Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương VN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh tình hình sản xuất khó khăn, khách hàng là doanh nghiệp có tiềm năng không nhiều. Vì vậy, nhiều ngân hàng chuyển hướng vào cho vay đối tượng khách hàng cá nhân, đẩy mạnh cho vay lĩnh vực tiêu dùng. Hướng mục tiêu vào phân khúc khách hàng này, ngân hàng vừa có thể thu được lãi suất cao hơn, lại vừa phân tán được rủi ro. Nhiều chuyên gia cho rằng, việc chuyển hướng cho vay này giống như hình thức “nhặt bạc lẻ” của các ngân hàng.
Mặt khác, có thể thấy tiềm năng cho vay tiêu dùng ở Việt Nam còn lớn, đặc điểm dân số Việt Nam khá trẻ, chủ yếu ở độ tuổi có nhiều nhu cầu mua sắm, tiêu dùng, bên cạnh đó lượng người dân ở tầng lớp trung lưu ngày càng tăng, đó là cơ sở để các ngân hàng đẩy mạnh lĩnh vực cho vay tiêu dùng.
Không nằm ngoài xu thế trên, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam đang hướng đến phát triển dịch vụ ngân hàng Bán lẻ trong đó đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay. Nhằm thực hiện tốt chủ trương của Ban lãnh đạo VietinBank đã đề ra, công tác đẩy mạnh cho vay tiêu dùng đang được Chi nhánh Ngũ Hành Sơn quan tâm chú trọng.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài “Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương VN – Chi nhánh Ngũ Hành Sơn” để nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp nhằm phân tích cụ thể về hoạt động cho vay tiêu dùng. Qua đó có thể đánh giá thực trạng hoạt động cho vay và đồng thời tìm kiếm các giải pháp để mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh.
- Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM
- Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Vietinbank Ngũ Hành Sơn để đánh giá được thực trạng hoạt động cho vay, đồng thời đánh giá những kết quả
và nhất là những hạn chế tại Chi nhánh.
– Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Vietinbank Ngũ Hành Sơn.
- Câu hỏi nghiên cứu
- Về lý luận, cho vay tiêu dùng của NHTM là gì? Các nội dung phân tích tình hình cho vay tiêu dùng bao hàm các chỉ tiêu gì, các nhân tố ảnh
hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng?
- Tình hình cho vay tiêu dùng tại Vietinbank Ngũ Hành Sơn đã diễn ra
như thế nào? Có những thành công gì, hạn chế và nguyên nhân nào?
– Những giải pháp gì có thể giúp Ngân hàng khắc phục những hạn chế trong hoạt động cho vay tiêu dùng?
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm những vấn đề lý luận liên quan cho vay tiêu dùng và thực tiễn cho vay tiêu dùng tại Vietinbank Ngũ Hành Sơn.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích tình hình cho vay tiêu dùng của Vietinbank Ngũ Hành Sơn từ năm 2011 đến 2013 từ đó đưa ra những giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng cho đến năm 2018.
- Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp cụ thể khác nhau như phương pháp điều tra, tổng hợp, so sánh thống kê, khảo sát trực tiếp hoạt động kinh doanh của Vietinbank Ngũ Hành Sơn… nhằm phân tích, đánh giá hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, luận văn đã góp phần hệ thống những vấn đề lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng . Đề tài nghiên cứu phân
tích tình hình của hoạt động cho vay tiêu dùng tại Vietinbank Ngũ Hành Sơn, những thành quả cùng những tồn tại, tìm ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra những giải pháp thiết thực góp phần mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Vietinbank Ngũ Hành Sơn.
- Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Phân tích hình hình cho vay tiêu dùng tại Vietinbank Ngũ Hành Sơn
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Vietinbank Ngũ Hành Sơn
8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG
1.1.1 . Khái niệm và đặc điểm về cho vay tiêu dùng
a. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm mục đích tài trợ cho những nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình. Các nhu cầu tiêu dùng cụ thể : mua nhà, xây sửa nhà, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt …thông qua Ngân hàng, các cá nhân có nhu cầu sẽ được bổ sung vốn nhất định trong một khoảng thời gian cụ thể kèm theo những điều kiện vay vốn cụ thể. Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch …cũng có thể được tài trợ thông qua vay tiêu dùng.
b. Đặc điểm
Cho vay tiêu dùng thực tế cũng là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng. Vì vậy, bên cạnh việc mang các đặc điểm của khoản vay thông thường như khách hàng phải cam kết hoàn trả cả gốc và lãi với thời gian xác định, khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay theo mục đích thỏa thuận với ngân hàng….thì cho vay tiêu dùng còn có một số đặc điểm khác. Đó là:
- Thứ nhất, quy mô món vay nhỏ nhưng số lượng các món vay lớn Các món vay tiêu dùng là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân,
hộ gia đình. Giá trị các sản phẩm mà khách hàng của ngân hàng có nhu cầu tiêu dùng thường không lớn, không quá đắt (kế cả vay mua nhà hoặc sửa chữa nhà). Do vậy, so với các món vay sản xuất kinh doanh khác thì nhu cầu vốn cho vay tiêu dùng nhỏ hơn rất nhiều. Mặt khác, không một ngân hàng nào cho vay tiêu dùng 100% nhu cầu vốn mà thường đòi hỏi khách hàng phải có tỷ lệ
tích lũy nhất định so với tổng nhu cầu vốn. Do vậy, quy mô các món vay tiêu dùng nhỏ. Bên cạnh đó, khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí ngày càng cao, nhu cầu vay vốn ngân hàng để phục vụ tiêu dùng ngày càng tăng và phồ biến. Vì thế, số lượng các món vay tiêu dùng lớn.
- Thứ hai, nguồn trả nợ không ổn định
Nguồn trả nợ của các khoản vay tiêu dùng là các nguồn thu nhập dự tính bao gồm lương, thưởng, thu nhập từ hoạt động khác. Tuy các nguồn này phải đảm bảo độ chắc chắn nhưng nó cũng không phải là biến cố định mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đó là:
- Sự biến động của chu kỳ kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của nơi mà khách hàng đang làm việc, ví dụ khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thóai, việc kinh doanh của các doanh nghiệp diễn ra rất khó khăn, từ đó khách hàng của ngân hàng có thể bị giảm thu nhập, lương hoặc thậm chí bị mất việc. Bên cạnh đó, kinh tế suy thoái còn làm cho người dân không có sự lạc quan về tương lai, nhu cầu tiêu dùng vì thế cũng sụt giảm theo.
- Những sự cố bất thường xảy ra với khách hàng như thay đổi vị trí, chức vụ công tác, tình trạng sức khỏe không tốt, tai nạn…
- Đạo đức của người vay: có vai trò quan trọng, quyết định sự hoàn trả của món vay nhưng không dễ xác định.
- Thứ ba, khách hàng kém nhạy cảm với lãi suất
Về cơ bản, đối tượng của cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình. Nhu cầu vay tiêu dùng của họ hầu như ít co dãn với lãi suất. Thông thường họ quan tâm tới số tiền hàng tháng hoặc hàng quý họ phải trả cho ngân hàng hơn là lãi suất mà ngân hàng áp dụng.
- Thứ tư, chi phí cho hoạt động cho vay tiêu dùng cao
Như đã đề cập ở trên, các món vay tiêu dùng thường có quy mô nhỏ nhưng số lượng lớn, lại rời rạc, không tập trung. Mặt khác, đây cũng là các khoản cho vay của ngân hàng nên đều phải đảm bảo đủ quy trình, từ gặp gỡ, tiếp xúc khách hàng đến theo dõi, quản lý, kiểm sóat khỏan vay, do vậy chi phí của hoạt động cho vay tiêu dùng cao.

- Thứ năm, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao
Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay của ngân hàng trong một thời gian nhất định, là chi phí của dịch vụ tài chính và phụ thuộc vào độ rủi ro của khoản vay. Do chi phí cho hoạt động cho vay tiêu dùng lớn, đồng thời đây là hoạt động được đánh giá là rủi ro cao nhất trong danh mục tài sản cho vay của ngân hàng do nguồn trả nợ không ổn định nên ngân hàng yêu cầu mức lãi suất tương đối cao so với các khoản tín dụng khác.
- Thứ sáu, lợi nhuận từ hoạt động cho vay tiêu dùng lớn.
Các khoản vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu mang tính cấp bách của khách hàng, họ muốn sở hữu hàng hóa hay sử dụng dịch vụ ngay trong hiện tại, mà thời hạn của khỏan vay không dài nên họ chấp nhận mức lãi suất cao hơn. Đồng thời số lượng các món vay tiêu dùng lớn nên lợi nhuận ngân hàng thu được từ cho vay tiêu dùng khá lớn.
1.1.2 . Vai trò cho vay tiêu dùng
- Đối với người tiêu dùng
Nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu của con người vốn phong phú, đa dạng càng gia tăng. Họ mong muốn được thụ hưởng các tiện ích, các sản phẩm nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mình.Tuy nhiên, không phải lúc nào khả năng tài chính nói chung và thu nhập nói riêng cũng cho phép họ đáp ứng các nhu cầu đó tại thời điểm hiện tại. Vì vậy, cho vay tiêu dùng giúp họ được hưởng các dịch vụ, tiện ích đó một cách nhanh chóng trước khi họ có đủ tiền bởi thay vì trả một khoản tiền lớn tại thời điểm mua sản phẩm, dịch vụ, họ chỉ phải trả dần trong một khoảng thời gian xác định
tùy thuộc vào đặc điểm của nguồn thu nhập của họ. Mặt khác, không phải cá nhân, hộ gia đình nào cũng có đủ tích lũy dự phòng cho các khoản chi tiêu mang tính đột xuất, cấp bách như giáo dục, y tế. Như vậy, ngân hàng đã giúp người tiêu dùng kết hợp được nhu cầu chi tiêu hiện tại và khả năng thanh toán trong tương lai. Điều này rất phù hợp với những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập trung bình, chiếm tỉ trọng lớn trong xã hội.
Ngoài ra, cho vay tiêu dùng còn kích thích người tiêu dùng tích cực lao động để nhanh chóng trả nợ cho ngân hàng, trở thành người sở hữu thực sự với hàng hóa hay dịch vụ. Có thể nói các cá nhân, hộ gia đình là những người được hưởng lợi nhiều nhất từ cho vay tiêu dùng.
- Đối với nhà sản xuất
Hoạt động cho vay tiêu dùng không chỉ đem lại lợi ích cho người tiêu dùng mà cả người sản xuất. Khi người sản xuất bán hàng hóa, họ mong muốn tiêu thụ được nhiều sản phẩm, thu hồi vốn nhanh chóng và có lợi nhuận lớn. Tuy nhiên, không phải lúc nào khách hàng của họ cũng có đủ khả năng thanh tóan được ngay, nhất là các sản phẩm có giá trị như nhà, ô tô,… Với sự xuất hiện của cho vay tiêu dùng, khách hàng có thể dễ dàng, nhanh chóng thanh tóan cho nhà sản xuất, nhờ đó nhà sản xuất có thể tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng, tăng vòng quay vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng thị phần, từ đó tăng lợi nhuận. Như vậy, tín dụng tiêu dùng đã gián tiếp thúc đẩy sản xuất, quá trình luân chuyển hàng hóa, đồng thời đặt ra yêu cầu cho nhà sản xuất phải đổi mới, cải tiến công nghệ, mẫu mã, chủng loại sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Đối với Ngân hàng thương mại
Trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng thương mại, khoản mục cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất, đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng nhờ sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Đối với hoạt động cho
vay tiêu dùng, do số lượng các món vay nhiều, lãi suất cho vay lớn nên lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động này là rất đáng kể. Mặt khác, đối tượng của cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình. Nếu so với số lượng các doanh nghiệp thì gấp nhiều lần. Vì thế, các ngân hàng không có lý do gì để bỏ qua thị trường đầy tiềm năng, thị trường khách hàng cá nhân.
Cho vay tiêu dùng là hoạt động có chi phí lớn và rủi ro cao, tuy nhiên khi phát triển, mở rộng hoạt động này thì các ngân hàng có thể mở rộng quan hệ với khách hàng, tạo thói quen tiếp cận với các dịch vụ tiện ích của ngân hàng cho khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động vốn, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, phân tán rủi ro, góp phần tăng thu nhập cũng như khả năng cạnh tranh cho ngân hàng.
- Đối với nền kinh tế
Có thể thấy vai trò của cho vay tiêu dùng với nền kinh tế là không thể phủ nhận, bởi mục đích của nó là thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, cải thiện đời sống của dân cư. Khi cho vay tiêu dùng được mở rộng và phát triển, người dân sẽ có thêm nhiều cơ hội tiếp cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ mà với khả năng thanh tóan hiện tại, họ không thể có. Nhờ vậy kích thích người dân tiêu dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống , tạo điều kiện cho con người phát triển, tòan diện. Điều này cũng là đòn bảy kích thích nền sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng khả năng đầu tư, xây dựng, phát triển xã hội, giảm đói nghèo… Đồng thời cho vay tiêu dùng còn là nhân tố quan trọng góp phần loại bỏ tình trạng “tín dụng đen”, cho vay nặng lãi… vốn là vấn đề nhức nhối trong xã hội.
1.1.3 . Phân loại cho vay tiêu dùng
a. Căn cứ vào mục đích cho vay
Có thể chia cho vay tiêu dùng thành 2 loại:
- Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu
về nhà ở như xây dựng, sửa chữa, mua sắm nhà ở của khách hàng là cá nhân, hộ gia đình.
- Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là các khoản cho vay nhằm cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí, du lịch…
b. Căn cứ vào thời hạn cho vay
- Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: khoản vay có thời hạn tối đa là 1 năm.
- Cho vay tiêu dùng trung hạn: bao gồm các khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
- Cho vay tiêu dùng dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm
c. Căn cứ vào tài sản bảo đảm
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Cho vay có bảo đảm là việc cho vay vốn của các tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc được bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản áp dụng đối với khách hàng uy tín không cao đối với ngân hàng. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ từ hiệu quả dự án, phương pháp đầu tư sản xuất kinh doanh của dự án mang lại.
- Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản là việc tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng để xem xét cho vay.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản chỉ áp dụng đối với khách hàng có uy tín. Là những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài
Số tiền trả 1 kỳ =
13
chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả, có tín nhiệm với ngân hàng cho vay trong sử dụng vốn vay, hoàn trả nợ.
d. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức hoàn trả có thể chia thành 3 loại:
- Cho vay tiêu dùng trả góp: là hình thức vay mà người đi vay trả cho ngân hàng một số tiền bằng nhau nhất định trên mỗi kỳ hạn (hàng tháng, quý hoặc 6 tháng).
Số tiền thanh toán định kỳ gồm nợ gốc (là khoản tiền nhất định trả mỗi kỳ hạn, thường bằng nhau) và nợ lãi tính trên dư nợ thực tế. Phương thức này
thường áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Đây là hình thức cho vay chủ yếu của các ngân hàng thương mại, loại hình vay này giúp cho khách hàng vay không bị áp lực trả nợ vào cuối kỳ cao. Trong phương thức cho vay này, ngân hàng thường thoả thuận với khách hàng một số điều khoản như: Loại tài sản được tài trợ, số tiền trả trước, chi phí khoản vay như lãi vay và các chi phí liên quan khác, điều khoản thanh toán như kỳ hạn trả nợ, số tiền trả mỗi kỳ và thời hạn cho vay.
- Kỳ hạn trả nợ: thường được tính theo tháng vì nguồn trả nợ của người vay là tiền lương được nhận hàng tháng của khách hàng.
- Số tiền trả mỗi kỳ: phải phù hợp với thu nhập và hài hoà với nhu cầu chi tiêu của khách hàng tại thời điểm trả. Số tiền này có thể được tính theo
phương pháp lãi gộp hoặc lãi đơn.
Tiền gốc x lãi xuất x thời hạn vay + Tiền gốc

Số kỳ hạn phải thanh toán
Theo phương pháp lãi gộp, số tiền này được tính bằng cách lấy gốc nhân với lãi suất và thời hạn cho vay, sau đó cộng gộp vào gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh toán ở mỗi kỳ hạn nợ. Theo phương pháp lãi đơn thì số tiền
trả mỗi kỳ bằng nhau và bằng vốn vay ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh toán, số lãi trả mỗi kỳ tính trên số tiền gốc mà khách hàng chưa trả ngân hàng.
- Cho vay tiêu dùng phi trả góp: tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường khoản cho vay tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay giá trị nhỏ, thời hạn vay không dài
(thường dưới 1 năm), đối tượng khách hàng thu nhập khá cao[10].
- Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là khoản vay mà ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, khách hàng có quyền vay và trả nhiều lần mà không vượt quá hạn mức tín dụng của mình. Loại vay này thường được áp dụng cho vay thấu chi, thẻ tín dụng. Loại vay tuần hoàn dễ áp dụng, thuận tiện cho khách hàng trong việc chủ động sử dụng nguồn tiền linh hoạt.
e. Căn cứ vào hình thức tài trợ của ngân hàng
Cho vay tiêu dùng được chia thành cho vay tiêu dùng trực tiếp và cho vay tiêu dùng gián tiếp
- Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng và thu lại từ khách hàng. Hình thức này ngân
hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.
Hình thức tín dụng này được thực hiện bằng một trong hai cách:
Cách 1: Ngân hàng, người bán, người mua phải thoả thuận với nhau về số tiền vay, mức vay và thời hạn trả dần, sau đó ngân hàng cho người mua hàng vay phần tiền chưa trả đủ cho người bán để giao cho người bán và giữ lại quyền sở hữu tài sản cho đến khi người mua trả góp đủ số tiền vay. Quá trình này được mô tả như sau:
| (1) | |||||||||||
| Người mua | Người bán | ||||||||||
| (2) | |||||||||||
| (5) | (3) | ||||||||||
| NHTM | |||||||||||
| (4) | |||||||||||

Sơ đồ 1.1 Quy trình cho vay tiêu dùng gián tiếp
Trong đó:
- Người mua trả trước 20-30% giá trị của tài sản
- Người bán giao tài sản cho người mua đồng thời giữ lại quyền sở hữu tài sản
- Người bán giao quyền sở hữu cho ngân hàng làm thế chấp và phiếu
bán hàng
- Ngân hàng trả phần tiền còn thiếu cho người bán
- Người mua trả góp cho ngân hàng theo mức và kỳ hạn được xác
định trước
Cách 2: Được thực hiện tương tự theo cách 1 về thời hạn và mức trả dần nhưng khác ở một số điểm là: người bán giao tài sản và giao sở hữu, người bán và người mua thực hiện hành vi mua bán chịu tài sản nên xuất hiện kỳ phiếu, ngân hàng chiết khấu kỳ phiếu cho người bán. Quá trình này được thực hiện như sau:

(1)
| Người mua | Người bán |
(4)
- (5)
NHTM
(3)
Sơ đồ 1.2 Quy trình cho vay tiêu dùng gián tiếp
Trong đó:
- Người mua chịu hàng hoá và xuất kỳ phiếu cho người bán
- Người mua ký quỹ 20-30% giá trị tài sản và cam kết thế chấp tài sản
- Ngân hàng chiết khấu kỳ phiếu từ người bán
- Người bán giao tài sản và quyền sở hữu cho người mua
- Người mua tiến hành trả góp cho ngân hàng theo mức và kỳ hạn được xác định trước
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
- Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng
- Ngân hàng tiết giảm được chi phí trong cho vay, như: giảm chi phí tiếp thị, quảng bá thương hiệu, tiết kiệm các chi phí tìm kiếm khách hàng…
- Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và phát triển các sản phẩm khác của ngân hàng
- Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, cho vay tiêu dùng gián tiếp an toàn hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp.
Bên cạnh một số ưu điểm trên, cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số nhược điểm sau:
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng (bên vay) mà
thông qua doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá, dịch vụ. Ngân hàng không kiểm soát trực tiếp khách hàng do vậy các khoản vay này có mức độ rủi ro cao hơn so với các khoản vay trực tiếp.
- Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao. Do những nhược điểm kể trên nên có nhiều ngân hàng rất thận trọng với
cho vay tiêu dùng gián tiếp. Các ngân hàng khi tham gia vào hoạt động này đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ.
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản
cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng
vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người vay. Cho vay tiêu dùng trực tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau:

(3)
| Ngân hàng | Doanh nghiệp bán lẻ |
| (5) | (4) | (2) | ||||
| (1) | ||||||
| Người tiêu dùng | ||||||
Sơ đồ 1.3 Quy trình cho vay tiêu dùng trực tiếp
- Ngân hàng và người tiêu dùng ký hợp đồng tín dụng
- Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua hàng cho doanh nghiệp bán lẻ
- Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho doanh nghiệp bán lẻ.
- Doanh nghiệp bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
- Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho ngân hàng.
Trong cho vay tiêu dùng trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng. Những người này thường được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho nên các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ. Ngoài ra, trong hoạt động của mình nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của công ty bán lẻ thường chú trọng đến việc bán được nhiều hàng. Bên cạnh đó, tại các điểm bán hàng, các quyết định tín dụng thường được cấp ra một cách không chính đáng. Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có thể từ chối cấp tín dụng đối với
khách hàng tốt của mình. Nếu người cấp tín dụng là ngân hàng, điều này có thể được hạn chế.
Các phương thức cho vay tiêu dùng trực tiếp:
Tín dụng trả theo định kỳ: là phương thức trong đó khách hàng vay và trả trực tiếp cho ngân hàng với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được quy định khi cho vay.
Thấu chi: là nghiệp vụ cho phép một cá nhân rút tiền từ tài khoản vãng lai của người đó vượt số dư có, tới một hạn mức đã được thoả thuận.
Thẻ tín dụng: là nghiệp vụ tín dụng trong đó ngân hàng phát hành thẻ cho những người có tài khoản tại ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mức giới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng
1.2. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY TIÊU DÙNG
1.2.1 . Phân tích mục tiêu và biện pháp thực hiện mục tiêu trong cho vay tiêu dùng
a. Phân tích mục tiêu cho vay tiêu dùng
Trong hoạt động kinh doanh, ngân hàng có nhiều mục tiêu để hướng tới. Tuy nhiên, tùy theo định hướng từng thời kỳ mà ngân hàng lựa chọn mục tiêu nào là trọng tâm, các mục tiêu khác chỉ bổ sung, duy trì. Các mục tiêu có thể là:
a1. Gia tăng quy mô cho vay
Gia tăng quy mô cho vay biểu hiện dưới hình thức là gia tăng dư nợ, số lượng khách hàng, tỷ trọng cho vay tiêu dùng, gia tăng thị phần. Qui mô cho vay tiêu dùng càng tăng phản ánh ngân hàng ngày càng mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng và đây cũng là mục tiêu hoạt động của NHTM.
a2. Chiếm lĩnh thị phần
Chiếm lĩnh thị phần là điều mà tất cả các ngân hàng đều mong muốn và
luôn luôn hướng tới. Việc gia tăng thị phần CVTD gắn liền với việc tìm kiếm khách hàng mới, mở rộng thị trường, thu hút khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Ngân hàng có thị phần tăng qua các năm phản ánh mở rộng qui mô cho vay và làm tăng lợi thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
a3. Nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay
Trong lĩnh vực ngân hàng, chất lượng dịch vụ cho vay được thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất là chìa khoá của sự thành công trong cạnh tranh.
Khách hàng rất hài lòng và sẽ giới thiệu cho ngân hàng thêm những khách hàng mới nếu họ được phục vụ tận tình, chu đáo, nhanh chóng và chất lượng ngay từ khi bước chân đến ngân hàng. Chất lượng dịch vụ tốt mang đến hiệu quả thành công lớn cho ngân hàng. Ngược lại, nếu chất lượng dịch vụ kém, không những khả năng tiếp cận khách hàng mới không cao mà lượng khách hàng hiện hữu cũng sẽ dần tìm đến những ngân hàng có chất lượng dịch vụ tốt hơn.
a4. Kiểm soát rủi ro hoạt động cho vay tiêu dùng
Kiểm soát rủi ro tín dụng là ngân hàng sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và những quá trình nhằm chủ động điều khiển, biến đổi rủi ro tín dụng bằng cách kiểm soát tần suất, mức độ rủi ro.
Trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thì luôn tiềm ẩn rủi ro. Do đó, Ngân hàng phải kiểm soát rủi ro nhằm giảm thiểu những rủi ro trước khi rủi ro xảy ra, đảm bảo an toàn vốn và gia tăng lợi nhuận.
a5. Tăng trưởng thu nhập từ cho vay tiêu dùng
Một trong những mục tiêu cuối cùng của NHTM chính là mục tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay nói chung cũng như thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng nhằm góp phần đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
b. Phân tích các biện pháp thực hiện mục tiêu
Để thực hiện các mục tiêu đã đề ra như: gia tăng quy mô cho vay, chiếm lĩnh thị phần, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay, tăng trưởng thu nhập từ cho vay tiêu dùng, ngân hàng thông thường cần phải tiến hành tổng hợp các biện pháp. Cụ thể là xây dựng chính sách marketing hỗn hợp. Chính sách marketing hỗn hợp bao gồm các chính sách bộ phận cơ bản: chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách khuếch trương, chính sách con người, cơ sở vật chất, qui trình dịch vụ. Các chính sách này có sự liên hệ, bổ sung cho nhau. Ngoài ra, để bảo đảm mục tiêu kiểm soát rủi ro hoạt động cho vay tiêu dùng, ngân hàng tiến hành thêm biện pháp kiểm soát rủi ro.
b1. Chính sách sản phẩm
Sản phẩm ngân hàng là toàn bộ tiện ích do ngân hàng tạo ra để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về dịch vụ tài chính. Nội dung của chính sách sản phẩm là ngân hàng cần phải xác định được những sản phẩm để thõa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu. Bên cạnh đó, cung cấp những sản phẩm mới, hoàn thiện hơn những sản phẩm đang có để đáp ứng sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng.
b2. Chính sách giá
Chính sách giá đòi hỏi ngân hàng phải xác định được lãi suất cho vay cũng như những mức phí mà ngân hàng phải trả cho ngân hàng khi sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Yêu cầu khi ngân hàng xây dựng chính sách giá là phải nâng cao được sức cạnh tranh, giữ vững được mối quan hệ với khách hàng truyền thống, thu hút khách hàng mới và đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng.
b3. Chính sách phân phối
Nội dung của chính sách kênh phân phối yêu cầu ngân hàng xây dựng hệ thống kênh phân phối phù hợp để cung cấp sản phẩm của mình tới đối tượng khách hàng mục tiêu. Để cung cấp sản phẩm ngân hàng cho khách hàng, ngân
hàng có thể thông qua các kênh phân phối truyền thống (được thực hiện bởi giao dịch trực tiếp giữa nhân viên ngân hàng với khách hàng thông qua chi nhánh, điểm giao dịch, các nhân viên phục vụ tại nhà khách hàng) hoặc qua các kênh phân phối hiện đại (các thiết bị kỹ thuật điện tử)
b4. Chính sách khuếch trương
Ngân hàng thực hiện các hoạt động nhằm thông tin, thông báo tới cho khách hàng và các giới liên quan về ngân hàng hay các sản phẩm của ngân hàng, hoặc là những hoạt động nhằm cổ động, kích thích quá trình trong đổi sản phẩm giữa ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng thực hiện thông qua các phương thức sau: quảng cáo, giao dịch trực tiếp, tuyên truyền, hoạt động khuyến mãi, hoạt động tài trợ.
b5. Chính sách con người
Nhân tố con người chiếm vai trò chủ đạo trong kinh doanh dịch vụ, nhất là kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng. Các yêu cầu đặt ra đó là xây dựng chính sách đãi ngộ, đánh giá và khen thưởng, đào tạo đội ngũ nhân viên Vietinbank nhiệt huyết, chuyên nghiệp trong công việc.
b6. Cở sở vật chất
Là toàn bộ thiết kế vật chất của ngân hàng phục vụ cho quá trình kinh doanh như trụ sở, thiết kế các phòng làm việc, bãi đỗ xe, đội ngũ nhân viên phục vụ, đội ngũ nhân viên giao tiếp, trang phục, cách thức phục vụ…
b7. Quy trình dịch vụ
Dịch vụ ngân hàng được đánh giá cao khi các khâu được chuẩn hóa và giải quyết nhanh chóng, hiệu quả. Do vậy, cần cải tiến và rút ngắn các quy trình nhằm tạo ra sự tiện lợi hơn cho khách hàng.
b8. Kiểm soát rủi ro
Để tạo được hành lang an toàn trong công tác tín dụng, các yêu cầu được đề ra đó là cán bộ chấp hành đúng quy trình nghiệp vụ trước, trong và sau khi
cho vay, nâng cao tính kỷ luật, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp.
- Trước khi cho vay : kiểm tra sự đầy đủ, tính trung thực, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ do khách hàng, bên bảo đảm cung cấp, đối chiếu với các nguồn thông tin khác thu thập được…
- Trong khi cho vay: kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của các chứng từ
khách hàng cung cấp chứng minh mục đích sử dụng tiền vay để giải ngân theo qui định cho vay.
- Sau khi cho vay: Kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, tình hình hoạt động kinh doanh, tài chính của khách hàng và tài sản bảo đảm.
1.2.2 . Các tiêu chí phân tích kết quả cho vay tiêu dùng
Để đánh giá được kết quả thực hiện các mục tiêu và biện pháp đã đề ra, ngân hàng áp dụng các tiêu chí đánh giá như sau:
a. Quy mô cho vay tiêu dùng
a1. Dư nợ cho vay tiêu dùng
Dư nợ CVTD phản ánh số tiền mà khách hàng đang nợ ngân hàng tại một thời điểm nhất định. Chỉ tiêu này cho thấy khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng cũng như khả năng cạnh tranh thu hút khách hàng của ngân hàng.
Tốc độ tăng/giảm dư nợ cho vay CVTD: thể hiện sự biến động tăng hoặc giảm của dư nợ cho vay CVTD qua các thời kỳ…nó phản ánh được quy mô và xu hướng tín dụng CVTD tăng trưởng hay thu hẹp trong một thời kỳ nhất định thường là một năm
| Tốc độ tăng/ | Dư nợ CVTD kỳ sau – Dư nợ CVTD kỳ trước | |
| giảm dư nợ = | x 100% | |
| CVTD | Dư nợ CVTD kỳ trước |
a2. Số lượng khách hàng vay tiêu dùng
Số lượng khách hàng là tổng số khách hàng đến giao dịch tại ngân hàng trong một thời kỳ nhất định. Trong cho vay tiêu dùng, số lượng khách hàng
được thể hiện thông qua số khoản vay tiêu dùng mà ngân hàng cấp cho khách hàng. Chỉ tiêu tăng trưởng số lượng khách hàng cho biết sự tăng trưởng về số lượng khách hàng đến giao dịch vay tiêu dùng tại ngân hàng qua từng năm.
Mức tăng (giảm) số = Số lượng khách – Số lượng khách lượng khách hàng hàng năm t hàng năm (t-1)
Số lượng khách hàng vay tăng là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá mức độ hoạt động cho vay, nó thể hiện số lượng khách hàng tiếp cận được nguồn vốn vay của Ngân hàng, số lượng khách hàng đến với Ngân hàng ngày càng tăng chứng tỏ hoạt động của Ngân hàng ngày càng được mở rộng, uy tín và chất lượng phục vụ của Ngân hàng ngày càng một nâng cao.
a3. Dư nợ bình quân trên một khách hàng
Dư nợ bình quân trên một khách hàng CVTD là dư nợ CVTD của ngân hàng tại một thời điểm cụ thể chia cho số lượng khách hàng CVTD hiện đang vay vốn tại thời điểm đó.
Chỉ tiêu này thể hiện tốc độ tăng /giảm dư nợ bình quân trên một khách hàng kỳ sau tăng hay giảm so với kỳ trước. Đây là chỉ tiêu được các NHTM lựa chọn để đánh giá chi tiết, chuẩn xác đối với hoạt động mở rộng CVTD.
| Tốc độ | = | Dư nợ bình quân CVTD /KH kỳ sau | – 1 x 100% | ||
| tăng/giảm dư | |||||
| Dư nợ bình quân CVTD /KH kỳ trước | |||||
| nợ bình quân | |||||
CVTD/KH
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng của ngân hàng trong việc phát triển các quan hệ với khách hàng. Từ đó, định hướng cơ cấu khách hàng hợp lý, hoàn thiện các chính sách và cơ chế nhằm tối đa hóa quy mô cấp tín dụng với một khách hàng xác định.
a4. Tỷ trọng cho vay tiêu dung
Tỷ trọng dư nợ CVTD : Thông qua chỉ tiêu này có thể biết được dư nợ
CVTD chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.
| Tỷ trọng dư nợ | = | Dư nợ CVTD | x 100% |
| CVTD | |||
| Tổng dư nợ cho vay | |||
Tỷ trọng này càng cao chứng tỏ hoạt động mở rộng cho vay CVTD của ngân hàng càng phát triển. Đây là một trong những chỉ tiêu cơ bản quan trọng trong việc đánh giá mức độ phát triển hoạt động mở rộng CVTD của NHTM. Tuy nhiên, tổng dư nợ cao chưa hẳn đã phản ảnh hiệu quả của tín dụng ngân hàng cao, vì đôi khi nó là biểu hiện cho sự tăng trưởng nóng của hoạt động tín dụng, vượt quá khả năng về vốn cũng như khả năng kiểm soát rủi ro của ngân hàng, hoặc mức dư nợ cao, hoặc tốc độ tăng trưởng nhanh do mức lãi suất cho vay của ngân hàng thấp hơn so với thị trường dẫn đến tỷ suất lợi nhuận giảm. Vì vậy, khi tìm hiểu về CVTD nếu ta chỉ chú ý đến dư nợ CVTD riêng mà không đặt trong mối tương quan với tổng dư nợ thì sự đánh giá đó sẽ không được chính xác.
b. Chất lượng dịch vụ cho vay
Tiêu chí chất lượng dịch vụ cho vay biểu hiện tập trung qua kết quả khảo sát, đánh giá, cảm nhận của khách hàng về chất lượng phục vụ, sự hài lòng của khách hàng đối với NHTM. Chỉ tiêu này được đo lường bằng các kênh khảo sát sự hài lòng của khách hàng về ngân hàng trong một khoảng thời gian cụ thể. Mỗi Ngân hàng cần có một bộ phận chăm sóc khách hàng hàng tháng sẽ tiến hành khảo sát sự hài lòng qua các kênh như khảo sát trực tiếp, khảo sát qua điện thoại hay email, khảo sát với số lượng khách hàng đông, đa dạng thì mới đánh giá cao khá chính xác về chất lượng phục vụ của ngân hàng thông qua tỷ lệ hài lòng cao hay thấp.
Chất lượng dịch vụ được đánh giá qua mức độ cảm nhận của khách hàng về các khía cạnh sau:
- Mức độ tin tưởng: Các tính năng liên quan đến quá trình cung cấp dịch
vụ đòi hỏi độ chính xác, ổn định, đáng tin cậy. Khi ngân hàng hứa làm điều gì đó trong thời gian cụ thể thì có thực hiện đúng như vậy không? Khi khách hàng gặp trở ngại, ngân hàng có thực sự quan tâm giải quyết vấn đề đó? Ngân hàng có cung cấp dịch vụ đúng thời gian đã cam kết và có chú trọng vào việc không để tạo ra lỗi trong cả quá trình làm việc không?
- Mức độ bảo đảm: Thể hiện ở kiến thức và tác phong của người cung cấp dịch vụ, cũng như khả năng gây lòng tin và sự tín nhiệm. Một số câu hỏi
đặt ra để khảo sát mức độ bảo đảm khi ngân hàng cung cấp dịch vụ như: Hành
- của nhân viên ngân hàng có khiến khách hàng tin tưởng không? Khách hàng có cảm thấy an toàn khi giao dịch với ngân hàng không? Nhân viên ngân hàng có lịch sự, niềm nở với khách hàng? Và một điều rất quan trọng đó là nhân viên ngân hàng có đủ kiến thức chuyên môn để trả lời các câu hỏi của khách hàng hay không?
- Yếu tố hữu hình: Thể hiện ở điều kiện vật chất, trang thiết bị hỗ trợ và hình thức bên ngoài của người cung cấp dịch vụ. Ngân hàng có được trang bị
hiện đại, được bố trí bắt mắt không? Trang phục của nhân viên ngân hàng trông có gọn gàng, trang nhã? Các tài liệu liên quan đến sản phẩm, chẳng hạn như tờ rơi và các bài giới thiệu có được thiết kế đẹp, dễ đọc, dễ hiểu và hấp dẫn không?
- Sự thấu hiểu: Thể hiện sự quan tâm, lưu ý của ngân hàng đến khách hàng. Ngân hàng có thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến cá nhân khách hàng không? Thời gian, địa điểm hoạt động của ngân hàng có thực sự thuận tiện cho khách hàng giao dịch không? Đối với những khách hàng quan trọng, đem
lại nhiều lợi ích, ngân hàng có dành sự ưu tiên đặc biệt nào hay sự ứng xử và tiếp đãi giống mọi khách hàng khác? Ngân hàng có thực sự quan tâm đến lợi ích, tìm hiểu nhu cầu cụ thể của khách hàng không?
– Khả năng đáp ứng: Phản ánh sự sẵn lòng giúp đỡ khách hàng và cung
cấp dịch vụ mau chóng. Khách hàng có được biết chính xác khi nào dịch vụ được thực hiện không? Ngân hàng có thực hiện dịch vụ một cách nhanh chóng không?
Các yếu tố đánh giá trên bao trùm toàn bộ các khâu liên quan đến quá trình cung cấp dịch vụ. Có yếu tố thể hiện trình độ chuyên môn của nhân viên ngân hàng, có yếu tố phụ thuộc vào kỹ năng, thái độ phục vụ cũng như tác phong lịch sự của người cung cấp dịch vụ, nhưng cũng có nhiều yếu tố không liên quan đến người trực tiếp cung cấp dịch vụ như cách bài trí nơi giao dịch, công nghệ ngân hàng sử dụng, quy trình cung cấp sản phẩm và bản thân sản phẩm,… Điều này nói lên một sự thật rằng, chất lượng dịch vụ ngân hàng phụ thuộc vào nhiều khâu, liên quan đến nhiều người ở các vị trí công việc khác nhau. Tất cả các yếu tố đó tổng hợp lại không nằm ngoài mục đích nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu, sự kỳ vọng của khách hàng.
- Kiểm soát rủi ro hoạt động cho vay tiêu dùng Ngân hàng sử dụng các tiêu chí đánh giá như:
- Tỷ lệ nợ xấu CVTD: Đây là tiêu chí phản ánh chung tỷ lệ của toàn bộ
các khoản nợ xấu của ngân hàng so với tổng dư nợ. Tỷ lệ nợ xấu cao thể hiện rủi ro tín dụng tại ngân hàng cao, qua đó thấy được công tác quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng chưa thật sự hiệu quả và ngược lại
- Tỷ lệ trích lập dự phòng: Đây là tỷ lệ giữa số dư có của tài khoản dự
phòng rủi ro tín dụng chia cho tổng dư nợ cuối kỳ. Khi tỷ lệ này có xu hướng ngày càng tăng qua các năm, thì điều đó chứng tỏ ngân hàng đang đối mặt với rủi ro tín dụng ngày càng cao và ngược lại.
- Tỷ lệ xóa nợ ròng: Đây là tiêu chí đánh giá khả năng thu nợ từ các khoản đã chuyển ra ngoại bảng và đang được các ngân hàng sử dụng biện pháp mạnh để thu hồi nợ
Xóa nợ ròng = dư nợ các khoản vay đã xóa nợ vì rủi ro – giá trị các
khoản thu bù đắp thiệt hại
Khoản xóa nợ ròng là mức tổn thất thật sự, phản ánh mức rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Do vậy, để đánh giá chính xác hơn về mức độ rủi ro, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ xóa nợ ròng/tổng dư nợ. Nếu tỷ lệ này cao cho thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng bị tổn thất lớn, danh mục cho vay có chất lượng thấp, hoạt động kinh doanh không hiệu quả và nguy cơ phá sản cao
d. Thu nhập từ cho vay tiêu dùng
Kết quả cuối cùng của việc mở rộng cho vay KHCN của một ngân hàng là thu nhập của nó mang đến. Thu nhập cao thể hiện công tác mở rộng hiệu
| quả và ngược lại, chỉ tiêu được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu sau: | ||
| TN CVTD kỳ sau – TN CVTD kỳ trước | ||
| Thu nhập từ CVTD = | x 100% | |
TN CVTD kỳ trước
Thu nhập từ hoạt động CVTD càng lớn cũng một phần thể hiện hoạt động cho vay tiêu dùng đang ngày càng được mở rộng
1.2.3 . Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng
a. Nhân tố từ phía ngân hàng
a1. Mục tiêu phát triển, triển khai tín dụng của ngân hàng
Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng. Chính sách tín dụng phải linh hoạt, phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế trong từng thời kỳ, đảm bảo khả năng sinh lời, phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Để thành công trong công tác cho vay tiêu dùng thì nhà quản trị Ngân hàng phải coi đây là mục tiêu chiến lược của mình để xây dựng các chính sách tín dụng riêng cho lĩnh vực này, mục tiêu phải rõ ràng và cụ thể, có giới hạn thời gian để đánh giá kết quả thực hiện. Các Chính sách tín dụng phải thông thoáng, linh hoạt, hiệu quả và phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế
trong từng thời kỳ để thu hút những khoản vay an toàn nhằm mở rộng quy mô cho vay, gia tăng thu nhập từ các khoản vay nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, các nhà quản trị phải có những chính sách chiến lược trong từng giai đoạn, lộ trình cụ thể (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) để phân bổ nguồn lực, vốn, … một cách hợp lý nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Bên cạnh đó, Ngân hàng cần phải có một chính sách tín dụng cụ thể đối với việc phát triển cho vay tiêu dùng. Thông thường chính sách tín dụng có các khoản mục sau: hạn mức tín dụng, các loại hình cho vay mà ngân hàng thực hiện, quy định về TSBĐ, kỳ hạn của các khoản tín dụng, hướng giải quyết phần tín dụng vượt quá hạn mức cho vay, cách thức thanh toán nợ, … Chính sách tín dụng vạch ra cho các CBTD hướng đi và khung tham chiếu rõ ràng về những căn cứ để xem xét các nhu cầu vay vốn. Vì vậy, những nhân tố trong chính sách tín dụng đều tác động một cách mạnh mẽ tới hoạt động cho vay tiêu dùng.
a2. Chất lượng và tính đa dạng hóa sản phẩm cho vay tiêu dùng
Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các NHTM không ngừng nâng cao chất lượng và thực hiện đa dạng hóa sản phẩm củng cố và mở rộng thị phần, duy trì khả năng cạnh tranh. Một ngân hàng cung cấp cho khách hàng những sản phẩm cho vay tiêu dùng đơn điệu, chất lượng không cao, đáp ứng chưa tốt nhu cầu khách hàng thì ngân hàng đó ít có khả năng phát triển mạnh, quy mô hoạt động rộng lớn trong lĩnh vực này. Với mỗi đối tượng khách hàng thì ngân hàng phải có nhóm sản phẩm phù hợp. Bên cạnh đó, ngân hàng phải giới thiệu, quảng bá và xây dựng hình ảnh cũng như các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thật hữu hiệu và có những chính sách linh hoạt.
a3. Quy trình thực hiện cấp tín dụng
Quy trình tín dụng là những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến
hành trong suốt quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Nó được bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình cho vay cho đến khi thu hồi nợ. Khi một NHTM có quy trình nghiệp vụ tín dụng khoa học, chặt chẽ và thuận lợi cho cả khách hàng cũng như NHTM thì có thể thu hút được nhiều số lượng khách hàng đến với ngân hàng. Điều này làm sự mở rộng tín dụng cá nhân của NHTM tăng lên về mặt số lượng cũng như là chất lượng tín dụng của mỗi khoản vay của khách hàng
a4. Nguồn lực của ngân hàng
Một ngân hàng muốn hoạt động kinh doanh tốt trước hết phải có đội ngũ lãnh đạo và những người quản lý có năng lực, năng động, sáng tạo trong kinh doanh, có phẩm chất đạo đức tốt, có tâm huyết với nghề. Ngoài ra, còn phải có cán bộ am hiểu nghiệp vụ, kỹ năng trong giao tiếp ứng xử và phải thực sự là người bạn đồng hành của khách hàng.
Một ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng có trình độ chuyên môn cao, chuyên nghiệp thì họ sẽ thực hiện nhanh chóng, chính xác nghiệp vụ của mình như: thẩm định phương án, tư vấn khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm để đồng vốn vay sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền vay và có các biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi nợ vay, hay xử lý các tình huống phát sinh trong quan hệ cho vay của ngân hàng giúp ngân hàng có thể ngăn ngừa, hoặc giảm nhẹ thiệt hại khi những rủi ro xảy ra trong khi thực hiện một khoản cho vay. Ngược lại, chất lượng con người không tốt sẽ làm cho hoạt động ngân hàng bị trì trệ, chậm phát triển. Nền kinh tế càng phát triển, các quan hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi năng lực và phẩm chất của người lao động càng cao. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết đối với các NHTM trong giai đoạn hiện nay.
a5. Cơ sở vật chất, công nghệ
- Cơ sở vật chất: Trang thiết bị đầy đủ và hiện đại giúp cho ngân hàng có thể phục vụ tốt các nhu cầu của khách hàng về các nghiệp vụ thực hiện
cũng như các dịch vụ bổ trợ, tạo lòng tin, sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng và do đó thu hút khách hàng đến giao dịch với ngân hàng.
- Công nghệ: Ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, các tiện ích, tốc độ xử lý thông tin và đưa ra các quyết
định phù hợp với khách hàng, luôn đảm bảo thành công trong công việc tín dụng. Công nghệ đóng vai trò sống còn đối với các ngân hàng. Trong xu thế ngày nay không thể nào tồn tại một ngân hàng với công nghệ lạc hậu. Công nghệ hiện đại là cơ sở để các ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay nói chung cũng như hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng.
a6. Mạng lưới của các ngân hàng
Với sự phát triển của nền kinh tế, người dân ngày càng có nhu cầu đi lại, trao đổi và sử dụng dịch vụ tài chính ở khắp nơi. Vì thế, mạng lưới hoạt động là một phần trong chiến lược phân phối, nó góp phần tích cực vào việc mở rộng hoạt động của Ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng. Phát triển mạng lưới hoạt động rộng khắp sẽ giúp Ngân hàng thu hút được nhiều hơn mọi đối tượng khách hàng; từ đó huy động được nguồn vốn lớn từ các tổ chức kinh tế, xã hội và dân cư trên địa bàn đồng thời, cung cấp các dịch vụ, tiện ích cho các đối tượng có nhu cầu một cách nhanh chóng, qua đó giảm chi phí giao dịch, đẩy nhanh tốc độ sử dụng sản phẩm của khách hàng.
b. Nhân tố từ phía khách hàng
Khách hàng có tư cách đạo đức tốt, có khả năng tài chính vững chắc, có thu nhập ổn định, có tài sản bảo đảm chắc chắn … sẽ đảm bảo trả nợ đầy đủ cho ngân hàng giúp cho ngân hàng có được chất lượng nợ tốt, nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay tiêu dùng.
Vấn đề tiếp đến là khả năng hiểu biết về thủ tục giao dịch của ngân hàng. Khách hàng hiểu biết rõ về các thủ tục giao dịch của ngân hàng, họ dễ dàng tiếp cận các hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là vay vốn, đồng thời ngân hàng có khả năng mở rộng hoạt động cho vay. Ngược lại, nếu khách hàng không hiểu biết về thủ tục giao dịch của ngân hàng, họ sẽ ngại làm các thủ tục giao dịch của ngân hàng, từ đó ngân hàng gặp khó khăn trong mở rộng cho vay.
- Nhân tố từ môi trường kinh doanh c1. Đối thủ cạnh tranh
Với một nền kinh tế cạnh tranh diễn ra hết sức gay gắt như hiện nay nhất
là đối với các NHTM. Các đối thủ cạnh tranh thường xuyên đưa ra những sản phẩm mới, chính sách tín dụng mới … để lôi kéo khách hàng, giành giật thị trường. Do vậy, ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu thị trường, tìm hiểu thông tin về đối thủ và thị trường để đưa ra những ứng xử tín dụng kịp thời.
Để ngân hàng có thể quản trị tốt thị trường, khách hàng và mục tiêu kinh doanh của ngân hàng, ngân hàng cần xác định được đối thủ cạnh tranh của mình một cách cụ thể và chính xác. Không chỉ phân tích thị trường và khách hàng một cách cẩn thận mà còn phải bao gồm cả phân tích chi tiết các đối thủ cạnh tranh.
Mặt khác, cần phải đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng sản phẩm dịch vụ hơn so với các đối thủ trên địa bàn.
Bên cạnh đó, sức ép từ phía khách hàng luôn có mong muốn được vay vốn với lãi suất thấp. Do đó, các đối thủ thường đưa ra các chương trình tín dụng ưu đã hấp dẫn để hỗ trợ khách hàng. Vì thế, cần phải có một bộ phận chuyên trách để nghiên cứu thị trường thường xuyên, liên tục để nghiên cứu, nắm bắt những chính sách của đối thủ để đưa ra các chính sách tín dụng kịp thời.
c2. Môi trường kinh tế- xã hội
- Môi trường kinh tế:
Ngân hàng là trung gian tài chính quan trọng làm cầu nối giữa các Chủ thể
trong nền kinh tế. Do đó, bất cứ biến động của nền kinh tế đều ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của các NHTM, trong đó bao gồm cả lĩnh vực cho vay tiêu dùng.
Trong giai đoạn kinh tế phát triển ổn định tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, kinh doanh tốt. Kéo theo đó là thu nhập của người lao động được tăng lên thì nhu cầu vay vốn có xu hướng cũng tăng theo để đáp ứng nhu cầu đáp ứng nhu cầu chi tiêu để tăng hưởng thụ đời sống.
Ngược lại, một nền kinh tế suy thoái, không ổn định kém phát triển sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp, khi đó họ sẽ có chỉ duy trì hoạt động SXKD, họ có xu hướng không mạo hiểm để đầu tư mở rộng khi đó các khoản thu nhập của người lao động cũng bị giảm theo dẫn đến họ sẽ thắt chặt chi tiêu hơn và nhu cầu tín dụng của người dân cũng sẽ giảm làm cho quy mô tín dụng của NHTM bị thu hẹp.
- Môi trường văn hóa – xã hội
Có rất nhiều yếu tố thuộc môi trường văn hóa – xã hội đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM như: thói quen tiêu dùng của người dân, tập quán sinh hoạt, tâm lý, trình độ, an ninh – quốc phòng … Trong đó, thói quen và tâm lý tiêu dùng của người dân là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động mở rộng cho vay tiêu dùng. Nếu họ chỉ có thói quen tiêu dùng những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống thì công tác mở rộng cho vay tiêu dùng sẽ không hiệu quả. Hay, nếu người dân cứ duy trì tâm lý và thói quen tiết kiệm, tích lũy và cất giữ những khoản thu nhập họ có được mà không tiêu dùng để thụ hưởng nâng cao chất lượng cuộc sống như mua nhà ở, đất ở, đi du lịch, mua xe ô tô … thì NHTM cũng không có cơ hội để mở rộng cho vay tiêu dùng.
- một số nơi, người dân thường có xu hướng lao động cật lực khi còn trẻ và sống tiết kiệm để đến khi nhiều tuổi cảm thấy có đủ điều kiện họ mới hướng đến việc hưởng thụ thành quả lao động và cải thiện tiện nghi cuộc sống. Do đó, việc vay mượn để mua sắm hay đi du lịch, giải trí… nhất là vay từ ngân hàng là điều họ không muốn hay không quen làm. Thói quen chi tiêu
bằng tiền mặt, đặc biệt là ở một số nước đang phát triển như Việt Nam cũng hạn chế việc cho vay qua phát hành thẻ tín dụng. Tất nhiên, phần nhiều do trình độ phát triển của nền kinh tế, nhưng một phần cũng do người dân không muốn thay đổi thói quen của mình, ngoài ra còn do yếu tố tâm lý và trình độ dân trí. Những người có học vấn và thu nhập cao thường có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng tháng của mình, mục đích là để đạt được mức sống như mong muốn. Ngoài ra ở một số nước xu hướng đô thị hoá, di dân từ nông thôn ra thành thị làm cho dân số thành thị ngày càng gia tăng. Đây là một điều kiện tốt cho các ngân hàng mở rộng loại hình dịch vụ này.
c3. Môi trường pháp lý
Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự điều chỉnh của rất nhiều quy định pháp luật và văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các Bộ Ban Ngành, hệ thống văn bản nội bộ của từng ngân hàng …. Một Ngân
hàng không có quy chế, quy định cho vay rõ ràng, chặt chẽ và thông thoáng thì nó sẽ kìm chế sự mở rộng hoạt động cho vay của NHTM nói chung cũng như hoạt động mở rộng cho vay tiêu dùng nói riêng. Khi đó, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi lích của Ngân hàng lẫn khách hàng, nhất là khi có tranh chấp pháp luật xảy ra. Ngược lại, một môi trường với hệ thống văn bản, quy trình, quy định đồng bộ, thông suốt, một hành lang pháp lý rõ ràng là cơ sở rất quan trọng để hoạt động mở rộng cho vay tiêu dùng phát triển.
Mặt khác, khi có sự thay đổi những chủ trương, chính sách về tài chính – tiền tệ để bình ổn nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động SXKD cũng như việc làm của các chủ thể trong nền kinh tế khi đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tín dụng tiêu dùng của NHTM cũng như chất lượng nợ.
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp lý của Việt Nam chưa đồng bộ, còn nhiều chống chéo lẫn nhau gây khó khăn cho ngân hàng trong việc ký kế hợp đồng bảo đảm, hợp đồng tín dụng, văn bản đăng ký giao dịch bảo đảm … nên dễ bị kẻ gian trục lợi. Điều này ảnh hưởng đến việc phát triển tín dụng và quản lý chất lượng dư nợ của ngân hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đề cập đến cơ sở lý luận về phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng. Thông qua việc tìm hiểu mục tiêu và biện pháp thực hiện mục tiêu trong cho vay tiêu dùng, các tiêu chí phân tích kết quả CVTD, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động CVTD. Đây là tiền đề quan trọng để đi sâu vào việc phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP VN – Chi nhánh Ngũ Hành Sơn ở chương 2.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1\HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG/ 2015-CVTD tại vietin CN Ngũ Hành Sơn
Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương VN Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương VN Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương VN Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương VN Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương VN Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương VN Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương VN


