Hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, góp phần đáng kể vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi quốc gia và giải quyết các vấn đề của xã hội. Do đó, để tiếp tục phát triển mạnh mẽ và mở rộng quy mô, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nguồn vốn dồi dào và ổn định. Hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, với vai trò là nguồn lực, là cầu nối trung gian giữa nơi thừa vốn và nơi thiếu vốn, giải quyết được nhu cầu vốn vay cho doanh nghiệp đã đóng góp một phần to lớn vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là một trong những ngân hàng TMCP uy tín, có chỗ đứng vững chắc có quy mô rộng lớn với mạng lưới chi nhánh và các phòng giao dịch trên khắp cả nước. Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp luôn là một sản phẩm chiến lược của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, đây là hoạt động vừa mang lại nguồn thu, lợi nhuận cho ngân hàng nhưng cũng đồng thời là hoạt động có nhiều tiềm ẩn rủi ro.
Trong 2 năm trở lại đây, dịch bệnh Covid-19 đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp đã gánh chịu nhiều tổn thất nặng nề từ dịch bệnh, hàng loạt doanh nghiệp phải đóng cửa, tình trạng sản xuất kinh doanh trì trệ, nặng nề hơn là phá sản. Trước tình hình đó, cùng với sự đổi mới và phát triển tất yếu của thị trường cho vay ngắn hạn, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng đã và đang có những chiến lược phát triển mạnh mẽ trong hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp, đưa ra các chính sách hỗ trợ cho vay doanh nghiệp, các gói cấp tín dụng quy mô lớn với lãi suất ưu đãi để giúp phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam nói chung cũng như Đà Nẵng nói riêng. Đến ngày 31/12/2020, tổng dư nợ cho vay đạt 5.164 tỷ đồng, tăng 724 tỷ đồng (tương đương 16%) so với cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ khối KHDN tăng 212 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN giảm 4%, chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong mức tăng dư nợ toàn Chi nhánh. Trong khi đó, số lượng DN tại thành phố Đà Nẵng tính đến hết năm 2020 hơn 4000 DN với số vốn đăng ký khoảng hơn 22.000 tỷ đồng, tuy nhiên theo báo cáo của thành phố, hiện chỉ mới 40% DN tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng, 60% DN còn lại sử dụng vốn tự có hoặc vay từ nguồn khác. So với tiềm năng phát triển thì nhu cầu vay vốn ngắn hạn để đáp ứng cho hoạt động kinh doanh thì vẫn chưa được đáp ứng tương xứng, vẫn còn tồn tại những điểm bất cập, cần tìm kiếm các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN. Mặt khác, trong những năm gần đây vẫn chưa có công trình nào về đề tài này được nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn hoạt động cho vay ngắn hạn KHDN của Chi nhánh trong thời gian đến, giúp Ngân hàng phát triển ổn định và bền vững hơn trong tương lai.
Nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tập trung vào ba nội dung chính sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN của các NHTM.
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
Đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
Từ mục tiêu chung và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết các câu hỏi như sau:
– Mục tiêu cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM là gì? Nội dung cho vay bao gồm các hoạt động gì? Các tiêu chí nào để đánh giá, phản ánh kết quả cho vay ngắn hạn đối với KHDN?
– Thực trạng cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng như thế nào? Có những thành công, những hạn chế gì?
– Để hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng cần phải làm gì trong thời gian tới?
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ tình hình thực tiễn liên quan đến hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
Đề tài sẽ tiến hành hoạt động thu thập, đánh giá thông tin, nắm rõ các quy trình, quy định quản lý cho vay, thẩm định rủi ro, các chính sách cho vay, các sản phẩm cho vay ngắn hạn đối với KHDN, quản lý khoản vay, thu hồi nợ vay và xử lý thu hồi vốn vay khi xảy ra rủi ro của khoản vay tại các bộ phận tại chi nhánh. Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu nhu cầu và khảo sát đánh giá về chất lượng dịch vụ của KHDN vay vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng. Ngoài ra, đề tài còn tham khảo thêm các văn bản pháp lý, các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến công tác cho vay ngắn hạn đối với KHDN.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Đề tài chỉ tập trung phân tích, đánh giá đến hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng. Từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động này tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
+ Phạm vi về không gian: Tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
+ Phạm vi về thời gian: Những vấn đề liên quan đến cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh trong khoảng thời gian từ năm 2018-2020, khuyến nghị định hướng đến năm 2025
– Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu từ các nguồn:
+ Số liệu thứ cấp: Từ các báo cáo tổng kết, báo cáo hoạt động kinh doanh, báo cáo tín dụng hàng năm của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng trong giai đoạn 2018-2020, báo cáo tài chính, kế hoạch kinh doanh của các năm kinh doanh và định hướng của Doanh nghiệp trong các năm tiếp theo.
+ Số liệu sơ cấp: Được thu thập từ phỏng vấn trực tiếp dưới dạng các câu hỏi, phiếu điều tra. Phỏng vấn lãnh đạo phụ trách tín dụng, các trưởng phó phòng KHDN, chuyên viên tín dụng lâu năm nhiều kinh nghiệm phụ trách mảng cho vay KHDN nhằm mục đích tìm hiểu thêm thông tin về hoạt động cho vay đối với KHDN, ví dụ cách tiếp cận khách hàng, cách thu thập hồ sơ, cách quản lý kiểm soát khách hàng sau khi cho vay,… Mục đích nhằm để tìm hiểu rõ hơn những thuận lợi và khó khăn trong thực tiễn hoạt động cho vay của chuyên viên tín dụng trực tiếp quản lý mà các tài liệu nghiên cứu không thể cung cấp, nắm bắt tình hình hoạt động của ngân hàng, KHDN vay vốn tại NHTM…
– Phương pháp tổng hợp, xử lý dữ liệu:
Từ các số liệu thống kê, tác giả thực hiện xử lý các dữ liệu cho phù hợp với những chỉ số cần phân tích. Sau đó tổng hợp thành các bảng số liệu từ tổng quan đến chi tiết.
– Phương pháp phân tích:
Dựa trên cơ sở số liệu các báo cáo, tác giả sẽ so sánh đối chiếu để đưa ra đánh giá, phân tích từng khía cạnh để từ đó có cái nhìn tổng quát, chi tiết về tình hình hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
Luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng
Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế
- Khái niệm
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh, có các hoạt động mua bán, trao đổi, giao dịch…Doanh nghiệp có tên riêng, có tài sản, có trụ sở hoạt động, phải được đăng ký theo quy định của pháp luật và được sự cho phép hoạt động thì doanh nghiệp mới có thể làm việc.
Mỗi loại hình doanh nghiệp mang những đặc điểm riêng nổi bật, tuy nhiên chúng đều có những đặc điểm chung sau đây: có tính hợp pháp, có hoạt động kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thường xuyên và có tính tổ chức.
- Vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế
Doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia, tạo việc làm cho lao động mới, sử dụng lực lượng lao động xã hội và đóng góp phần lớn GDP cho đất nước.
Doanh nghiệp hiện đang là khách hàng quan trọng, sử dụng nhiều loại dịch vụ ngân hàng khác nhau, đóng góp rất quan trọng trong sự tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của các NHTM. Các doanh nghiệp hoạt động đa dạng ở nhiều lĩnh vực ngành nghề, thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau giúp ngân hàng đa dạng hóa rủi ro khi cho vay. Bên cạnh đó, số lượng doanh nghiệp trong nền kinh tế rất lớn và có sự biến động mạnh qua các năm nên đây là nguồn khách hàng tiềm năng, góp phần giúp các NHTM tiếp cận để cho vay và quảng bá thương hiệu. Chính vì vậy, sự thành bại của một ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào việc ngân hàng đó có thu hút được đối tượng KHDN để cung cấp dịch vụ hay không, đặc biệt là dịch vụ tín dụng.
1.1.2. Cho vay của Ngân hàng thương mại
- Khái niệm:
Tín dụng là việc thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Trong đó, cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
- Nguyên tắc cho vay:
Hoạt động cho vay của Ngân hàng dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản:
+ Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả: Để đảm bảo sự hoàn trả cho Ngân hàng và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội thì khi cho vay, cần phải biết người vay sử dụng vào mục đích gì, có khả năng thu hồi nợ hay không, lợi nhuận tạo ra có đủ trang trải nợ gốc và lãi vay hay không, mức độ mạo hiểm như nào.
+ Vốn vay phải hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn và lãi: Nguyên tắc này thể hiện đầy đủ bản chất của tín dụng là sự hoàn trả trọn vẹn, đầy đủ về mặt giá trị, có thêm lợi tức theo công thức vận động của quỹ cho vay và đảm bảo tôn trọng quy luật lưu thông tiền tín dụng
+ Vốn vay phải có biện pháp bảo đảm: Khi ngân hàng cung ứng vốn cho nền kinh tế sẽ làm tăng sức mua và tăng tiền trong nền kinh tế, làm tăng lượng hàng hóa trên thị trường, hơn nữa, sự vận động của tín dụng luôn gắn liền với sự vận động của hàng hóa, gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nên cần thiết khi cho vay phải thực hiện đúng nguyên tắc này.
- Phân loại cho vay:
Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay
+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh. Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp.
+ Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Đối tượng chủ yếu vay tiêu dùng là các cá nhân vay để mua sắm tài sản phục vụ đời sống.
Phân loại theo thời hạn khoản vay
+ Vay ngắn hạn: Các khoản cho vay ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất, cá nhân.
+ Vay trung và dài hạn: Các khoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm thì được xếp vào danh mục khoản vay trung hạn và từ 5 năm trở nên là các khoản cho vay dài hạn. Các khoản này thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng dư nợ cho vay của các NHTM.
Phân loại theo hình thức bảo đảm
+ Cho vay bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc người thứ ba.
– Bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu hay sử dụng lâu dài của khách hàng (hoặc bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba):
Cho vay cầm cố: Đây là hình thức Ngân hàng cho khách hàng vay với điều kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho Ngân hàng trong thời gian cam kết.
Cho vay thế chấp: Trong hình thức cho vay này, người vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho Ngân hàng nắm giữ trong thời hạn đã cam kết.
– Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay:
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản đó không đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng làm vật đảm bảo.
+ Cho vay bảo đảm không bằng tài sản: Là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng tài sản của khách hàng vay hoặc người thứ ba.
Phân loại theo phương thức cho vay
+ Cho vay trực tiếp từng lần: Cho vay từng lần là hình thức cho vay mà mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay.
+ Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
+ Cho vay thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
+ Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng.
+ Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức nhất định.
+ Cho vay gián tiếp: Phần lớn các khoản cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó ngân hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian.
Phân loại theo đối tượng khách hàng
+ Cho vay khách hàng là các Doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
Đây là loại hình cho vay của các NHTM mà các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là đối tượng được phục vụ. Do đặc thù riêng có của đối tượng này mà các NHTM phải tổ chức các phòng tín dụng chuyên trách phục vụ.
Nhóm đối tượng còn lại là nhóm các khách hàng cá nhân (bao gồm cá nhân, hộ gia đình, chủ trang trại, tổ hợp tác…) được các NHTM áp dụng phương thức cho vay theo quy trình thủ tục của cho vay khách hàng cá nhân. Nhóm đối tượng này có số lượng rất lớn và có nhu cầu vay các khoản nhỏ lẻ.
1.1.3. Cho vay ngắn hạn đối với KHDN của NHTM:
- Khái niệm, vai trò cho vay ngắn hạn đối với KHDN
Khái niệm cho vay ngắn hạn đối với KHDN
Cho vay ngắn hạn là khoản cho vay có thời hạn được cấp đến một năm và được sử dụng để bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động về chi tiêu, mua nguyên vật liệu, trả lương hoặc các hợp đồng vay cụ thể trong ngắn hạn của các doanh nghiệp.
Vai trò cho vay ngắn hạn đối với KHDN:
+ Đối với Ngân hàng thương mại: Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN sẽ tăng khả năng quay vòng vốn tín dụng, qua đó mở rộng được các hình thức dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng như mở rộng quy mô vốn tín dụng, không những duy trì được mối quan hệ với những khách hàng truyền thống mà còn mở rộng, thu hút thêm những khách hàng mới, từ đó các NHTM mở rộng thị trường, nâng cao được lợi nhuận. Nâng cao chất lượng cho vay sẽ giảm được chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý và đặc biệt là giảm được thiệt hại do không thu hồi được khoản tín dụng, nhờ đó sẽ gia tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, gia tăng lợi nhuận cho các NHTM.
+ Đối với Doanh nghiệp: Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN giúp cung cấp tín dụng kịp thời, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để đảm bảo chất lượng tín dụng thì ngân hàng tiến hành việc kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn tín dụng của khách hàng qua đó cùng với khách hàng điều chỉnh kịp thời những thiếu sót trong hoạt động tài chính và kinh doanh của họ. Do vậy, hoạt động cho vay góp phần phát triển chất lượng sản xuất kinh doanh cũng như cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp.
+ Đối với nền kinh tế xã hội: Cho vay ngắn hạn đối với KHDN và nền kinh tế xã hội có mối quan hệ mật thiết hai chiều. Hoạt động cho vay ngắn hạn được bảo đảm và nâng cao là điều kiện cho ngân hàng làm tốt vai trò trung gian tín dụng – cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, trong nền kinh tế từ đó điều hòa nguồn vốn cho đầu tư ngắn hạn hợp lý, làm xã hội bớt được lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm được khó khăn cho những nơi thiếu vốn. Chất lượng cho vay ngắn hạn được nâng cao cũng sẽ tạo điều kiện để NHTM làm tốt vai trò trung tâm thanh toán của nền kinh tế thị trường. Hoạt động tín dụng còn góp phần giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, qua đó thúc đầy tăng trưởng kinh tế. Hoạt động cho vay ngắn hạn góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ tín dụng, giảm thiểu rồi đi đến xóa bỏ tình trạng cho vay nặng lãi, tín dụng đen đang rất phổ biến hiện nay gắn liền với những vấn đề xã hội phức tạp và nhức nhối.
Qua những phân tích trên ta thấy hoạt động cho vay ngắn hạn có ý nghĩa rất lớn đối với ngân hàng thì đó là vì sự tồn tại, phát triển, với khách hàng thì đó là khả năng mở rộng sản xuất, xét trên tầm vĩ mô thì đó là đảm bảo cho nền kinh tế xã hội luôn phát triển ổn định.
- Đặc điểm cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp:
Thứ nhất, thời hạn thu hồi vốn của cho vay ngắn hạn đối với KHDN thường nhanh, bằng với thời gian của một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vốn tín dụng ngắn hạn thường được sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng ngân quỹ, giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi trong ngắn hạn. Thông thường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang tính mùa vụ, sau đó thiếu hụt này sẽ được bù đắp hoặc sẽ sớm được thu lại dưới hình thức tiền tệ, vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh.
Thứ hai, rủi ro cho vay ngắn hạn đối với KHDN thông thường không cao. Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn, vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự biến động không thể lường trước của nền kinh tế như các khoản tín dụng trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức cầm cố các giấy tờ có giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh… đồng thời khoản vay thường được tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn sẽ có khoản thu bù đắp trong tương lai vì vậy rủi ro mang đến thường thấp.
Thứ ba, lãi suất thấp. Lãi suất cho vay được hiểu là khoản chi phí người đi vay trả cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của người khác. Chính vì rủi ro mang lại của khoản vay thường không cao do đó lãi suất người đi vay phải trả thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn tương ứng.
Thứ tư, nguồn trả nợ trong cho vay ngắn hạn được xác định là dòng tiền, thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Do cho vay ngắn hạn đối với KHDN nhằm bổ sung vốn lưu động thiếu hụt tạm thời của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Khác với vốn vay trung dài hạn để mua sắm tài sản cố định, số vốn vay thường luân chuyển dần vào doanh thu thông qua việc trích lập khấu hao thì số vốn vay ngắn hạn thường luân chuyển tất cả một lần vào doanh thu của doanh nghiệp có được.
Đây chính là những đặc điểm cơ bản chi phối đến nội dung cần phải xem xét trong công tác phân tích, đánh giá, thẩm định trong cho vay ngắn hạn, làm cơ sở để ra quyết định cấp tín dụng ngắn hạn cho một KHDN.
- Các phương thức cho vay:
Cho vay từng lần: Cho vay từng lần là hình thức cho vay phát sinh theo từng nhu cầu của cụ thể của doanh nghiệp đối với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Phương thức này được áp dụng dựa trên cơ sở nhu cầu tín dụng của từ đối tượng vay cụ thể như mua hàng, mua nguyên nhiên vật liệu dự trữ, hay khoản phải thu.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cho vay theo đó NH ký một hợp đồng hạn mức tín dụng với DN trong đó quy định những điều kiện cho vay cơ bản như số tiền hạn mức, doanh số cho vay, lãi suất, thời gian cho vay tối đa cho từng lần giải ngân, thời gian duy trì hạn mức…Đây là phương thức cho vay để đáp ứng toàn bộ nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động theo hạn mức tín dụng đã cam kết. Đối tượng cho vay là đối tượng tổng hợp, toàn bộ nhu cầu vố lưu động thiếu hụt, tức chênh lệch giữa tài sản lưu động với nguồn vốn dài hạn và các khoản nợ phi NH. Điều kiện khách hàng vay theo phương thức này là khách hàng phải có tín nhiệm cao đối với NH, nhu cầu vay vốn thường xuyên và có đặc điểm sản xuất kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Cho vay hạn mức tín dụng dự phòng là việc NH cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định, trong một thời hạn nhất định. Khách hàng phải trả phí cam kết cho NH trên cơ sở hạn mức tín dụng được sử dụng bởi trong trường hợp này, NH phải giảm bớt các món cho vay của khách hàng khác để giữ cam kết hạn mức tín dụng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: NH chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. Mức thấu chi tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian tối đa 01 (một) năm.
Cho vay quay vòng: NH và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá một tháng, khách hàng được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 03 (ba) tháng.
Cho vay hợp vốn: Là việc cho vay cùng với ít nhất một TCTD khác cho vay đối vưới khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn. Cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định về cấp tín dụng hợp vốn của NHNN.
Cho vay lưu vụ: Thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm. Theo đó, NH và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp.
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Xác định mục tiêu của cho vay ngắn hạn
Thông thường một Ngân hàng có nhiều mục tiêu khác nhau, tùy thuộc vào tình hình kinh doanh từng thời kỳ mà Ngân hàng có thể lựa chọn ưu tiên ở mức độ khác nhau trong các mục tiêu sau:
– Mở rộng quy mô cho vay, chiếm lĩnh, mở rộng thị phần: Giúp ngân hàng tăng quy mô về dư nợ, nguồn vốn huy động, tăng số lượng, đa dạng hóa khách hàng, cũng như đối tượng cho vay. Việc mở rộng được quy mô giúp NH có thể linh hoạt điều chỉnh các mức lãi suất, kỳ hạn nợ phù hợp với cơ cấu vốn của NH cũng như cung cấp được đầy đủ nhu cầu và đa dạng của nhiều loại hình KHDN khác nhau. Bên cạnh đó, mở rộng quy mô sẽ phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng cho vay, tăng chiều sâu, tăng uy tín trên thị trường đối với khách hàng, giúp nâng cao hiệu quả tăng trưởng dư nợ.
– Hợp lý hóa cơ cấu cho vay: Cơ cấu cho vay có thể phân chia theo các tiêu chí: Cơ cấu cho vay theo thời hạn; cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế; cơ cấu cho vay theo tính chất bảo đảm tiền vay; cơ cấu cho vay theo mục đích sử dụng vốn; cơ cấu cho vay theo lĩnh vực đầu tư. Việc hợp lý hóa cơ cấu cho vay giúp NH có thể thích nghi với sự thay đổi nhu cầu và sự phát triển của thị trường, nhằm đa dạng hóa danh mục tài sản, phân tán rủi ro, tối ưu hóa tương quan thu nhập/rủi ro cho danh mục tài sản của NH.
– Nâng cao chất lượng dịch vụ: KHDN là đối tượng khách hàng có tổ chức, chuyên nghiệp và phát sinh các giao dịch lớn, có ảnh hưởng đến quy mô tăng trưởng, phát triển của NH. Do đó, chất lượng dịch vụ của NH đòi hỏi được nâng cao để đáp ứng được nhu cầu công việc cũng như phục vụ KHDN được tốt hơn, chuyên nghiệp hơn nhằm giữ chân được khách hàng cũ cũng như phát triển khách hàng mới. Ngoài ra, nhiều DN ngại tiếp cận nguồn vốn từ các NHTM vì thủ tục vay vốn còn rườm ra, thời gian giải quyết hồ sơ lâu. Vì vậy, việc tinh giản lại các thủ tục, quy trình đảm bảo đúng, đủ và nâng cao chất lượng dịch vụ là điều cần thiết. Các sản phẩm tín dụng dành cho KHDN hiện nay còn rất hạn chế với những phương thức truyền thống như cho vay ngắn hạn theo món, theo hạn mức. Vì vậy, để thu hút khách hàng doanh nghiệp, các NHTM cần nghiên cứu phát triển thêm nhiều sản phẩm tín dụng, nhiều gói tín dụng ưu đãi để đáp ứng nhu cầu vay ngày càng cao và đa dạng, phù hợp với mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực hoạt động của KHDN.
– Kiểm soát rủi ro: Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, những công cụ, những chiến lược, là quá trình nhằm biến đổi rủi ro của NH thông qua việc né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro và tổn thất.
Kiểm soát rủi ro nhằm mục tiêu phòng chống và kiểm soát các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động Ngân hàng, đảm bảo các bộ phận và cá nhân trong NH tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện các chiến lược, chính sách đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động NH.
– Tăng thu nhập: Phát triển nền KHDN sẽ giúp các NHTM bán chéo thêm các sản phẩm dịch vụ đi kèm như các dịch vụ chuyển tiền, nộp thuế điện tử, mua bán ngoại tệ, thu chi hộ đối với các DN xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ…từ đó gia tăng lợi nhuận thu được từ thu lãi, các khoản phí có liên quan từ hoạt động cho vay, tạo cơ hội để NH nâng cao và đa dạng dần cơ cấu thu nhập..
1.2.2. Nội dung hoạt động triển khai cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp
Để đạt được các mục tiêu cho vay ngắn hạn đối với KHDN là nhiệm vụ không đơn giản, nên các NH thường tiến hành, triển khai đồng bộ, phối hợp nhiều hoạt động với nhau. Cụ thể, các hoạt động bao gồm:
- Xây dựng bộ máy tổ chức, quy trình, quy định trong cho vay ngắn hạn đối với KHDN
Để thực hiện tốt hoạt động kinh doanh, mỗi một Ngân hàng đều có một cách tổ chức bộ máy hoạt động một cách chuyên môn hóa, có sự gắn kết chặt chẽ với nhau nhằm tối đa hóa lợi ích mang lại cho khách hàng, bộ máy tổ chức của một Ngân hàng thường có những bộ phận chính như sau: Hội đồng thành viên, Ban giám đốc, Ban kiểm soát, các Khối phòng ban vận hành, kinh doanh, hỗ trợ…
Để hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN được vận hành hiệu quả, yếu tố tiên quyết là xây dựng bộ máy tổ chức, bộ quy định, quy trình bằng văn bản mang tính chuẩn mực, phân tách nhiệm vụ, trách nhiệm của từng đơn vị phòng ban trong bộ máy tổ chức, nhờ đó theo dõi luồng công việc, đánh giá kết quả đạt được và kiểm soát, giảm thiểu tối đa các rủi ro trong quá trình cho vay, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.
- Hoạch định chính sách cho vay ngắn hạn đối với KHDN
Chính sách cho vay là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng. Công tác hoạch định chính sách cho vay ngắn hạn đối với KHDN thường bao gồm các công việc sau:
– Xác định mục tiêu cho vay: tuỳ từng thời điểm, giai đoạn phát triển mà ngân hàng sẽ xác định các mục tiêu cho vay như: tăng trưởng quy mô, thị phần, gia tăng chất lượng dịch vụ, tăng cường kiểm soát rủi ro hay gia tăng thu nhập.
– Đối tượng cho vay: Xác định đối tượng KHDN được phép vay vốn ngắn hạn phù hợp với định hướng của NH trong từng thời kỳ. Doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn ngắn hạn nhằm phục vụ các mục đích phù hợp với đặc điểm kinh doanh và quy định của Pháp luật. Bên cạnh đó, NH còn giới hạn một số trường hợp không được vay vốn và hạn chế cho vay theo Luật tổ chức tín dụng.
– Thời hạn cho vay: Là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong HĐTD giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với dòng tiền, với chu kỳ sản xuất kinh doanh…
– Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay chính là giá cả của khoản vay. Lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTM được thông báo theo từng thời kỳ phù hợp với tình hình kinh tế và cơ chế điều hành lãi suất của NHNN và được ghi trên HĐTD hoặc giấy nhận nợ kèm theo HĐTD. Tùy từng hình thức vay vốn ngắn hạn mà có phương thức trả lãi thích hợp.
– Giải ngân: NH sẽ căn cứ vào đơn đề nghị giải ngân, phương án vay vốn và các chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn để tiến hành giải ngân theo quy định.
– Kỳ hạn nợ: Được xác định chung cho tất cả các khoản nợ hoặc xác định riêng cho từng lần giải ngân.
- Các hoạt động triển khai cho vay ngắn hạn đối với KHDN
Nghiên cứu thị trường, tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn KHDN
Để có thể tiếp cận, đánh giá được thị trường, tiềm năng, nhu cầu vay vốn để phục vụ kinh doanh theo từng phân khúc đối tượng cũng như từng ngành nghề kinh doanh khác nhau, đặc biệt là KHDN, các NHTM phải nghiên cứu, thống kê tổng số lượng KHDN hiện tại, số lượng doanh nghiệp đăng ký mới, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, phân loại quy mô các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, tại quận huyện, phường xã mà chi nhánh đặt trụ sở. Cụ thể: xác định nhu cầu khách hàng thông qua nghiên cứu thị trường, tiểu sử của khách hàng, các nhân tố cơ bản để khách hàng lựa chọn ngân hàng giao dịch, nghiên cứu sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh về thị phần, sản phẩm, chất lượng dịch vụ, giá cả dịch vụ, kênh phân phối, phân khúc khách hàng, chiến lược tiếp cận đối tượng khách hàng nhắm đến, ở đây là KHDN.
Xây dựng và cung ứng sản phẩm cho vay ngắn hạn đối với KHDN:
Hoạt động cho vay KHDN cần triển khai một danh mục sản phẩm đa dạng để đáp ứng nhu cầu thuộc nhiều lĩnh vực, phù hợp với từng doanh nghiệp như: lãi suất vay tương ứng với từng phương thức cho vay, các phí dịch vụ liên quan đến hoạt động cho vay, hình thức vay vốn, loại tiền, kỳ hạn vay… Tất cả các sản phẩm cung ứng đều phải được xây dựng để vừa đáp ứng được nhu cầu vốn cho khách hàng, đảm bảo quy trình thực hiện cho vay diễn ra nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo được sự an toàn vốn.
Thúc đẩy quảng bá sản phẩm, triển khai dịch vụ, tiện ích đi kèm
Cùng với sử phát triển về số lượng và quy mô của các doanh nghiệp trên địa bàn, để có thể tiếp cận, phát triển, mở rộng mạng lưới cho vay, các NHTM phải thúc đẩy thiết lập mạng lưới dịch vụ: mở rộng chi nhánh, mạng lưới phòng giao dịch, mở rộng các loại hình sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp.
Các dịch vụ tiện ích đi kèm là các dịch vụ tiện ích mà KHDN sử dụng cùng với sản phẩm dịch vụ cho vay, mang tính tự động hóa, ổn định, cạnh tranh cao giúp tối đa lợi ích và nhu cầu của khách hàng, từ đó khách hàng sử dụng trung thành với sản phẩm dịch vụ hơn.
Nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay ngắn hạn KHDN
Trong giai đoạn hiện nay, các NHTM đang cạnh tranh gay gắt để tìm kiếm khách hàng, trong bối cảnh các chính sách cho vay ngắn hạn KHDN, sản phẩm cung ứng giữa các NH ngày càng tương đồng thì nhân tố chất lượng dịch vụ chính là yếu tố tiên quyết. Việc xây dựng sản phẩm dịch vụ cho vay phù hợp, quy trình tinh gọn, chặt chẽ giúp giảm thiểu các sai sót trong giao dịch với khách hàng; thái độ phục vụ tốt sẽ giảm thiểu được những lời phàn nàn và khiếu kiện, khiếu nại của khách hàng. Điều này sẽ tạo nên danh tiếng, uy tín lâu dài cho Nh, thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ.
Kiểm soát rủi ro trong cho vay ngắn hạn KHDN
Hoạt động kiểm soát rủi ro là quá trình các nhà quản lý đáp ứng các nhu cầu thông qua nhận dạng các loại rủi ro chủ yếu, qua đó áp dụng các biện pháp rủi ro hoạt động, xây dựng hệ thống các công việc để giám sát vị thế rủi ro có kết quả. Nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm kiểm soát khách hàng vay và khoản vay; kiểm soát trong quy trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ đến khi thu nợ tất toán: kiểm soát hồ sơ khoản vay, kiểm tra nội dung thẩm định và phê duyệt tín dụng, kiểm soát quá trình giải ngân, kiểm tra và kiểm soát vốn vay sau giải ngân; kiểm soát tuân thủ hoạt động cho vay đối với KHDN. Các loại rủi ro phát sinh thường xuyên phát sinh gồm: Rủi ro nợ xấu, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp.
Đào tạo nhân sự và phát triển công nghệ
Việc đào tạo các cán bộ có trình độ chuyên môn vững vàng, có kiến thức nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tìm kiếm khách hàng tốt, trong công tác thẩm định hồ sơ tín dụng, đánh giá năng lực tài chính, tính khả thi của dự án kinh doanh của các KHDN được chính xác, nhạy bén; nhận định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, dự báo những biến động về thị trường hàng hóa dịch vụ của KHDN, cũng như phát hiện những sai phạm, các số liệu cố ý đánh lừa tổ chức cho vay nhờ đó nâng cao hiệu quả cho vay, giảm thiểu rủi ro. Việc xây dựng hệ thống công nghệ hiện đại giúp cải tiến hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN, đủ đáp ứng nhu cầu KHDN, nâng cao trải nghiệm khách hàng.
1.2.3. Các tiêu chí phản ánh kết quả hoạt động kiểm soát rủi ro cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp
Kết quả cho vay ngắn hạn đối với KHDN có thể được phản ánh qua một số tiêu chí sau:
- Chỉ tiêu về quy mô cho vay và tốc độ tăng trưởng dư nợ
– Tổng dư nợ là chỉ tiêu phản ảnh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động cho vay của NH yếu kém, không có khả năng mở rộng, khả năng tiếp thị của NH kém. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng cho vay càng cao bởi vì đằng sau những khoản cho vay đó còn những rủi ro mà NH phải gánh chịu.
– Tăng trưởng số lượng khách hàng vay vốn: Là chỉ tiêu đánh giá phát triển về quy mô cho vay, số lượng khách hàng càng nhiều nghĩa là NH đã đáp ứng được nhu cầu vốn của người tiêu dùng được nhiều hơn. Tuy nhiên, việc tăng lên về số lượng khách hàng không phản ánh một cách chính xác về chất lượng phát triển cho vay của NH. NH nên chọn lọc và phân tích từng loại đối tượng khách hàng, ngoài chỉ tiêu mở rộng phát triển cho vay đối với các KHDN, nên chú trọng chất lượng cho vay.
– Mức tăng trưởng dư nợ cho vay đối với từng khách hàng: Chỉ tiêu này đánh giá sự thay đổi quy mô cho vay đối với từng DN, chỉ tiêu này tăng thì quy mô cho vay đối với DN của NH được mở rộng, còn ngược lại thì thu hẹp.
– Mở rộng thị phần KHDN vay vốn: Chỉ tiêu này cho biết tổng số lượng doanh nghiệp mình cho vay chiếm tỉ trọng bao nhiêu so với tổng số lượng doanh nghiệp trên địa bàn NH hoạt động cho vay.
b) Tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN
Tỉ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN trong tổng dư nợ
cho vay KHDN. Chỉ tiêu này cho biết dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ cho vay KHDN. So sánh chỉ tiêu này của các thời kỳ khác nhau sẽ cho ta thấy sự thay đổi kết cấu dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN. Nếu chỉ tiêu này tăng, NH mở rộng về mặt dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN. Nếu tỉ trọng này giảm, NH thu hẹp cơ cấu dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN. Tuy nhiên, NH vẫn mở rộng dư nợ cho vay ngắn hạn đối với DN nếu dư mức tăng dư nợ cho vay ngắn hạn đối với KHDN lớn hơn 0. Chỉ tiêu này cho thấy tầm quan trọng của cho vay ngắn hạn đối với KHDN trong hoạt động cho vay KHDN của chi nhánh.
c) Cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với KHDN
Một số tiêu chí thể hiện khía cạnh này bao gồm:
– Dư nợ cho vay ngắn hạn chia theo loại hình tín dụng: có thể đo lường
dư nợ cho vay ngắn hạn theo sản phẩm cho vay như cho vay từng lần, cho vay
hạn mức tín dụng.
– Dư nợ cho vay ngắn hạn theo loại hình doanh nghiệp bao gồm Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn…Mỗi một loại hình DN sẽ có đặc điểm, nhu cầu vốn kinh doanh và dịch vụ NH khác nhau, bởi vậy xác định các DN thuộc loại hình nào sẽ giúp ích cho công tác xây dựng và hoàn thiện danh mục sản phẩm dịch vụ hợp lý.
– Dư nợ theo ngành nghề kinh doanh: Chỉ tiêu này xem xét trong những giai khác nhau thì lĩnh vực kinh doanh của DN mà NH cung cấp tín dụng được mở rộng, bổ sung, hay thu hẹp. Từ đó, có thể dự đoán được nhu cầu về vốn của DN trong tương lai hoặc có biện pháp quản lý rủi ro về tín dụng hợp lý. Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh bao gồm: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, vận tải…
Các tiêu chí về cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với KHDN cho thấy dư nợ tại NHTM đang tập trung nhiều hay ít ở những ngành nghề nào, ở những kỳ hạn vay nào, loại tiền tệ nào…Từ những phân tích về cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với KHDN như vậy, ta có thể có những đánh giá và định hướng sẽ tập trung cho vay ngắn hạn KHDN ở những hạng mục, lĩnh vực nào là phù hợp và hiệu quả để có được kết quả kinh doanh tốt nhất.
d) Chất lượng dịch vụ cho vay ngắn hạn đối với KHDN
Nâng cao chất lượng dịch vụ đóng vài trò quan trọng trong quá trình kinh doanh của Ngân hàng, người dùng sử dụng dịch vụ luôn mong đợi và yêu cầu chất lượng dịch vụ phải tốt hơn bao giờ hết, chính vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hiện tại và đưa ra các cách thức nâng cao chất lượng dịch vụ trong tương lai là mối quan tâm hàng đầu của Ngân hàng hiện nay.
Để xem xét đánh giá chất lượng hiện tại có thể được triên khai thông qua các phương pháp khác nhau như sau
– Phương pháp tiếp cận tài nguyên của hệ thống nội bộ: Là việc sử dụng biện pháp đánh giá những yếu tố đầu vào tập trung vào: quy mô tổng lượng khách hàng, quy mô của từng khách hàng, sự nhận thức của khách hàng về hệ thống, thế mạnh của khách hàng mình so với khách hàng của những ngân hàng khác. Thông qua đó, trong nội bộ ngân hàng tự nhận thức được sự cung cấp dịch vụ của mình, có bao nhiêu khách hàng sử dụng dịch vụ trong một khoản thời gian nhất định qua đó đánh giá mức độ lưu thông của hệ thống, mức độ đáp ứng trên lưu lượng khách hàng như hiện nay có đủ đảm bảo hay không. Từ đó, đưa ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng hiện nay của hệ thống cũng như khách hàng bên ngoài.
– Phương pháp tiếp cận thông qua sự đánh giá và cảm nhận của khách hàng: Việc biết được khách hàng thực sự cảm nhận như thế nào về chất lượng dịch vụ của ngân hàng là điều hết sức cần thiết. Việc đặt mình vào vị trí của khách hàng vẫn là một phương pháp của hiệu quả nhất để tìm hiểu về chất lượng. Việc tiến hành một cuộc điều tra với những bảng câu hỏi tốt, dựa trên quan điểm của khách hàng, tập trung vào các khía cạnh khác nhau về chất lượng có ý nghĩa quan trọng mới người sử dụng dịch vụ, mục đích đánh giá tối ưu những cảm tưởng của khách hàng về sản phẩm định vụ. Ngoài ra các thư than phiền hay khen ngợi của khách hàng cũng có thể trở thành công cụ trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ.
e) Mức độ kiểm soát rủi ro cho vay ngắn hạn đối với KHDN
Trong điều kiện môi trường kinh doanh bất ổn, rủi ro trong cho vay
ngắn hạn đối với DN rất cao, do vậy chỉ tiêu này cần được chú ý nhằm
đạt được mục tiêu hỗ trợ DN duy trì, mở rộng SXKD để duy trì khách hàng
của NH, đồng thời đảm bảo được an toàn tín dụng cho NH. Chất lượng cho
vay ngắn hạn đối với DN có thể được đo lường qua các chỉ tiêu sau:
– Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay ngắn hạn của KHDN: Nợ xấu là một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn đã chuyển thành nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng rủi ro của danh mục cho vay KHDN của NHTM, bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay. Tỷ lệ nợ xấu được xác định như sau:
Tỷ lệ nợ xấu cho vay ngắn hạn KHDN = Nợ xấu cho vay ngắn hạn KHDN/Dư nợ cho vay ngắn hạn KHDN
Tỷ lệ này càng cao cho thấy hoạt động cho vay ngắn hạn KHDN của NH đang có nợ khó đòi nhiều, kém hiệu quả. Tỷ lệ này càng tăng qua các năm cho thấy chất lượng tín dụng đối với các khoản vay KHDN đang có chiều hướng xấu và NH phải có biện pháp khắc phục kịp thời.
– Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro: Tỷ lệ này thể hiện số tiền mà NH đã trích lập dư phòng rủi ro so với tổng dư nợ cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của NH. Tỷ lệ này càng cao cho thấy nợ quá hạn, nợ xấu của NH càng nhiều, chất lượng các khoản cho vay DN thấp, tình hình kinh doanh của NH tiềm ẩn rủi ro.
– Tỷ lệ xóa nợ ròng = Nợ xóa ròng / Dư nợ
Trong đó, nợ xóa ròng = Nợ xóa – nợ thu hồi được
Cho thấy những khoản nợ khó đòi sẽ bị xóa và đã được bù đắp bởi quỹ Dự phòng rủi ro tín dụng. Chỉ tiêu này cao cho thấy chất lượng tín dụng của NH chưa tốt.
f) Kết quả tài chính, lợi nhuận từ cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp
Lợi nhuận = Thu lãi – Chi phí
Hiện nay, do các NHTM Việt Nam vẫn chưa có điều kiện để hạch toán lợi nhuận riêng của từng hoạt động cho vay riêng lẻ nên chưa thể tính toán chính xác được hiệu quả sinh lời riêng của hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN. Vì vậy, tùy theo điều kiện có thể có của số liệu mà vận dụng các chỉ tiêu thay thế một cách phù hợp, tạm dùng chỉ tiêu thu lãi để tính toán chi tiết hiệu quả, lợi nhuận cho từng hoạt động.
Tỷ lệ LN từ cho vay ngắn hạn với DN = Lãi từ hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp / Tổng lợi nhuận *100
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động cho vay, cho biết số lãi thu được trên 100 đồng dư nợ là bao nhiêu. Chỉ số này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng tốt.
Tóm lại, mỗi tiêu chí phản ánh kết quả cho vay ngắn hạn đối với KHDN ở một phương diện nhất định nên muốn đánh giá kết quả cho vay ngắn hạn đối với KHDN của ngân hàng tại một thời điểm, cần đồng bộ các tiêu chí trên.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp
- Nhân tố bên trong
Quy mô, chiến lược kinh doanh
Khách hàng thường đánh giá uy tín của NH thông qua các tiêu chí như: quá trình hình thành và phát triển, giá trị thương hiệu, quy mô ngân hàng, trình độ chuyên môn, chất lượng dịch vụ, hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ của các NHTM… Việc nâng cao uy tín ngân hàng giúp tạo dựng được lòng tin, sự trung thành sử dụng dịch vụ của khách hàng, đặc biệt là KHDN với những dự án đầu tư lớn, khi đó các doanh nghiệp sẽ yên tâm hơn khi giao dịch với NH.
Mỗi NHMT đều xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh cụ thể, dựa trên việc xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống Ngân hàng, nhận thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đồng thời dự đoán được sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai. Thông qua chiến lược kinh doanh Ngân hàng sẽ có thể quyết định thu hẹp hay mở rộng hoạt động cho vay về mặt quy mô, thay đổi tỷ lệ các loại nguồn vốn cho vay theo sản phẩm, loại tiền, kỳ hạn, lãi suất. Chính vì vậy, một chiến lược kinh doanh đúng đắn, các nguồn vốn được khai thác một cách tối đa sẽ giúp tăng trưởng dư nợ, tiếp cận và cho vay đối với KHDN sẽ hiệu quả hơn và gia tăng lợi nhuận.
Định hướng tín dụng và chính sách cho vay
Bên cạnh các quy trình, quy định chung, mỗi NH đều đưa các định hướng tín dụng trong từng thời kỳ, gồm cấp tại trụ sở chính, cấp chi nhánh, cấp phòng ban. Định hướng này sẽ cụ thể hóa bằng các mục tiêu định tính hoặc các chỉ tiêu kế hoạch định lượng giao cho từng chi nhánh và là kim chỉ nam dẫn dắt hoạt động của các chi nhánh trong từng khoảng thời gian nhất định. Dựa trên nguồn lực hiện có và những mục tiêu muốn đạt được, ban lãnh đạo quyết định mức độ rủi ro cho phép, thiết lập các chính sách cho vay cụ thể đối với từng loại khách hàng. Các định hướng đúng đắn và chính sách cho vay phù hợp với từng địa bàn hoạt động chi nhánh sẽ là cơ sở quan trọng giúp chi nhánh đề ra các giải pháp góp phần nâng cao hoạt động cho vay KHDN tại chi nhánh đó.
Trình độ chuyên môn, đạo đức cán bộ ngân hàng
Những cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, hiểu rõ văn bản nội bộ và cập nhật kịp thời văn bản, chính sách sẽ có những nhận định, đánh giá tốt hơn trong quá trình tìm kiếm khách hàng tốt và cho vay hiệu quả, hạn chế được rủi ro cho vay. Tuy nhiên, quan trọng hơn trình độ chuyên môn là phẩm chất đạo đức và ý thức tuân thủ. Điều này xuất phát từ chính bản thân cán bộ, đó là có thể là sự tính toán vì lợi ích cá nhân, cám dỗ mà cố tình làm sai quy định, quy trình, thiếu sự minh bạch, dẫn đến rủi ro đạo đức. Bên cạnh đó khả năng làm việc nhóm, sự nhanh nhẹn của mỗi cán bộ nhân viên góp phần giúp các bộ phận chức năng phối hợp nhịp nhàng, hỗ trợ nhau một cách hiệu quả, tránh bị chồng chéo, hay bỏ sót bất kì bước nào trong quy trình thực hiện.
Công tác tổ chức, quản lý, kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay
Quy trình, quy định trong hoạt động cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, yêu cầu và trình tự các bước cụ thể từ khi tìm kiếm KHDN đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Nếu các nội dung này được quy định một cách nhất quán, phù hợp, chặt chẽ, cùng với ứng dụng công nghệ, hệ thống trang thiết bị thông tin hiện đại sẽ giúp tìm kiếm, quảng bá, tiếp cận, theo dõi và quản lý KHDN được tốt hơn, giúp giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ trong hoạt động cho vay KHDN.
Bên cạnh đó, hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán trong nội bộ ngân hàng hoạt động hiệu quả sẽ giúp sớm phát hiện và cảnh báo các rủi ro mà bản thân cán bộ không nhìn thấy được hoặc cố tình che giấu, với những biện pháp chế tài kiên quyết.
- Nhân tố bên ngoài
Môi trường pháp lý
Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ về hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổ của pháp luật. Những văn bản pháp luật quy định đầy đủ rõ ràng, đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho NH yên tâm hoạt động kinh doanh, cạnh tranh trong lĩnh vực cho vay và giúp NH tăng cường hoạt động cho vay. Vì sự thay đổi những chủ chương chính sách về NH cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của DN, sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN hay nhà nước cho phép nhiều DN được sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng dẫn đến rủi ro, thua lỗ, ảnh hưởng đến hoạt động cho vay NH.
Môi trường kinh tế, chính trị xã hội
Hoạt động kinh doanh của NHTM đều chịu sự chi phối của nhân tố kinh tế xã hội. Sự ổn định về xã hội và phát triển về kinh tế tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng hoạt động cho vay của NHTM vì Doanh nghiệp làm ăn tốt thì xã hội có nhiều nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nên nhucầu vay vốn tăng, hoạt động cho vay được mở rộng. Ngược lại nền kinh tế suy thoái, dẫn đến giảm khả năng hấp thụ vốn do đó dư thừa ứ đọng vốn, hoạt động cho vay bị thu hẹp.
Các yếu tố thuộc về DN: Khả năng tài chính của DN, tính hiệu quả của phương án, kế hoạch kinh doanh, trình độ, năng lực quản lý điều hành và đạo đức kinh doanh của chủ DN
+ Năng lực thị trường của DN cho biết khả năng mở rộng và định hướng đầu tư của DN, kiểm tra sự phù hợp của dự án hoạt động với khả năng của DN.
+ Năng lực sản xuất của DN cho biết quy mô sản xuất của DN, sự phù hợp của quy mô với thị trường, cơ cấu và khả năng làm chủ giá thành sản phẩm của DN.
+ Năng lực tài chính của DN thể hiện vốn tự có doanh nghiệp, khả năng thanh toán của DN đối với các khoản nợ. Vì vậy, năng lực tài chính của DN càng tốt thì khả năng hoàn trả nợ vay của DN đối với NH được đảm bảo.
+ Năng lực quản lý của DN xem xét khả năng thích nghi của bộ phận quản lý với sự biến động của thị trường, việc phù hợp của hệ thống hạch toán kế toán và quản lý tài chính của DN với quy định của pháp luật, NH sẽ đánh giá năng lực quản lý của DN một cách chính xác. Vì vậy, nếu năng lực của khách hàng yếu kém làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của DN đối với NH.
Chương 1 đã khái quát những nội dung tổng quan nhất về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại NHTM. Thêm vào đó, Chương 1 của luận văn cũng đưa ra các chỉ tiêu cơ bản về cho vay ngắn hạn, rủi ro trong cho vay ngắn hạn và nội dung triển khai nhằm đánh giá hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN của các NHTM và sự cần thiết của việc hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN của NHTM.
Các cơ sở lý luận được trình bày ở chương 1 là nền tảng cho việc đánh giá thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng, cũng như là cơ sở đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng trong thời gian đến, góp phần giúp Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC ĐÀ NẴNG
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC ĐÀ NẴNG
2.1.1. Quá trình hình thành, phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng.
- Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) là một trong bốn Ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam, VietinBank có tổng tài sản chiếm hơn 25% thị phần trong toàn hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
Nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam luôn tăng trưởng qua các năm, tăng mạnh kể từ năm 1996 đạt bình quân 20%/năm.
- Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Bắc Đà Nẵng
Ngân hàng TMCP Công Thương VN – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng là một trong 157 chi nhánh thuộc hệ thống Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, tên viết tắt là VietinBank Bắc Đà Nẵng.
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng tiền thân là Ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam – Khu vực Hoà Khánh được thành lập 3/1985, là đơn vị trực thuộc Ngân hàng nhà nước TP. Đà Nẵng, Tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (cũ) đóng tại Hoà Khánh với biên chế 53 cán bộ nhân viên. Chi nhánh thực hiện quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, quản lý thu chi ngân sách nhà nước trên địa bàn Hoà Khánh, Hoà Vang. Tháng 8/2009, theo mô hình chuyển đổi cổ phần hoá NHTM từ trụ sở chính, Chi nhánh đổi tên thành: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) – Chi nhánh Liên Chiểu. Với sự phát triển tăng tốc, mở rộng quy mô tổng tài sản và thị phần hoạt động trên địa bàn Đà Nẵng theo mô hình mới, ngày 01/10/2010 Chi nhánh đổi tên thành Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng
VietinBank Bắc Đà Nẵng là một đơn vị hạch toán phụ thuộc Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, tổ chức và hoạt động theo phân cấp, uỷ quyền của Tổng giám đốc, được kinh doanh những ngành nghề trong đăng ký kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, có con dấu riêng và trụ sở tại số 381 Nguyễn Lương Bằng, Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. VietinBank Bắc Đà Nẵng hoạt động trên cơ sở phương hướng, nhiệm vụ được giao theo chủ trương của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam với phương châm “Phát triển, an toàn và hiệu quả” và “ Sự thành công của mỗi khách hàng là sự thành công của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đà Nẵng”.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1\HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG/ 2022-hoàn thiện Cho vay ngắn hạn vietin CN Bắc Đà Nẵng
Hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam


