Pháp luật về hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Pháp luật về hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta biết rằng, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư hiện nay dù ngày càng hoàn thiện song trên thực tế vận dụng quy định pháp luật vào thực tiễn còn bất cập, như chất lượng các khu tái định cư được xây dựng cũng chưa đáp ứng yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ” [20]; chưa chú trọng tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi; việc lập và tổ chức thực hiện phương án hỗ trợ, tái định cư tại một số dự án còn thiếu kiên quyết, thiếu dân chủ, công khai, minh bạch; chưa phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia thực hiện, giám sát, phản biện thực hiện các dự án; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm các vướng mắc, kiến nghị, làm cho việc giải phóng mặt bằng bị kéo dài nhiều năm, dẫn đến dự án treo hoặc khiếu nại khiếu kiện… Nhà nước chưa thật quan tâm đầu tư đúng mức về kinh phí, nhân lực để thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt, tạo quỹ đất triển khai khi có dự án đầu tư, chủ yếu có nhà đầu tư vào thì phối hợp lập phương án hỗ trợ, tái định cư, có khi vừa làm vừa chạy thủ tục.

Các vấn đề trên dẫn đến hiện tượng quy hoạch treo, khiếu nại, khiến kiện kéo dài, vượt cấp, không chỉ làm ảnh hưởng đến triển khai dự án mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt trong vùng triển khai dự án, có nơi đã tạo thành những điểm nóng.

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, tỉnh Quảng Nam có sự chuyển mình hết sức nhanh chóng, với quyết tâm chính trị là trở thành đô thị loại 1 vào năm 2020 theo Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020. Cùng với sự phát triển mọi mặt, tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, nhu cầu về quỹ đất thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh ngày càng lớn, nên trong những năm qua việc thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng diễn ra khá mạnh mẽ. Đặc biệt, trên địa bàn còn có thế mạnh về hệ thống sông ngòi, đồi núi, rừng bao phủ… là tiềm năng lớn xây dựng các công trình thủy điện vừa và nhỏ. Song, điều đáng quan tâm là dù đạt được một số kết quả đáng kể về hỗ trợ, tái định cư thực hiện các dự án thì vẫn còn đó những nỗi lo, những bức xúc, những hệ lụy cần có sự đánh giá đầy đủ để có đề xuất, kiến nghị mang tính căn cơ, góp phần tháo gỡ những hạn chế, tồn tại hiện nay đồng thời thực hiện tốt công tác tuyên truyền, định hướng để nhân dân hiểu rõ và chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư nhằm triển khai các dự án một cách có hiệu quả nhất.

Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn tốt nghiệp, và kỳ vọng trên cương vị công tác của mình cùng với kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nhỏ bé khi kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan và nhất là tuyên truyền, giúp người dân hiểu rõ hơn về vấn đề này một cách tổng quan, toàn diện, đầy đủ từ lý luận đến thực tiễn.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Tác giả hướng đến mục đích từ thực tiễn thực hiện pháp luật hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết của chính sách, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa các căn cứ khoa học, cơ sở lý luận của pháp luật về hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Phân tích, đánh giá và thống kê, chỉ ra điểm chưa hợp lý của hệ thống pháp luật về hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, cụ thể trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và thực tiễn áp dụng chính sách hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; không xét đến trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư đối với các dự án được triển khai trong giai đoạn từ 2010 đến nay tại tỉnh Quảng Nam.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Dựa trên nền tảng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác hỗ trợ, tái đinh cư khi Nhà nước thu hồi đất.

5.1. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp: Luận văn cũng sử dụng phương pháp xã hội học, thống kê, tổng hợp, so sánh, kế thừa, khai thác các tài liệu sẵn có tại địa phương như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020; Kế hoạch và chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam; Quy hoạch, kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và hàng năm; Báo cáo của UBND tỉnh về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2010-2016 và nhiệm vụ, giải pháp thực hiện giai đoạn 2016-2020; các phương án hỗ trợ, tái định cư của các dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh, tác giả nghiên cứu và sử dụng các tư liệu nghiên cứu trước đây về lĩnh vực hỗ trợ và tái định cư thông qua các đề tài, công trình nghiên cứu, bài viết… ở các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội tương đồng, của các tác giả có uy tín.

Phương pháp thu thập thông tin, số liệu và xử lý các thông tin, phân tích số liệu thu thập được. Phương pháp này thể hiện bởi hoạt động khảo sát, thu thập thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội; số liệu về hiện trạng sử dụng đất; số liệu về thu hồi đất, hỗ trợ và tái định cư trong phạm vi nghiên cứu đã đề ra.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa các căn cứ khoa học, cơ sở lý luận của pháp luật về hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đồng thời, kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Phần nào giúp các nhà quản lý, nhân dân quan tâm có được cái nhìn đầy đủ, toàn diện về công tác hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua, từ đó có thể đánh giá, phân tích, điều chỉnh về chính sách, thực hiện tốt hơn cải cách hành chính trong lĩnh vực này; góp phần giúp nhân dân nhận thức đầy đủ hơn về quy định của pháp luật qua hệ thống hóa ở phần lý luận.

7. Cơ cấu của luận văn

Chương 1. Những vấn đề lý luận của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Chương 2. Thực trạng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Nam.

Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

1.1. Khái quát về việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

* Khái niệm của việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai [37].

Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

“Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” [37].

Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Tái định cư là một khái niệm mang nội hàm khá rộng, dùng để chỉ những ảnh hưởng tác động đến đời sống của người dân do bị mất tài sản và nguồn thu nhập trong quá trình phát triển dự án gây ra, bất kể có phải di chuyển hay không và các chương trình nhằm khôi phục cuộc sống của họ. Tái định cư theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển người dân đến nơi ở mới bằng cách bồi thường bằng nhà ở hay bồi thường bằng giao đất ở mới hoặc bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở.

* Đặc điểm của việc hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, việc hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ mà nguồn thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh dịch vụ.

Thứ hai, việc hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Thứ ba, một trong các hình thức hỗ trợ là hỗ trợ về chỗ ở, tái định cư.

1.1.2. Những ảnh hưởng của việc thu hồi đất đối với người dân và sự cần thiết phải hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

* Những ảnh hưởng của việc thu hồi đất đối với người dân

Các quy định pháp luật về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định, sinh sống của người dân, về những sinh kế hàng ngày.

Họ không chỉ mất quyền sử dụng đất mà còn buộc phải di chuyển chỗ ở. Hậu quả là cuộc sống thường nhật của họ bị đảo lộn.

Các khiếu kiện về đất đai nói chung và khiếu kiện về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định trật tự xã hội.

* Sự cần thiết phải hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sẽ có tác động hài hòa đến lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.

Thứ hai, nhằm bù đắp những tổn thất mà người sử dụng đất phải gánh chịu đồng thời giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội là hậu quả của việc Nhà nước thu hồi đất gây ra.

Thứ ba, thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là điều kiện để doanh nghiệp sớm có mặt bằng triển khai các dự án đầu tư góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế và nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta.

Thứ tư, về phía người sử dụng đất, thực hiện tốt hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sẽ giúp cho họ và các thành viên khác trong gia đình nhanh chóng ổn định cuộc sống để tập trung sản xuất góp phần cải thiện và nâng cao mức sống.

1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

* Khái niệm pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư có thể hiểu là “các quan điểm, chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện của các cơ quan Nhà nước đối với những người có đất thu hồi nhằm đặt tới sự hài hòa, hiệu quả về lợi ích một cách bền vững nhất” [21].

* Đặc điểm pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, tính quy phạm phổ biến.

Thứ hai, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức.

Thứ ba, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện.

1.2.2. Vai trò của pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là cơ sở để thiết lập, cũng cố và tăng cường quyền lực Nhà nước

    1. Thứ hai, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là phương tiện để Nhà nước quản lý kinh tế, xã hội.
    2. Thứ ba, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất góp phần tạo dựng những quan hệ mới.
    3. Thứ tư, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao với các quốc về vấn đề liên quan.
    4. Thứ năm, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng là phải bảo vệ người bị thu hồi đất.

1.3. Các quy định pháp luật Nhà nước về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.3.1. Nguyên tắc và mục tiêu hỗ trợ, tái định cư

Về nguyên tắc: phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, hiệu quả, dân chủ, tiết kiệm ngân sách và hỗ trợ người khó khăn khi bị thu hồi đất.

Về mục tiêu: phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất, tạo điều kiện để người bị thu hồi đất có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn trước khi mất đất, ổn định cuộc sống và ổn định việc làm.

1.3.2. Các nội dung quy định cụ thể về hỗ trợ, tái định cư

* Về hỗ trợ

Quy định về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.

* Về tái định cư

Về lập và thực hiện dự án tái định cư theo hướng: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất.

1.3.3. Trình tự, thủ tục thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Thông báo thu hồi đất: Thời hạn thông báo:chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp (trước khi tiến hành thu hồi đất), cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết.

Nội dung thông báo: bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.

1.3.4. Giải quyết khiếu nại và tố cáo trong việc hỗ trợ, tái định cư

Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) có thẩm quyền: giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính hành vi hành chính của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu.

Trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại lần đầu

Trình tự, thủ tục khiếu nại lần đầu

Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu

Trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại lần hai

Trình tự, thủ tục khiếu nại lần hai

Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai

1.4. Quá trình hình thành pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ.

Thứ hai, xét về bản chất, khi Nhà nước thu hồi đất ở của người dân để sử dụng bất kì vào mục đích gì (cho dù sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế) mà họ phải di chuyển chỗ ở thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ bồi thường và thực hiện việc tái định cư nhằm làm cho người sử dụng đất sớm ổn định cuộc sống.

Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Khi Nhà nước thu hồi đất ở mà làm phương hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất thì Nhà nước không những có trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà còn phải thực hiện việc tái định cư cho họ.

Thứ tư, nước ta hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” trong điều kiện chịu rất nhiều thách thức do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng của người dân. Đây cũng là một lý do dẫn đến việc ra đời các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ năm, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được xây dựng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài.

Kết luận Chương 1

Có thể thấy rằng, hệ thống pháp luật đất đai, trong đó có thu hồi đất, hỗ trợ, tái định cư ngày càng hoàn thiện, góp phần giải quyết căn cơ, thấu đáo nguyện vọng chính đáng của người dân, tạo hành lang pháp lý tin cậy khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các mục đích khác nhau.

Theo Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành có những điểm mới hơn so với Luật đất đai 2003 về thu hồi đất, hỗ trợ và tái đinh cư, tạo thuận lợi cho việc triển khai trên thực tế, đồng thời khắc phục tình trạng tùy tiện trong thu hồi đất; quy định tiêu chí phải vì lợi ích quốc gia, lợi ích chung của cộng đồng từ đó các dự án mà Nhà nước thu hồi đất căn cứ vào ý nghĩa, tính chất quan trọng của dự án với việc phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, lợi ích chung của cộng đồng.

Song, pháp luật về đất đai, nhất là sau khi có Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đã có nhiều điểm khắc phục tồn tại của luật cũ song vẫn còn đó nhiều bất cập cần quan tâm giải quyết như quy định về giá đất sát, phù hợp với giá đất thực tế; nơi tái định cư bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ… nhưng không có quy định cụ thể thế nào là giá đất sát, phù hợp thực tế, thế nào là tái định cư tốt hơn nơi ở cũ nên nó mang tính định tính khá cao. Bên cạnh, các quy định về bồi thường tài sản, vật kiến trúc, cây cối hoa màu; về hỗ trợ, về tái định cư đều mang lại cảm giác hành chính, mệnh lệnh của cơ quan Nhà nước mà không phải thỏa thuận bình đẳng và ở đây người có đất thu hồi bao giờ cũng như ở thế thiệt thòi, thấp hơn Nhà nước và chủ đầu tư.

Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỒ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TẠI TỈNH QUẢNG NAM

2.1. Thực trạng quy định pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Từ khi có Luật Đất đai 2013, Nghị định 47/2014/NĐ-CP và các văn bản khác có liên quan, UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định 43/2014/QĐ-UBND, ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc ban hành Quy định về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, cụ thể như sau:

* Về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo Quy định này còn được xem xét hỗ trợ. Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật [48].

Thứ hai, hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ ba, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ tư, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; ổn định đời sống và sản xuất cho một số trường hợp có thu nhập chính của gia đình từ chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung; nghề khai thác thủy, hải sản (trừ các đối tượng thuộc diện trong biên chế hoặc hợp đồng lao động dài hạn đang hưởng lương, hưởng bảo hiểm xã hội hiện đang có tên trong hộ khẩu gia đình) và hỗ trợ khác

Thứ năm, hỗ trợ người đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước

Thứ sáu, hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn

Thứ bảy, hỗ trợ khác đối với người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất

* Về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, về lập và thực hiện dự án tái định cư

Thứ hai, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở

Thứ ba, suất tái định cư tối thiểu

Thứ tư, bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở

Thứ năm, tái định cư trên diện tích đất còn lại của thửa đất có nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Quảng Nam

2.2.1. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Nam có liên quan đến pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

* Những đặc điểm tự nhiên

2.2.2. Tình hình triển khai các dự án và thu hồi đất, hỗ trợ, tái định cư tại tỉnh Quảng Nam

Qua tổng hợp số liệu giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016 cho thấy, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh đạt những kết quả nhất định. Tổng diện tích đất thu hồi trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 13.792,111 ha, trong đó địa phương có diện tích đất thu hồi nhiều nhất là huyện Hiệp Đức (với 02 dự án có quy mô thu hồi đất lớn là: thủy điện Sông Tranh 4 và dự án đường Trường Sơn Đông) và địa phương thu hồi diện tích ít nhất là thành phố Hội An; trong đó tác động chủ yếu đến diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 12.153,255 ha, chiếm 88,12%; còn lại các diện tích khác chiếm tỷ trọng khá thấp, cụ thể đất ở 443,836 ha, chiếm 3,22% và các loại đất khác 1.195,02 ha, chiếm 8,66%.

Tổng hợp kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến năm 2016 (phụ lục 1).

1Tổng diện tích đất thu hồi (ha)13.792,111
Trong đó: – Đất ở443,836
– Đất sản xuất nông nghiệp12.153,255
– Đất khác1.195,020
2Số lượng dự án1.215
3Số tổ chức, hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án70.231
Trong đó: – Tổ chức1.619
– Hộ gia đình, cá nhân68.612
4Số hộ bị ảnh hưởng đất sản xuất nông nghiệp (hộ)28.422
Trong đó: – Hộ bị ảnh hưởng trên 70%2.794
– Hộ bị ảnh hưởng từ 30-dưới 70%6.087
– Hộ bị ảnh hưởng dưới 30%19.541
5Số hộ phải bố trí tái định cư (hộ)2.434
Trong đó: – Hộ di dời tự nguyện231
– Hộ di dời xen ghép27
– Hộ di dời vào khu tái định cư1.776
– Cờn lại (chưa thực hiện bố trí tái định cư của các dự án dở dang)400
6Diện tích đất bố trí tái định cư (ha)54,926
7Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (tỷ đồng)5.274,144
Trong đó:
– Tổng giá trị bồi thường về đất ở1.284,958
– Tổng giá trị bồi thường nhà cửa, tài sản trên đất1.181,328
– Tổng giá trị bồi thường về đất sản xuất nông nghiệp691,365
– Tổng giá trị hỗ trợ ổn định đời sống sản xuất nông nghiệp413,477
– Tổng giá trị hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm1.140,756
– Tổng giá trị hỗ trợ tái định cư314,163
– Tổng giá trị hỗ trợ khác248,097

(Nguồn: Báo cáo của UBND tỉnh Quảng Nam)

Tổng diện tích đất thu hồi, giải phóng mặt bằng (GPMB) phục vụ cho khoảng 1.215 dự án trong vòng 6 năm. Như vậy, bình quân mỗi năm trên địa bàn tỉnh thực hiện khoảng 200 dự án lớn nhỏ, với 70.231 tổ chức, hộ gia đình bị ảnh hưởng bới các dự án, trong đó: tổ chức 1.619 đơn vị, chiếm 2,31%, còn lại phần lớn là các hộ gia đình, cá nhân 68.612 hộ, chiếm 97,69%.

Việc thu hồi đất đã tác động chủ yếu đến hộ thuần nông 28.422 hộ, chiếm 40,47 tổng số hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng bới các dự án trên địa bàn tỉnh; trong đó các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng là 19.541/28.422 hộ, chiếm 68,75%, còn lại là các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp trên 70% là 2.794/28.422 họ, chiếm 9,83%.

Tổng giá trị BT, HT & TĐC thống kê giai đoạn 2010 đến nay khoảng 5.274,144 tỷ đồng, với khoảng 2.434 hộ giải tỏa trắng, diện tích đất bố trí tái định cư là 54,926 ha.

Như vậy, trong 6 năm qua tỉnh Quảng Nam đã tổ chức GPMB để thực hiện 1.215 dự án, đây là số lượng dự án khá lớn trong tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội chung trên địa bàn của tỉnh. Trong đó, số lượng hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án khá nhiều 68.612 hộ, cho thấy đây vừa là thành công, kết quả đáng ghi nhận trong công tác BT, HT & TĐC của tỉnh để thực hiện nhiều dự án, công trình trọng điểm, làm thay đổi cơ bản diện mạo tỉnh nhà, tạo động lực kết nối, phát triển với tỉnh bạn, khu vực.

2.2.3. Đánh giá tình hình triển khai các dự án và thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại tỉnh Quảng Nam

* Những ưu điểm:

Thứ nhất, về quy định pháp luật

Thứ hai, về công tác chỉ đạo, điều hành

Thứ ba, về công tác dân vận

Thứ tư, quy định pháp luật về bố trí tái định cư (TĐC)

* Những hạn chế, bất cập:

Thứ nhất, ban hành nhiều văn bản cá biệt để giải quyết theo “từng sự vụ, sự việc”

Thứ hai, việc thực hiện công tác BT, HT & TĐC ở hầu hết các địa phương còn “chậm trễ, kéo dài”

Thứ ba, việc khiếu nại phát sinh tăng, chủ yếu tập trung ở lĩnh vực BT, HT & TĐC

Thứ tư, về xây dựng các Khu tái định cư.

Kết luận Chương 2

Qua phân tích, đánh giá và thống kế số liệu, quan sát thực tế cho thấy đối với thực trạng công tác hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ngoài kết quả đạt được đáng kể còn một số tồn tại là: Công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở tỉnh trước đây chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vướng mắc, tồn đọng không được kịp thời giải quyết. Giá đất để hỗ trợ và tái định cư trong thời gian qua quá thấp so với giá chuyển nhượng thực tế tại địa phương. Một số phương án hỗ trợ, tái định cư chưa thực hiện tốt chính sách hỗ trợ, đào tạo nghề nghiệp, tuyển dụng tạo việc làm cho các các đối tượng bị ảnh hưởng, chủ yếu hỗ trợ bằng tiền.

Phương án tốt nhất đối với tỉnh vẫn là tìm quỹ đất để bố trí tái định canh cho nhân dân gắn với sản xuất nông nghiệp và tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích.

Cần sớm kiện toàn Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh với đầy đủ chức năng, thẩm quyền, để thực thi công vụ. Khi thực hiện bồi thường còn lúng túng xác định nguồn gốc, ảnh hưởng rất lớn đến giá trị đền bù và các chính sách hỗ trợ khác.

Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Thứ nhất, xuất phát từ thực tế, bất cập của pháp luật về hỗ trợ, tái đinh cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ hai, xuất phát từ thực tế đòi hòi công tác hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án phải tốt hơn nơi ở cũ

3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải trên quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về đất đai nói chung và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên việc hoàn thành dứt điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi đôi với hiện đại hóa hệ thống bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên việc giải quyết mối quan hệ hài hòa về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ đầu tư.

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải hướng vào việc đổi mới cơ chế thực hiện bồi thường cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên việc tiếp tục phát huy dân chủ, huy động sự tham gia của các tổ chức quần chúng và nâng cao tính công khai, minh bạch, công bằng trong việc thu hồi đất.

3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Thứ nhất, cần có một văn bản Luật hóa về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ngang tầm về mặt pháp lý với Luật Đất đai.

Thứ hai, các quy định pháp luật có nội dung đồng bộ, thống nhất về quan điểm, quy định cụ thể và cách thức tổ chức thực hiện.

Thứ ba, khi thu hồi đất thực hiện các dự án cần phải đặt đất đai vào đúng vị trí trong mối quan hệ giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất thu hồi để giải quyết thỏa đáng quyền lợi.

Thứ tư, cần xem xét, đa dạng hóa các hình thức bồi thường trên cơ sở nâng cao sự đồng thuận xã hội nhằm chia sẻ lợi ích.

Thứ năm, các dự án phát triển kinh tế-xã hội cần tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế định giá đất phù hợp với giá thị trường, đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất.

Thứ sáu, về bồi thường cây cối, hoa màu cần nghiên cứu, khảo sát giá và chi phí đầu tư vào các loại cây cối, hoa màu để có sự bồi thường phù hợp.

Thứ bảy, về các thiệt hại mà người có đất thu hồi phải gánh chịu để trả lại quyền sử dụng đất cần được quan tâm có những quy định bồi thường cụ thể.

Thứ tám, về thiệt hại do ngừng việc, ngừng sản xuất kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất là người sử dụng đất bị mất việc làm, bị ngưng trệ quá trình sản xuất kinh doanh.

Thứ chín, về hỗ trợ phải quy định thật thiết thực, hiệu quả, gắn với đời sống của người có đất thu hồi và tình hình kinh tế – xã hội của địa phương và nên theo hướng quy định buộc phải bố trí được việc làm hoặc định hướng được nghề nghiệp.

Thứ mười, về tái định cư. Cần ban hành chính sách, khung pháp lý chung về di dân, tái định canh định cư bắt buộc, trong đó có tính đến đặc thù của từng vùng miền, nhất là vùng kinh tế -xã hội khó khăn và từng loại dự án.

3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Thứ nhất, làm tốt công tác lập, triển khai, chấp hành nghiêm các quy hoạch.

Thứ hai, quy định bắt buộc về tham vấn nhân dân khi quy hoạch.

Thứ ba, tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai.

Thứ tư, phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai.

Thứ năm, các cấp chính quyền có trách nhiệm thông tin kịp thời về những nội dung dự án.

Kết luận Chương 3

Việc hệ thống hóa các quy định của pháp luật gắn với tình hình nghiên cứu thực hiện pháp luật về hỗ trợ, tái đinh cư trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cho thấy, dù đã hoàn thiện căn cơ nhưng quá trình áp dụng vào thực tiễn còn nhiều vướng mắc. Luận văn này đã tập trung đề xuất một số giải pháp trong những nhóm từ việc hoàn thiện chính sách, pháp luật đến giải pháp về kỹ thuật, tuyên truyền, công tác tổ chức, kiểm tra, giám sát, những đề suất trong thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Với những giải pháp được đề xuất, với hy vọng rằng bản thân người viết luận văn sẽ nhận được sự quan tâm của những nhà làm chính sách, những nhà quản lý, các cấp các ngành và người dân, với vị trí, vài trò của mình sẽ thực hiện tốt hơn các chính sách pháp luật về hỗ trợ, tái định cư hiện nay.

KẾT LUẬN

Việc hỗ trợ, tái định cư là một xu thế của sự phát triển. Hệ thống pháp luật đất đai, trong đó có hỗ trợ, tái định cư được từng bước hoàn thiện, góp phần những nguyện vọng chính đáng của người dân, tạo cơ sở pháp lý khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các mục đích công cộng, quốc phòng.

Song, hệ thống hóa pháp luật cho thấy, vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc cần giải quyết sâu sắc như quy định về giá đất phù hợp với thực tế, nơi tái định cư phải tương đương nơi ở cũ,… nhưng không có quy định nào cụ thể giá đất phù hợp với thực tế, thế nào là tái định cư tốt hơn nơi ở cũ là khái niệm mang tính định tính khá cao. Các quy định về bồi thường tài sản, vật kiến trúc, cây cối hoa màu; về hỗ trợ, về tái định cư đều mang lại cảm giác hành chính, mệnh lệnh của cơ quan Nhà nước mà không phải thỏa thuận bình đẳng và ở đây người có đất thu hồi bao giờ cũng như ở thế thiệt thòi, thấp hơn Nhà nước và chủ đầu tư. Do vậy, cần thiết phải có sự kết hợp nghiên cứu vớ kết quả thực tiễn áp dụng tại địa phương để đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện những bất cập, tồn tại đang hiện hữu.

Tại địa phương nghiên cứu thực tiễn cho thấy: một số phương án hỗ trợ, tái định cư chưa thực hiện chính sách hỗ trợ, đào tạo nghề nghiệp, tuyển dụng tạo việc làm cho các các đối tượng bị ảnh hưởng. Một số phương án có thực hiện chính sách đào tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp song chất lượng đào tạo chưa đảm bảo yêu cầu về trình độ tay nghề để tìm kiếm việc làm. Việc xây dựng các khu tái định cư của các dự án thường bị động, cơ sở hạ tầng không được đầu tư đồng bộ theo quy định; nhiều khu tái định cư được xây dựng chưa phù hợp với tập quan sinh hoạt của người dân. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về đất đai và chính sách hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất có lúc còn hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức.

Quá trình thực hiện hỗ trợ, tái định cư là thực hiện công việc liên quan đến con người và quyền lợi của họ, do đó có rất nhiều nội dung cần được quan tâm giải quyết. Thực tiễn cho thấy, điều hết sức cần quan tâm của những người làm công tác ở các dự án và cũng là trăn trở lớn nhất của người dân vẫn là vấn đề chính sách hỗ trợ, tái định cư hợp lý; tiếp đến là vấn đề thông tin về mục đích, quy trình thu hồi đất và hạn chế sự khác biệt giữa nơi ở cũ với nơi tái định cư mới. Vấn đề về việc làm, tái định cư, ổn định cuộc sống, không bị xáo trộn gây lo lắng, ảnh hưởng không nhỏ làm thay đổi cả tập quán sống, thói quen định cư và tác động trực tiếp đến các mối quan hệ xã hội cá nhân, gia đình, cộng đồng; là sự công bằng, bình đẳng, công khai minh bạch tạo ra tư tưởng thông suốt, sự đồng thuận trong cộng đồng, để tái lập cuộc sống…

Luận văn đã đề cập một số giải pháp để góp phần khắc phục những hạn chế, cụ thể là: Phương hướng hoàn thiện pháp luật, giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

Tóm lại, qua hệ thống hóa các quy định pháp luật về hỗ trợ, tái định cư và phân tích, đánh giá, tổng hợp tình hình thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cho thấy rằng việc nghiên cứu đề tài là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu của một đề tài nghiên cứu và vận dụng thực tiễn đồng thời từ thực tiễn để hoàn thiện pháp luật.

Kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu bổ ích, đáng tin cậy, góp phần cho những người quan tâm, nhất là những người có đất thu hồi, từ đó tạo cho họ có được những cơ sở lý luận, thực tiễn để tự bảo vệ và nắm bắt kịp các quy định hiện hành của Nhà nước./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\KINH TE\NGUYEN TAM HIEU\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *