Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy

Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy

Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Khi bàn về hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quán triệt quan điểm cơ bản là “Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử thi hành án, không để xảy ra những trường hợp oan, sai. Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. Trước yêu cầu bức xúc trong hoạt động xét xử, Nghị quyết số 08 – NQ /TW ngày 2/10/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ “Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp”. Nghị quyết cũng đã nhấn mạnh: “Viện Kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội…Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng của Viện kiểm sát Nhân dân (VKSND) đã được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật tổ chức VKSND.

Công tác đấu tranh chống tội phạm ma túy luôn được coi trọng, ngày càng nhiều vụ án ma túy lớn được khám phá và được đưa ra xét xử nghiêm minh. Tuy nhiên tệ nạn ma túy và các tội phạm về ma túy vẫn còn diễn biến phức tạp, chưa bị đẩy lùi, công tác điều tra phát hiện loại tội phạm này còn nhiều hạn chế. Quảng Nam là một tỉnh trung tâm của miền Trung, được xác định là một trong những địa bàn trọng điểm phức tạp về hoạt động của tội phạm ma túy, đặc biệt chủ yếu là tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Với phương thức, thủ đoạn hoạt động của loại tội phạm này rất tinh vi, xảo quyệt nên công tác phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh cũng gặp không ít khó khăn, hoạt động của VKSND tỉnh trong giai đoạn điều tra còn chưa kịp thời, chưa thật chủ động, việc phát hiện những vi phạm trong hoạt động điều tra các vụ án ma túy chưa được thường xuyên, kiên quyết, các yêu cầu điều tra chưa cụ thể, sát thực. Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân cơ bản là nhận thức của cán bộ, Kiểm sát viên (KSV) về hoạt động Kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án ma túy còn chưa đầy đủ và thống nhất.

Nhận thức được những vấn đề nêu trên, hoạt động KSĐT các vụ án hình sự nói chung và vụ án ma túy nói riêng của các Cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây đã có những bước tiến bộ đáng kể, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân… Tuy nhiên, hoạt động trên cũng đã bộc lộ không ít những hạn chế, thiếu sót. Từ nhận thức về nội dung, phạm vi KSĐT đối với án ma túy và quan hệ phối hợp lực lượng để thực hiện các hoạt động trên, cho đến việc bổ sung biên chế, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của cán bộ KSV vẫn còn bộc lộ rất nhiều thiếu sót. Trong khi đó hệ thống pháp luật và các văn bản hướng dẫn của ngành Kiểm sát cũng như của các cơ quan chức năng cũng không đầy đủ, thiếu thống nhất. Việc tổng kết để đánh giá thực trạng KSĐT đối với các vụ án ma túy cũng không được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc.

Từ thực tiễn phân tích nêu trên tác giả chọn đề tài “Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu đề tài luận văn là làm rõ nhận thức lý luận và thực trạng hoạt động KSĐT vụ án hình sự các tội phạm về ma túy của các cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam, chỉ rõ những hạn chế tồn tại và các nguyên nhân của vấn đề trên. Từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp góp phần nâng cao công tác KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Nghiên cứu phân tích làm rõ nhận thức lý luận về tội phạm ma túy, điều tra vụ án ma túy, KSĐT vụ án ma túy của cơ quan Viện kiểm sát.

+ Kiểm sát và đánh giá thực trạng tình hình tội phạm ma túy và việc KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam.

+ Đề xuất hệ thống giải pháp khoa học để nâng cao công tác KSĐT vụ án hình sự các tội phạm về ma túy của các cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là hoạt động KSĐT vụ án hình sự các tội phạm về ma túy của các cơ quan thuộc VKSND tỉnh Quảng Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định là hoạt động KSĐT các vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2011 đến năm 2015.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Đề tài luận văn lựa chọn cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Trên cơ sở đó, quá trình nghiên cứu đề tài luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp tổng kết; thống kê hình sự; so sánh, phân tích; trao đổi; chuyên gia; điều tra khảo sát thực tế…để thu thập tài liệu làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu của luận văn.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Cơ sở lý luận của đề tài là những lý luận khoa học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, các văn bản pháp luật, tài liệu lý luận có liên quan đến hoạt động điều tra các vụ án ma túy, hoạt động KSĐT các vụ án ma túy của VKSND tỉnh Quảng Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài không những góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động KSĐT vụ án hình sự các tội phạm về ma túy của VKSND tỉnh Quảng Nam mà còn góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện lý luận về hoạt động KSĐT các vụ án hình sự nói chung, các vụ án ma túy nói riêng của VKSND trong điều kiện hiện nay.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn về các vụ án ma túy xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Bên cạnh đó, nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài có thể khai thác, sử dụng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, hội thảo tập huấn chuyên đề, giúp cho các KSV trực tiếp làm công tác KSĐT án ma túy tham khảo, vận dụng vào hoạt động nghiệp vụ và công tác, nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và KSĐT các vụ án ma túy của các cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu bố cục gồm 3 chương, 8 tiết

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm ma túy của cơ quan VKSND

Chương 2: Thực trạng Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm ma túy của cơ quan VKSND

Chương 3: Các biện pháp bảo đảm Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm ma túy .

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY CỦA CƠ QUAN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. Những vấn đề lý luận về vụ án hình sự các tội phạm về ma túy và hoạt động điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm vụ án hình sự các tội phạm về ma túy thuộc thẩm quyền kiểm sát điều tra của cơ quan VKSND

1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm pháp lý tội phạm về ma túy

Khái niệm chất ma túy lần đầu tiên được sử dụng trong Công ước Quốc tế La Hay (Hà Lan) năm 1912 về kiểm soát ma túy và chống buôn lậu ma túy. Theo gốc Hán – Việt ma túy có nghĩa là “mê mẩn”; theo gốc Hy Lạp “ma túy” dùng để chỉ chất “gây ngủ, gây mê”. Theo từ điển tiếng Việt: “Ma túy là tên gọi chung cho tất cả các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện”.

Khái niệm tội phạm về ma túy như sau: Tội phạm về ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của Nhà nước về sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, quản lý, sử dụng các chất ma túy và tiền chất ma túy được quy định trong Bộ luật hình sự xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, tính mạng sức khỏe và nòi giống của dân tộc.

Đặc điểm pháp lý của các tội phạm về ma túy

Các tội phạm về ma túy quy định tại BLHS có đặc điểm chung nhất là bất cứ hành vi phạm tội nào cũng trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến ma túy và bao gồm tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật, tính có lỗi và tính chịu hình phạt được quy định trong BLHS.

1.1.1.2. Vụ án hình sự các tội phạm về ma túy thuộc thẩm quyền kiểm sát điều tra của cơ quan VKSND

Như vậy có thể hiểu: Vụ án hình sự các tội phạm về ma túy là những vụ việc có các hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất ma túy của Nhà nước đã xảy ra, được các cơ quan có thẩm quyền theo luật định tiến hành kiểm tra xác minh và xác định vụ việc đó có dấu hiệu tội phạm về ma túy và đã quyết định khởi tố vụ án về ma túy đối với vụ việc đó để tiến hành điều tra giải quyết theo trình tự tố tụng hình sự.

Từ những căn cứ pháp luật trên, chúng tôi cho rằng: Vụ án hình sự các tội phạm về ma túy thuộc thẩm quyền KSĐT của Các cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam là những vụ án ma túy được khởi tố thuộc thẩm quyền điều tra của các Cơ quan điều tra phòng chống ma túy Công an tỉnh Quảng Nam hoặc của các Cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra ban đầu theo quy định của BLTTHS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

1.1.2. Điều tra vụ án ma túy và các yêu cầu đặt ra trong kiểm sát điều tra vụ án ma túy của Viện kiểm sát nhân dân

Điều tra vụ án ma túy là hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền điều tra theo luật định tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự đồng thời có sự phối hợp khai thác sử dụng đồng bộ các phương pháp, lực lượng, phương tiện nghiệp vụ của ngành Công an để chủ động phát hiện và nhanh chóng thu thập các tài liệu chứng cứ nhằm chứng minh làm rõ sự thật về vụ án ma túy theo quy định của pháp luật

Tóm lại để thực hiện tốt hoạt động KSĐT các vụ án ma túy thì ngoài việc nắm vững vị trí, chức năng, nhiệm vụ của VKSND, nắm vững mối quan hệ giữa VKS và CQĐT, cán bộ và KSV còn phải nhận thức rõ vị trí, trách nhiệm của mình trong từng giai đoạn điều tra, ngay từ khi tiếp nhận thông tin tội phạm ma túy đến việc truy tố bị can ra trước Tòa án đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

1.2. Những vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy của các cơ quan VKSND 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm kiểm sát điều tra vụ án ma túy của VKSND

1.2.1.1. Khái niệm kiểm sát điều tra

Hoạt động KSĐT là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước theo chức năng, thẩm quyền của VKS có nội dung giám sát mọi hoạt động của CQĐT, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra từ khi xác định có dấu hiệu của tội phạm đến khi VKS ra quyết định truy tố người phạm tội ra trước toà án, nhằm đảm bảo cho các hoạt động điều tra được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.

1.2.1.2. Phân biệt kiểm sát điều tra với thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

Theo Luật tổ chức VKSND và BLTTHS, ở giai đoạn điều tra, VKS có hai chức năng là THQCT và KSĐT. Đây là hai chức năng độc lập nhưng có quan hệ mật thiết với nhau.

Ở giai đoạn điều tra vụ án ma túy, THQCT là những biện pháp mà VKS trực tiếp quyết định, còn KSĐT là những biện pháp VKS không trực tiếp ra quyết định, mà qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện các vi phạm pháp luật của CQĐT thì kiến nghị yêu cầu khắc phục. Cả hoạt động THQCT và hoạt động KSĐT các vụ án hình sự nói chung và vụ án ma túy nói riêng có chung một mục đích là nhằm bảo đảm cho mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện, làm rõ và được xử lý kịp thời, đúng pháp luật đảm bảo cho việc khởi tố, điều tra, truy tố được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người không có tội.

1.2.1.3. Đặc điểm hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án ma túy của VKSND tỉnh Quảng Nam

– Hoạt động KSĐT vụ án ma túy luôn gắn với quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng về phòng chống tối phạm tội phạm ma túy. Công tác chỉ đạo điều hành phải dựa trên quan điểm coi đấu tranh chống tội phạm về ma túy là một bộ phận trong chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; bám sát nội dung chỉ đạo của cấp ủy địa phương nhưng vẫn đảm bảo độc lập trong quyết định xử lý.

– Chủ thể thực hiện hoạt động KSĐT chỉ có thể là KSV có thẩm quyền và có sự phối hợp với các chủ thể khác có liên quan theo quy định của BLTTHS, Luật tổ chức VKSND. Các vụ án lớn thường được lực lượng chức năng đấu tranh theo chuyên án, vì vậy hoạt động KSĐT các vụ án ma túy của VKSND phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật nhưng phải tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra hoàn thành nhiệm vụ.

– Hoạt động KSĐT các vụ án ma túy phải luôn bám sát các hoạt động điều tra, kịp thời đề ra các nội dung yêu cầu điều tra, phát hiện và đề nghị xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

– Chủ thể KSĐT các vụ án ma túy phải có kiến thức về pháp luật, có nghiệp vụ kiểm sát, biết tích lũy kinh nghiệm và có kỹ năng tác nghiệp.

– Hoạt động KSĐT các vụ án ma túy phải chuẩn bị phương án xử lý khi gặp điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợi cho việc thu thập chứng cứ, giám sát hoạt động điều tra của CQĐT.

1.2.2. Nội dung tiến hành hoạt động kiểm sát điều tra vụ án ma túy của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân

Hoạt động KSĐT của VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án ma túy bao gồm:

1.2.2.1. Kiểm sát điều tra trong giai đoạn khởi tố vụ án ma túy

Kiểm sát điều tra việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố vụ án ma túy

Kiểm sát việc khởi tố bị can trong điều tra vụ án ma túy

1.2.2.2. Kiểm sát điều tra việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với vụ án ma túy

Việc áp dụng biện pháp tạm giữ, bắt bị can để tạm giam

Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, truy nã

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác

Việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn.

1.2.2.3. Kiểm sát một số hoạt động điều tra khác đối với vụ án ma túy.

Kiểm sát hoạt động trưng cầu giám định trong giai đoạn điều tra vụ án ma túy.

Kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, lấy lời khai người làm chứng trong giai đoạn điều tra vụ án ma túy

Kiểm sát hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản của Cơ quan điều tra.

Kiểm sát quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra vụ án ma túy

1.2.3. Quan hệ phối hợp lực lượng để kiểm sát điều tra vụ án ma túy của các cơ quan VKSND

1.2.3.1. Quan hệ nội tại

1.2.3.2. Quan hệ phối hợp với Cơ quan điều tra

1.2.3.3. Quan hệ với các cơ quan bổ trợ tư pháp

1.2.3.4. Quan hệ với các cơ quan, tổ chức, công dân và những người tham gia tố tụng trong vụ án ma túy

Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY CỦA CÁC CƠ QUAN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

2.1. Khái quát tình hình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2011 đến năm 2015

2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội có ảnh hưởng đến tội phạm về ma túy

2.1.2. Khái quát tình hình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy

Tình hình tội phạm về ma tuý nói chung, tội mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam vẫn diễn biến phức tạp, có xu hướng tăng cả về số vụ, quy mô và tính chất nhưng không theo quy luật nhất định, trong đó chủ yếu vẫn là tội mua bán trái phép chất ma tuý, số lượng chất ma tuý thu được ngày càng tăng. Đặc biệt nguy hiểm là ngày càng xuất hiện nhiều chất ma tuý rất độc hại như Ketamine, methamphetamine, loại ma tuý mới TFMPP, GHB và chất XLR-11 (cỏ mỹ).

Theo số liệu thống kê, từ năm 2011 đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã khởi tố 300 vụ án ma túy với 414 bị can. Tang vật thu giữ trên 6kg Methamphetamin (ma túy đá); 499 viên ma túy tổng hợp; 1,6kg hêrôin; 4,6kg và 425 cây cần sa, 53 xe máy, 185 điện thoại di động, 469.100.000 đồng, 2.915 USD, nhiều tài sản khác và dụng cụ sử dụng ma túy.

2.1.3. Khái quát về cơ cấu tổ chức, bộ máy VKSND tỉnh Quảng Nam

Về tổ chức bộ máy của VKSND tỉnh Quảng Nam là phù hợp và đáp ứng yêu cầu chính trị địa phương. Kể từ khi Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, đến Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Luật tổ chức VKSND năm 2014, Nghị quyết 08–NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49 ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị ra đời, VKSND tỉnh Quảng Nam đã quán triệt sâu sắc đến từng cán bộ trong ngành để làm tốt chức năng THQCT và Kiểm sát các hoạt động tư pháp.

2.2. Thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy của các Cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam

2.2.1. Kiểm sát điều tra trong khởi tố vụ án, khởi tố bị can

– Kiểm sát điều tra việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm ma túy

Các VKSND đều đã mở sổ quản lý tố giác, tin báo tội phạm, việc phân loại, xử lý các tố giác, tin báo về tội phạm được thực hiện tốt. VKSND hai cấp đã mở hòm thư để tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. VKS hai cấp đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật nắm bắt diễn biến tình hình tội phạm trên địa bàn, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm để phối hợp phân loại, xử lý được thường xuyên, kịp thời.

Thực tiễn tại Quảng Nam, phần lớn các tố giác, tin báo về ma túy đều được CQĐT lập chuyên án xác minh theo dõi, đến khi tiến hành bắt tạm giữ, khám xét khẩn cấp thì VKS mới nắm được thông tin này, một phần vì đặc điểm các tin báo, thông tin về tội phạm ma túy phải cần thời gian dài để xác minh theo dõi và áp dụng các biện pháp điều tra của ngành Công an, một phần vì là chuyên án nên CQĐT e ngại không giữ được bí mật khi cung cấp thông tin cho VKS, ảnh hưởng đến việc phá án.

– Kiểm sát điều tra việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can

Khi tiến hành phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, KSV đã luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, phối hợp chặt chẽ với ĐTV ngay từ đầu xem xét, đánh giá chứng cứ hoặc trực tiếp lấy lời khai ban đầu các đối tượng nên các quyết định phê chuẩn đều có căn cứ, góp phần không nhỏ vào việc hạn chế tỷ lệ oan, sai và bỏ lọt tội phạm, bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng hình sự.

Phần lớn các vụ án ma túy được phát hiện qua việc bắt quả tang nhưng trong một số trường hợp biên bản phạm pháp quả tang được lập chưa đúng quy định về hình thức (mẫu biên bản), mô tả không khách quan diễn biến trong khi bắt đối tượng. Ngoài ra VKS hai cấp chỉ mới tiến hành kiểm sát được những vụ án do CQĐT khởi tố, nhiều vụ án có thể khai thác mở rộng, nhưng CQĐT do ngại khó hoặc thiếu kinh phí nên đã không tiến hành điều tra khai thác mở rộng, KSV cũng không yêu cầu mở rộng vụ án. Do vậy, tình trạng bỏ lọt tội phạm vẫn còn tồn tại.

2.2.2. Kiểm sát điều tra trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn

VKS hai cấp đã nâng cao trách nhiệm và có nhiều tiến bộ trong hoạt động kiểm sát việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam. Các hoạt động này đã được thực hiện thận trọng và chính xác hơn. Vì vậy, đã giảm đáng kể các trường hợp bắt giữ theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó xử lý hành chính và trả tự do. Tuy nhiên, trong hoạt động kiểm sát việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, ở một số nơi, một số vụ án còn bộc lộ những thiếu sót, vi phạm để bị can tiếp tục phạm tội và làm ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tung nói chung và của VKSND nói riêng.

2.2.3. Kiểm sát điều tra một số hoạt động điều tra khác đối với các vụ án ma túy

– Về kiểm sát điều tra việc trưng cầu giám định

VKSND hai cấp tỉnh Quảng Nam luôn thực hiện công tác giám sát chặt chẽ về thủ tục thu giữ các chất ma túy, công tác niêm phong, việc lấy mẫu đóng gói niêm phong gửi đến cơ quan giám định. Trong 300 vụ án ma túy đã khởi tố thì trưng cầu giám định ma túy là cần sa có 15 vụ, hêroin 132 vụ, ma túy tổng hợp 153 vụ chiếm tỷ lệ nhiều nhất trên tổng số án khởi tố là 51%. Trong việc giám định không có trường hợp nào phải giám định bổ sung hoặc giám định lại, điều đó cho thấy công tác giám sát luôn thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tuy nhiên phần lớn công tác giám sát chủ yếu là kiểm tra trên hồ sơ, chỉ trừ một số vụ án có số lượng ma túy lớn hoặc là vụ án phức tạp thì Kiểm sát viên mới trực tiếp xem xét trong quá trình lấy mẫu đóng gói niêm phong gửi đến cơ quan giám định.

– Trong hoạt động lấy lời khai đối tượng, hỏi cung bị can

Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam thực hiện công tác giám sát chặt chẽ hoạt động hỏi cung bị can, lấy lời khai đối tượng.

Trong hơn 5 năm qua hầu như không có vụ nào CQĐT bị kiện là bức cung, dùng nhục hình hoặc có rất ít vụ bị can phản cung khi ra tòa. Tuy nhiên thực tiễn vẫn còn một số thiếu sót trong quá trình KSĐT như KSV khi nghiên cứu phê chuẩn xong thì không đề ra yêu cầu điều tra ngay đối với một số vụ án ma túy, cần thiết mở rộng điều tra hoặc KSV không theo dõi tiến độ điều tra vụ án nên có vụ án bị can lúc nhận tội, lúc không nhận tội nhưng ĐTV lại không hỏi cung đấu tranh ngay sau khi phê chuẩn dẫn đến hoạt động điều tra chứng minh gặp khó khăn.

– Trong hoạt động đối chất, nhận dạng

Các KSV của VKSND hai cấp Quảng Nam thường thực hiện công tác giám sát hoạt động đối chất, nhận dạng trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án ma túy là chính. KSV chỉ tham gia trực tiếp hoạt động đối chất với những vụ án mà bị can chối tội khi các con nghiện khai ra hành vi bán ma túy hoặc những vụ án được khởi tố thông qua hoạt động khai thác điều tra mở rộng. Trong những vụ án này KSV thường phối hợp với ĐTV thực hiện việc đối chất và yêu cầu rõ trong văn bản với CQĐT, trong một số trường hợp KSV tham gia đặt câu hỏi đối với những người tham gia đối chất, nếu thấy việc đối chất chưa đạt yêu cầu thì KSV yêu cầu tiến hành đối chất bổ sung.

– Trong việc khám xét, niêm phong vật chứng, thu giữ tài sản

Trong quá trình khám xét, nhiều vụ án ĐTV mới chỉ chú ý tìm ma tuý, chưa chú trọng tìm tài liệu liên quan hoạt động hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội về ma tuý mà có, dẫn đến việc xử lý vụ án chỉ ở phần ngọn, không triệt để, không loại trừ trường hợp để lọt tội phạm.

  1. Kiểm sát quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra

Chất lượng công tác KSĐT các vụ án ma túy của CQĐT còn được thể hiện qua hoạt động kiểm sát việc đình chỉ và tạm đình chỉ điều tra. Từ năm 2011 đến 2015 số vụ án ma túy đình chỉ, tạm đình chỉ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam được phản ánh cụ thể như sau:

Về án ma túy đều do Cơ quan cảnh sát điều tra hai cấp đình chỉ: Năm 2011 đình chỉ 0 vụ/01 bị can, năm 2012 0 vụ/01 bị can, hai trường hợp bị can được đình chỉ với lý do bị bệnh hiểm nghèo được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự (điều 25 BLHS). Đối với án tạm đình chỉ thì năm 2014 01 vụ/01 bị can, trường hợp tạm đình chỉ này do hết hạn điều tra mà bị can chưa bắt được nên CQĐT tạm đình chỉ để ra lệnh truy nã.

2.2.4. KSĐT trong quyết định việc truy tố bị can

Thực tế hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Nam xảy ra chủ yếu là các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy cho nên đều thuộc tội phạm nghiêm trọng trở lên. Thực tiễn những vụ án lớn, khi vụ án chuẩn bị kết thúc điều tra thì KSV đã chủ động phối hợp với ĐTV sắp xếp một cách khoa học theo đường dây, theo nhóm tội, theo thứ tự hành vi phạm tội từ bán đến mua, đây là cơ sở để ĐTV lập bản kết luận điều tra và KSV nghiên cứu thuận tiện để lập bản cáo trạng.

2.3. Đánh giá kết quả hoạt động kiểm sát điều tra vụ án ma túy của các cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam

– Hoạt động KSĐT các vụ án ma túy của ngành Kiểm sát Quảng Nam trong những năm qua có nhiều tiến bộ rõ rệt.

– Hoạt động KSĐT các vụ án ma túy của VKSND hai cấp đã được tiến hành kịp thời, có hiệu quả.

– Trong giai đoạn điều tra các vụ án ma túy, những quyết định tố tụng, các yêu cầu điều tra, định hướng điều tra và những kiến nghị về cơ bản đều đảm bảo chính xác, kịp thời và có căn cứ, đúng pháp luật, góp phần đảm bảo cho công tác điều tra xử lý tội phạm ma túy và quản lý Nhà nước về các hành vi vi phạm ma túy đi vào nề nếp, đúng pháp luật.

– Hoạt động KSĐT vụ án ma túy của các cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam đều được tiến hành theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và đúng pháp luật.

2.4. Những hạn chế bất cập và nguyên nhân trong KSĐT đối với các vụ án ma túy

2.4.1. Những hạn chế, bất cập

– Hoạt động KSĐT vụ án ma túy chưa có sự thống nhất đầy đủ về việc áp dụng pháp luật hình sự, các văn bản dưới luật.

– Khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiểm sát khởi tố vụ án, còn bộc lộ những hạn chế như chưa kịp thời và đầy đủ, còn mang tính hành chính, thiếu chủ động, tích cực và hiệu quả chưa cao.

– Quá trình kiểm sát việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn các vụ án ma túy, VKS còn thực hiện thiếu tính chủ động, không kịp thời và chính xác.

– Việc ban hành những kiến nghị và yêu cầu của VKSND hai cấp đối với CQĐT để khắc phục những thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra các vụ án ma túy còn hạn chế.

– Việc chấp hành các quy định của pháp luật còn có những thiếu sót trong việc thực hiện các yêu cầu, kiến nghị của VKSND.

2.4.2. Nguyên nhân

– Hệ thống pháp luật vẫn còn nhiều tồn tại, chưa đáp ứng được yêu cầu đời sống xã hội, chậm sửa đổi, bổ sung, không đồng bộ và chồng chéo.

– Đội ngũ cán bộ, KSV của các Cơ quan VKS tỉnh Quảng Nam vừa thiếu số lượng, một bộ phận đội ngũ có sự chênh lệch về chuyên môn nghiệp vụ.

– Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và việc phân công, bố trí cán bộ vẫn còn bộc lộ hạn chế, thiếu sót.

– Mối quan hệ phối hợp giữa các CQĐT mà chủ yếu là Cơ quan cảnh sát điều tra về ma túy và VKS hai cấp ở Quảng Nam trong hoạt động điều tra tội phạm ma túy đôi khi còn chưa thường xuyên, thiếu chặt chẽ.

– Cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc của cán bộ, KSV ngành kiểm sát tỉnh Quảng Nam còn thiếu. Chế độ, chính sách tiền lương cùng đãi ngộ đối với cán bộ, KSV còn quá thấp, chưa tương xứng với trách nhiệm và công sức bỏ ra.

Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 3

CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY

3.1. Dự báo những yếu tố tác động ảnh hưởng đến hoạt động kiểm sát điều tra vụ án ma túy của Cơ quan VKSND

3.1.1. Cơ sở dự báo

– Tỉnh Quảng Nam trở thành trung tâm giao lưu buôn bán, hợp tác làm ăn, tham quan du lịch của du khách các nước Asean, Châu Á và trên thế giới cũng như du khách nội địa. Không loại trừ, đây cũng là điều kiện, là cơ hội mà bọn tội phạm mua bán trái phép chất ma tuý trong nước và quốc tế có thể lợi dụng để hoạt động.

– Do áp lực của công việc làm ăn, sự ảnh hưởng mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường và tư tưởng muốn làm giàu bằng mọi giá, nhiều gia đình không thường xuyên quan tâm chăm lo giáo dục thế hệ trẻ, thậm chí buông lõng sự quản lý, kiểm soát đối với con cái để cho các em dễ trở thành đối tượng mà bọn tội phạm về ma tuý lôi kéo, dụ dỗ.

– Cũng như cả nước, tỉnh Quảng Nam đã và đang chịu ảnh hưởng bởi tình hình tội phạm về ma tuý trên thế giới và trong khu vực ngày càng gia tăng. Tầng lớp thanh niên tìm đến các loại ma tuý mới ngày một nhiều, làm cho số người nghiện ma tuý không những không giảm mà càng có xu hướng gia tăng khó kiểm soát. Từ đó tạo ra nguồn cầu rất lớn về ma túy, kích thích tội phạm mua bán trái phép chất ma tuý phát triển, gây khó khăn cho công tác đấu tranh.

Trên cơ sở đó cho thấy, trong thời gian tới công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý nói chung, tội mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng tại địa bàn tỉnh Quảng Nam sẽ là nhiệm vụ vô cùng khó khăn gian khổ.

3.1.2. Nội dung dự báo

Tội phạm về ma tuý nói chung, tội mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam sẽ có sự thay đổi về thủ đoạn hoạt động phạm tội phù hợp với tình hình chung. Chúng khai thác triệt để các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào quá trình phạm tội, đối phó với các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tội phạm có sự cấu kết các đối tượng trong nước với các đối tượng nước ngoài, có sự móc nối giữa bọn tội phạm ở ngoài xã hội với đối tượng tiêu cực, cán bộ Nhà nước trong các cơ sở quản lý, sản xuất, chế biến thuốc tân dược gây nghiện cũng như các hoá chất trong các cơ sở y dược, phòng thí nghiệm và các cơ sở công nghiệp hoá chất.

Trong những năm đến tội phạm mua bán trái phép chất ma tuý vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm các tội phạm về ma tuý bị phát hiện. Về quốc tịch hầu hết vẫn là người mang quốc tịch Việt Nam, nhưng trong những năm đến không loại trừ khả năng các đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước thăm thân nhân, du lịch hoạt động phạm tội. Tỷ lệ nam giới vẫn ở mức cao hơn so với nữ phạm tội này, điều này xuất phát từ tính chất của tội phạm mua bán ma tuý luôn manh động, liều lĩnh, cần thể chất cho hoạt động di chuyển liên tục. Thành phần không nghề nghiệp, số có tiền án, tiền sự phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý vẫn ở mức cao hơn các thành phần khác.

Người nghiện ma tuý có chiều hướng tập trung ở tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên. Số người sử dụng trái phép chất ma tuý tổng hợp xu hướng tăng nhanh trong thời gian tới do tác động của việc sản xuất trái phép chất ma tuý tổng hợp từ các nước trong khu vực ảnh hưởng đến nước ta, trong đó có tỉnh Quảng Nam. Bên cạnh đó, xuất phát từ bản chất nhân đạo, chỉ coi người nghiện ma tuý là người bệnh nên Nhà nước đã phi tội phạm hoá Tội sử dụng trái phép chất ma tuý, do vậy trong thời gian tới số người nghiện ma tuý lợi dụng chính sách này để tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, tỷ lệ người tái nghiện sẽ không giảm, kéo theo đó tình trạng cung cấp chất ma tuý sẽ không giảm. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tội phạm mua bán trái phép chất ma tuý trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thời gian đến sẽ không giảm.

Như vậy với cơ sở và nội dung dự báo trên về tình hình tội phạm về ma túy trong thời gian đến sẽ có tác động ảnh hưởng nhất định đến hoạt động KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam.

3.2. Các biện pháp bảo đảm kiểm sát điều tra vụ án hình sự các tội phạm về ma túy

3.2.1. Củng cố và đổi mới công tác tổ chức, đào tạo cán bộ để tăng cường cho hoạt động KSĐT vụ án ma túy của Cơ quan VKSND

Để công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự nói chung và các vụ án ma túy nói riêng đạt hiệu quả và chất lượng cao thì việc đổi mới công tác tổ chức cán bộ là một tất yếu. Vì vậy, công tác cán bộ phải mang tính chủ động trong đổi mới cơ cấu, đảm bảo tính liên tục, kế thừa, khắc phục tình trạng thiếu hụt, chắp vá, cho nên đòi hỏi VKSND Quảng Nam phải củng cố bằng việc xây dựng quy hoạch KSV, tạo nguồn dự trữ trước mắt và lâu dài. Công việc quy hoạch KSV không thể cố định, cứng nhắc, không phải làm một lần mà phải làm nhiều lần, thường xuyên. Hàng năm phải có đánh giá, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch; lãnh đạo phải quan tâm đến vấn đề này để kịp thời điều chỉnh, bổ sung.

Bên cạnh công tác tổ chức cán bộ thì việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, KSV phải được chú trọng toàn diện cả về mặt chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và năng lực thực tiễn. Điều này có một vị trí vô cùng quan trọng, nhất là đối với KSV chủ chốt và KSV trẻ. Để làm được điều này, VKSND Quảng Nam cần phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ để làm căn cứ xây dựng mục tiêu, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm và cho những năm kế tiếp. Việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phải phù hợp với từng loại và mang tính toàn diện.

Để tổ chức tốt công tác THQCT và KSĐT các vụ án ma túy thì phải tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra các vụ án ma túy, điều đó đòi hỏi VKSND Quảng Nam phải xây dựng một đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao ở VKSND hai cấp.

Cần tăng cường tập huấn theo chuyên đề đối với loại án ma túy cho KSV, nội dung tập huấn chủ yếu là phương pháp và kinh nghiệm KSĐT, nâng cao kỹ năng trong việc giải quyết án ma túy.

3.2.2. Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án ma túy của các cơ quan Viện kiểm sát nhân dân

Để thực hiện tốt chức năng của mình trong đấu tranh với tội phạm ma túy, VKSND cần thực hiện tốt công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

3.2.3. Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án ma túy

Những tiến bộ trong xây dựng hệ thống pháp luật hình sự của nhà nước ta trong nhiều năm qua đã giúp cho hệ thống cơ quan pháp luật không ngừng lớn mạnh và công tác xử lý tội phạm hiệu quả hơn. Tuy nhiên những biến động về kinh tế, xã hội cộng với xu hướng toàn cầu hóa cho thấy hệ thống pháp luật về phòng chống ma túy cần thiết được bổ sung những mảng còn thiếu và sửa đổi cho phù hợp, nhất là phải hoàn thiện các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động KSĐT các vụ án ma túy của VKSND.

3.2.4. Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong công tác kiểm sát điều tra các vụ án ma túy

Quản lý nghiệp vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân là biện pháp hành chính hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự, trong đó có các vụ án ma túy. Do đó, lãnh đạo VKSND tỉnh Quảng Nam có thể thông qua công tác quản lý để nắm chắc được hoạt động nghiệp vụ của các VKS cấp huyện từ đó đề ra biện pháp chỉ đạo, điều hành có hiệu quả, sát với thực tế hoạt động của từng địa phương. Từ thực tiễn cho thấy, nếu hàng tuần, hàng tháng, hàng quý, lãnh đạo VKSND hai cấp nắm chắc được tình hình tội phạm ma túy xảy ra, chú trọng những tội phạm rất nghiêm trọng, phức tạp và kết quả hoạt động kiểm sát của ngành, nhất là những chỉ tiêu quan trọng của các đơn vị, sẽ giúp cho lãnh đạo VKSND hai cấp kịp thời phối hợp một cách đồng bộ các bộ phận công tác, khắc phục, uốn nắn ngay những tồn tại, thiếu sót, giải quyết ngay những vướng mắc và phát huy những thành tích, kinh nghiệm trong công tác. Ngược lại, công tác chỉ đạo, điều hành có chất lượng, hiệu quả, sẽ giúp cho việc quản lý nghiệp vụ ngày càng tốt hơn. Đây là những yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác KSĐT các vụ án hình sự nói chung và các vụ án ma túy nói riêng.

Hoàn thiện hệ thống các quy chế tổ chức và hoạt động trong công tác KSĐT án hình sự nói chung và án ma túy nói riêng, VKSND Quảng Nam phải coi việc thực hiện các quy chế là kỷ luật nghiệp vụ bắt buộc và cần có sự kiểm tra đánh giá việc thực hiện quy chế đối với từng đơn vị cấp huyện.

Viện trưởng VKSND cấp huyện, Trưởng phòng THQCT và KSĐT các vụ án hình sự về ma túy VKSND tỉnh phải nắm chắc được tổng số vụ án ma túy đang kiểm sát và tiến độ điều tra vụ án theo thời hạn luật định để có biện pháp chỉ đạo, giám sát đôn đốc, không để xảy ra tình trạng bỏ lọt án, tình trạng điều tra vụ án bị kéo dài, kịp thời chỉ đạo hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn vướng mắc và uốn nắn những thiếu sót trong hoạt động KSĐT.

Trong việc thỉnh thị và trả lời thỉnh thị giải quyết án hình sự nói chung và án ma túy nói riêng, VKSND tỉnh Quảng Nam cần xây dựng thành quy chế rõ ràng, cụ thể, tránh tình trạng cấp dưới chưa làm hết trách nhiệm rồi đùn đẩy lên cấp trên.

3.2.5. Nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKSND trong hoạt động KSĐT các vụ án ma túy

– Cần tăng cường hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ, ĐTV, KSV để họ thấy rõ được vai trò, tầm quan trọng của mối quan hệ phối hợp giữa VKS với CQĐT trong việc giải quyết các vụ án ma túy là vô cùng quan trọng và cần thiết, là yếu tố không thể thiếu trong bất cứ một vụ án nào.

– Bên cạnh những quy định của BLTTHS, Luật tổ chức VKSND, Pháp lệnh điều tra hình sự và Thông tư liên ngành VKS Tối cao – Bộ Công an – Bộ quốc phòng số 05/2005/TTLN, Luật tổ chức CQĐT hình sự 2015… đã quy định về mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS, tuy nhiên vẫn còn một số điểm chưa đầy đủ nên việc vận dụng và thực hiện trên thực tiễn vẫn còn gặp khó khăn và vướng mắc. Cho nên đòi hỏi phải bổ sung, sửa đổi Quy chế phối hợp hoạt động giữa hai ngành đầy đủ và cụ thể hơn để các cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ vận dụng thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất và có hiệu quả trong thực tiễn.

– Trong đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy, cần đẩy mạnh việc xây dựng các kế hoạch phối hợp giữa VKS với Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy.

3.2.6. Tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc cho ngành Kiểm sát nhân dân

Xuất phát từ yêu cầu khách quan và điều kiện thực tiễn công tác THQCT và KSĐT các vụ án hình sự nói chung và vụ án ma túy nói riêng đặt ra phải sớm đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị và phương tiện làm việc đầy đủ và hiện đại phục vụ cho công tác nghiệp vụ, cần chú trọng đến việc trang bị phương tiện, điều kiện làm việc cho các khâu, các bộ phận trọng yếu ở hai cấp kiểm sát như: Các bộ phận nắm và xử lý tình hình, tin báo về tội phạm,… Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ thông tin, từng bước hiện đại hoá các trang thiết bị của ngành. Bên cạnh đó, cũng cần phải quan tâm đến các chế độ, chính sách một cách thoả đáng đối với cán bộ, KSV. Có như vậy, cán bộ và KSV mới yên tâm công tác, giành hết tâm huyết vào công việc và có thời gian để học tập, nghiên cứu, đồng thời, tránh được những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường, chống lại được những cám dỗ vật chất, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạnh của người cán bộ kiểm sát, xứng đáng là người chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh phòng chống tội phạm.

KẾT LUẬN

Kiểm sát điều tra là một chức năng quan trọng của VKSND nhằm góp phần giải quyết các vụ án hình sự được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, từng bước hạn chế đến mức thấp nhất việc oan sai, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay, cũng như các VKS trên cả nước, VKS tỉnh Quảng Nam bước đầu đã đạt những thành tích nhất định góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng, triệt phá nhiều tụ điểm mua bán trái phép chất ma túy, góp phần giữ vững ổn định an ninh trật tự và bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ VKSND Quảng Nam đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về lý luận cũng như thực tiễn làm ảnh hưởng đến chất lượng KSĐT các vụ án ma túy và thực sự chưa đáp ứng với tình hình đổi mới. Bên cạnh đó do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau như sự hạn chế về năng lực của đội ngũ ĐTV, KSV, những khó khăn về cơ sở vật chất…dẫn đến kết quả đấu tranh loại tội phạm ma túy chưa cao.

Đứng trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay theo quan điểm của Đảng tại các Nghị quyết 08, 49/BCT của Bộ chính trị. Để góp phần khắc phục những hạn chế, thiếu sót trên và nâng cao chất lượng KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam, trên cơ sở nghiên cứu hoạt động thực tiễn và kết hợp hài hoà các phương pháp nghiên cứu khoa học, tiếp thu những kiến thức khoa học của những người đi trước, phân tích đánh giá thực trạng của hoạt động KSĐT, từ đó đề ra những giải pháp để giải quyết những hạn chế, thiếu sót. Cụ thể, luận văn tập trung vào các vấn đề sau:

– Phân tích và đi đến thống nhất quan điểm về KSĐT. Trong đó, luận văn tập trung nghiên cứu vào khái niệm, đặc điểm của nó, đồng thời phân tích, nêu rõ nội dung của KSĐT các vụ án ma túy, xem xét mối quan hệ và phân biệt giữa KSĐT với THQCT trong giai đoạn điều tra.

– Xem xét, phân tích, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam trong 5 năm vừa qua, để từ đó chỉ ra những mặt đạt được cũng như những thiếu sót, hạn chế và nguyên nhân của nó, từ đó đưa ra những dự báo và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng KSĐT vụ án ma túy của các Cơ quan VKSND tỉnh Quảng Nam.

Luận văn được hoàn thành với tinh thần làm việc và nghiên cứu nghiêm túc, khoa học của bản thân, đặc biệt dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của người hướng dẫn khoa học là thầy giáo – TS. Nguyễn Văn Hiển. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định. Tác giả xin chân thành cảm ơn và rất mong nhận được sự tiếp tục chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn ./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\TRAN THI THANH BAC\SAU BAO VE\WORD 2003

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *