Pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề an sinh xã hội được xem là một trong những nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới. Với tư cách là một trụ cột trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, BHXH thực sự đã trở thành một công cụ đắc lực và hiệu quả giúp cho Nhà nước điều tiết xã hội trong nền kinh tế thị trường, gắn kết giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng, tiến bộ và phát triển xã hội bền vững.

Nước ta hiện là một nước đang phát triển, lực lượng lao động khu vực phi chính thức và lao động trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ trọng cao (khoảng 70% lực lượng lao động của cả nước). Chính đội ngũ này đã góp phần quan trọng vào phát triển nền kinh tế nước nhà. Chính vì vậy, việc thực hiện tốt chính sách BHXH tự nguyện sẽ góp phần quan trọng vào việc bình đẳng, mở rộng hơn quyền và nghĩa vụ tham gia BHXH cho người lao động.

Có thể nói việc xây dựng các quy định của pháp luật liên quan đến chế độ BHXH tự nguyện có tầm đặc biệt quan trọng bởi hiện nay đối tượng lao động thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 70% lực lượng lao động. Do đó việc hoàn thiện pháp luật và thực hiện các quy định về BHXH tự nguyện có hiệu quả thì hệ thống an sinh xã hội ở nước ta mới có thể phát triển thực sự vững chắc. Vì vậy việc ban hành và thực hiện các quy định về BHXH tự nguyện là một vấn đề cấp thiết và phù hợp với nguyện vọng của đại đa số người lao động. Đây là nhu cầu chính đáng và thiết thực cần được Nhà nước và xã hội quan tâm thực hiện.

Việc nghiên cứu đề tài về thực trạng pháp luật của BHXH tự nguyện để từ đó hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan đến BHXH tự nguyện là hết sức thiết thực và cần thiết. Xuất phát từ nhận thức về nhu cầu nói trên, với mong muốn đóng góp một phần công sức của bản thân vào việc đánh giá thực trạng pháp luật, đưa ra một số giải pháp thực hiện đối với BHXH tự nguyện của thành phố Đà Nẵng hiện nay, được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo và bạn bè, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ Luật học của mình.

  1. Tình hình nghiên cứu đề tài
  2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
  3. Mục đích nghiên cứu

Cung cấp luận cứ khoa học cho việc đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật qua nghiên cứu trường hợp thành phố Đà Nẵng.

  1. Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận của BHXH tự nguyện; thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện tại Việt Nam hiện nay; các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện hiệu quả về BHXH tự nguyện.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
  2. Đối tượng nghiên cứu: Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật BHXH tự nguyện hiện hành, đánh giá thực trạng pháp luật BHXH tự nguyện nói chung và việc áp dụng BHXH tự nguyện ở thành phố Đà Nẵng nói riêng.
  3. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi về thời gian: Số liệu phục vụ phân tích đánh giá thực trạng trong thời kỳ 2008-2016 và số liệu do cơ quan BHXH thành phố Đà Nẵng cung cấp.

– Phạm vi về nội dung:

+ Các vấn đề liên quan tới việc phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, tại thành phố Đà Nẵng

+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới việc tham gia BHXH tự nguyện như: Chính sách của nhà nước, thu nhập của người dân, sự quan tâm và nhận thức của người tham gia, phí tham gia, tổ chức thực hiện và tuyên truyền, thủ tục tham gia.

– Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện ở thành phố Đà Nẵng

  1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
  2. Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về BHXH tự nguyện và quan điểm của Tổ chức Lao Động Quốc tế ILO về BHXH tự nguyện qua một số Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.
  3. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, diễn giải, quy nạp … những phương pháp trên không sử dụng độc lập mà đan xen và kết hợp với nhau để làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài.

* Phương pháp tổng hợp thông tin

Để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, tác giả đã sử dụng phương pháp này nhằm tổng hợp các thông tin, số liệu liên quan được dùng cho việc phân tích, đánh giá tình hình tham gia BHXH tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng được lấy trong khoảng thời gian từ năm 2008 – 2016.

* Phương pháp phân tích thông tin

Tác giả sử dụng phương pháp này dùng để so sánh đối chiếu các chỉ tiêu thống kê, so sánh sự khác nhau về tình hình tham gia BHXH tự nguyện.

  1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
  2. Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã phân tích được những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH tự nguyện như khái niệm, đặc điểm, vai trò, sự điều chỉnh của pháp luật đối với BHXH tự nguyện.

  1. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã phân tích và đánh giá được thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện tại Đà Nẵng hiện nay.

Luận văn cũng đã đưa ra những giải pháp quan trọng nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về BHXH tự nguyện đồng thời nâng cao hiệu quả việc thực hiện BHXH tự nguyện.

  1. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu thành ba chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận về pháp luật BHXH tự nguyện

Chương 2. Thực trạng pháp luật BHXH tự nguyện qua thực tiễn thực hiện ở thành phố Đà Nẵng.

Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện qua thực tiễn của thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

    1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội tự nguyện
      1. Khái niệm và ý nghĩa bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình được áp dụng cho những người làm việc trong khu vực chính thức, bao gồm: cán bộ, công chức Nhà nước và những người lao động có quan hệ lao động ổn định. Đối với loại hình này, cả hai bên trong quan hệ lao động (người lao động và người sử dụng lao động) đều có trách nhiệm tham gia đóng góp tạo dựng quỹ BHXH bắt buộc.

Với mong muốn đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho người nông dân và lao động tự do, BHXH tự nguyện đã ra đời và bắt đầu thực hiện từ năm 2008. Có thể nói BHXH tự nguyện được kỳ vọng là chỗ dựa cho người thu nhập thấp, đem đến cơ hội hưởng “lương hưu” cho hàng chục triệu người không nằm trong diện bảo hiểm bắt buộc. Việc xây dựng chế độ BHXH tự nguyện là rất cần thiết, nhằm áp dụng cho đối tượng không thuộc diện làm công ăn lương, không được bảo vệ bởi bảo hiểm xã hội bắt buộc, những đối tượng làm nghề tự do, những người nông dân, … mà trong nền kinh tế thị trường của chúng ta hiện nay, đối tượng này rất rộng lớn.

Như vậy, có thể xác định được rõ ràng chủ thể tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện là Nhà nước thông qua cơ chế đại diện là các cơ quan BHXH ở các cấp. Và thực chất BHXH tự nguyện là quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tích lũy dần do sự đóng góp tự nguyện của người lao động nhằm đảm bảo thu nhập để thoả mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu cho người lao động và gia đình họ khi gặp phải những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

      1. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội tự nguyện

Thứ nhất, người lao động khi tham gia BHXH được đảm bảo thu nhập (bảo hiểm) cả trong và sau quá trình lao động.

Thứ hai, các sự kiện bảo hiểm trong BHXH liên quan đến thu nhập của người lao động gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết…

Thứ ba, người lao động khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH.

      1. Vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trước hết, BHXH tự nguyện có vai trò quan trọng đối với người lao động.

Thứ hai, việc tham gia BHXH tự nguyện còn giúp người lao động có ý thức trong việc tiết kiệm đầu tư những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi già cả, mất sức lao động, góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình.

Thứ ba, BHXH tự nguyện tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng xã hội.

Thứ tư, người lao động có quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và người lao động hoàn toàn tự nguyện tham gia BHXH tự nguyện để được hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định của nhà nước.

      1. Bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội ra đời là nhu cầu khách quan và là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế. Ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển như Nhật, Đức, Anh, Canada…, BHXH phát triển vững mạnh, cùng với hệ thống BHXH đa dạng, với nhiều loại hình BHXH phong phú.

Tính chất của BHXH là quá trình tổ chức đền bù hậu quả của những rủi ro xã hội hoặc các sự kiện bảo hiểm.

Bảo hiểm xã hội nhằm bù đắp những thiệt hại, rủi ro cho người lao động và gia đình họ khi gặp những biến cố trong cuộc sống, BHXH nói chung và BHXH nói riêng mang bản chất kinh tế và mang bản chất xã hội.

– Tính kinh tế của bảo hiểm xã hội tự nguyện: Bản chất kinh tế của BHXH tự nguyện chính là việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện góp phần tổ chức, phân phối lại thu nhập, nhằm bảo đảm đời sống của người lao động và gia đình họ trước những bất trắc, rủi ro xã hội.

– Tính xã hội của bảo hiểm xã hội tự nguyện: Về mặt xã hội, BHXH nói chung và BHXH tự nguyện với mục tiêu không vì lợi nhuận, mà vì mục tiêu xã hội. Người tham gia BHXH tự nguyện được chia sẻ rủi ro và được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động.

Tuy nhiên, giữa bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH tự nguyện đan xen lẫn nhau, không tách rời nhau. Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình của họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH tự nguyện, và ngược lại, khi nói đến sự đóng góp một khoản kinh phí nhỏ từ thu nhập nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH tự nguyện.

    1. Khái quát chung về pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện
      1. Nguyên tắc của pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện
        1. Nguyên tắc tự nguyện
        2. Mức hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
        3. Người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở tổng thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
        4. Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhà nước quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và hạch toán độc lập.
        5. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện phải đơn giản, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ.
      2. Nội dung của pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện
        1. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội là một trụ cột cơ bản nhất và có mối quan hệ mật thiết với các bộ phận khác, nhằm góp phần thực hiện an sinh xã hội đất nước. Việc thực hiện chính sách BHXH còn chịu tác động của nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, khả năng tài chính, các yếu tố về cơ chế, chính sách, thể chế, pháp luật và trình độ nhận thức của người dân. Khi dân số tăng hoặc giảm sẽ làm cho cơ cấu dân số thay đổi. Điều này sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu, quy mô của đối tượng tham gia BHXH.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng là một trong những bộ phận cấu thành nên chính sách an sinh xã hội. Quan hệ BHXH tự nguyện cũng tương tự như BHXH nói chung đều có sự tham gia của các chủ thể sau:

  • Chủ thể tham gia BHXH tự nguyện.
  • Chủ thể được hưởng BHXH tự nguyện.
  • Chủ thể thực hiện BHXH tự nguyện.
        1. Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Các chế độ BHXH tự nguyện là các quyền lợi mà người tham gia tự nguyện được hưởng khi có đủ các điều kiện bảo hiểm phát sinh.

Việc xác định đối tượng tham gia, xác định các chế độ BHXH tự nguyện thuộc nhu cầu tham gia và trình độ quản lý rủi ro của từng nước. Tuy nhiên, việc xây dựng và thực hiện các chế độ BHXH tự nguyện ở các quốc gia đều dựa vào các quy định của Công ước số 102 về các chế độ của BHXH đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua ngày 28/6/1952 và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia.

a. Chế độ hưu trí

b. Chế độ tử tuất

        1. Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quỹ BHXH tự nguyện được hình thành từ các nguồn như:

* Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng theo quy định

* Tiền từ quỹ BHXH bắt buộc chuyển sang chi trả cho đối tượng là người vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện.

* Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH tự nguyện

* Hỗ trợ của Nhà nước

        1. Mức đóng và phương thức đóng

* Đối với mức đóng

Người tham gia BHXH tự nguyện được lựa chọn mức thu nhập để làm căn cứ đóng BHXH, thấp nhất bằng lương tối thiểu chung và cao nhất là bằng 20 lần lương tối thiểu chung và được phân ra thành nhiều mức khác nhau để người lao động lựa chọn phù hợp với thu nhập của mình. Khi cần, người lao động có thể xin thay đổi mức thu nhập làm căn cứ nộp BHXH.

+ Mức đóng BHXH tự nguyện hàng tháng (cho mỗi tháng):

Mức đóng hằng tháng bằng 16% mức thu nhập người lao động lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%. Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng bảo hiểm xã hội được thay đổi tuỳ theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung. Đối với BHXH tự nguyện ở Đức, mức đóng góp phí BHXH tự nguyện là như nhau đối với người lao động và người sử dụng lao động.

Bên cạnh đó thì Nhà nước sẽ căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

* Đối với phương thức đóng

+ Người lao động được chọn một trong các phương thức đóng sau đây: Hằng tháng; 03 tháng một lần; 06 tháng một lần; 12 tháng một lần.

        1. Quản lý và tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện

Quỹ BHXH tự nguyện được sử dụng để trả các chế độ BHXH tự nguyện cho người tham gia bảo hiểm chỉ có thời gian đóng BHXH tự nguyện; đóng BHYT cho người tham gia bảo hiểm đang hưởng lương hưu; chi phí quản lý BHXH tự nguyện (Chí phí quản lý BHXH tự nguyện hàng năm được tính từ tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư từ quỹ và bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước).

Mặt khác, Quỹ BHXH tự nguyện là một quỹ tài chính tập trung được huy động từ khoản đóng góp của người tham gia BHXH tự nguyện, nên BHXH tự nguyện cũng là kênh huy động vốn lớn của nền kinh tế, đồng thời do đặc thù hoạt động của BHXH nên thường tạo ra một khoảng thời gian tạm thời nhàn rỗi của một phần quỹ BHXH tự nguyện. Vì vậy phần quỹ BHXH tự nguyện tạm thời nhàn rỗi cần được đầu tư sinh lời để tránh lãng phí nguồn lực, vừa làm tăng thu bảo toàn và phát triển quỹ.

Pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

TỰ NGUYỆN QUA THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1.

    1. Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

2.1.1. Đối tượng tham gia pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

Theo quy định tại khoản 5, Điều 2, Luật BHXH 2006 thì người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Như vậy, đối tượng áp dụng BHXH tự nguyện là không hạn chế, chỉ cần họ đáp ứng đủ hai điều kiện: là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật.

Khi tham gia BHXH tự nguyện, người lao động sẽ được nhận sổ bảo hiểm xã hội; được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động hoặc tổ chức bảo hiểm xã hội có hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội. Đây là những quy định chung về quyền và trách nhiệm của người tham gia BHXH tự nguyện.

2.1.2. Các chế độ pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

        1. Chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí là một trong những chế độ quan trọng trong hệ thống BHXH và được hầu hết các quốc gia trên thế giới triển khai. BHXH tự nguyện triển khai chế độ hưu trí đã đáp ứng mong muốn, nguyện vọng của phần lớn người lao động tự do, công việc không ổn định, đời sống bấp bênh, quan hệ lao động với chủ sử dụng lao động ngắn hạn và không có sự đóng góp, hỗ trợ từ phía chủ sử dụng lao động. Họ tự nguyện tham gia và mong muốn được tham gia để hưởng các chế độ BHXH tự nguyện.

Người tham gia BHXH tự nguyện được áp dụng chế độ hưu trí là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Chế độ hưu trí bao gồm: lương hưu hằng tháng, trợ cấp BHXH một lần, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu. Người tham gia BHXH tự nguyện có thời gian tham gia BHXH nhưng chưa được tính để hưởng chế độ hưu trí thì được bảo lưu để tiếp tục đóng và hưởng BHXH theo quy định.

        1. Chế độ tử tuất

BHXH tự nguyện quy định chế độ tử tuất nhằm mục đích hỗ trợ kinh phí cho gia đình người lao động khi người lao động tham gia BHXH tự nguyện chết. Việc hỗ trợ kinh phí góp phần giúp gia đình người lao động ổn định cuộc sống. Chế độ tử tuất không những được thực hiện đối với BHXH bắt buộc mà còn thực hiện ở BHXH tự nguyện, chính sách này được đông đảo người lao động quan tâm, đồng tình ủng hộ. Đối tượng tham gia chế độ tử tuất là người lao động tham gia BHXH tự nguyện, còn đối tượng được hưởng trợ cấp là gia đình của họ. Chế độ tử tuất gồm hai chế độ: chế độ trợ cấp mai táng và chế độ trợ cấp một lần.

2.1.3. Quỹ pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quỹ BHXH tự nguyện là loại quỹ tài chính dài hạn, hoạt động không nhằm mục đích kinh doanh để kiếm lợi nhuận. Quỹ BHXH tự nguyện do Nhà nước thành lập và quản lý theo pháp luật nhằm thực hiện chức năng thu, chi và cân đối thu – chi BHXH tự nguyện. Điều 98 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định quỹ BHXH được hình thành dựa trên các nguồn chủ yếu sau: Người lao động tham gia BHXH tự nguyện đóng theo quy định của pháp luật; tiền từ quỹ BHXH bắt buộc chuyển sang chi trả theo chế độ cho các đối tượng đã có thời gian tham gia BHXH bắt buộc; tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH tự nguyện; hỗ trợ của Nhà nước; các nguồn thu hợp pháp khác.

Tuy nhiên, quỹ BHXH tự nguyện có những thuận lợi hơn so với quỹ BHXH bắt buộc đó là: Quỹ BHXH tự nguyện không có trường hợp nợ BHXH, trong khi đó BHXH bắt buộc thì phụ thuộc rất nhiều vào người sử dụng lao động. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, người sử dụng lao động không thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động, dẫn đến tình trạng nợ BHXH bắt buộc. Quỹ BHXH tự nguyện được bảo toàn hơn so với quỹ BHXH bắt buộc, vì vậy nhà nước ta cần cân nhắc lại tỷ lệ đóng BHXH tự nguyện nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa trong việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm.

2.1.4. Quản lý và tổ chức thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và hạch toán độc lập theo quy định của pháp luật. Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan chịu trách nhiệm về việc thực hiện các biện pháp nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH tự nguyện. Phần quỹ BHXH tự nguyện nhàn rỗi cần được đầu tư sinh lời để tăng thu và phát triển quỹ, hạn chế sự lãng phí về nguồn lực. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH tự nguyện phải đảm bảo an toàn, hiệu quả và thu hồi vốn khi cần thiết.

    1. 2.2. Thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện qua thực tiễn thành phố Đà Nẵng

2.2.1. Những kết quả đạt được

Ngay sau khi có Thông tư 02/2008/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28-12-2007 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện thì BHXH thành phố đã triển khai nội dung của Nghị định và Thông tư cho các cơ quan BHXH quận, huyện để tổ chức thực hiện và hướng dẫn cho người lao động trong việc tham gia BHXH tự nguyện.

Số liệu qua các năm (2008-2016) cho thấy:

Bảng 2.1: Số đối tượng tham gia qua các năm (2008-2016)

NămSố đối tượng tham gia (người)Tăng thêm (người)Tỷ lệ tăng (%)
200824  
2009158134558,33
201028612881,01
201143414851,75
20125208619,82
201363111121,35
201477614522,98
20151.09932341,62
20161.36826924,48

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu báo cáo của Bảo hiểm xã hội Đà Nẵng)

Qua số liệu thống kê cho thấy, sau gần 9 năm thực hiện BHXH tự nguyện, số người tham gia BHXH tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng đã tăng lên theo từng năm.

2.2.2. Những hạn chế

Từ góc độ này có thể thấy việc tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện ở Đà Nẵng còn một số những tồn tại như sau:

Thứ nhất, số đối tượng tham gia BHXH tự nguyện đến nay vẫn thấp so với số lượng lao động được giải quyết việc làm.

Thứ hai, BHXH thành phố Đà Nẵng còn thiếu đội ngũ cộng tác viên ở những địa bàn khó khăn trong thành phố, điều này ảnh hưởng khá lớn đến việc thu hút các đối tượng là nông dân cũng như chưa đảm bảo được chính sách hỗ trợ lao động ở khu vực phi chính thức.

Thứ ba, Bên cạnh ý kiến đánh giá về công tác phục vụ tốt, còn có những ý kiến cho rằng đội ngũ cán bộ phục vụ trong hệ thống BHXH địa phương còn quan liêu, hách dịch gây khó khăn cho người nông dân khi đến làm thủ tục tham gia. Như vậy, công tác phục vụ của cơ quan BHXH còn nhiều vấn đề cần phải củng cố và hoàn thiện hơn.

Thứ tư, công tác tuyên truyền chưa đạt hiệu quả, thông tin về BHXH tự nguyện chưa được phổ biến sâu rộng đến đối tượng mà chính sách này hướng đến.

Thứ năm, theo quy định thì người tham gia BHXH tự nguyện đăng kí ở nơi có hộ khẩu và khi cần giải quyết các chế độ thì phải đến nơi đăng ký tham gia BHXH tự nguyện để thực hiện, điều này đã ảnh hưởng đến công việc của những người lao động ở xa.

Thứ sáu, bản thân BHXH tự nguyện cũng chưa có tính hấp dẫn và thực tế

Thứ bảy, công tác quản lý và thực hiện các nghiệp vụ BHXH tự nguyện còn những khó khăn, vướng mắc

2.2.3. Nguyên nhân

Một trong những nguyên nhân làm cho người lao động không mặn mà tham gia BHXH tự nguyện đó chính là quy định về thời gian tham gia BHXH tự nguyện để hưởng chế độ hưu trí ít nhất là 20 năm; người tham gia BHXH tự nguyện phải đóng đầy đủ các khoản phí và phải đạt đến độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật thì mới được hưởng chế độ hưu trí.

Thứ nhất, trình độ học vấn của người lao động ở khu vực phi chính thức, lao đông̣ ở nông thôn còn thấp, nên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của BHXH tư ̣nguyện để tham gia.

Thứ hai, với mức đóng và thời gian đóng bảo hiểm như hiện nay người lao động có thu nhập thấp rất khó khăn khi tham gia bảo hiểm.

Thứ ba, chính sách BHXH tự nguyện chưa thật sự hấp dẫn đối với người lao động.

Thứ tư, người lao động chưa am hiểu về lợi ích lâu dài của BHXH tự nguyện.

Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về loại hình BHXH tự nguyện còn nhiều hạn chế, chưa sâu rộng, hình thức tuyên truyền thiếu tính đa dạng.

Thứ sáu, thủ tục đăng kí tham gia BHXH tự nguyện chỉ thực hiện ở cấp quận, huyện thuộc thành phố Đà Nẵng; hồ sơ đăng kí kê khai dành cho người tham gia bảo hiểm còn rườm rà, nên người tham gia gặp không ít khó khăn trong việc đi lại để thực hiện các thủ tục; cơ quan quản lý nhà nước chưa có sự chia sẽ, hỗ trợ kịp thời đối với người tham gia bảo hiểm, nhất là đối với những người lao động ở các xã miền núi thuộc Huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Tính đến tháng 12/2016, số lượng người thuộc Huyện Hòa Vang tham gia BHXH tự nguyện chỉ có 70 người, con số này rất thấp so với số lượng lao động thuộc Huyện Hòa Vang. Chính vì vậy, thành phố cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hỗ trợ đối với người lao động ở các xã miền núi để mở rộng nhiều hơn nữa đối tượng tham gia BHXH tự nguyện.

Thứ bảy, hiện nay ngân sách nhà nước và ngân sách thành phố Đà Nẵng eo hẹp, khả năng xã hội hóa khó khăn nên Nhà nước chưa đầu tư, dành nguồn kinh phí thích hợp để hỗ trợ cho các nhóm đối tượng nghèo, người dân tộc, nhóm xã hội yếu thế để họ có thể tham gia BHXH tự nguyện nhằm mở rộng độ bao phủ đối với những nhóm đối tượng này.

Pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN QUA THỰC TIỄN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1.

    1. Quan điểm, yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

3.1.1. Quan điểm

Để triển khai thực hiện chiến lược an sinh xã hội phù hợp với thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định, định hướng phát triển như: Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 đã đề ra nội dung: “Mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế có bước đi, lộ trình phù hợp với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế” [12, tr.2]. Trên cơ sở Nghị quyết số 21-NQ/TW, Thành uỷ Đà Nẵng đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với mục tiêu đề ra: “Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 65% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; riêng bảo hiểm y tế, phấn đấu trên 96% dân số tham gia từ năm 2015” [27, tr.1-2].

Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội. Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW đòi hỏi các cơ quan, ban ngành liên quan cần đặt ra những nhiệm vụ nhằm hoàn thiện các chính sách, các quy định của pháp luật về BHXH, Bảo hiểm y tế để đáp ứng yêu cầu của nhân dân. Đồng thời, Đảng và nhà nước cần lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đề ra những chủ trương, chính sách nhằm mở rộng đối tượng tham gia, mở rộng chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với người tham gia BHXH tự nguyện.

Hệ thống BHXH tự nguyện hiện nay rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước. Kể từ ngày 1/1/2018, nhà nước sẽ triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia BHXH tự nguyện theo tỷ lệ phần trăm trên mức đóng BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn. Cụ thể mức hỗ trợ bằng 30% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo; bằng 25% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ cận nghèo; bằng 10% đối với các đối tượng khác.[3].

3.1.2. Yêu cầu

  • Đảm bảo công bằng trong bảo vệ thu nhập của mọi người lao động
  • Phát triển thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường
    1. 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

3.2.1. Tăng cường tính linh hoạt cho các quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Qua nhiều năm triển khai thực hiện, nhiều quy định về BHXH tự nguyện hiện nay còn có biểu hiện của sự cứng nhắc, chưa triển khai thêm nhiều phương thức đóng BHXH tự nguyện nhằm tăng tính linh hoạt trong phương thức đóng, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia, tăng tính hấp dẫn cho BHXH tự nguyện. Trong khi đó, đối tượng tham gia BHXH tự nguyện có những đặc thù khác với đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, họ thường là những người lao động không có quan hệ lao động lâu dài, thu nhập bấp bênh và đời sống khó khăn, hầu hết các đối tượng được hỏi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đều cho rằng mức đóng còn cao và chưa thực sự phù hợp với thu nhập tính theo tháng của họ. Dự thảo luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi cần nghiên cứu hoàn thiện một số điểm sau:

* Về chế độ hưu trí, tử tuất:

Tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất đối với người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sau đó đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện (Điều 79): dự thảo cần nêu rõ cách tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng hoặc mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động quy định.

* Đề nghị bổ sung chế độ hỗ trợ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp cho người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

3.2.2. Ban hành văn bản hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội

Mục tiêu đặt ra khi xây dựng Luât BHXH sửa đổi đó là mở rộng đối tượng tham gia BHXH, hoàn thiện các chế độ chính sách BHXH, đảm bảo sự bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng BHXH, đảm bảo nguyên tắc đóng hưởng, sự bền vững của hệ thống BHXH, tổ chức thực hiện minh bạch, đơn giản, thuận tiện hơn.

3.2.3. Bổ sung một số các quy định về pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

Hiện nay, theo quy định BHXH tự nguyện gồm có hai chế độ là hưu trí và tử tuất. Vừa qua, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo hiểm xã hội 2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2016, theo đó BHXH tự nguyện vẫn giữ nguyên hai chế độ, đó là chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. Điều kiện hưởng lương hưu đối với người tham gia BHXH tự nguyện bao gồm đủ các điều sau: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên. Những người lao động có đủ điều kiện về tuổi đời nhưng thời gian tham gia BHXH chưa đủ 20 năm thì được đóng cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu. Như vậy, Luật BHXH 2014 đã tạo điều kiện hơn cho những người đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định nhưng chưa đủ thời gian đóng BHXH, được đóng tiếp những năm còn thiếu cho đến khi đủ 20 năm để được hưởng chế độ bảo hiểm.

    1. 3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện

3.3.1. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố

Thực hiện tốt việc rà soát, kiểm tra chặt chẽ hồ sơ, thực hiện tốt việc đối chiếu với dữ liệu quản lý tập trung trước khi giải quyết các chế độ, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi trục lợi nguồn quỹ; nhiều địa phương trong Thành phố cũng phải tích cực cải tiến quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết, tạo thuận lợi cho người thụ hưởng chế độ.

3.3.2. Tăng cường áp dụng các ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và tổ chức thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện

Cần tăng cường các ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các biện pháp quản lý khoa học, hướng tới sự thuận tiện và dễ dàng tiếp cận đối với mọi thành phần lao động, kể cả những người có trình độ thấp cũng có thể sử dụng. Từ đó, kết hợp với việc cải cách hành chính, giảm những thủ tục không cần thiết nhằm xây dựng BHXH tự nguyện trở thành loại hình BHXH phát triển lớn mạnh, có tính ưu việt, thuận tiện, hiệu quả và bền vững.

3.3.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người lao động về sự cần thiết tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Để nâng cao nhận thức của người lao động về BHXH tự nguyện cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chính sách đến tất cả các đối tượng, ở các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân. Thực hiện tuyên truyền thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú bằng các phương tiện thông tin đại chúng (tivi, đài, báo); pa nô, áp phích, kết hợp lồng ghép nội dung BHXH tự nguyện với các buổi sinh hoạt của thôn, xã, các hội, đoàn thể.

3.3.4. Đổi mới mạnh mẽ công tác dịch vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội

Để mở rộng và phát triển BHXH tự nguyện cần: Nâng cao chất lượng, số lượng các bộ chuyên trách về BHXH tự nguyện; thực hiện linh hoạt các chính sách, giảm tối đa thủ tục giấy tờ, linh hoạt trong việc cung cấp thông tin, chi trả BHXH tự nguyện khi có phát sinh quyền lợi BHXH; tăng cường kiểm tra giám sát và xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực trong quá trình thực hiện BHXH tự nguyện cho người dân.

3.3.5. Cần có chính sách hỗ trợ cho đối tượng chính sách

Xu hướng tăng lên nhưng có sự khác nhau khi xem xét trên các phương diện: Độ tuổi, mức lựa chọn đóng BHXH tự nguyện, ngành nghề của người lao động và khu vực sinh sống của người lao động. Có nhiều nguyên nhân làm cho một bộ phận lớn người lao động chưa tham gia BHXH tự nguyện và lý do chủ yếu là việc làm của họ không ổn định, thu nhập thấp (chiếm 82%).

3.3.6. Về tổ chức thực hiện

Phát huy hết khả năng, vai trò, nhiệm vụ mà ngành BHXH nói chung, BHXH thành phố Đà Nẵng nói riêng đã đặt ra

KẾT LUẬN

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một chính sách lớn của Nhà nước, nhằm tạo điều kiện cho người lao động được hưởng lương hưu dựa trên nguyên tắc có đóng, có hưởng.

Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống BHXH và an sinh xã hội tiến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người lao động là một chủ trương lớn của Đảng,Nhà nước ta trong thời kỳ mới. Chính vì vậy, việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là một trong những mục tiêu quan trọng của ngành BHXH nhằm mục tiêu cụ thể hóa chủ trương đó. Luật BHXH quy định về BHXH tự nguyện cũng đã được ban hành và thực hiện, tuy nhiên kết quả tham gia BHXH tự nguyện của người lao động còn quá ít.

Với thực trạng đó, luận văn đã đi sâu phân tích, chứng minh làm rõ thêm cơ sở lý luận về pháp luật BHXH tự nguyện; đánh giá được thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trong khu vực phi chính thức; đánh giá nhu cầu, điều kiện khả năng và phân tích, đánh giá được các nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn; đưa ra một số giải pháp để thực thi pháp luật về BHXH tự nguyện trên địa bàn Thành phố trong thời gian tới.

Kết quả điều tra cho thấy, nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng rất lớn. Song số lượng người tham gia BHXH tự nguyện chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ 0,26% trong tổng số đối tượng thuộc diện tham gia[22]; Số lượng người tham gia có xu hướng tăng lên nhưng có sự khác nhau khi xem xét trên các phương diện: Độ tuổi, mức lựa chọn đóng BHXH tự nguyện, ngành nghề của người lao động và khu vực sinh sống của người lao động. Có nhiều nguyên nhân làm cho một bộ phận lớn người lao động chưa mặn mà tham gia BHXH tự nguyện.

Để thu hút người lao động tham gia BHXH tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng cần thực hiện các nhóm giải pháp như: (1) Hoàn thiện pháp luật BHXH tự nguyện; (2) Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện.

Để chính sách BHXH tự nguyện đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các cấp, các ngành cùng nhau phối hợp, kiên trì nghiên cứu, đề xuất, điều chỉnh, sửa đổi để hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện. Làm được như vậy thì mục tiêu mở rộng đối tượng người lao động tham gia BHXH của Đảng và Nhà nước đã đề ra sẽ sớm trở thành hiện thực và góp phần thực hiện Chiến lược an sinh xã hội của đất nước trong những năm tiếp theo.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\KINH TE\HUYNH THI BICH TRAM – \SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *