chưa thống nhất, còn nhiều mâu thuẫn cần được hệ thống hóa. Luận văn cũng đưa ra quan điểm riêng vềkhái niệm năng lượngtái tạo. Theo đó: “Năng lượng tái tạo là các dạng năng lượng phi hóa thạch, có khảnăng tái tạo mà con người có thểsửdụng vào nhiều mục đích khác nhau trong lao động, sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”. Kết luận này trong luận văn thạc sĩ của Phan Duy An được tác giả luận án sử dụng khi phân tích phần khái niệm năng lượng sạch. Bởi vì, một trong những đặc điểm quan trọng nhất của năng lượng sạch là có thể tái tạo được.

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyền – Khoa Luật – Đại học Quốc gia HàNội năm 2013: “Pháp luật phát triển năng lượng xanh ởViệt Nam”. Luận văn đãđưa ra hai quan điểm lớn về khái niệm năng lượng xanh ở nước ta hiện nay. Quanđiểm thứ nhất đồng nhất khái niệm năng lượng xanh với khái niệm năng lượng tái tạo. Quan điểm thứ hai cho rằng khái niệm năng lượng xanh rộng hơn, bao gồm cảnăng lượng tái tạo và năng lượng sạch. Tác giả Nguyễn Thị Tuyền đồng ý với quan

điểm thứ hai về khái niệm năng lượng xanh. Đồng thời, theo luận văn việc khuyến khích sửdụng năng lượng xanh khôngchỉlà việc sửdụng nhiều hơn các nguồn năng lượng tái tạo mà còn thểhiện ởviệc cảitiến các phương thức sửdụng năng lượng hóa thạch sao cho “xanh hơn” và ít chất thải hơn (như công nghệ than sạch). Kết luận này đã gợi thêm suy nghĩ cho tác giả luận án khi phân tích khái niệm năng

12

lượng sạch. Có lẽ năng lượng sạch do tính chất vật lí vốn có của nó chưa đủ mà cần phải có cả sự hỗ trợ của khoa học công nghệ.

Trong cuốn sách “Vấnđềan ninh năng lượng và các giải pháp khai thác năng lượng mặt trời từ vũ trụ truyền về trái đất”, hai tác giả Đào Khắc An và Trần Mạnh Tuấn đã đưa ra các khái niệm năng lượng hóa thạch, năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân, năng lượng xanh, năng lượng sạch. Trong cuốn sách “Năng lượng xanh”, tác giả Ngô Đăng Nghĩađã đưa ra quan điểm về khái niệm năng lượng tái

tạo và năng lượng xanh. Theo đó, năng lượng xanh là khái niệm rộng bao trùm cảkhái niệm năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó, khái niệm năng lượng xanh còn mở rộng cho việc tồn trữ lượng năng lượng. Ví dụ các tòa nhà được cấu trúc mát mẻ vào ban ngày và ấm áp vào banđêmdo đặc điểm cấu trúc của nó thay vì sử dụng máy điều hòa hoặc máy sưởi. Quan điểm của hai tác giả Đào Khắc An, Trần Mạnh Tuấn vềnăng lượng sạch và quan điểm của tác giả Ngô Đăng Nghĩa về năng lượng xanhđãmở ra cho tácgiảluận án một cách nhìn nhận mới về khái niệm năng lượng sạch, năng lượng xanh. Theo đó,tác giảluận ánđã đặt câu hỏi: Phải chăng năng lượng sạch là dạng năng lượng có thểtái tạo và việc khai thác sửdụng nó không gây ô nhiễm môi trường do tính chất vốn có của nó hay cần đến sự hỗ trợ của khoa học công nghệ?

Quan điểm về khái niệm năng lượng sạch của các tác giả Trần Quang Minh

(chủ biên), Phạm ThịXuân Mai, Trần Minh Nguyệt trong cuốn sách chuyên khảo “Phát triển năng lượng sạch ởNhật Bản: Những kinh nghiệm và gợi ý cho Việt Nam” tương đồng với quan điểm về khái niệm năng lượng xanh của tác giả Phạm Thị Xuân Mai trong bài viết “Phát triển năng lượng xanh của Hàn Quốc” – Nghiên cứu Đông Bắc Á năm 2013 – Tập 2: văn hóa, xã hội, môi trường. Theo đó,khái niệm năng lượng sạch, năng lượng xanhđồng nhất với khái niệm năng lượngtái

tạo. Loại năng lượng này có đặc điểm không có chất thải hoặc có chất thải nhưng không hoặc ít gây ô nhiễm môi trường.

Sau khi nghiên cứu quan điểmcủa các học giảtrong các công trình nghiên cứu nêu trên, tác giả luận án có một số nhận định cơ bản như sau:

13

– Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau vềnăng lượng sạch. Khái niệm năng lượng sạch, năng lượngxanh chỉlà cách gọi tên còn thực chất các nhà nghiên cứu đang cốgắng đưa ra quanđiểm vềmột loại năng lượng mà việc khai thác, sản xuất, sửdụng chúng tiết kiệm chi phí và thân thiện với môi trường.

– Có ba nhóm quan điểm chính vềnăng lượng sạch: Thứnhất, năng lượng sạch là năng lượng tái tạo; Thứhai, năng lượng sạch bao gồmmọi nguồn năng lượng (năng lượng tái tạo, năng lượng hóa thạch) và việc sản xuất, sử dụng chúng thân thiện với môi trường; Thứba, năng lượng sạch là năng lượngtái tạo và việc sản xuất, sử dụng chúng thân thiện với môi trường, tiết kiệm chi phí.

– Nhiều nhà nghiên cứu khẳngđịnhvai trò của khoa học công nghệ trong sản xuất, sử dụng năng lượng sạch.

Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề liên quan đến khái niệm năng lượng sạch chưađược tìm hiểu và cần tiếp tục nghiên cứu. Bao gồm:

– So sánh các quan điểm khác nhau để phân thành ba nhóm quan điểm chính,đưa ra quan điểm cuối cùng về năng lượng sạch và lý giải tại sao lại có quan điểm như vậy.

– Cần đưa ra định nghĩa về năng lượng sạch.

– Nhấn mạnh hơn nữa vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển năng lượng sạch.

– Rút ra đặc điểm của năng lượng sạch, đặc điểm nào là tính chất vốn có, đặc điểmnào là do sựtác động của khoa học công nghệ. Sau đó cầnphải đánh giánhững đặc điểm đó có ảnh hưởng tới nội dung của pháp luật phát triển năng lượng sạch như thế nào.

1.1.2. Những công trình liên quan đếnpháp luậtvềmục tiêu, quy hoạch phát triển năng lượng sạch

Trong luận án tiến sĩ kinh tế“Chính sách năng lượngtái tạo củamột sốnước trên thếgiới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, năm 2017, tác giảNguyễn Hùng Cường đã phân tích một sốvấn đềlý luận cơ bản vềmục tiêu phát triển năng lượng tái tạo và thực trạng việc đặt mục tiêu của ChínhphủViệt Nam

14

trong hai văn bản là Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030 và Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là nguồn tài liệu rất bổ ích mà nghiên cứu sinh tham khảo khi viết phần mục tiêu phát triển năng lượng sạch. Tuy nhiên, trong nội dung nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hùng Cường còn nhữngvấn đề cần làm rõbao gồm:

– Ngày 18/03/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 428/QĐ-

TTg điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 –2020 cóxét đếnnăm 2030. Mục tiêu phát triển năng lượng sạch đặt ra trong văn bản mới này khác so với Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia trước đó. Nghiên cứu sinh sẽ cập nhật quy định mới của pháp luật trong luận án này.

– Tác giả Nguyễn Hùng Cường chưa có sự so sánh mục tiêu phát triển năng lượng sạch giữa hai văn bản để đánh giá sự thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Nội dung này sẽ được nghiên cứu sinh thực hiện trong luận án của mình.

Trong công trình Hướng dẫn Quy hoạch Phát triển Điện gióở Việt Nam thuộc Dự án Năng lượng Gió GIZ/MoIT, năm 2011 của hai tác giả Nguyễn Hoàng Dũng, Nguyễn Quốc Khánhđã trình bày tập trung vào phương pháp xác định khu vực phù hợp cho phát triển điện gió. Bên cạnh đó, hướng dẫn về trình tự xây dựng quy hoạch phát triển điện gió, công tác quản lý, giám sát về kỹthuật thực hiện vàđánh giá môi trường chiến lược trong hoạt động điện gió cũng được trình bày. Bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện quy hoạchđiện gió tỉnh Bình Thuậnđược nêu ra.

Công trình trên cũng đã đánh giá được thực trạng pháp luật về quy hoạch phát triểnđiệngió tại thời điểm đó. Theo đó, khi hai tác giả viết cuốn sổ tay Hướng dẫn này, ở nướcta chưa có một quy định pháp luật nào về lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch phát triển điện gió. Khó khăn này đã được giải quyết bằng việc ban hành Thông tư số 06/2013/TT-BCT ngày 8/3/2013 của Bộ Công thương quy định về nội dung, trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phát triển điện gió.

Sau khi đọc, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài luận án, tác giả cóthể khẳng định:

15

– Tính đến thời điểm hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quy hoạch phát triển năng lượng sạch bao gồm: khái niệm quy hoạch phát triển năng lượng sạch và yêu cầu của quy hoạch phát triển năng lượng sạch, nội dung cơ bản của pháp luật phát triển năng lượng sạch.

– Cũng chưa có công trình nghiên cứunào đánh giá toàn diện những thành tựu, hạn chế trong các quy phạm pháp luật về quy hoạch phát triển năng lượng sạch và thực tiễn thi hành ở thời điểm hiện nay.

Những vấn đềlý luận, thực trạng pháp luậtvềquy hoạch phát triển năng lượng sạch sẽ được nghiên cứu sinh nghiên cứu, trình bày trong luận án này.

1.1.3. Những công trình liên quan đến pháp luật về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ nhằm phát triển khoa học công nghệ khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch

Trong bài viết: “Hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển khoa học – công nghệ”, đăng trên tạp chí Kinh tế và Dự báo tháng 8/2017, tác giả Đinh Thị Nga đã phân tích một số nội dung cơ bản của các chính sách khuyến khích, hỗtrợ sự tham gia của doanh nghiệp vào nghiên cứu khoa học,từ đó đề xuất giải phápđể doanh nghiệp nước nhà có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Những ưu đãi đó bao gồm: Ưu đãi vềđất đai, ưu đãi vềtín dụng, nâng cao năng lực cạnh tranh, ưu đãi thuế, xây dựng quỹ riêng tại doanh nghiệp, đào tạo lao động.

Trong Tổng luận “Tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam” do Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia thực hiện năm 2015 có phần đánh giá về tình hình phát triển công nghệ năng lượng sạch của nước ta bao gồm có công nghệ thủyđiện nhỏ, công nghệđiện gió, công nghệđiện sinh khối, công nghệ sản

xuất nhiệt và điện từ khí sinh học…

Trong luận án tiến sĩ kinh tế“Chính sách năng lượngtái tạo củamột sốnước trên thếgiới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, năm 2017, tác giảNguyễn Hùng Cường đã đềxuất các bước phát triển khoa học công nghệ năng lượng sạch cho Việt Nam. Bao gồm: Bước 1: Tập trung phát triển sản xuất trong nước theo hướng chuyển giao công nghệ và sản xuất dựa trên giấy phép nước ngoàiđể theo kịp công nghệ quốc tế; Bước 2: Làm chủ công nghệ và có thể tự nghiên cứu,

16

sản xuất trong nước; Bước 3: Nghiên cứu chuyên sâu, liên tục cải tiến công nghệ và tiến tới xuất khẩu công nghệ năng lượng sạch. Những đề xuất này được nghiên cứu sinh học tập khi đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi phápluật vềưu đãi, hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ năng lượng sạch.

Đọc những công trình nghiên cứu nói trên, nghiên cứu sinh nhận thấy, các tác giả đã phân tích được những nội dung cơ bản như sau:

– Phân tích đượcnhững quyđịnh pháp luật hiện hành vềưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu khoa học nói chung trong đó áp dụng cho cả hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ nhằm phát triển năng lượng sạch.

– Đánh giá được những khó khăn trong tình hình phát triển công nghệ năng lượng sạch ở nước ta.

-Đềxuất phương hướng phát triển khoa họccông nghệ năng lượng sạch ởnước ta hiện nay.

Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu. Cụ thể:

– Chưa có công trình nghiên cứu nào phân tích những vấn đề lý luận pháp luậtvềcác biện pháp ưu đãi,hỗtrợnhằm phát triển khoahọccông nghệ khai thác,sảnxuất,sửdụng nănglượngsạch bao gồm:hướngphát triển khoa học công nghệ nănglượngsạch, các biện pháp nhằm phát triển khoahọccông nghệnăng lượng sạch.

– Chưa nghiên cứu thực trạng các quyđịnhpháp luật pháp luật vềcác biện pháp ưu đãi, hỗ trợ nhằm phát triển khoa học công nghệ riêng trong lĩnh vực phát triển năng lượng sạch.

1.1.4. Những công trình liên quan đến pháp luật về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợkhai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch

Đây là nội dung trọng tâm của pháp luật phát triển năng lượng sạch. Vì vậy, nó thu hút sựquan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu gồm:

Luận văn thạc sĩ luật học của Phan Duy An – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2010: “Pháp luật vềcác biện pháp khuyến khích, hỗtrợphát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay”. Luận văn đã phân tích các vấn đề lý luận

17

cơ bản của pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay, đánh giá thực trạng pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam. Trêncơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo ởViệt Nam. Mộtsốđềxuất củatácgiảđược cụthểhóa trong thực tiễn xây dựng pháp luật như giải pháp kiện toàn Quỹ bảo vệ môi trường, hỗ trợ vốn đầu tưcho phát triển các hệ thống điện độc lập từ nguồn năng lượng tái

tạo, xây dựng quy hoạch phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo, miễm giảm thuếtài nguyên và các loại thuế, phí khác theo quyđịnhpháp luật cho các dựán khai

thác, sử dụng năng lượng tái tạo… Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, nội dung mà tác giảđềcập còn hết sức sơ lược đặc biệt nhiều vấn đềthuộc lýluận pháp luật về các biện pháp ữu đãi, khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo chưa được tác giả giải quyết. Việc phân tích thực trạng pháp luật về các biện phápưu đãi, khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo hầu như chỉ mang tính liệt kê các quy định hiện hành.

Trong luận vănthạc sĩ “Pháp luật phát triển năng lượng xanh ở Việt Nam”, tác giảNguyễn ThịTuyềnđã phân tích các biện pháp ưu đãi, khuyến khích nhằm phát triển từng loại năng lượng xanh khác nhau. Đây là một hướng tiếp cận mà tác giảluận án đặc biệt quan tâm. Tác giảluận án có xu hướng sẽphân tích các biện pháp ưu đãi, khuyến khích nhằm phát triển các nguồn năng lượng sạch nói chung. Những quy định của pháp luật về ưu đãi phát triển từng loại năng lượng sạch khác nhau là cơ sở lí giải cho những phân tích tổng thể. Bởi vì, một trong những mục tiêu quan trọng mà tác giả luận án hướng tới là đưa ra giải pháp pháp điển hóa các quyđịnh pháp luật về phát triển năng lượng sạch bằng cách ban hành một văn bản pháp luật chuyên biệt vềphát triển năng lượng sạch. Tuy nhiên, tính tớithời điểmhiện tại, tác giả luận án chưa thể nhìn nhận hết được những khó khăn khi triển khai nội dung theo định hướng này. Vì vậy, một hướng đi khác sẽ được tác giả luận án lưu ýđể tham khảo.

Tác giả Phan Duy An với bài viết “Tiếp cận nguồn tài chính của chủ đầu tưcác dự án phát triển sạch và phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay” – Tạp chí Nghiên cứu phát triển bền vững số 3 (32), tháng 9/2011, đã có những phân

18

tích sâu sắc về các nguồn tài chính cơ bản mà chủ các dự án phát triển sạch và phát triển năng lượng tái tạo ởViệt Nam có thểtiếp cận. Các nguồn tài chính đó gồm:

Nguồn lực tài chính từNghịđịnh thư Kyoto, nguồn hỗtrợtừQuỹbảo vệmôi trường, nguồn tài chính từ cơ chế hỗ trợ mới của nhà nước. Đồng thời bài viết cũngđềxuất giải pháp nhằm tăng cường khảnăng tiếp cận các nguồn tài chính gồm:

Kiện toàn chức năng và tăng cường nguồn thu cho Quỹbảo vệmôi trường; Tạo điều kiện để chủ đầu tưdự án năng lượng tái tạo tiếp cận được các nguồn tài chính khác nhau từ các công cụ kinh tế của nhà nước. Nội dung bài viết được tác giả luận án tham khảo nhiều khi đánh giá về các biện pháp ưu đãi, khuyến khích nhằm phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam.

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Anh Đào: “Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” – Học viện Khoa học xãhội, năm 2013 đãphân tíchđầyđủ, hợp lý những vấnđềlý luận, thực trạng pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay. Nhìn tổng quát, các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường được sử dụng theo hai hướng cơ bản: Khuyến khích, ưu đãi về kinh tế đối với những hoạt động có lợi cho môi trường và lấyđi lợi ích kinh tếđối với các hoạt động gây bất lợi cho môi trường. Công cụkinh tếtrong bảo vệmôi trường ởnước ta hiện nay gồm: Ngân sách nhà nước vềbảo vệmôi trường; thuế môi trường; phí bảo vệmôi trường; kýquỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên; Quỹbảo vệmôi trường và các chính sách ưu đãi, hỗtrợhoạt động bảo vệmôi trường. Pháp luật vềsửdụng công cụkinhtếtrong bảovệmôi trường phải tuân theo các nguyên tắc nhất định. Như vậy, nội dung luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào có giá trị tham khảo lớn đối với tác giả luận án khi đánh giá, phân tích nhữngvấnđềlý luận và thực trạng pháp luật vềưu đãi, khuyến khích nhằm phát triển năng lượng sạch.

Các bài viết “An ninh năng lượng của Mỹ và hàm ý chính sách cho Việt Nam”

– Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 8 (69)–2013 của Kim Ngọc,“Thách thức an

ninh năng lượng –ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo”- Tạp chí Toàn cảnhsự

kiện –dư luận số233, tháng 12/2009 của Bùi Trần, “Phát triển năng lượng gió –

19

kinh nghiệm của một sốnước”- Tạp chí Tia Sáng số7 tháng 07/2006 của Đàm

Quang Minh –Vũ Thành TựAnh, “Phát triển năng lượng tái tạo: Hướng tới nền

kinh tếxanh và bền vững – Tạp chí Toàn cảnh sựkiện –dư luậnsố235, tháng 2/2010 của Thanh Phong đều đưa ra các ý kiến về hoàn thiện quy định của pháp luật vềưu đãi nhằm phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sạch. Các biện pháp ưuđãi được nhắc đến gồm: hỗtrợvốn đầutư; miễn, giảm thuế; miễn, giảm tiền sử

dụng đất và thuê đất; hỗ trợ về quảng cáo, thông tin, tuyên truyền…

Các công trình nghiên cứu vềkinh nghiệm phát triển năng lượng sạch của một số quốc gia trên thế giới đều đề xuất bài học là cần có cơ chế hỗ trợ tài chính

như miễn giảm thuế, miễn giảm tiền thuê đất, vay vốn với lãi suất thấp… cho việc phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam. Các công trình đó gồm: Bàiviết: “Vấn đềphát triển kinh tế xanh của Trung Quốc” trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 1

(149) – 2014 của PGS.TS Phạm Thái Quốc; Sách chuyên khảo do TS. Trần Quang Minh (chủ biên): “Phát triển năng lượng sạch ở Nhật Bản: Những kinh nghiệm vàgợi ý cho Việt Nam”; Bài viết: Vấn đềsửdụng than đá và phát triển các ngành

năng lượngtái tạo mới ởTrung Quốc –Kinh nghiệm cho Việt Nam – Tạp chí

Nghiên cứu Trung Quốc số1 (149) –2014 của Minh Cao –Hoài Nam; Bài viết:

“Phát triển năng lượng gió – kinhnghiệm của một số nước”, Tạp chí Tia Sáng số 7

tháng 07/2006 của Đàm Quang Minh – Vũ Thành Tự Anh.

Bài viết: “Renewable energy in Chile: Barriers and the role of public policy” của tác giả Sophie von Hatzfeldt trên tạp chí Journal of International affairs, spring/summer 2013, volume 66, number 2 đã phân tích nội dung các chính sách cơbản của Chính phủ Chi – lê nhằm phát triển năng lượng tái tạo gồm:

Thứnhất, việc ưu đãi tài chính cho các dựán phát triển năng lượng tái tạo phải đảm bảo công bằng giữa khu vực nhà nước và tư nhân. Hơn nữa, việc ưu đãi tài chính cho các dự án phát triển năng lượng tái tạo phải thực hiện từ khâu nghiên cứu tới khâu sản xuất.

Thứ hai, mở rộng hệ thống tiêu dùng năng lượng tái tạo bằng cách bắt buộc các công ty phân phối điện phải mua điện được sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo. Tạo thị trường cạnh tranh bình đẳng trong sản xuất năng lượng tái tạo giữa

20

các công ty nhà nước và các công ty tư nhân. Khi xây dựng pháp luật về năng lượng tái tạo phải đảm bảo có cả sự tham gia của quan chức nhà nước và các luật sư.

Thứba, đơn giản vềthủtụchành chính khi thực hiện các dựán phát triển năng lượng tái tạo.

Bài viết: “Denmark’s Tax Incentives to Promote Renewable Energy” của tác giả Jakob Bundgaard and Kim David Lexner đăng trên tạp chí Tax notes international volume 61, number 7, February 14, 2011 đã phân tích điểmmới cơbản trong pháp luật vềthuếđối với sản xuấtđiện từnăng lượng tái tạo của Đan Mạch. Theo đó, pháp luật trước đây quy định hoạt động sản xuất năng lượng từ sức gió với mục đích tiêu dùng cá nhân không bịđánh thuế. Tiêu dùng cá nhân ởđâyđược hiểu là toàn bộ hoặc một phần sản phẩm để tiêu dùng cá nhân. Theo quy định pháp luật mới, không chỉ có dự án sản xuất năng lượng từ sức gió với mục đích tiêu dùng cá nhân không bị đánh thuế mà các dự án năng lượng biogas, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sóng thủy triều sản xuất vì mục đích tiêu dùng cá nhân cũng không bịđánh thuế. Như vậy, đối tượng không bị đánh thuế đã được mở rộng.

Sau khi tham khảo các công trình nghiên cứu kể trên, nghiên cứu sinh có một vài nhận định như sau:

– Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định nhà nước cần phải đề ra các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ nhằm phát triển năng lượng sạch.

– Các công trình nghiên cứu chủyếu nhắc tới các biện pháp ưu đãi vềhuyđộng vốn, ưu đãi về thuế, ưu đãi về hạ tầng đất đai.

Những nội dung mà nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu làm rõ bao gồm:

– Phân tích mộtcách toàn diện những vấnđềlý luận pháp luậtvềcác biện pháp ưu đãi, hỗ trợ khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch bao gồm: Vì sao cần phải có các biện pháp ưu đãi, hỗtrợkhai thác, sản xuất, sửdụng năng lượng sạch?; Biện pháp ưu đãi, hỗ trợ tác động vào giai đoạn nào của quá trình khai thác, sản xuất,sửdụng năng lượng sạch?; Biện pháp ưu đãi,hỗtrợcho phát triển các nguồn năng lượng sạch khác nhau có cần thiết phải khác nhau hay không?; Biện pháp ưu đãi, hỗ trợ phát triển năng lượng sạch bao gồm những loại nào?.

21

– Phân tích, đánh giá đầy đủ các quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ phát triển năng lượng sạch và thực tiễn thi hành. Các biện phápưu đãi, hỗ trợ phát triển năng lượng sạch bao gồm: ưu đãi về vốn, thuế, ưu đãi về hạ

tầng đất đai và ưu đãi về thị trường đầu ra.

1.1.5. Những công trình liên quan đến pháp luật về các biện pháp hạn chếkhai thác, sản xuất, sử dụng các nguồn năng lượng có tác động tiêu cực tới môi trường

Trong công trình nghiêncứu“Xanh hóa góiđiệnnăng: Các chính sách mởrộngđiệnmặttrời ởViệt Nam” thuộc Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) do Koos Neefjes là tác giả chính, đã phân tích lí do giá bán điện ởViệt Nam cònrẻsovớiquốctế.Điềuđólà do chính sáchhỗtrợtài chính (chủyếu là gián tiếp) cho nhiên liệu hóa thạch nói chung, nhà máy điện đốt than nói riêng. Những thông tin này đượcnghiêncứusinhsửdụng khi đánh giá những khó khăn trong quy định pháp luật về hạn chế khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng hóa thạch.

Trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Anh Đào: “Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” – Học viện Khoa học xã hội, năm 2013 đã phân tích nội dung pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế nhằm hạn chế những hành vi gây tác động tiêu cực tới môi trường. Các công cụ kinh tế đó bao gồm: thu thuế, phí, xử phạt những hành vi có tác động tiêu cực tới môi trường.

Đánh giá tổng quát, những công trình nghiên cứu nêu trên đã đạt được những thành tựu như sau:

– Phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về sử dụng công cụkinh tế nhằm hạn chế các hành vi có tác động tiêu cực tới môi trường.

– Phân tích đượcthực trạng việc khai thác, sản xuất và sửdụng các nguồn năng lượng có tác động tiêu cực tới môi trườngởnước ta vẫn được nhận những khoản hỗ trợ nhất định.

Tuy nhiên, nghiên cứu sinh có nhận định rằng:

– Chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về các biện pháp hạn chế khai thác, sản xuất, sử dụng những nguồn năng lượng

22

có tác động tiêu cực tới môi trường như: sự cần thiết, mục tiêu của các biện pháp vàcác biện pháp đó gồm những loại nào.

– Chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách toàn diện thực trạng pháp luật về các biện pháp hạn chế khai thác, sản xuất, sử dụng những nguồn năng lượng có tác động tiêu cực tới môi trường.

Nghiên cứusinh tiếp tục phân tích, làm rõ những vấn đềcòn bỏngỏnày trong luận án tiến sĩ của mình.

1.1.6. Những công trình liên quanđến pháp luật vềcơ quan quản lý nhà nước trong phát triển năng lượng sạch

Có một số công trình nghiên cứu đề cập tới vai trò của các cơ quan nhà nước trong phát triển năng lượng sạch như sau:

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển

năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Phan Duy An – Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2010 đềxuất giải pháp thành lập cơ quan quản lý nhànước về năng lượng tái tạo trực thuộc Bộ Công thương. Cơ quan này có chức năng, nhiệm vụ cơ bản: Là đầu mối quốc gia về phát triển công nghệ năng lượng tái tạo, hợp tác với các nước khác trong phát triển năng lượng tái tạo; Xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách và lộ trình phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo cấp quốc gia; Xây dựng chương trình quốc giavềphát triển vàsửdụng năng lượng tái tạo;

Xây dựng Bộ tiêu chuẩn Việt Nam về thiết bị năng lượng tái tạo…

Bên cạnh đó, bài viết:“Các vấn đềtrong phát triển điện gió ởViệt Nam –Nghiên cứu từ trường hợp Nhà máy điện gió Bình Thuận” trên Tạp chí Khoa học -Đại học Quốc gia Hà Nội: Khoa học Tựnhiên và Công nghệ, Tập số30, Số2 (2014) của NguyễnThịHoàng Liên, Phạm Mạnh Cường đánh giá vai trò và tácđộng của các bên liên quan trong phát triển điện gió ở Bình Thuận trong đó có một số cơquan nhà nước có thẩm quyền như Chính phủ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, chính quyền địa phương, đài khí tượng thủy văn.

Trong công trình nghiên cứu “Investment Incentives for Renewable Energy in Southeast Asia: Case study of Viet Nam” năm 2012, các tác giảPhạm Khánh Nam, Nguyễn Anh Quân, Quan Minh Quốc đã sơ đồ hóa các cơ quan quản lý nhà

23

nước trong phát triển năng lượng sạch. Sơ đồ đó giúp người đọc dễ dàng nhìn nhận được số lượng, vị trí, mối quan hệ của các cơ quan quản lý nhà nước về phát triển năng lượng sạch.

Những đềxuất, phân tích trong các công trình nêu trên là thông tinbổích cho nghiên cứu sinh khi phân tích nội dung vai trò của cơ quan nhà nước trong phát triển năng lượng sạch. Tuy nhiên, những vấn đề lý luận pháp luật như nguyên tắc, cách thức xác địnhcơ quan nhà nước trong phát triển năng lượng sạch chưa được nghiên cứu toàn diện. Cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá thực trạng pháp luật trong lĩnh vực này. Những nội dung còn bỏ ngỏ này sẽ được nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu, đánh giá trong luận án này.

1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài 1.2.1. Lý thuyết nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở các lý thuyết nghiên cứu chủ yếu như sau:

– Lý thuyết của ngành khoa học môi trường vềcác tính chất, đặc điểmcủa năng lượng sạch, công nghệ khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch.

– Lý thuyết kinh tế học nhằm giải quyết các vấn đề về thị trường năng lượng với việc áp dụng các biện pháp khuyến khích, ưu đãi cho phát triển năng lượng sạchđồng thời áp dụng các biện pháp nhằm hạn chếkhai thác, sửdụng những nguồn năng lượng có tác động tiêu cực tới môi trường.

– Lý luận về nhà nước và pháp luật theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin. Đây là lý thuyết chủ yếu được tác giả sử dụng nhằm giải quyết tổng thể các vấn đề liên quan tới cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật về phát triển năng lượng sạch.

– Luận án được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc “Phát triển bền vững” trong pháp luật bảo vệ môi trường. Nguyên tắc này quyết định tới quan điểm, khái niệm năng lượng sạch, những yếu tốtác động tớipháp luật phát triển năng lượng sạch, nguyên tắc củapháp luật phát triển năng lượng sạch. Nguyêntắc“Người gây ônhiễm phải trả tiền”,nguyên tắc “Kích thích lợi ích kinh tế” và các quan điểm, học thuyết về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường là cơ sở lý thuyết quan trọng để tác giả luận án phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật vềcác biện pháp ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích nhằm phát triển năng lượng sạch và hạn

24

chế khai khác, sản xuất, sử dụng những nguồn năng lượng (chủ yếu là năng lượng hóa thạch) có tác động tiêu cực tới môi trường.

– Bên cạnh đó, luận án cũng được thực hiện trên nền tảng quan điểm, chủtrươngcủaĐảngCộngsảnViệt Namvềphát triển nănglượngsạchđãđềra trong Nghị quyếtsố24-NQ/TWcủaBan chấp hành Trung ươngĐảngkhóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

– Khi thực hiện luận án, tác giả cũng tiếp thu có chọn lọc một số quan điểm, kinh nghiệm của các nước về phát triển năng lượng sạch, xây dựng pháp luật phát triển năng lượng sạch, đặc biệt là kinh nghiệm của các quốc gia đã thành công trong phát triển năng lượng sạch nhằm đề xuất bài học cho Việt Nam.

1.2.2. Các giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu sinh thực hiện đềtài:“Pháp luật phát triển năng lượngsạch tại Việt Nam” dưới góc độ lý luận và thực tiễn nhằm luận giải cho một số giải thuyết nghiên cứu cơ bản như sau:

Thứ nhất, năng lượng sạch có nhiều ưu điểm, việc phát triển năng lượng sạch mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và môi trường.

Thứhai, việc phát triển năng lượng sạch chịu sựcạnh tranh với ngành công nghiệp năng lượng truyền thống. Vì thế, để phát triển năng lượng sạch nhằm hướng tới phát triển bền vững nhà nước cần có các biện pháp can thiệp nhằm kích thích phát triển năng lượng sạch.

Thứ ba, nội dung của pháp luật phát triển năng lượng sạch được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, mỗi cách tiếp cận đều có ưu điểm và nhược điểm riêng.

Thứ tư, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về phát triển năng lượng sạch phải tuân theo định hướng về quan điểm phát triển năng lượng sạch của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuân theo các nguyên tắc cơ bản, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế và đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu; trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu đềtài, nghiên cứu sinh đặt ra một sốcâu hỏi nghiên cứu cơ bản là nền tảngđểnghiên cứu luận án như sau:

25

Thứ nhất, năng lượng sạch là gì? Năng lượng sạch có những đặc điểm, tính chất gì? Những đặc điểm, tính chất này ảnh hưởng tới nội dung của pháp luật phát triển năng lượng sạch như thế nào? Khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng như thế nào tới sự phát triển năng lượng sạch và pháp luật phát triển năng lượng sạch?

Thứhai, nhànước can thiệp nhưthếnào nhằmđảm bảo phát triển năng lượng sạch? Bởi vìnếu để thị trườngtự điều tiết theo quy luật cung cầu thì lĩnh vực này khó thu hút các nhà đầu tư và không thể phát triển được do gặp phải những khókhăn so với khai thác, sản xuất năng lượng hóa thạch truyền thống.

Thứba, pháp luật phát triển nănglượngsạch là gì? Cách tiếpcậnnộidung của pháp luật phát triển năng lượng sạch nào là hợp lý nhất? Pháp luật phát triển năng lượng sạch được xây dựng, hoàn thiện và thực thi trên cơ sở những nguyên tắc nào?

Thứ tư, thực trạng pháp luật phát triển năng lượng sạch ở Việt Nam nhưthếnào? Các quy định đã hoàn thiện, đủ mạnh để kích thích việc khai thác, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch hay chưa? Những khó khăn còn tồn tại được thể hiện nhưthế nào?

Thứ năm, việc hoàn thiện pháp luật phát triển năng lượng sạch và nâng cao hiệu quảthực thi trong thực tiễn cần phải tuân theo những định hướng cụthểnhưthế nào? Giải pháp nào giúp hoàn thiện pháp luật phát triển năng lượng sạch?

26

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

1. Trong thời gian qua, vấn đềphát triển năng lượng sạch, pháp luật phát triển năng lượngsạchđã thu hút được sựquan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Đã có nhiều bài tạp chí, đề tài, sách, bài hội thảo nghiên cứu về nội dung này.Mỗicông trình nghiên cứu khoa học tiếp cận dưới gócđộkhác nhau nhưng nhìn chung vấnđềđược các nhà nghiên cứu quan tâm hàngđầu đó là tiềm năng các nguồn năng lượng sạch tại Việt Nam, khái niệm năng lượng sạch, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm khai thác, sử dụng năng lượng sạch, các cơ chế ưu đãi, khuyến khích phát triển năng lượng sạch, vị trí, vai trò của các bên trong phát triển năng lượng sạch.

2. Khi đánh giá tình hình nghiên cứu, nghiên cứu sinh nhận thấy các công trình liên quan tới đềtài luận án đã sửdụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản

gồm phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác –Lê nin; phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế, suy luận logic,

đánh giá, bình luận, quy nạp… Những phương pháp này được các nhà nghiên cứu vận dụng khéo léo, hợp lý. Nghiên cứu sinh cũng kế thừa những phương pháp này trong quá trình nghiên cứu luận án.

3. Qua tìm hiểu những công trình nghiên cứu liên quan tới đềtài luận án, nghiên cứu sinh nhận thấy các công trìnhnày đã giải quyết được một số vấn đề lýluận và thực tiễn như sau:

– Đưa ra các quan điểm riêng về năng lượng sạch và các khái niệm liên quan (năng lượng tái tạo, năng lượng xanh).

– Đánh giá tiềm năng năng lượng sạch của Việt Nam.

– Phân tích được một sốvấn đềlý luận cơ bản vềmục tiêu phát triển năng lượng tái tạo và thực trạng việc đặt mục tiêu của Chính phủ Việt Nam.

– Đánh giá được một số khó khăn trong thực trạng pháp luật về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ nhằm phát triển khoa học công nghệ khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch.

27

– Phân tích được nội dung một số quy định pháp luật về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch.

– Phân tích những khoản hỗ trợ tài chính cho nguyên liệu hóa thạch là lí do dẫn đến giá điện ở Việt Nam rẻ một cách giả tạo so với quốc tế.

– Bước đầu phân tích được vị trị, chức năng của một số cơ quan quản lý nhànước về phát triển năng lượng sạch.

4. Nhìn chung, các công trình liên quan tới đềtài của luận án đã thu được nhiều thành tựu và là nguồn tài liệu quý giá cho nghiên cứu sinh khi nghiên cứu luận án của mình. Tuy nhiên, có thể khẳng định chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệthống, toàn diện, sâu sắcvấn đềlý luận, thực trạng pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam. Nhiều vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ như:

Khái niệm,đặc điểm của năng lượng sạch; Khái niệm phát triển năng lượng sạch, sự cần thiết phải phát triển năng lượng sạch ở Việt Nam; Khái niệm, nguyên tắc, nội dung cơ bản và các yếu tố tác động tới pháp luật phát triển năng lượng sạch. Đây là lý do nghiên cứu sinh lựa chọn đềtài: “Pháp luật phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam” làm luận án tiến sĩ của mình.

28

Chƣơng 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LƢỢNG SẠCH, PHÁT

TRIỂN NĂNG LƢỢNG SẠCH VÀ PHÁP LUẬT PHÁT TRIỂN NĂNG

LƢỢNG SẠCH

2.1. Những vấn đề lý luận về năng lƣợng sạch và phát triển năng lƣợng sạch 2.1.1. Những vấn đề lý luận về năng lượng sạch

2.1.1.1. Khái niệm năng lượng sạch

Theo từđiển Tiếng Việt: “Năng lượng” là danh từchỉđại lượng vật lí đặc trưng cho khảnăng sinh ra công của một vật[72, tr.661]. Thuyết tương đối của Albert Einstein xác định nănglượnglà một thước đo khác của lượngvật chất được xác định theo công thức liên quan khối lượng toàn phần E = mc2 (khối lượng nhân với một hằng số có đơn vị là vận tốc bình phương). Đơn vị để đo năng lượng trong hệ đo lường quốc tế là kg(m/s)2.

Loài người đã biết sửdụng nănglượng để phục vụ cuộc sốngtừ thời kỳ sơ khai như năng lượng cơ bắp của con người và súc vật, nhiệt năng sinh ra từ việc đốt

than, củi… Ởgiai đoạn này việc sửdụng năng lượng mang tính chất giản đơn. Cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, việc sử dụng các loại năng lượng được

mở rộngnhư sức gió,sức nước… Khicuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ đòi hỏi một lượngnănglượnglớn phục vụ chosảnxuất công nghiệp. Lúc này, con người đã biết dùng than đểchạy máy hơi nước. Sau đó là việc sửdụng các nguồn năng

lượng hóa thạch khác như than đá, dầu, khí đốt tự nhiên, xăng… Cho đến ngày nay, các nguồn năng lượngnày(đặc biệt là dầu khí) vẫn được sửdụng rộng rãi trong sinh hoạt và sản xuất, chủyếu là sản xuất công nghiệp. Hiện nay, chưa có nguồn năng lượng nào thay thế được vị trí của dầu khí.

Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch gây ra tình trạng ônhiễm môi trường,cạnkiệt tài nguyên thiên nhiên. Nhu cầu năng lượng vẫn tăng cao đểphục vụphát triển kinhtế- xã hội. Trong bốicảnh đó, việc tìm ra nguồn năng lượngmớithaythếnguồn năng lượng hóa thạch truyền thống là mộttất yếu khách quan. Trên thực tế, người ta haysửdụng các khái niệm năng lượng tái tạo, năng lượng xanh, năng lượng sạch đểchỉnhững nguồn năng lượng mới có tính năng thân thiện với môi trường và tiết kiệm chi phí.

29

Quan điểm về năng lượng sạch trên thế giới còn nhiều điểm khác nhau. Vàthông thường, người ta hay dùng khái niệm năng lượng tái tạo.

Trong công trình nghiên cứu “Renewable energy resources: Current status, future prospects and their enabling technology. Renewable and Sustainable Energy Reviews”, Omar và cộng sự đưa ra khái niệm năng lượng tái tạo mang tính liệt kê và nhấn mạnh vào khả năng tái tạo. Cụ thể: “Năng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh là năng lượng từ những nguồn liên tục mà theo chuẩn mực của con người là vô hạn như năng lượng mặt trời, gió, mưa, thủy triều, sóng và địa nhiệt”[83].

Trong công trình nghiên cứu: “Risk management methods applied to renewable and sustainable energy: A review”, hai tác giảWing và Jin nhấn mạnh vào đặc tính bảo vệ môi trường của năng lượng tái tạo. Theo hai tác giả này, năng lượng tái tạo giúp giảm phát thải khí nhà kính và phát thải khí ô nhiễm khác, giảm tác độngtớimôi trường. Và việc sửdụng năng lượngtái tạo cũng giảm sựphụthuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống vốn có nhiều tác động tiêu cực tới môi trường và tăng cường đa dạng hóa phát điện hỗn hợp [80].

Tương tự như Omar và cộng sự, Krishnan trong nghiên cứu “Implementation of Renewable Energy to Reduce Carbon Consumption and Fuel Cell as a Back-up Power for National Broadband Network (NBN) in Australia” đánh giá cao khả năng tái tạo và cho rằng là đó là một lợi thế của năng lượng tái tạo so với năng lượng hóa thạch truyền thống. Do vậy, việc sử dụng năng lượng tái tạo sẽ bền vững hơn so với năng lượng hóa thạch [79].

Trong Luật Năng lượng tái tạo quốc gia năm 2015 của Ấn Độ xác định mục đích của đạo luật này là thúc đẩy việc sản xuất năng lượng thông qua việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo phù hợp với khí hậu, môi trường và các vấn đề kinh tếvĩ mô để giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, bảo đảm an ninh nguồn cung và giảm lượngkhí thải CO2 và các khí nhà kính khác. Đạo luật này phảiđặcbiệt góp phần bảo đảmthực hiện mục tiêu quốc gia và quốc tếvềviệc tăng tỷlệnăng lượng được sản xuất thông qua việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo [82]. Nhưvậy, chính sách pháp luật của Ấn Độ kích thích phát triển các nguồn năng lượng tái tạo với mục đích bảo vệ môi trường, phù hợp với kinh tế vĩ mô và đảm bảo an ninh

30

năng lượng. Pháp luật Ấn Độvừa coi trọngđặc tính tái tạo đượccủa các nguồn năng lượng vừa coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường, an ninh năng lượng trong sản xuất, sử dụng năng lượng tái tạo.

Pháp luật Trung Quốc [86] và pháp luật Philippin [84] đều đưa ra định nghĩa năng lượng tái tạo theo nguồn gốc của năng lượng. Theo đó, năng lượng tái tạo là năng lượng được khái thác từ gió, mặt trời, địa nhiệt, nước, sinh khối và các nguồn năng lượng tái tạokhác. Như vậy, pháp luật Trung Quốc và pháp luật Philippin quan tâm tới khả năng tái tạo của các nguồn năng lượng.

Hiện nay, ở nước ta, tồn tại hai quan điểm về năng lượng sạch:

Nhóm quan điểmthứnhất cho rằng năng lượng sạch là những nguồn năng lượng mà việc sản xuất, sử dụng chúng thân thiện với môi trường và tiết kiệm chi phí. Những người theo quan điểm này không xem tiêu chí có thể tái tạo được là bắt buộc đối với năng lượng sạch. Điều đócó nghĩa rằng, năng lượngsạch có thểcónguồn gốc từ nguyên liệu hóa thạch. Những người theo quan điểm này đề cao giải pháp khoa học công nghệ trong việc sản xuất, sử dụng năng lượng. Có nhiều trường hợp, việc sản xuất, sử dụng năng lượng hóa thạch đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và tiết kiệm chi phí cũng được coi là năng lượng sạch [1, tr.11].

Nhóm quan điểmthứhai cho rằng năng lượng sạch là những nguồn năng lượng phi hóa thạch, có thể tái tạo được và việc sử dụng chúng thân thiện với môi trường hơn so với năng lượng hóa thạch. Những người theo quan điểmnàyđồng nhất khái niệm năng lượng sạch với năng lượng tái tạo được [35, tr.19].

Bên cạnh đó, khái niệm năng lượng xanh cũng hay được sử dụng trong các công trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều cách hiểu khác nhau vềkhái niệm này. Trong cuốn sách chuyên khảo: Vấn đềan ninh năng lượng và các giải pháp khai thác năng lượng mặt trời từ vũ trụ truyền về TráiĐất, hai tác giảĐào Khắc An, Trần Mạnh Tuấn đã thểhiện quanđiểmvềnăng lượng xanh với đặc điểm cơ bản là năng lượng tái tạo và công nghệ chế tạo nguồn năng lượng ấy có lợi nhất cho môi trường [1, tr.11].

Ngoài ra, có quan điểm khác lại cho rằng, khái niệm năng lượng xanh rộng hơn khái niệm năng lượng tái tạo. Theo đó,năng lượng xanh baogồmtất cảcác

31

nguồn năng lượng mà việc sản xuất, sử dụng chúng thân thiện với môi trường. Nhưvậy, năng lượng xanh bao gồmcảnăng lượng hóa thạch với công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường (công nghệ sản xuất than sạch) [37, tr.112].

Như vậy, năng lượng sạch, năng lượng xanh là cách các nhà nghiên cứu gọi tên. Bản chất, quan điểm của hai tác giả Đào Khắc An và Trần Mạnh Tuấn về năng lượng xanh có phần giống với nhóm quan điểm thứ hai về năng lượng sạch nhưng hai tác giảnày nhấn mạnh vai trò của công nghệ sản xuất các nguồn năng lượng. Quan điểmvềnăng lượng xanh của tác giảNgô Đăng Nghĩa lại trùng với nhóm quan điểm thứ nhất về năng lượng sạch.

Ngoài ra, còn một số khái niệm liên quan như năng lượng mới, năng lượng thay thế. Tuy nhiên, các khái niệm này ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học và trong các văn bản pháp luật.

Dưới góc độpháp lý, Luật Bảo vệmôi trường năm 1993 chỉnhắc tới việc nhà nước khuyến khíchsản xuất, sử dụng “năng lượng tái sinh” (Điều 11). Cho đến Luật Bảo vệmôi trường năm 2005 mới đưara khái niệm năng lượng sạch, năng lượng tái tạo như sau:“Năng lượng sạch, năng lượngtái tạo là năng lượng được khai thác từgió,mặttrời, địanhiệt,nước,sinh khối và các nguồn tái tạokhác” (khoản 1 Điều 33). Theo cách định nghĩa này, Luật Bảo vệmôi trường năm 2005đồng nhất khái niệm năng lượng sạch với khái niệm năng lượng tái tạo. Luật Bảo vệmôi trường năm 2014chỉđưa ra khái niệm năng lượng tái tạo. Theo đó: “Năng lượng tái tạo là năng lượng được khai thác từnước, gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, nhiên liệu sinh học và các nguồn tài nguyên năng lượng có khảnăng tái tạo khác” (Khoản 1 Điều 43). Tuy không có khái niệm năng lượng sạch nhưng trong nhiều quy định của Luật lại nhắc tới vấn đề sử dụng năng lượng sạch. Ví dụ, tại Điều 5 của Luật có quyđịnh vềchính sách bảo vệmôi trường của nhànước, một trong những chính sách đó là phát triển năng lượng sạch (Khoản 3); tại Điều 6 của Luật có quyđịnh về hoạt động bảo vệmôi trường được khuyến khích, một trong những hoạt động đó là sử dụng năng lượng sạch (Khoản 4).

Như vậy, ở nước ta cũng như trên thế giới còn nhiều cách hiểu khác nhau vềkhái niệm năng lượng sạch, năng lượng xanh. Trong văn bản quy phạm pháp luật

32

nước ta chưa đưa ra khái niệm năng lượng sạch mang tính khái quát hóa. Tác giảcho rằng khái niệm năng lượng sạch hẹp hơn khái niệm năng lượng tái tạo. Năng lượng tái tạo là những loại năng lượngmà nếu đo bằng các chuẩn mực củacon người là vô hạn. Khái niệm vô hạn được hiểu theo hai nghĩa. Một là, năng lượng nhiều đến mức không thể cạn kiệt trước sự sử dụng của con người (Năng lượng mặt trời). Hai là, năng lượng tựtáitạotrong một khoảng thời gian ngắn và liên tục (năng lượng sinh khối). Tuy nhiên, việc sản xuất, sử dụng năng lượng tái tạo cóthểvẫn gâyônhiễm môi trường. Năng lượng sạch là loại năng lượng có thểtái tạo được nhưng việc sản xuất, sử dụng chúng thân thiện với môi trường và tiết kiệm chi phí. Vậy, khái niệm năng lượng tái tạo bao trùm khái niệm năng lượng sạch. Bởi vìáp lực và cũng là động lực lớn nhất khiến nhiều quốc gia nghiên cứu, sản xuất, sửdụng nguồn năng lượng mới là vấn đề bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khíhậu. Người ta dùng khái niệm năng lượng sạch để chỉ những nguồn năng lượng thân thiện với môi trường.

Từsựphân tích nói trên, tác giảđưa ra định nghĩa: “Năng lượngsạch lànguồn năng lượng tái tạo được và việc sản xuất, sử dụng chúng thân thiện với môi trường, tiết kiệm chi phí”.

Như vậy, khái niệm năng lượng sạch của tác giả có điểm tương đồng với tất cả các nhà nghiên cứu đi trước đó là việc khai thác, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, khái niệm năng lượng sạch của tác giảcó một số điểm khác biệt như sau:

– Tác giảluận án đã khẳng định đặc tính quan trọng nhấtcủanăng lượng sạch là khả năng tái tạo được. Có nhiều nhà nghiên cứu đi trước không quan tâm tới đặc tính này của năng lượng sạch. Điều đó có nghĩa rằng, năng lượng hóa thạch cũng có thể được coi là năng lượng sạch chỉ cần công nghệ khai thác, sản xuất và sửdụng chúng thân thiện với môi trường.

– Tuy không trực tiếp nhưng tácgiảluận án ngầm khẳngđịnhvai trò của

khoa học – công nghệ đối với phát triển năng lượng sạch.

– Tiết kiệm chi phí cũng là vẫn đề mà tác giả luận án quan tâm khi phân tích khái niệm năng lượng sạch.

33

2.1.1.2. Đặc điểm của năng lượng sạch

Với quan điểm trên, năng lượng sạch có những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, năng lượng sạch phải tái tạo được.

Năng lượng sạch phải có trữ lượng gần như vô tận hoặc tái tạo trong một thời gian ngắn và liên tục để con người sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau và không phải e ngại vấn đềcạnkiệt năng lượng. Khái niệm“tái tạo” ởđâycũng nên được hiểu linh động. Có thểchính nguồn năng lượng đó vô tận hoặc tái tạo được (năng lượng mặt trời) hoặc nguyên liệu sản xuất ra nguồn năng lượng đó vô tận hoặc tái

tạo được (năng lượng sinh khối).

Thứhai, việc khai thác, sản xuất, sửdụng năng lượng sạch ít hoặc không gây ô nhiễm môi trường.

Đây là đặc điểm quan trọng nhất của năng lượng sạch và cũng vì lí do này, con người đã nỗlực nghiên cứu, sản xuất, sửdụng những nguồn năng lượng sạch thaythếnguồn năng lượng hóa thạch. Đánh giá mộtcách toàn diện, toàn bộquátrình sản xuất, sử dụng và thải bỏ năng lượng sạch phải thân thiện với môi trường.Đầu vàosảnxuất phải tiêu tốn ít nguyên liệu, các nguyên liệu dùng đểsản xuất năng lượng sạch cũng phải dồi dào và thân thiện với môi trường. Quá trình tiêu thụnăng lượng sạch không có tác động tiêu cực tới môi trường. Thậm chí khi người ta thải bỏcác sản phẩm trong quá trình sửdụng năng lượng sạch cũng không gâyônhiễm môi trường (chất thải trongkhảnăng làm sạch của Trái Đất hoặc chất thải được làm nguyên liệu cho một quy trình khác). Nếu chỉ có một khâu thân thiện với môi trường chưa đủ để đánh giá đó có phải là nguồn năng lượng sạch hay không. Vídụ: hiện nay, nhiều người cho rằng xăng sinh học không phải là nguồn năng lượng sạch bởi vì quá trình tiêu thụ xăng không gây ô nhiễm môi trường nhưng quá trình

sản xuất có thể phải sử dụng nhiều nguyên liệu là gỗ, sắn… gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và an ninh lương thực [73].

Thứ ba, việc sản xuất, sử dụng năng lượng sạch tiết kiệm chi phí.

Đâykhông phải là nộidung quan trọng nhất nhưng cũng phải tính tới khi phát triển năng lượngsạch. Nếu việc sửdụng một nguồn năng lượng đảmbảo không gây ô nhiễm môi trường nhưng chi phí quá đắt thì cũng khôngđạt được mục

34

tiêu phát triển bền vững (phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường vàđảm bảo tiến bộxã hội). Nhưng, chúng ta cũng cần có tiêu chí đánh giá thế nào là tiết kiệm chi phícho hợp lý. Tức là, chi phí cho việc sản xuất một đơn vị năng lượng sạch phải thấp hơn hoặc bằng chi phí cho việc sản xuất một đơn vị năng lượng truyền thống tương ứng. Hoặc chi phí cho việc sản xuất một đơn vị năng lượng sạch có thể cao hơn chi phí sản xuất một đơn vị năng lượng truyền thống tương ứng nhưng một đơn vị năng lượngsạch có hiệu suất sử dụng cao hơn một đơn vị năng lượng truyền thống tươngứng. Trong nhiều trường hợp, một đơn vịnăng lượng sạch cho hiệu suất sửdụng bằng một đơn vị năng lượng truyền thống nhưng việc sản xuất năng lượng sạch có chi phí cao hơn trong một giới hạn nhất định thì trường hợp đó vẫn được đánh giá là sản xuất năng lượng sạch tiết kiệm chi phí. Cũng cần phải lưu ý rằng, chi phí để sản xuất, sử dụng năng lượng bao gồm cả chi phí về môi trường và xã hội.

Thứ tư, năng lượng sạch được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Đời sống sinh hoạt và sản xuất trong xã hội hiện đại phong phú. Và rất nhiều lĩnh vực phải tiêu thụnăng lượng. Một nguồn năng lượng chỉsửdụng được trong một hoặc một sốít lĩnh vực của đời sống xã hội thường không mang lại hiệu quảkinh tế. Năng lượng sạch được khai thác vàsửdụng vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây vừa là đặc điểm vừa là yêu cầu trong phát triển năng lượng sạch.

Những đặc điểm nói trên của nănglượngsạch có thể là tính chất vốn có của các nguồn năng lượng quy định hoặc dưới sự tác động của con người mà cụ thể là tácđộng của khoa học công nghệ. Ví dụ: Đặc điểm tái tạo được là bởi tính chất tự nhiên của các nguồn năng lượng sạch;Đặc điểm thânthiện với môi trường là tính chất vốn có của các nguồn năng lượng cộng với sự tác động của khoa học công nghệ.

Những đặc điểm nói trên của nănglượngsạch ảnhhưởngtới pháp luật phát triển năng lượng sạch theo các khía cạnh như sau:

– Với các ưu điểmkểtrên của năng lượng sạch, việc phát triển năng lượng sạch là tất yếu khách quan. Đểđảmbảo việc phát triển năng lượng sạch diễn ra trong một trật tự phù hợp, mang lại lợi ích cho xã hội, nhà nước cần xây dựng một hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất về phát triển năng lượng sạch.

35

– Tính giá năng lượng sạch phải dựa trên giá củanăng lượng hóa thạch. Các chi phí về môi trường, xã hội phải được phản ánh trong giá của năng lượng hóa thạch.

– Một trong những nội dung quan trọng của pháp luật phát triển năng lượng sạch là khuyến khích phát triển khoa học công nghệ phục vụ cho khai thác, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch.

2.1.1.3. Các nguồn năng lượng sạch chủ yếu

Trong cảmquan của con người, trong giới hạn khoa học kỹthuật, tính đến thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch địnhchính sách và tất cảchúng ta đều cho rằng các nguồn năng lượng sạch đều được khai thác từ nước, gió,ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, nhiên liệu sinh học, sinh khối. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, không phải tất cảcác nguồn năng lượng được khai thác từnước, gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, sinh khốiđều được coi là năng lượng sạch. Chúng phải đápứng các tiêu chí như phân tích ởphần trên mới được coi là năng lượng sạch.

*Năng lượng mặt trời

Năng lượng mặt trời là dạng năng lượng của dòng bức xạ điện xuất phát từmặt trời đến Trái Đất. Theo tính toán của nhiều công trình khoa học, khoảng 5 tỷnăm nữa phản ứng hạtnhân trên mặt trời hết nhiên liệu thì Trái Đất không nhận được dòng bức xạ này nữa. Vậy, ở thời điểm hiện tại, năng lượng mặt trời được coi là vô tận.Nhờhiệu ứng quang điện, người ta chuyển năng lượng các photon của mặttrời thành điện năng, như trong pin mặttrời. Năng lượng củacác photon mặt trời cũng có thể được chuyển thành nhiệt năng, được ứng dụng cho bình đun nước năng lượng mặt trời hoặc làm sôi nước trong các máy nhiệt điện của tháp mặt trời hoặc vận động hệ thống nhiệt như máy điều hòa mặt trời.

Năng lượng mặt trời được coi là vô tận và không sản sinh ra chất thải gây ô nhiễm môi trường. Từrất lâu, nănglượngmặttrờiđược ứngdụng chođời sống dưới dạng nung nóng. Tuy nhiên, việc sửdụng đómang tính chất đơn giản. Hiện

nay, nhiều quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, các nước Tây Âu… đã sử dụng năng lượng mặt trời như một giải pháp thaythếcác nguồn năng lượng hóa thạch. Tuy nhiên, do chi phíđầu tưcho thiết bị lớn nên việc sử dụng năng lượng mặt trời

36

cho sản xuất, sinh hoạt còn hạn chế. Con người đang nỗ lực nghiên cứu tìm ra các giải pháp khoa học công nghệ để có thể khai thác, sử dụng năng lượng mặt trời với giá thành rẻ hơn.

*Năng lượng gió

Sự chuyển động của không khí dưới sự chênh lệch áp suất khí quyển tạo ra gió. Từ thời Cổ Đại, con người đã biết sử dụng năng lượng gió bằng cách xây dựng các cối xay gió để xay xát mía, lúa mạch. Sau này, chúng ta đã biết sử dụng sức gióđể quay các tuabin phát điện. Năng lượng gió cũng được coi là vô tận và không cóchất thải. Tuy nhiên, những cánh quạt gió lạiphát ra tiếng ồnvà vô tình giết chết nhiều chim, dơi khi chúng bay gần. Đểhạnchếnhững nhược điểm kểtrên, con người đã sáng tạo ra nhiều loại tuabin thu năng lượng gió khác nhau. Đầu tiên cóthể kể tới tuabin gió bão (typhoon) được phát mình bởi Atsushi Shimizu nhằm khai thác một lượng lớn năng lượng chứa trong các cơn bão thường đổ bộ vào Nhật Bản. Bên cạnh đó, hãng Sheerwind trụ sở chính tại Minnesota – Mỹ đã tìm ra giải pháp thu năng lượng gió bằng một loại tuabin có tên là Invelox. Loại tuabin này có thểhoạt độngkhi gió chỉởtốc độc khoảng 3km/giờ. Gió được hướng vào dạng hình phễu của thiết bịrồi chuyển qua đường ống đểhoạt động cho tuabin trên mặt đất. Phần cấu trúc hẹp ở cuối phễu tạo ra hiệu ứng “máy bay phản lực” làmtăng tốc độcủa gióở áplực thấp. Kỹ thuật này tạo ra động năng có tên gọi Venuturi làm quay máy phát điện… [39]

*Năng lượng sinh học

(1)Năng lượng từ sinh khối

Sinh khối là thuật ngữcó nội hàm rộng bao gồmnhững vật chất có nguồn gốc sinh học hoặc có chứa một số thành phân hóa học đặc biệt có thể sử dụng nhưmột nguồn năng lượng. Sinh khối bao gồm các loại thực vật, bã thải trong nông nghiệp, lâm nghiệp, giấy vụn, mêtan từcác bãi chôn lấp rác thải, phân trong chăn nuôi. Năng lượng từ sinh khối có các dạng cơ bản như sau:

– Thông qua việc đốt củi, rơm, rác khô sẽ tạo ra nhiệt năng phục vụ đun nấu. Đâylà hình thức sửdụng năng lượng sinh khối thô sơ và lâu đời ởnước ta. Điều này cho phép tận dụng các sản phẩm có sẵn. Tuy nhiên, việc đốt củi, rơm, rác tạo

37

thành khói, bụi gây ô nhiễm không khí. Mặc dù vấn đề này chưa đáng lo ngại nhưng cũng cần có các giải pháp sáng tạo nhằm tiết kiệm nhiên liệu sinh khối vàhạn chếtác động xấu tới môi trường. Thực tế, con người đã sáng tạo ra những loại bếp tiết kiệm rơm, củi. Với mỗi gia đình, việc sử dụng các loại bếp này không mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng xét trong phạm vi cả nước thì đây cũng là một giải pháp quan trọng tiết kiệm một số lượng lớn sinh khối và giảm thiểu đáng kể tác động xấu tới môi trường.

– Sinh khối cũng có thể được chuyển đổi thành nhiên liệu lỏng để cung cấp cho các xe hơi, máy cơ khí và trong các bộphận sản xuất công nghiệp. Ba dạng nhiên liệu phổbiến được sản xuất từsinh khối (biofuel) là methanol, ethanol vàbiodiesel. Biofuels có chứa oxy nên khi pha vào các sản phẩm dầu khí sẽ gia tăng hiệu suất đốt của nhiên liệu và từ đó giảm ô nhiễm không khí.

– Sinh khối cũng có thể được chuyển thành điện năng. Cho đến ngày nay cókhá nhiều công nghệđểthực hiện việc này, các công nghệphổbiển nhất gồmcó:

đốt trực tiếp hoặc tạo hơi nước thông thường (direct-fired or conventional steam approach), nhiệt phân (pyrolysis), đốt kết hợp co-firing, khí hóa (biomass gassification), tiêu yếm khí (anaerobic digestion), sản xuất điện từ khí thải bãi chôn

lấp rác.

(2) Khí sinh học

Khí sinh học có thể thu được từ phân của động vật chăn nuôi (lợn, bò, dê…) thông qua hầm ủ (biogas). Nhiều hộ gia đình chăn nuôi với quy mô vừa, lớn đã tận dụng nguồn năng lượng này. Hiện nay, với công nghệ mới, nguyên liệu để cung cấp cho hầm ủ không chỉ là chất thải chăn nuôi mà còn từ nguyên liệu thực vật như rơm,

bèo tây, lục bình… Khí sinh học thu được dùng để phục vụ đun nấu, thắp sáng.

*Năng lượng thủy triều

Năng lượngthủy triều là việclợidụng dòng thủy triều lên xuống đểquay cánh quạt chạy máy phát điện. Đây cũng được coi là một dạng năng lượng vô tận. Với khoa học công nghệ hiện nay, thủy triều được dự báo tương đối chính xác. Tuy nhiên, để sản xuất điện từ năng lượng thủy triều cần một diện tích tự nhiên rộng vàlượng đầu tư lớn cho thiết bị, xây dựng. Mô hình này cũng chỉ hoạt động được trong

38

khoảng thời gian thủy triều lên xuống. Thực tế, rất ít nơi trên thếgiới có đủmọi điều kiện để phát triển nguồn năng lượng này.

*Năng lượng từ sức nước

Việc sửdụng năng lượng từsức nước đã diễn ra từthời cổđại nhưnước dùng trong các hạng mục thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, đồng hồ nước,

cối xaynước… Khi xã hội ngày càng phát triển, con người biết ứng khoa học kỹthuật tốt hơn đểsửdụng nguồn năng lượng này hiệu quảhơn. Ngày nay, sản xuất điện từ năng lượng sức nước được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn. Nước được dựtrữtrong hồvới những con đập rất lớn. Khi nước được rơi tựdo sẽtạo ra một lượng năng lượng tương ứng với khối lượng của nước, tỷ lệ với lực hút của Trái Đất và độ cao. Khối lượng năng lượng đó sẽ làm quay cánh quạt của máy phát điện (lúc này thế năng của nước chuyển hóa thành động năng) và tạo ra điện năng để sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất.

Ưu điểm của việc sản xuất điện từ sức nước là nhiên liệu mà nó sử dụng gần như vô tận, ít chi phí bảo trì, không tạo chất thải hủyhoại môi trường, điện năng được sản xuất từ mô hình này có tính ổn định và có thể tăng, giảm lượng điện tức thì. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đập thủy điện còn có tác dụng điều tiết nước vàchống lũ. Tuy nhiên, nhược điểmcủa mô hình này là chi phí đầu tư ban đầu lớn. Ngoài ra, việc xây dựng đập ngăn nước thayđổi rất lớn đến môi trường sinh thái của thượng nguồn và hạ nguồn. Các đập thủy điện nếu khôngđược thiết kế hợp lýcó thể tiềm ẩn những ảnh hưởng tiêu cực đến việc điều tiết nước và gây lũ. Việc xây dựng các đập thủy điện tràn lan đẩy nhiều nơi trên thế giới vào vấn nạn khan hiếm nguồn nước. Vì vậy, chúng ta cần phải có biện pháp thíchhợpkhi phát triển môhình sản xuất điện từ sức nước.

*Năng lượng từ sóng biển

Sóng trên mặt biển do gió thổi tạo ra. Những con sóng này cũng mang một lượng năng lượng lớn. Tuy nhiên, nguồn năng lượng này trải khắp mặt biển rất khóthu gom. Ngày nay, nhờ có khoa học kỹ thuật, nhiều quốc gia đã thành công trong việc sử dụng năng lượng sóng biển để tạo ra cơ năng làm quay tuabin máy phát vàchuyển hóa thành điện năng [34]. Đâycũng là nguồn năng lượng tái tạo được, không có chất thải và không đòi hỏi chi phí bảo trì. Tuy nhiên, không phải nơi nào

39

cũng thích hợp để xây dựng mô hình năng lượng này và vấn đề ảnh hưởng tới môi trường do tiếng ồn của những tuabin máy phát.

*Năng lượng địa nhiệt

Năng lượng địa nhiệt là dạng năng lượng có sẵn trong lòng đất, có nguồn gốc từsựhình thành banđầu củahành tinh,từhoạt độngphân hủyphóng xạcủa các khoáng vật và từ năng lượng mặt trời được hấp thụ tại bề mặt Trái Đất.Từ thời cổđại, con người đã biết sử dụng năng lượng địa nhiệt để nung và tắm. Ngày nay, loại năng lượng này còn được sử dụng để phát điện.

Việc xây dựng nhà máy phát điện địa nhiệt không chiếm diện tích lớn. Các giếng địa nhiệt có khuynh hướng giải phóng khí thải nhà kính bị giữ dưới sâu trong lòng đất, nhưng sự phát thải này thấp hơn nhiều so với phát thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch thông thường. Công nghệ này có khả năng giúp giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu nếu nó được triển khai rộng rãi. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề phải cân nhắc khi phát triển mô hình nhà máy phát điện địa nhiệt. Do đây là loại tài nguyên phục hồi rất chậm, nên nếu khai thác quá mức có thể dẫn tới khôngphục hồi được nữa. Việc tìm địa điểm thích hợp cho mô hình này đòi hỏi kỹ thuật thăm dò và công nghệ cao mới định vị được.

Như vậy, qua sự phân tích nói trên, chúng ta thấy khoa học công nghệ có vai trò rất quan trọng trong sản xuất, sử dụng năng lượng sạch. Nước, gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, sinh khốichỉcó thểtrởthành nguồn năng lượng đểsửdụng rộng rãi trong sản xuất, sinh hoạt khi áp dụng khoa học công nghệ. Hơn nữa, khoa học công nghệ phải luôn luôn được cảitiến đểhoạt độngkhai thác, sửdụng năng lượng sạch ngày càng giảm thiểu chi phí và giảm tác độngtiêu cực tới môi trường. Các quy định của pháp luật nhằm phát triển năng lượng sạch phải thúc đẩy khoa học công nghệ phục vụ cho sản xuất, sử dụng năng lượng sạch.

2.1.2. Những vấn đề lý luận về phát triển năng lượng sạch 2.1.2.1. Khái niệm phát triển năng lượng sạch

Trong tiếng Anh, “sựphát triển” được gọi là “development” có nghĩa là quátrình trong đó ai hay cái gì tăng trưởng hoặc thay đổi và tiên tiến hơn. Trong từ điển tiếng Việt “phát triển” được hiểu là biến đổi hoặc làmcho biến đổi từ ít đến nhiều,

40

hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp [72, tr.769]. Như vậy, hiểu một cách khái quát,“pháttriển” làsựthayđổitheo hướngtích cựccủacon người, sựvật, hiện tượng. Sự thay đổi nhằm phát triển có thể là thay đổi về số lượng, có thểthayđổi vềchấtlượnghoặc bao gồm cảthay đổi vềsốlượngvà chất lượng. Bên cạnh đó, sự thay đổi về số lượng, chất lượng của đối tượng này tác động tích cực tới đối tượng khác hoặc ít nhất không gây tác động xấu tới đối tượng khác. Đó mới làsựphát triển toàn diện. Có những đối tượng tựthayđổi đểphát triển nhưng cónhững đối tượng phát triển phải nhờ vào sự tác động của đối tượng khác (chủ yếu làcon người).

“Phát triển năng lượng sạch”được hiểu là năng lượng sạch đượcthayđổi theo hướng tích cực hơn. Tích cực hơn thể hiện ở chỗ có thêm các dự án sản xuất năng lượng sạch, mở rộng quy mô các dự án năng lượng sạch đang vận hành, thayđổi các giải pháp về khoa học công nghệ làm cho các dự án năng lượng sạch hoạt động hiệu quả hơn… và kết quả cuối cùng là sản lượng năng lượng sạch nhiều hơn. Nhiều chủ thể (nhà nước, người dân, doanh nghiệp…) được hưởng kết quả của việc phát triển này. Nhànước thực hiện được mục tiêu quản lý vềnăng lượng, môi trường, việc làm… Người dân được sử dụng dịch vụ về năng lượng ổn định, giá rẻ… Doanh nghiệp sản xuất năng lượng sạch được hưởng lợi nhuận. Bên cạnh đó, việc phát triển năng lượng sạch phải có tácđộngtích cực tới các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như kinh tế, việc làm, môi trường. Cóđảmbảo các yêu cầu như vậy mới được đánh giá là phát triển năng lượng sạch.

Năng lượng sạch không tự phát triển mà cần sự tác động của con người. Con người tác động đểphát triển năng lượng sạch thông qua hoạt độngkhai thác, sản xuất, sửdụng năng lượng sạch hoặc thông qua những hoạt động khác nhằm kích thích việc khai thác, sản xuất,sửdụng năng lượng sạch một cách hiệu quả. Với quan niệm như vậy, chủthểtham gia tácđộng nhằm phát triển năng lượngsạch gồm có:

– Các cá nhân, tổchức trong xã hội khai thác, sản xuất, sửdụng năng lượng sạch để phục vụ mục đích của bản thân. Chủ thể khai thác, chủ thể sản xuất,chủ thểsửdụng năng lượng sạch có thểlà một chủthểnhưng cũng có thểlà các chủthể

41

khác nhau. Mụcđích của các chủthểnày cũng không giống nhau. Có chủthểvì mục đích tiêu dùng (thường là chủ thể sử dụng), có chủ thể vì mục đích lợi nhuận (thường là chủ thể khai thác, sản xuất). Thực tế cho thấy, các chủ thể này nhận thấy những lợi ích trực tiếp cho bản thân (chủ yếu là lợi ích kinh tế) thì họ tiến hành khai thác, sản xuất,sử dụngnăng lượng sạch. Họ ít quan tâm tới các mục tiêu vĩ mô nhưvấn đề an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, việc làm…

-Chủthểnghiên cứu khoa học, sản xuất ra những thiết bị, máy móc nhằm khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch hiệu quả. Tuy chủ thể này không trực tiếp khai thác, sản xuất, sửdụng năng lượngsạch nhưng có vai trò rất quan trọng trong kích thích phát triển năng lượng sạch.

– Nhà nước với tư cách là người quản lý khi xem xét vấn đềphát triển năng lượng sạch nhà nước quan tâm tới các mục tiêu vĩ mô như an ninh năng lượng, môi trường, viêc làm, phát triển kinh tế… Nhà nước kích thích khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch thông quahoạt độngban hành các quy phạm pháp luật nhằmđịnh hướng việc phát triển năng lượng sạchđảm bảo lợi íchcủa các cá nhân, tổ chức khác nhau trong xã hội. Nhà nước phải hài hòa được lợi ích của các chủ thể khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch và các chủ thể khác trong xã hội. Cơ quan nhà nước cóthẩm quyền cũng cóthểra quyếtđịnhcá biệt điềuchỉnh quanhệxã hộiphát sinh trong một trường hợp cụ thể nàođónhằm phát triển năng lượng sạch.

Từ sự phân tích nói trên, tác giả đưa ra khái niệm phát triển năng lượng sạch như sau: Phát triển năng lượng sạch là quá trình các chủthểthực hiện các hoạt động khác nhau nhằm khai thác, sản xuất và sửdụng năng lượngsạch hoặc kích thích việc khai thác, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch hiệu quả mang lại lợi ích cho toàn xã hội.

2.1.2.2. Xu hướng phát triển năng lượng sạch trên thế giới

Năng lượng sạch vẫn chiếm một tỷtrọng khiêm tốn trong cơ cấu năng lượng (chếm khoảng 20%) [69]. Điềuđó chứng tỏ, thời gian trước đây, chúng ta chưa

quan tâm tới phát triển năng lượng sạch. Thực tế, con người vẫn sửdụng chủyếu nguồn năng lượng từ dầu khí, than, hạt nhân. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hầu hết các quốc gia trên thếgiới đã đầu tư cho phát triển năng lượng sạch. Tổng

42

đầu tưtoàn cầu cho vấn đề phát triển năng lượng sạch đạt 211 Đô la Mỹ vào năm 2010. Trong năm 2011, các báo cáo của Cơ quan Năng lượng quốc tế(IEA) cho thấy rằng có khoảng 118 các quốc gia trên thếgiới có các chính sách và mục tiêu chính sách về năng lượng sạch [5, tr.44].

Bảng 2.1: Phát triển năng lƣợng tái tạo (năng lƣợng sạch) trên thế giới

Đơn vị

tính

201020112012
Đầu tƣ mới NLTT*Tỷ USD227279244
Công suất NLTT (không bao gồm thủy điện)GW315395480
Công suất thủy điệnGW935960990
Năng lƣợng sinh khốiGW313335350
Pin mặt trời (PV)GW4071100
Điện tập trung nhiệt mặt trời (CSP)GW1,11,62,5
Công suất điện gióGW198238283
Công suất nung nóng nƣớc bằng năng lƣợng mặt trờiGWh195223255
Sản lƣợng ethanolTỷ lít8584,283,1
Sản lƣợng nhiên liệu sinh họcTỷ lít18,522,422,5

Nguồn: [69]

(*): Dữ liệu đầu tư từ Bloomberg New Energy Finance, bao gồm: sinh khối,địa nhiệt, năng lượng gió với các dự án hơn 1MW; thủy điện từ 1 – 50 MW; năng lượngmặttrời; và cácdựán nhiên liệu sinhhọcvới sảnlượngmỗinăm 1 triệu lít hơn.

Các quốc gia dẫn đầu thếgiới vềnăng lượngmặt trời gồmcó: Đức, Trung

Quốc, Nhật Bản, Ý, Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha, Úc, Bỉ, Nam Triều Tiên [58]… Trung Quốc, Mỹ, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Ý cũng là quốc gia là quốc gia dẫn đầu thếgiới về khai thác năng lượng gió hiệu quả. Ngoài ra, Ấn Độ, Vương Quốc Anh, Đan Mạch cũng là các quốc gia dẫn đầu thế giới trong khai thác năng lượng gió [24].

43

Năng lượng từ sinh khối (chủ yếu là nhiên liệu sinh học), năng lượng gió, năng lượng mặt trời là ba loại năng lượng sạch phát triển mạnh trong thời gian qua. Năng lượng từ sinh khối mà chủ yếu là nhiên liệu sinh học phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia. Theo đánh giá của IEA, trong tương lai sẽcung cấp đến 27% nhu cầu năng lượng của ngành giao thông vận tải. Chúng ta còn kỳ vọng nhiên liệu sinh học là nguồn thay thế cho dầu diesel, kerrosene và làm nhiên liệu cho máy bay phản lực vào năm 2050 [5, tr.44]. Năng lượng gió tiếp tục có tính hấp dẫn nhất. Nhiều quốc gia trên thế giới cố gắng nghiên cứu ra các thiết bị công nghệ để khắc phục hạn chếnhược điểmcủa các tuabin gió trước đây(ô nhiễm tiếng ồn, mất diện tích đấtrất

lớn, ảnh hưởng đến các loài chim…). Một sốloại tiêu biểu như tuabin gió bão, tuabin lai gió và nước, tuabin gió trên không trung, tuabin gió không cánh, tuanbin

gió kiểu phễu, tuabin gió thân thiện với chim trời [39]… Đặc biệt, sự quan tâm gần đâyvềnguồn năng lượng sạch,rẻtậptrung vào năng lượng mặt trời. Bởiđâylànguồn năng lượng có mặt ở hầu khắp các địa điểm trên trái đất và dễ khai thác. Năm 2012 là năm đột phá của ngành công nghiệp năng lượng mặt trời với công suất pin mặt trời (PV) là 100 GW, điện tập trung nhiệt mặt trời (CSP) là 2,5 GW, công suất nung nóng nước bằng năng lượng mặt trời là 255 GWh (xem Bảng 2.1). Các nguồn năng lượng sạch khác như năng lượng địa nhiệt, năng lượng từsóng biển… ngày càng được sản xuất, sử dụng rộng rãi. Nhìn chung, mặc dù còn chiếm một tỷ trọng thấp nhưng năng lượng sạch đang trên đà phát triển. Và hầu hết các quốc gia đều cókế hoạch nghiên cứu, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch.

2.1.2.3. Sự cần thiết phải phát triển nănglượngsạch tại Việt Nam

Đểđánh giá sựcần thiết phải phát triển năng lượng sạch tại Việt Nam, tác giả đi sâu phân tích các nội dung cụ thể gồm: Hậu quả của việc khai thác, sử dụng các nguồn năng lượnghóa thạch; Lợiích của việc sảnxuất, sửdụng năng lượng sạch; Tiềm năng năng lượng sạch tại Việt Nam.

a. Hậu quả của việc sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch

Thanđávà dầu khí là hai nguồn nănglượnghóa thạch chủ yếu trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Hiện nay, chưa có nguồn năng lượng nào thay thế được vai

44

trò đối với phát triển kinh tế – xã hội của hai nguồn năng lượng này. Tuy nhiên, việc khai thác hai nguồn năng lượng này để lại nhiều hậu quả bất lợi.

Thứ nhất, sự cạn kiệt của tài nguyên năng lượng không thể tái tạo

Việt Nam là quốc giađược thiên nhiên ưu đãi, có nhiều các nguồn năng lượng có thể khai thác phục vụ chođời sốngvà sinh hoạt. Tính đến thời điểm hiện tại, chúng tachủyếu khai thác các loại năng lượng hóa thạch (than đá, dầu khí). Tổng trữ lượng than đã tìm kiếm thăm dò còn lại đến 01/01/2005 là 6,140 tỷ tấn [5, tr.65]. Bể than ở Quảng Ninh là bể than lớn nhất, chiếm khoảng 90% sản lượng khai thác của toàn ngành than. Đối với dầu khí, theo đánh giá gần đâynhất, tổng trữ

lượng có thể thu hồi của nước ta khoảng 3,8 – 4,2 tỷ tấn quy đổi (TOE) [5, tr.67]. Việc khai thác không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có thể xuất khẩu sang các nước khác. Từnăm 1990, việc xuất khẩu dầu thô và than mang lại nguồn lợi kinh tế lớn cho nước ta.

Tuy nhiên, do việc khai thác quá mức, hiện nay các nguồn năng lượng hóa thạch đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt và không đáp ứng nhu cầu. Theo tính toán, lượng thiếu hụt năng lượng khoảng gần 53 triệu TOE năm 2020 và lên tới 143 triệu TOE năm 2030. Nếu không có những nguồn mới bổ sung, tỷ lệ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu là 36% năm 2020 và lên đến 57% năm 2030 và tiếp tục tăng thêm nữa [5, tr.71].

Thứ hai, ô nhiễm môi trường gia tăng

Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở nước ta hiện nay là do việc khai thác, sử dụng các loại năng lượng hóa thạch (chủ yếu là than đá và dầu khí). Đặc biệt với công nghệ khai thác lạc hậu, công tác quản lý, bảo vệmôi trường trong khai thác năng lượng hóa thạch còn lỏng lẻo thìtình trạng ô nhiễm môi trường càng diễn ra nghiêm trọng hơn.

Một ví dụ điển hình đó là tình trạng ô nhiễm môi trường tại khu vực mỏ thanở Cẩm Phả – Quảng Ninh. Một nghiên cứu gần đây về thành phần hóa học trong đất trồng lúa ởkhu vực này nồng độkim loại rấtcao từkhai thác than, sản lượng lúa giảm đi. Cây lúa và thóc trong khu vực này cũng bị nhiễm bẩn cao, “mà có thể dẫn

45

đến tích tụ kim loại (như Cd) trong các bộ phận cơ thể người và dẫn đến mắc bệnh nghiêm trọng” [28, tr.15].

Các nhà máy nhiệt điện ở Việt Nam khi xây dựng và hoạt động phải có nghĩa vụ tôn trọng quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, thực tế, nhiều nhàmáy nhiệt điện không thực hiện đầyđủnghĩa vụnày. Tình trạng ô nhiễm môi trường do các nhà máy nhiệt điện gây ra ở một số khu vực rất nghiêm trọng. Tiêu biểu là nhà máy Vĩnh Tân 2 thuộc Tổ hợp điện Vĩnh Tân phát sinh 4,4 tấn chất thải một ngày và nhiều xe tải chở chất thải qua quốc lộ 1 đến bãi tập kết chôn lấp. Các biện pháp ban đầu là phủ xe, tưới đường và bãi chôn lấp, nén và che phủ bãi chôn

lấp là chưa đủ, gây ô nhiễm bụi lan tràn ruộng đồng, khu dân cư. Ngoài ra, các ống khói cũng tạo ra bụi và lắng đọng xuống khu dân cư [28, tr.16].

Các nhà máy thủy điện ở nước ta góp phần quan trọng trong cungcấp điện cho sản xuất, sinh hoạt. Nhưng việc xây dựng các nhà máy thủy điện, cũng có nhiều tác động tiêu cực tới môi trường như: xói lở bờ sông, ngập lụt; hạn hán và suy giảm chất lượng nước ở hạ lưu; suy giảm tài nguyên sinh học nhất là rừng; hiện tượng bồi lắng lòng hồ và ảnh hưởng tới khả năng cắt lũ của các hồ; vấn đề sự cố môi trường

như vỡ đập, động đất…

b. Lợi ích của việc sử dụng năng lượng sạch

Nếu được tính toán hợp lý thì việc khai thác, sử dụng năng lượng sạch mang lại nhiều lợi ích cho chúng ta. Các lợi ích chủ yếu gồm:

Thứ nhất, việc khai thác, sử dụng năng lượng sạch góp phần tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường. Bởi vì, khi tỷ trọng năng lượng sạch tăng, đồng nghĩa với việc chúng ta giảm khai thác,sửdụng năng lượnghóa thạchsẽhạnchếtình trạng cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên. Hơn nữa, việc khai thác, sửdụng năng lượng sạch ít có khảnăng phát sinh khí thải, hay chất phóngxạnhư sản xuất, sửdụng năng lượng hóa thạch. Chúng ta có thể xem bảng dưới đây để so sánh thấy sựkhác biệt của lượng khí thải ra môi trường khi phát điện từ các nguồn năng lượng khác nhau.

46

Bảng 2.2: Lượng khí thải ra môi trường của các nguồn năng lượng khi phát điện

Nguồn năng lƣợngLƣợng khí thải (g/kWh)
CO2SO2NOx
Năng lượng hóa thạchNhiệt điện chạy than9861,492,93
Nhiệt điện chạy dầu81814,163,99
Năng lượng sạchPhát điện nhờnăng lượng nhiệt của mặt trời20-300,500,23
Phát điện nhờ ánh sáng mặt trời29-500,20-0,340,18-0,30
Phong điện6,5-9,10,02-0,090,02-0,36
Thủy điện8,60,030,07

Nguồn: [42] Thứ hai, việc khai thác, sử dụng năng lượng sạch góp phần đảm bảo an ninh

năng lượng quốc gia.

Cùng với tiến trình phát triển kinhtế- xã hội củaquốc gia, nhu cầu năng lượng liên tục tăng qua các thời kỳ. Trong khi đó, các nguồn năng lượng hóa thạch khai thác trong nước đang cạn kiện dần, không đáp ứng nhu cầu. Đứng trước bối cảnh đó, một trong những giải pháp quan trọng là đa dạng hóa các nguồn cung năng lượng và cần phải tiến hành khai thác, sản xuất và đưa vào sử dụng các nguồn năng lượng sạch. Trong thời gian qua, mặc dù năng lượng sạch còn chiếm một tỷtrọng khiêm tốn trong cơ cấu năng lượng nước ta, nhưng nó đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Thứ ba, việc khai thác,sử dụngnănglượngsạch góp phần phát triển kinhtếđất nước.

Đây được xácđịnh là một ngành kinh tế nên sẽ mang lại lợi ích chochủ thểđầu tưkinh doanh và cho xã hội như các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó, nhiều dựán năng lượng sạch có thể có được nguồn thu từ việc bán các chứng chỉ giảm phát thải Cácbon cho cộng đồng quốc tế. Nhiều dự án năng lượng sạch nằm ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế còn khó khăn sẽ tạo điều kiện cho khu vực này phát triển. Khi

47

các dự án năng lượng sạch được xây dựng kéo theo sự phát triển của hệ thống cơ sởhạ tầng điển hình là giao thông vận tải.

Thứ tư, Việt Nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, phần lớn dân số làm nông nghiệp, ¾ diện tích là đồi núi vì thế các phế phẩm trong nông nghiệp, lâm nghiệp rất lớn. Việc sản xuất năng lượng từ sinh khối, khí sinh học giúp chúng ta tận dụng triệt để các phế phẩm này, xử lý chất thải trong chăn nuôi, trồng trọt.

Thứ năm, hiện nay, ở nước ta, thủy điện lớn và nhiệt điện là hai nguồn cung cấp điện chủ yếu. Tuy nhiên, sản lượngđiện sản xuất được vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Trong tương lai gần, chúng ta vẫn phải nhập khẩu thêm điện cho sản xuất, sinh hoạt trong nước. Cụ thể, kế hoạch nhập khẩu điện của nước ta được trìnhbày ởBảng 2.3. Trong bối cảnh đó, các dự án điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối… sẽgóp phần giải quyết vấn đề thiếu điện.

Bảng 2.3: Kế hoạch nhập khẩu điện

Năm202020252030
Tỷ trọng điện nhập khẩu trong cơ cấu nguồn điện (%)2,41,61,2
Điện năng sản xuất và nhập

khẩu (tỷ kWh)

265400572

Nguồn: [62]

Thứ sáu, các dự án năng lượng sạch với quy mô lớn phải sử dụng một nguồn lao độngnhất địnhbao gồm cả laođộngphổ thông và laođộngcó trình độ chuyên môn. Nguồn lao động này thường từkhu vực lân cận dựán. Đối với lao động cótrình độ cần phải đàotạo mới đáp ứngnhu cầu làm việc. Vì vậy, sự phát triển của các dự án năng lượng sạch sẽ góp phần giải quyết việc làm, nâng cao trình độ cho người lao động.

c. Tiềm năng năng lượng sạch tại Việt Nam

Với vị trí địa lý, khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, địa hình ¾ là đồi núi, bờ biển

dài… Việt Namđượcđánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn đểphát triển năng lượng sạch. Các nguồn năng lượng sạch được nhận diện tới thời điểm này như sau: năng lượng mặt trời 4-5kWh/m2/ngày; thủy điện nhỏ khoảng hơn 4.000MW (trong đó 2.200MWkhảthi vềkinh tế); tiềm năngđiện gió khoảng 8.700MW; điện địa

48

nhiệt 200-340MW; gỗ củi 27,60 triệu tấn/năm; điện năng từ phụ phẩm nông nghiệp 500MW; điện từ rác thải sinh hoạt 222MW; khí sinh khối 58MW; thủy triều là hơn 100MW [10, tr.3]. Ngoài ra, các điều kiện tựnhiên khác (địa hình, khí hậu, thời

tiết…) cho phép chúng ta phát triển ngành công nghiệp khai thác, sản xuất năng lượng sạch.

Tóm lại, trong bối cảnh các nguồn năng lượng hóa thạch đang dần cạn kiệt và tình trạng ô nhiễm môi trường, suy giảm sức khỏe do việc khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng đó.Và Việt Nam là quốc gia có tiềm năngđểphát triển năng lượng sạch. Nhànướccần có các biện pháp cấp báchđểthúc đẩyphát triển năng lượng sạch trong thời gian tới.

2.1.2.4. Sự can thiệp của nhà nước nhằm phát triển năng lượng sạch

Việc phát triển ngành kinh tế khai thác, sản xuất năng lượng sạch gặp nhiều khó khăn so với khai thác, sản xuất năng lượng hóa thạch.Điều đóthể hiện ở các khía cạnh sau: Mộtlà, chi phí đầu tư cho khai thác, sản xuất năng lượng sạch lớn hơn sovớikhai thác, sản xuất năng lượng hóa thạch; Hai là, công nghệ phục vụkhai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch mới và đắt đỏ, nhiều công nghệ chưa được thử nghiệm hoặc chưa hoàn thiện và hầu hết chúng ta phải nhập khẩu từ nước ngoài; Ba là, tiềm năng năng lượng sạch thường phân bổ ở những khu vực khó khai thác (miền núi, ngoài khơi) nên các dự án được triển khai ở đây cũng gặp nhiều khókhăn; Bốn là, các dựán khai thác, sản xuất năng lượng sạch rấtkhó chứng minh tính khảthi nên khôngdễdàng tiếp cận được nguồn vốn vay; Năm là, đầu tư vào ngành kinh tế còn khá mới mẻ này, các nhà đầu tư chịu tỷ lệ rủi ro cao. Vì thế, nếu nhà nước đểngành kinh tếkhai thác, sản xuất năng lượng sạch vận hành theo cơchế thị trường với hai quy luật quan trọng nhất là quy luật cung – cầu và quy luật giá trị thì không thể thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực này. Bởi vì những khó khăn kểtrên khiến cho lĩnh vực khai thác, sản xuất năng lượng sạch không thểcạnh tranhđược với lĩnh vực khai thác, sản xuất năng lượnghóa thạch tồn tại đã lâu và cónhiều lợi thế. Như vậy, nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý xã hội cần thiết phải có sự can thiệp hợp lý để thúc đẩy phát triển năng lượng sạch.

49

Nhà nước can thiệp nhằm phát triển năng lượng sạch theo hai phương thức. Thứnhất, nhà nước có những biện pháp ưu đãi, hỗtrợnhằm phát triển khai thác, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch. Thứ hai, nhà nước đề ra biện pháp nhằm hạn chế khai thác, sản xuất và sử dụng những nguồn năng lượng có tác động tiêu cực tới môi trường. Hai phương thức này cần thực hiện đồng thời để đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế khai thác, sản xuất và sử dụng những nguồn năng lượng có tác động tiêu cực tớimôi trường cần phải cólộtrình hợp lý.Bởivì, hiện tại các nguồn năng lượng này vẫn chiếm vịtrí vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và tính hiệu quả của năng lượng sạch phải cần có thời gian để kiểm chứng.

2.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật phát triển năng lƣợng sạch 2.2.1. Khái niệm pháp luật phát triển năng lượng sạch

“Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảođảm thực hiệnđểđiều chỉnh các quan hệxã hộitheo mụcđích,định hướng của nhà nước”[67, tr.209]. Pháp luật là ý chí của nhà nước và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Khi nhà nước muốn bảo vệ các quan hệ xã hội nào, nhà nước xây dựng, ban hành các quy định pháp luật để bảo vệ quan hệ xã hội đó và bắt buộc mọi chủthểtrong xã hội thực hiện. Tương tự, khi nhà nước nhận thấy việc phát triển năng lượng sạch là cần thiết, nhà nước ban hành các quy định pháp luật kích thích sự phát triển của lĩnh vực này. Tức là xã hội sẽ tăng mạnh việc khai thác, sản xuất, sử dụng các dạng năng lượng sạch và dần dần thay thế sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống.

Khi nhà nước nhận thức được phát triển năng lượng sạch là cần thiết thì việc xây dựng hành lang pháp lý cho lĩnh vực này là tất yếu. Hiện nay, ở nước ta, có hai quan điểm về việc xác định nội hàm khái niệm pháp luật phát triển năng lượng sạch. Quan điểm thứ nhất cho rằng: Pháp luật phát triển năng lượng sạch là tổng hợp các quy phạm pháp luật kích thích trực tiếp tới lợi ích của chủ thể khai thác, sản xuất, sửdụng năng lượng sạch. Những ưu đãi mà các chủ thể này có được thường là lợi ích tài chính như miễn giảm thuế (thuế thu nhập, thuế nhập khẩu), miễn giảm tiền sử

đụng đất, ưu đãi vềgiá sản phẩm… Quanđiểmthứhai cho rằng: Pháp luật phát triển năng lượng sạch là tổng hợp các quy phạm pháp luật kích thích trực tiếp và

50

gián tiếp tới lợi ích của chủ thể khai thác, sản xuất, sử dụng năng lượng sạch. Theođó, pháp luật phát triển năng lượng sạch bao gồmcảnhững ưu đãi vềlợiích tài chính và những quyđịnh khác (như ưu đãi vềthịtrường đầu ra cho năng lượng sạch; vị trí, vai trò của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong phát triển năng

lượng sạch; hợp tác quốc tế trong phát triển năng lượng sạch…). Tác giả đồng tình với quan điểmthứhai bởi vì chúng ta cần phải xây dựng một hành lang pháp lý hoàn chỉnh, thốngnhất, đầyđủmới kích thích sự phát triển năng lượng sạch. Nếu hệ thống các quy định không hoàn chỉnh sẽ khó triển khai trong thực tiễn.

Như đã phân tích ở mục 2.1.2.1., phát triển năng lượng sạch là quá trình các chủthểthực hiện các hoạt động khác nhau nhằm khai thác, sản xuất và sửdụng năng lượng sạch hoặc kích thích việc khai thác, sản xuất và sửdụng năng lượng sạch hiệu quả mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Pháp luật phát triển năng lượng sạchđiều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện các hoạt động khác nhau nhằm khai thác, sản xuất và sửdụng năng lượng sạch hoặc kích thích việc khai thác, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch hiệu quả.

Từ sự phân tích nói trên, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm: Pháp luật phát triển năng lượng sạch là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành điều chỉnh những quan hệxã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện các hoạt động khác nhau nhằm khai thác, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch hoặc kích thích việc khai thác, sản xuất và sửdụng năng lượng sạch hiệu quả mang lại lợi ích cho toàn xã hội.

2.2.2. Nguyên tắc của pháp luật phát triển năng lượng sạch

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG SẠCH TẠI VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *