Nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam với pháp luật một số quốc gia dưới góc độ so sánh

Nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam với pháp luật một số quốc gia dưới góc độ so sánh

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng về thiện chí đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng như lịch sử pháp luật tư trên thế giới. Cùng với thời gian, tư tưởng thiện chí dần được bổ sung, hoàn thiện và trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự trong hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới và được xem là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để bảo đảm công bằng, công lý trong quan hệ dân sự.

Pháp luật dân sự cũng như pháp luật hợp đồng Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng của nhiều truyền thống pháp luật trên thế giới, trong đó hệ thống pháp luật theo truyền thống civil law có ảnh hưởng sớm nhất và lớn nhất. Chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật theo truyền thống civil law, pháp luật hợp đồng Việt Namđãghi nhận thiện chí lànguyên tắc cơ bản điều chỉnh chung đời sống của quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, khác với các hệ thống pháp luật ghi nhận nguyên tắc thiện chí chung, nguyên tắc thiện chítrong pháp luật hợp đồng Việt Nam chưa thực sự được coi trọng đúng mức về phương diện lý luận cũng như thực tiễn áp dụng và do đó, chưa thực sự phát huy được hết vai trò của nguyên tắc này trong điều chỉnh quan hệ hợp đồng.

Về phương diện lý luận: Mặc dù nguyên tắc thiện chí đã được ghi nhận trong Bộluật Dân sự (BLDS) Việt Nam qua các thời kỳ nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào phân tích trực tiếp và chuyên sâu các vấn đề lý luận của nguyên tắc thiện chí cũng như việc áp dụng nguyên tắc thiện chí trong giải quyết các tranh chấp có liên quan, đặc biệt là các tranh chấp về hợp đồng trong bối cảnh nền kinh tế nước tađang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Bên cạnh đó, một số ít các công trình tuy đề cập đến nguyên tắc thiện chí nhưng chỉ nghiên cứu khái quát hoặc xem nguyên tắc thiện chí như một yếu tố đương nhiên phải có trong pháp luật hợp đồng chứ chưa phân tích chuyên sâu những vấn đề lý luận cũng như phạm vi áp dụng nguyên tắc này trong pháp luật hợp đồng Việt Nam. Điều này cho thấy pháp luật hợp đồngViệt Nam dường như còn thiếu vắng cơ sở lý luận về nguyên tắc thiện chí

– nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng nói riêng và pháp luật tư nói chung.

Về phương diện thực tiễn:Chế định hợp đồngcũng như nguyên tắc thiện chí của BLDS 2015 đã có những sửa đổi quan trọng so với BLDS 2005. Đặc biệt, BLDS 2015đã ghi nhận khái quát nguyên tắc thiện chí trong mọi giaiđoạn của đời sống hợp đồng. Thực tiễn xét xử cho thấy mặc dù một số bản án, quyết định của Tòa án đã có một sốbiểu hiện cho thấy việc áp dụng nguyên tắc thiện chí nhưng hầu như chưa có bản án, quyết định nào viện dẫn trực tiếp nguyên tắc này để giải quyết tranh chấp hợp đồng. Nói cách khác, mặc dù nguyên tắc thiện chíđãđược BLDS 2015 ghi nhận xuyên suốt toàn bộ quá trình của hợp đồng nhưng thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp chỉ ra Tòa án tỏ ra “không mặn mà với việc giải thích nó (nguyên tắc thiện chí) trong

2

thực tiễn xét xử”1. Điều này là do nguyên tắc thiện chí chưa được nhận thức nhất quán,2, do đó, ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp cũng như chưa phản ánh được giá trị đích thực của Nhà nước pháp quyền màViệt Nam đã và đang hướng tới. Mặt khác, nguyên tắc thiện chí được hầu hết các hệthống pháp luật ghi nhận và ngay cả một số hệ thống pháp luật không thừa nhận nguyên

tắc thiện chí chung thì Tòa án tại các quốc gia này cũng vận dụng nguyên tắc này hoặc các biến thể của nó để bảo vệ hữu hiệu quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Với những lý do trên, nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam là yêu cầu khách quan cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Do vậy, nghiên cứu sinh (NCS)

lựa chọn đề tài “Nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam với pháp luật một số quốc gia dưới góc độ so sánh” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sỹ của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận của nguyên tắc thiện chí, nghiên cứu các quy định của BLDS Đức, BLDS 2015, một số văn bản pháp luật có liên quan của Anh và Việt Nam cũng như các bản án có liên quan nhằm cung cấp cơ sở lý luận hoàn thiện các quy định pháp luật là biểu hiện của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam. Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng nguyên tắc thiện chí sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về nhữngđiểm hợp lý, bất hợp lý của các quy định pháp luật là biểu hiện của nguyên tắc thiện chí trong BLDS 2015 để đưa ra giải pháp hoàn thiện các quy định này và nâng cao hiệu quảcủa nguyên tắc thiện chí trong điều chỉnh các quan hệ hợp đồng ở Việt Nam, qua đó bảo vệ một cách cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, góp phần thúc đẩy kinh tếxã hội phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.

Để thực hiện mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:

Luận án làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng như kháiniệm, đặc điểm,ý nghĩa của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng, phạm vi của nguyên tắc thiện chí, mối tương quan giữa nguyên tắc thiện chí với nguyên tắc tự do hợp đồng.

Luận án hướng đến nghiên cứu thực trạng và thực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam và pháp luật hợp đồng của hai quốc gia tiêu biểu là Đức và Anh. Trên cơ sở phân tích so sánh thực trạng và thực tiễn vận dụng nguyên

tắc thiện chí trong ba hệ thống pháp luật, luận án đưa ra các nhận định về sự hợp lý, bất hợp lý của các quy định là biểu hiện của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng

1 Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng- Phần chung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.159. 2 Ngô Huy Cương (2013), tlđd, tr.156-157.

3

Việt Nam và lấy đó làm cơ sở cho những đề xuất hoàn thiện pháp luật hợp đồng trong BLDS.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng về phương diện lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn vận dụng.

Luận án lựa chọn nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Đức và pháp luật hợp đồng Anh làm tiền đề cho việc nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam bởi trong xu thế toàn cầu hóa, việc tiếp cận và tham khảo những tri thức pháp luật từ các hệ thống pháp luật hiện đại sẽ giúp Việt Nam có sự chủđộng khi gia nhập sân chơi chung của thế giới. Mặt khác, pháp luật hợp đồngViệt Nam hiện đại trong quá trình phát triển luôn không ngừng học hỏi để hoàn thiện trên cơ sởtiếp thu có chọn lọc tinh hoa của pháp luật hợp đồng hiện đại thế giới.

Việc lựa chọn nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trongpháp luật hợp đồng Đức đại diện cho truyền thống civil law là do: (1) BLDS Đức có ảnhhưởngsâu rộng đến nhiều BLDS hiện đại của các quốc gia trên thế giới như BLDS Thụy Sĩ 1906 và 1911, BLDSÝ 1942, BLDS Hy lạp 1946, BLDS Ai Cập 1948 (BLDS có ảnh hưởng rất lớn ở TrungĐông), BLDS Bồ Đào Nha 1966, BLDS Hà Lan 1992, BLDS Quebec (Canada) 1994.Đặc biệt,BLDS Đức có tầm ảnh hưởng lớn đến BLDS của một số quốc châu Á có hoàn cảnh kinh tế,văn hóa, xã hội tươngđồngvới Việt Nam như BLDS Nhật Bản 1896, BLDS Hàn quốc 1958, hay Luật hợp đồng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1999; (2) Pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và pháp luật hợp đồng Việt Nam nói riêng chịu ảnh hưởngkhông nhỏ của truyền thống civil law, trong đó có phápluật hợp đồng Đức. Chẳng hạn, cấu trúc cũng như một số quy định về hợp đồng của BLDS 2015 chịu ảnh hưởng nhất định của BLDS Đức; (3) Nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Đức là cơ sở hình thành nên các học thuyết pháp lý quan trọng của pháp luật hợp đồng có

tầm ảnh hưởng lớn đến khoa học pháp lý thế giới như trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng, thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản; (4) Phạm vi điều chỉnh của nguyên

tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Đức tương đồngvớipháp luật hợp đồngViệt Nam là xuyên suốt toàn bộ đời sống của hợp đồng.

Việc lựa chọn nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Anhđại diện cho truyền thống common law là do: (1) Pháp luật hợp đồng của các hệ thống theo

truyền thống common law như Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, Singapore,…đều cónguồn gốc từ pháp luật hợp đồng Anh hay nói cách khác là đều có mối liên hệ với pháp luật hợp đồng Anh; (2) Các học thuyết pháp lý là giải pháp thay thế cho nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Anh được các hệthống pháp luật theo truyền thống common law khác kế thừa và phát triển với đặc thù của mỗi quốc gia; (3)Mặc dù phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Anh khá hạn chế nhưng

4

xu hướng thừa nhận nguyên tắc này trong pháp luật hợp đồng Anh ngày càng được mởrộng, cho thấy xu thế thừa nhận nguyên tắc thiện chí chung của pháp luật hợp đồng Anh cũng như của các hệ thống common law là không thể đảo ngược.

Do vậy, luận án sẽ chủ yếu nghiên cứu các quy định thể hiện nguyên tắc thiện chítrong BLDSĐức vàpháp luật hợp đồng Anh. Đối với pháp luật hợp đồng Việt Nam, luận án sẽ tập trung nghiên cứu các quy định thể hiện nguyên tắc thiện chí của BLDS 2015. Ngoài ra, luận án cũng sử dụng hạn chế mộtsốvănbảnpháp luật Việt Nam có liên quan như Luật Thương mại, Luật Bảo vệquyền lợi người tiêu dùng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng khi phân tích tới những nội dung có liên quan. Để minh họa cho các kết quả nghiên cứu, luận ánsẽ sử dụngmột số bản án của Tòa án Đức, Anh và Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Để làm cơ sở cho việc nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng hiện đại của ba hệ thống pháp luật (Đức, Anh và Việt Nam), luận án trước hết sẽđi vào phân tích khái niệm,đặcđiểm,ý nghĩa, phạm vi, mối tương quan giữa nguyên tắc thiện chí với nguyên tắc tự do hợp đồng và lược sử phát triển của nguyên tắc thiện chí.

Dựa trên đời sống của hợp đồng, nguyên tắc thiện chí được xem xét với ba giaiđoạn: giai đoạn tiền hợp đồng, giai đoạn thực hiện hợp đồng và giai đoạn chấm dứt hợp đồng. Mặc dù được thể hiện ở nhiều khía cạnh nhưng luận án sẽ tập trung phân tích biểu hiện của nguyên tắc thiện chí trong đời sống hợp đồng như sau:

Ở giai đoạn tiền hợp đồng, nguyên tắc thiện chí sẽ được phân tích dưới khía cạnh là công cụ điều chỉnh sự bất công giữa các bên là hệ quả của các hành vi không thiện chí được thực hiện trong giai đoạn tiền hợp đồng được khái quát thành hai nhóm: hành vi không thiện chí dẫn tới hợp đồng không được ký kết và hành vi không thiện chí dẫn tới hợp đồngvô hiệu.

Ở giai đoạn thực hiện hợp đồng, nguyên tắc thiện chí sẽ được phân tích dưới khía cạnh là công cụ bảo đảm cân bằng quyền và lợi ích của các bên khi hợp đồng được giao kết hợp pháp không được thực hiện suôn sẻ do: hợp đồng cónộidung không rõ ràng, hợpđồngthiếu nội dung không cơ bản,hợpđồngchứa đựngnộidung bất công và việc thực hiệnhợpđồngdẫntớibấtcông do hoàn cảnh thayđổicơ bản.

Ở giai đoạn chấm dứt hợp đồng, nguyên tắc thiện chí sẽ được phân tích dưới khía cạnh là công cụ điều chỉnh sự bất công giữa các bên là hệ quả của hành vi không thiện chí trong việc thực hiện quyền chấm dứt hợp đồng bằng cách hạn chế quyền chấm dứt hợp đồng của bên bị vi phạm.

Về mặt không gian: Bám sát chủ đề của luận án là nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng nên phạm vi nghiên cứu chủ yếu của luận án sẽ là các vấn đề liên quan

5

đến nguyên tắc thiện chí trong khoa học pháp lý Việt Nam với sự nghiên cứu so sánh với pháp luật hợp đồng Đức và Anh.

Về mặt thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu pháp luật hợp đồng hiện hành của ba hệ thống pháp luật. Cụ thể là các quy định thể hiện nguyên tắc thiện chí trong BLDSĐức; các học thuyết pháp lý thay thế cho nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Anh; các quy định thể hiện nguyên tắc thiện chí trong BLDS 2015 và một số văn bản pháp luật đã được nêu tại mục 3.1. Luận án cũng sử dụng một số quy định trong các văn bản pháp luật cũ nhằm làm rõ sự phát triển của nguyên tắc thiện chí cũng như các quyđịnh hiện hành thể hiện nguyên tắc này. Bên cạnh đó luận ánsử dụngcác bản án, quyết định để làm sáng tỏ việc vận dụng nguyên tắc thiện chí trong giải quyết các tranh chấp hợp đồng trong ba hệ thống pháp luật.

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ tập trung hướng tới đóng góp nhằm hoàn thiện các quy định thể hiện nguyên tắc thiện chí trong BLDS 2015.

4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu “Nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam với pháp luật một số quốc gia dưới góc độ so sánh” xuất phát từ các tiền đề: Thứ nhất, pháp luật hợp đồng của mọi hệ thống pháp luật đều ghi nhận nguyên tắc thiện chí; và thứ hai, các quốc gia có sự khác biệt về mức độ ghi nhận nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng.

Từ tiền đề thứ nhất, các hệ quả sau cần được lưu ý: (1) sự tương đồng trong việc ghi nhận nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng của các quốc gia thuộc các hệthống pháp luật; và (2) sự khác biệt về chức năng của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật.

Từ tiền đề thứ hai, hệ quả cần được lưu ý là phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc thiện chí không đồng nhất trong pháp luật hợp đồng của các quốc gia.

Trên cơ sở các tiền đề nghiên cứu nêu trên, luận án xác định câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu tập trung vào ba vấn đề lớn là lý luận, thực trạng và kiến nghịliên quan tới việc áp dụng nguyên tắc thiện chí để giải quyết các tranh chấp hợp đồng theo quy định của BLDS 2015.

Câu hỏi nghiên cứu chung: Hiện nay ở Việt Nam đã có cơ sở lý luận về nguyên

tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng để giải quyết các tranh chấp chưa? Thực trạng áp dụng nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng để giải quyết các tranh chấp ở Việt Nam hiện nay có những bất cập gì và tại sao? Làm thế nào để khắc phục những bất cập liên quan đến vấn đề này?

Để trả lời câu hỏi nghiên cứu, luận án đưa ra giả thuyết nghiên cứu: Một là, nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng được ghi nhận trong BLDS 2015 chưa được xây

dựng trên cơ sở lý luận vững chắc, có hệ thống, do đó nguyên tắc này chưa phát huy được hiệu quả điều chỉnh đối với quan hệ hợp đồng. Hai là, thực tiễn vận dụng nguyên

 

Nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam với pháp luật một số quốc gia dưới góc độ so sánh
Nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam với pháp luật một số quốc gia dưới góc độ so sánh

tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng để giải quyết tranh chấp còn hạn chế, chưa thực sự có cơ sở pháp lý vững chắc do các quy định liên quan đến nguyên tắc thiện chí được ghi nhận trong BLDS 2015 chưa đầy đủ, chưa hợp lý.

Nguyên tắc thiện chí là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, có vai trò khắc phục những bất công của việc thực hiện quyền tự do hợp đồng quá mức được thểhiện dưới dạng định hướng hành xử của các bên đã, đang và sẽ tham gia quan hệ hợp đồng, do đó việc xây dựng cơ sở lý luận cho nguyên tắc này trong pháp luật hợp đồng Việt Nam là vô cùng cần thiết. Chính vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu lý thuyết vềnguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng, trongđóxác định khái niệm,đặc điểm,ý nghĩa, phạm vi của nguyên tắc thiện chí. Bên cạnh việc nghiên cứu cơsở lý luận vềnguyên tắc thiện chí, luận án còn nghiên cứu thực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng của Tòa án trong pháp luật hợp đồng Đức, Anh và Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng của ba hệ thống pháp luật, luận án đề xuất các sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quyđịnhliên quan đến nguyên tắc thiện chí của BLDS 2015 nhằm phát huy tối đa hiệu quả điều chỉnh của nguyên tắc này.

Cụ thể, luận án đi vào giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận cho nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng. Trong đó, luận án giải quyết các vấn đề lý luận sau đây:

– Phân tích các vấn đề lý luận về nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng, gồm: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, phạm vi của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, mối liên hệgiữa nguyên tắc thiện chí với nguyên tắc tựdo hợp đồng với mục đích cung cấp hệ thống cơ sở lý luận để hoàn thiện hơn nữa các quy định liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng ở Việt Nam cũng nhưđịnh hướng cho hành xử cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng, định hướng cho hoạt động xét xử.

– Tìm hiểu sơ lược lịch sử phát triển của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật hợp đồng Việt Nam nói riêng.

Thứ hai, luận án phân tích nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng của Đức, Anh, Việt Nam và thực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng của các hệ thống pháp luật nêu trên.

– Luận án xem xét các biểu hiện của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồngĐức và Anh và Việt Nam xuyên suốt các giai đoạn của đời sống hợp đồng. Theo đó, luận án sẽ phân tích các học thuyết liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng của Đức và Anh nhằm tìm ra điểmhợp lý, bất hợp lý của các quy định vềnguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam dựa trên cơ sở lý luận và kiểm chứng bằng thực tiễn xét xử.

7

Thứ ba, trên cơ sở những vấn đề lý luận, thực tiễn và quan điểm của NCS, luận án đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở Việt Nam nói chung và các quy định có liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam nói riêng.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích đặt ra, luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đối với pháp luật hợp đồng Việt Nam, luận án sẽ sử dụng các phương pháp luận đã nêu trên cơ sở quan điểm, mục tiêu, đường lối của Đảng và Nhà nước về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm cả các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn nói chung vàphương pháp nghiên cứu khoa học luật nói riêng cho các nội dung được chỉra trong phạm vi nghiên cứu đề tài. Cụ thể các phương pháp được sử dụng như sau:

Trong Chương 1, luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp phân tích lịch sử, phương pháp quy nạp, diễn dịch, phương pháp so sánhđể làmrõ khái niệm,đặc điểm,ý nghĩa, phạm vi của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật hợp đồng Việt Nam nói riêng.

Trong Chương 2, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng của ba hệ thống pháp luật đểđưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật, luận án chủyếu sửdụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử, phân tích, quy nạp, diễn dịch, so sánh pháp luật.

Trong Chương 3, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong giai đoạn thực hiện và chấm dứt hợp đồng của ba hệ thống pháp luật để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật, luận án chủ yếu sửdụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử, phân tích, quy nạp, diễn dịch, so sánh pháp luật.

6. Tính mới và ý nghĩa khoa học của luận án 6.1. Tính mới của luận án

Luận án “Nguyên tắc thiện chí trong phápluật hợp đồngViệt Nam với pháp luật một số quốc gia dưới góc độ so sánh” thể hiện các điểm mới sau đây:

Thứ nhất, luận án xây dựng được một cách có hệ thống các vấn đề lý luận của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng, bao gồm khái niệm nguyên tắc thiện chítrong pháp luật hợp đồng Việt Nam, chỉ ra đặc điểm, ý nghĩa của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng và vai trò của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng trong ba hệ thống pháp luật Đức, Anh, Việt Nam.

Thứ hai, luận án phân tích các học thuyết có liên quan tới nguyên tắc thiện chí trên thế giới cũng như quan điểm của các học giả nổi tiếng trên thế giới về khái niệm nguyên

8

tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng. Từđó luận án đưa ra gợi mởcho khái niệm nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam.

Thứ ba, luận án phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng dưới góc độ so sánh pháp luật hợp đồng Đức, Anh và Việt Nam cùng với việc nghiên cứu một sốbản án, quyết định. Cụ thể là luận án đi sâu phân tích biểu hiện của nguyên tắc thiện chí trong việc điều chỉnh hành vi đáng trách dẫn tới hợp đồng khôngđược ký kết vàhành viđáng trách dẫn tới hợp đồng vô hiệu.

Thứ tư, luận án phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong giai đoạn thực hiện hợp đồng và chấm dứt hợp đồng dưới góc độso sánh pháp luật hợp đồng Đức, Anh và Việt Nam cùng với việc nghiên cứu một số bản án, quyết định điển hình. Cụ thể là luận án đi sâu phân tích biểu hiện của nguyên tắc thiện chí trong việc điều chỉnhhợpđồngcó nội dung không rõ ràng,hợpđồngthiếunộidung không cơ bản,hợpđồngchứa đựngnộidung bấtcông, việc thực hiện hợpđồngdẫntớibấtcông do hoàn cảnh thayđổicơbảnvà hạn chế quyền chấm dứt hợp đồng của bên bị vi phạm.

Thứnăm, luận án chỉ ra những bất cập còntồn tạitrong các quy định biểu hiện nguyên tắc thiện chí trong các giai đoạn của hợp đồng của Việt Nam vàđề xuất kiến nghịhoàn thiện BLDS 2015 trên cơ sở tiếp thu pháp luật nước ngoài, sự phù hợp với lý thuyết hợp đồng Việt Nam và thực tiễn xét xử ở Việt Nam.

6.2. Ý nghĩa khoa học của luận án

Về phương diện lý luận, thông qua việc làmrõ một số vấn đề lýluận về nguyên

tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng, luận án góp phần vào việc củng cố và hoàn thiện cơ sở lý luận về hợp đồng trong khoa học pháp lý Việt Nam.

Về phương diện thực tiễn, những quan điểm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng được đề xuất trong luận án sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà lập pháp, các cơ quan có thẩm quyền trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hợp đồng Việt Nam. Vì vậy, luận án có ý nghĩa trong việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

Luận án cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho các luật gia trong việc nghiên cứu, vận dụng hoặc giảng dạy pháp luật hợp đồng trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạo luật cũng như là tài liệu tham khảo cho các cơ quan xét xử trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng.

9

B. PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Phần tổng quan về tình hình nghiên cứu sẽ đánh giá tình hình nghiên cứu ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài dựa trên các nội dung sẽ được nghiên cứu trong luận án. Theo đó, phần này sẽđược cấu trúc như sau: mục 1.1 đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình khoa học trong và ngoài nước vềcác vấn đềlý luận của nguyên tắc thiện chí; mục 1.2 đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan tới việc vận dụng nguyên tắc thiện chí cũng nhưcác biến thể của nó để điều chỉnh các hành vi không thiện chí được thực hiện trong giai đoạn tiền hợp đồng;tương tự mục 1.2, mục 1.3 đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan tới việc vận dụng nguyên tắc thiện chí cũng như các biến thểcủa nó trongđiều chỉnh các hành vi không thiện chí được thực hiện trong giai đoạn thực hiện hợp đồng và chấm dứt hợp đồng.

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận về nguyên tắc thiện chí

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng

1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trong giai đoạn thực hiện hợp đồng và chấm dứt hợp đồng

2. Định hướng nghiên cứu của luận án

Tính đến thời điểm hiện nay, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng, thậm chísốlượng các công trình nghiên cứu đề cập đến nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng ở mức độ sơ lược cũng không nhiều. Khác với Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nguyên tắc thiện chí trong phápluật hợp đồngở nước ngoài khá phong phú vàcông phu, tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của các công trình này lại hướng tới pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng nguyên tắc thiện chí của các hệ thống pháp luật nước ngoài. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cũng có giá trị tham khảo cho quá trình nghiên cứu và phát triển luận án. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các học giảtrong và ngoài nước như đã đề cập ở trên, luận án sẽ tiếp tục tiếp thu những nội dung phù hợp, trên cơsở đó luận ánsẽ xây dựng hệ thống cơ sở lý luận, phân tích thực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng ở Việt Nam nhằm đưa ra bức tranh toàn cảnh của nguyên tắc thiện chí và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định có liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong BLDS 2015.

Những vấn đề luận án tiếp tục tiếp thu và phát triển gồm:

Thứ nhất, lý thuyết cơ bản về hợp đồng đã được các học giả trên thế giới xây dựng và phát triển. Kết quả của những công trình này đã được khoa học pháp lý thế giới kiểm chứng và thừa nhận rộng rãi là cơ sở lý thuyết của pháp luật hợp đồng. Do đó, kết quảnghiên cứu của các công trình này sẽ được luận án tiếp thu để làm cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn vào chủ đề chính của luận án là nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng.

Thứ hai, các học thuyết liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp

19

đồng như học thuyết tự do ý chí, học thuyết cơ sở của hợp đồng, học thuyết về lỗi trong đàm phán tiền hợp đồng, học thuyết về thể hiện sai… là cơ sở lý thuyết quan trọng của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng. Các học thuyết này đã được các học giảnước ngoài nghiên cứu và đánh giá kỹ lưỡng. Luận án tiếp tục nghiên cứu nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng ở Việt Nam dựa trên cơ sở các học thuyết nêu trên.

Thứ ba, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong phápluật hợp đồngViệt Nam cần phải tiếp thu kinh nghiệm của pháp luật hợp đồng thế giới, tiêu biểu là pháp luật hợp đồng Đức và pháp luật hợp đồng Anh

– đại diện cho hai truyền thống pháp luật chính trên thế giới hiện nay. Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu về nguyên tắc thiện chí trong hai hệ thống pháp luật hợp đồng này sẽđược luận án tiếp tục tiếp thu và cân nhắc trong bối cảnh pháp luật hợp đồng Việt Nam.

Thứ tư, về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, luận án tiếp tục sử dụng các phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu truyền thống trong khoa học pháp lýmà các học giả trước đã sử dụng. Tuy nhiên, luận án sẽ kết hợp các phương pháp nghiên cứu phù hợp với nội dung nghiên cứu trong từng phần để có cái nhìn toàn diện về nguyên

tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng,từ đó đạt được mục tiêunghiên cứu. Cụ thể, luận án tiếp tục sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, và các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp.

3. Kết cấu của luận án

Luận án gồm 3 phần: Phần mở đầu; Phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu và Phần nội dung cụ thể gồm 3 chương:

Chương 1. Khái quát chung về nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Chương 2. Nguyên tắc thiện chí trong đàm phán tiền hợp đồng

Chương 3. Nguyên tắc thiện chí trong thực hiện và chấm dứt hợp đồng

20

TIỂU KẾT

Pháp luật hợp đồng là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước dưới những góc độ khác nhau, tuy nhiên, nghiên cứu về nguyên tắc nói chung và nguyên tắc thiện chí nói riêng trong pháp luật hợp đồng lại nhận được sự quan tâm khác biệt giữa các luật gia Việt Nam và nước ngoài.

Xuất phát từ thực tế là nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng được hầu hết các hệ thống pháp luật ghi nhận nhưng các hệ thống pháp luật lại có sự khác biệt về mức độ ghi nhận nguyên tắc này, luận án này đã đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài luận án. Các công trình nước ngoài đã nghiên cứu tươngđối sâu, có giá trị lý luận và thực tiễn không thể không kế thừa. Tuy nhiên, các công

trình nghiên cứu ngoài nước chỉ có giá trị tham khảo, so sánh, gợi ý các giải pháp…chứkhông có ý nghĩa áp đặt hay loại bỏ việc nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam bởi có sựkhác biệt giữa các hệ thống pháp luật về các vấn đề pháp lý như phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng. Tuy nhiên, đây vẫn là những công trình quan trọng mà mọi công trình nghiên cứu về nguyên tắc thiện chí cũng cần kế thừa.

Các công trình nghiên cứu của tác giả Việt Nam cũng đạt được những thành tựu nhất định, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, song do nhu cầu hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng, quan hệ hợp đồng, đặc biệt là quan hệ thương mại ngày càng đa dạng vàphức tạp đòi hỏi Việt Nam không chỉ cần xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh mà còn đòi hỏi Việt Nam hiểu biết hơn về pháp luật của đối tác, do đó cònđể nhiều khoảng trống cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này.

Bởi lẽ đó, luận án xác định hướng nghiên cứu mới về các vấn đề như nền tảng lý luận của nguyên tắc thiện chí, thực trạng pháp luật về nguyên tắc thiện chí cũng nhưthực tiễn vận dụng nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng cùng với các kiến nghịcó tính hệ thống liên quan đến biểu hiện của nguyên tắc thiện chí ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó đặt ra định hướng nghiên cứu của luận án.

Bằng các phương pháp đã được lựa chọn như phương pháp phân tích lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp diễn dịch, quy nạp, luận ánđề xuất hoàn thiện pháp luật hợp đồng Việt Nam nói chung và hoàn thiện các quy định liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam nói riêng.

21

C. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THIỆN CHÍTRONG PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG

1.1. Khái niệm thiện chí và nguyên tắc thiện chí

Thiện chí là một khái niệm có nguồn gốc từ tư tưởng đạo đức trong triết học Hy Lạp, điển hình là tư tưởng của triết gia Hy Lạp cổ đại Aristole về nghĩa vụ của con người với con người trong xã hội, đó là “nếu thiện chí không tồn tại thì mọi trao đổi giữa con người sẽ biến mất”9. Tư tưởng của Aristole được các triết gia theo trường phái khắc kỷtruyền bá vào La Mã, sau đó được triết gia La Mã Marcus Tullius Cicero mở rộng tới lĩnh vực pháp luật.10 Theo Cicero, sự đúng đắn, công bằng là các yếu tố liên kết con người trong xã hội chodù người đócó phải là công dân La Mã hay không và thiện chílà cơ sở của nghĩa vụ qua lại giữa các bên trong giao dịch.11 Bên cạnh đó, Cicero cũng chỉ rõ “thiện chí thể hiện tất cả những tình cảm trung thực của một lương tâm trong sạch mà không đòi hỏi đến mức một người phải biến vị tha thành hy sinh; luật pháp cấm các thủ đoạn trong quan hệ hợp đồng và các mánh khóe tinh vi, hành xử thiếu trung thực, tính toán gian lận, những che giấu và bắt chước mang tính lừa dối, ácý dưới vỏbọc của sự thận trọng và kỹ năng, lợi dụng sự tin cậy, ngây thơ và thiếu hiểu biết”12.

Ban đầu người La Mã không phân biệt khái niệm thiện chí dưới khía cạnh đạo đức đơn thuần và khái niệm thiện chí dưới khía cạnh pháp lý mà sự phân biệt này chỉ xuất hiện khi có sự tách bạch giữa đạo đức và pháp luật. Theo đó, khái niệm thiện chí dưới góc độ pháp lý (bona fides) được tách khỏi khái niệm thiện chí dưới góc độ đạo đức thông thường là trung thực (honestum) và có nội dung riêng.13

Ngày nay, khái niệm thiện chí được biết đến rộng rãi trong các hệ thống pháp luật dưới nhiều ngôn ngữ khác nhau như “bonne foi” trong tiếng Pháp, “treu und glauben” và “guter glaube”trong tiếngĐức, “good faith” và “good faith and fair dealing” trong tiếng Anh. Tuy nhiên, khác với các khái niệm pháp lý khác, khoa học pháp lý thế giới đến nay vẫn chưa thống nhất trong việc đưa ra khái niệm thiện chí chung. Thay vào đó, khái niệm thiện chí được khoa họcpháp lýthếgiới tiếpcậndướinhiều góc độkhác nhau, trong đó nổi bật là năm cách tiếp cận sau:

Thứ nhất, cách tiếp cận theo khía cạnh chủ quan và khách quan

9 J. F. O’Connor (1991), Good Faith in International Law, Dartmouth Publishing, tr.56.

10 Max Hamburger (1971), Morals and Law: The Growth of Aristotle’s Legal Theory, Yale University Press, tr.154. 11 Max Hamburger (1971), tlđd, tr.154.

12 Bénédicte Fauvarque-Cosson and Denis Mazeaud (2008), European Contract Law – Materials for a Common Frame of Reference: Terminology, Guiding Principles, Model Rules, Sellier European law publishers, tr.156.

13 Emanuela Iftime (2015), “Good faith in Greek civil code”, Journal of Public Administration, Finance and Law, (02), tr. 133.

22

Đây là cách tiếp cận được nhiều hệ thống pháp luật biết đến.14 Theo cách tiếp cận này, thiện chí chủ quan được hiểu là sự tin tưởng nhầm lẫn về một sự kiện, một quyền hoặc một quy định pháp luật và thiện chí khách quan được hiểu là chuẩn mực hànhxửđược đánh giá dựa trên các giá trị đạo đức xã hội.

Dưới góc độ chủ quan, thiện chí trong pháp luật dân sự nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng mang nghĩa hẹp, liên quan tới đạo đức của mỗi chủ thể và được sử dụng như một công cụ đánh giá hành xử của một người dựa trên trạng thái tâm lý hay niềm tin nội tâm của người đó trước một sự kiện hoặc lợi ích pháp lý. Dưới góc độ này thiện chí được hiểu là sự ngay thẳng, đúng đắn, sự tin tưởng chính đáng, không có dụng ý

xấu… Trên cơ sở thiện chí chủ quan, một người được xác định là thiện chí (ngay tình) nếu người này không biết và cũng không phải biết về sự kiện, quyền hoặc quy định pháp luật cụ thể nên đã hành xử với tâm thế của một người hànhxử đúngpháp luật. Trái lại, một người được xác định là không thiện chí (không ngay tình) nếu người này biết hoặc đáng lẽ phải biết về sự kiện, quyền hoặc quy định pháp luật cụ thể nhưng đã hành xửkhông phù hợp với pháp luật.

Thiện chí dưới góc độ chủ quan thường liên quan đến việc đánh giá hành xử của các chủ thể trong quan hệ vật quyền, chẳng hạn như trường hợp một người có được tài sản một cách ngay tình (bona fide acquisition). Trong lĩnh vực hợp đồng, thiện chí dưới góc độ chủ quan là công cụ bảo vệ niềm tin nhận thức của một chủ thể trong trường hợp chủ thể đó đã tin tưởng một cách hợp lý vào sự thể hiện ý chí không chính xác của chủthể khác, nói chính xác hơn là đã tin tưởng vào thông tin không chính xác do một chủ thể khác đưa ra nên đã hành xử dựa trên niềm tin đó.

Chẳng hạn do tin tưởng rằng B là chủ sởhữu của mộtbộ sách quý nên A đã mua của B những cuốn sách này mà không biết rằng B đã lấy trộm những cuốn sách này của C. Về phương diện pháp lý, A được xem là ngay tình do A không biết B là kẻ trộm và tin rằng B là chủ sở hữu của những cuốn sách đó. Niềm tin nội tâm (chủ quan) của A trong trường hợp này (không biết, không buộc phải biết B không phải là chủ sở hữu) làmột sựkiện thực tế và để được pháp luật bảo vệ A phải chứng minh điều đó. Nếu A chứng minh được điều này, A (người mua ngay tình) sẽ được pháp luật bảo vệ.

Mục đích của pháp luật trong việc ghi nhận thiện chí chủ quan trước hết là bảo vệchủ thểngay tình tham gia giao dịch khỏi việc phải trả lại tàisảnđã mua cho chủ sở hữu thực sựtrong khi chủ thể này không chắc có thể lấy lạiđược sốtiền mà anh tađã bỏrađể có được tàisảnđó.Mục đích thứ hai và quan trọng hơn là pháp luật hướngtớibảo vệ tính chắc chắn pháp lý của giao dịch đã được xác lập và bảo vệ kỳ vọng hợp lý của

các bên, qua đó thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển – mục đích chung của mọi hệ thống

14 Bénédicte Fauvarque-Cosson and Denis Mazeaud (2008), tlđd, tr.156; Martin W. Hesselink (2011), “The Concept of Good Faith”, Toward a European civil code, Kluwer Law International, tr.619-620; Simon Whittaker and Reinhard Zimmermann (2000), “Good Faith In European Contract Law: Surveying The Legal Landscape”, Good Faith in European Contract Law, Cambridge University Press, tr.30-31.

23

pháp luật.

Như vậy, dưới góc độ chủ quan, thiện chí là công cụ đánh giá hành xử của các chủthể dựa trên niềm tin nhận thức (yếu tố bên trong) của mỗi chủ thể, liên quan mật thiết đến sự tin tưởng nhầm lẫn của chủ thể thực hiện hành vi (niềm tin nhận thức) hay trạng thái tâm lý của chủ thể thực hiện hành vi. Trong lĩnh vực hợp đồng, sự tin tưởng của các bên đối với nhau và niềm tin của các bên vàohợp đồnglà các yếu tố đánh giá sự thiện chí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng.

Sự tin tưởng của các bên đối với nhau được xác định dựa trên phẩm chất, lợi ích, sự kỳ vọngcũng như hành xử của các bên.Điều đócó nghĩa là khi giải quyết tranh chấp trong lĩnhvực hợp đồng, để đánhgiá sự tin tưởng của các bên với nhau Tòa án sẽ dựa vào mức độ hiểu biết, kiến thức chuyên môn của mỗi bên về lĩnhvực hợp đồngtranh chấp để đưa ra phán quyết bảo đảm sự công bằng, đặc biệt là áp dụng chế tài đối với bên có kiến thức chuyên môn nhưng đã hành xử không phù hợp với những gì mà bên này biết là cần thiết. Tòa án cũng xét đến sự quan tâm của mỗi bên đến lợi ích của đối tác, theo đó các bên đều phải trung thành với cam kết của mình, không được lạm dụng quyền của mình để gây bất lợi cho đối tác cũng như không được lợi dụng sự tin tưởng của đối tác để mưu lợi. Chẳng hạn, một bên sẽ bị coi là không thiện chí nếu bên này có những hành xử khiến đối tác tin tưởng nhưng sau đó đã hành xử trái với sự tin tưởng đó. Sự tin tưởng của các bên đối với nhau cũng được thể hiện qua kỳ vọng hợp lý của mỗi bên, nghĩa là nếu một bên đã có hành xử khiến đối tác mong đợi một cách hợp lý rằng hợp đồng sẽ được ký kết nhưng sau đó lại có hành xử phản bội kỳ vọng của đối tác thì hành xử của bên này sẽ bị coi là trái với thiện chí. Bên cạnh các yếu tố như sự hiểu biết, lợi ích và kỳ vọng của mỗi bên, sự tin tưởng của các bên đối với nhau còn được xác định qua hành xử hợp lý của các bên. Nói cách khác, hành xử hợp lý là một yếu tố xác định sự thiện chí của mỗi bên. Hành xử không hợp lý có thể là hành xử sai trái như không cung cấp thông tin, cung cấp thông tin không chính xác khiến đối tác tin tưởng mà xác lập hợp đồng đi ngược lại lợi ích của mình; hành xử đột ngột của một bên nằm ngoài dựkiến hợp lý của đối tác hoặc hành xử mâu thuẫn (hành xử trái với hành xử trước đó) chẳng hạn hành vi cắt đứt đàm phán đột ngột khi các bên gần điđến ký kết hợp đồng khiến đối tác phải gánh chịu thiệt hại.

Niềm tin của các bên vào hợp đồng hay mục đích của hợp đồng thể hiện chủ yếu qua nộidung của hợp đồng, cụthểlà cácđiều khoản của hợp đồngdo các bên thỏa thuận. Trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, niềm tin của các bên vào hợp đồng, theo khoản 2 Điều 3 BLDS 2015, về nguyên tắc là bất khả xâm phạm, nghĩa không bị ảnh hưởng bởi sự tin tưởng của cá nhân mỗi bên. Nếu ý chí của các bên đã được thể hiện một cách rõ ràng, trong sáng qua các điều khoản của hợp đồng thì các điều khoản đóphải được tôn trọng và phải đượcthực hiện nghiêm ngặt. Dođó khi giải quyết tranh chấp, Tòa án không thể sửa đổi nội dung của hợp đồng dựa trên sự tin tưởng của một

24

bên nếu như các điều khoản đó đã được thể hiện rõ ràng, trong sáng. Tuy nhiên, nếu hợp đồng có điều khoản không được thể hiện rõ ràng thì Tòa án phải xác định nội dung của các điều khoản thông qua việc giải thích các điều khoản này trên cơ sở nguyên tắc thiện chí. Theo đó, việc giải thích hợp đồng phải được thực hiện với sự tôn trọng niềm tin hợp lý của các bên vào hợp đồng, hay nói cách khác việc giải thích hợp đồng phải phù hợp với mục đích của hợp đồng. Bên cạnh đó, Tòa án cũng có thể cho phép chấm dứt hợp đồng nếu hành vi của một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thiện chí dẫn tới mục đích của hợp đồng không đạt được. Mặc dù về nguyên tắc niềm tin của các bên đối với hợp đồng là bất khả xâm phạm nhưng nếu niềm tin này dẫn tới sự bất công nghiêm trọng do có sự xuất hiện của các yếu tố nằm ngoài khả năng dự đoán của các bên khi giao kết

hợp đồng như lạm phát nghiêm trọng, chiến tranh, dịch bệnh… thì niềm tin của các bênđối với hợp đồng có thể phải nhường bước để đảm bảo sự cân bằng lợi ích của các bên. Trong trường hợp này, nguyên tắc thiện chí sẽ được Tòa án áp dụngđể loại bỏ sự bất công thái quá và cân bằng lợi ích của các bên trong quanhệ hợp đồng.

Như vậy, để xác định các bên tham gia quan hệ hợp đồng có thiện chí hay không, người ta không thể chỉ xét đến trạng thái tâm lý đơn thuần của người thực hiện hành vi mà phải xem xét trạng thái tâm lý đó dựa trên nhận thức và giátrị đạo đức của xãhội.Điều này cho thấy mặc dù khái niệm thiện chí chủ quan chủ yếu dựa trên trạng thái tâm lý của người thực hiện hành vi (yếu tố chủ quan) nhưng cũngđồngthời hướng tới một giá trị mang tính khách quan đó là nhận thức và giá trị đạo đức xã hội.

Dưới góc độ khách quan, thiện chí trong trong pháp luật dân sự cũng như pháp luật hợp đồng được hiểu theo nghĩa rộng, liên quan mật thiết đến các giá trị đạo đức được xã hội thừa nhận. Theo đó, thiện chí được hiểu là hành xử một cách trung thành, trung thực, không lừa dối người khác. Trung thực về bản chất gắn liền với ý định của người thực hiện hành vi, trong khi trung thành là hành xử tận tâm với đối tác, là cách xử sự mang tính chuẩn mực cần có của một chủ thể trong một tình huống nhất định. Nói cách khác, thiện chí dưới góc độ khách quan chỉ đến một chuẩn mực pháp lý chung, một công cụđánh giá hành xử của các bên trong quan hệ hợp đồng. Dưới góc độ này, thiện chí làmột chuẩn mực pháp lý mang tính đạo đức xã hội, chỉ đến sự trung thực, ngay thẳng,

không có dụng ý xấu, không vụ lợi, thực hiện nghĩa vụ một cách tận tâm… trong đónghĩa vụ quan tâm đến lợi ích của nhau được xem là chuẩn mực cơ bản của thiện chí.15 Các chuẩn mực pháp lý mang tính đạo đức xã hội này được hiểu là những hành xử hợp lý thể hiện sự thiện chí của các bên, được xác định dựa trên tập quán, thói quen đã được xác lập giữa các bên hoặc các giá trị đạo đức được xã hội thừa nhận.

Ở Việt Nam, tập quán được biết đến là “thói quen đã thành nếp trong đời sống xãhội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa

15 Martin W. Hesselink (2011), tlđd, tr.621.

25

nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng”16. Với ý nghĩa là quy ước chung được cộng đồngthừa nhận, tập quán được Bộ Chính trị xác định là một trong những tiêu chí quan trọng để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế trongđócó pháp luật về hợp đồng.17 Thể chế hóađườnglối, chính sáchcủa Đảng,trong BLDS 2015, tập quán được ghi nhận với tính cách là một nguồn của pháp luật dânsự18 vàđượcđịnhnghĩa là“quy tắc xử sự cónội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cánhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự”19. Trên cơ sở khoản 1 Điều 5 BLDS 2015, có thể nhận thấy tập quán không chỉ là chuẩn mực hànhxử màcòn làtiêu chí cho phép Tòa án đánh giá hành xử của một chủ thể có tuân theo những chuẩn mực hành xử mà cộng đồng đã thừa nhận hay không.20 Chuẩn mực hành xử hay những mô hình hành xử của các bên tham gia quan hệ hợp đồng cũng là yếu tố cho phép Tòaán xác định kỳ vọng hợp lý của các bên trong quan hệ đó và qua đó xác định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể bởi kỳ vọng hợp lý là yếu tố ảnhhưởngtới quyết định của các bên trong việc tham gia vào một quan hệ hợp đồng cụ thể màyếu tố này lại được hình thành trên cơ sở dự đoán đối tác sẽ hành xửtheo mô hình đã được cộng đồng hoặc ngành nghề thừa nhận chung.

Bên cạnh tập quán, thói quen hành xử được xác lập giữa các bên cũng được xem là chuẩn mực hành xử thể hiện thiện chí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Đây là hành xử được hình thành giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng dựa trên thỏa thuận hoặc các bên đã thể hiện sự thừa nhận hành xử này qua việc chấp nhận hành xử đó theo cùng một cách, trong hoàn cảnh tương tự. Nói cách khác, tập quán, thói quen hành xửđược hình thành giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng là yếu tố khách quan của khái niệm thiện chí chủ quan.

Từ góc độ thiện chí khách quan, tiêu chí trạng thái tâm lý hay ý chí thực sự của các bên (yếu tố bên trong) nhường chỗ cho tiêu chí hành xử theo chuẩn mực của xã hội (yếu tố bên ngoài). Nói cách khác, dưới góc độ khách quan, thiện chí là công cụ đánh giá hành xử của một chủ thể từ góc độ bên ngoài dựa trên chuẩn mực xử sự được xã hội kỳ vọng thông qua tiêu chí hành xử của một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự (hành xử hợp lý) để đưa ra đánh giá “hành xử là phù hợp hay trái với thiện chí”21.

16 Điểm g khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về Hướng dẫnthi hành một số quy định về “chứng minh và chứng cứ”của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã đượcsửa đổi,bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dânsự.

17 Mục 3 phần II Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Namđếnnăm 2010, định hướng đến năm 2020.

18 Khoản 2 Điều 5 BLDS 2015. 19 Khoản 1 Điều 5 BLDS 2015.

20 Phùng Trung Tập (2015), “Phong tục, tập quán và áp dụng tập quán trong công tác xétxử ándânsự”,Nghiên cứu lập pháp, (05), tr.15, 16.

21 Martin W. Hesselink (2011), “tlđd, tr.620.

26

Tuy nhiên, dưới khía cạnh này, yếu tố trạng thái tâm lý của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng không hoàn toàn bị bỏ qua mà vẫn đóng vai trò nhất định trong việc đánh giá hành xử của các bên trong thiện chí khách quan. Đó là để đánh giá hành xử của các chủ thể, pháp luật dựa trên tiêu chí giả định các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng là trung thực và do đó chủ thể nào cho rằng đối tác của mình không thiện chí thì phải chứng minh điều này dựa trên sự hiểu biết và toàn bộ hành vi của người được giả định có thiện chí. Điều này xuất phát từ thực tế là việc đưa ra bằng chứng chứng minh một người có ý định không trung thực là rất khó khăn, thậm chí gần như không thể. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng hành xử không thiện chí không hoàn toàn đồng nghĩa với hành xử với ý định không trung thực, chẳng hạn như hành xử bất cẩn.

Dưới khía cạnh hành xử tận tâm, thiện chí được hiểu là một chuẩn mực hành xử – cách xử sự có thể chấp nhận được hoặc thực hiện quyền một cách hợp lý. Để xác định hành xử của một người có thiện chí hay không, pháp luật sẽ xác định hành vi được thực hiện dựa trên tiêu chí hành xử của một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự. Nghĩa là hành xử của một người sẽ được đánh giá dựa trên các giá trị đạo đức xã hội. Theo đó, hành xử trái với yêu cầu của thiện chí không chỉ là những hành viđược thực hiện với dụng ý xấu mà còn bao hàm cả hành vi được thực hiện một cách không hợp lýtrong hoàn cảnh đó. Nói cách khác, hành xử không hợp lý đồng nghĩa với hành xử trái với yêu cầu của thiện chí, do đó, một người mặc dù không có dụng ý xấu nhưng hành xử của người đóvẫn có thể bị xem là hành xử không thiện chí nếu đó là hành xử bị xã hội lên án. Chẳng hạn khi A tư vấn cho B mua quyền sử dụng một lô đất, A đã bất cẩn không cung cấp thông tin về quy hoạch của thành phố cho B khiến B bất lợi khi quyết định mua quyền sử dụng lô đất đó. Trong trường hợp này, nếu xét về trạng thái tâm lý thì A không có dụng ý xấu nhưng sự bất cẩn trong hành xử của A đã gây tổn thất cho B, do đó, hành xử đó của A là đáng chê trách.

Dựa trên tiêu chí hành xử hợp lý, có thể cho rằng thiện chí khách quan hoàn toàn dựa trên các chuẩn mực đạo đức xã hội để đánh giá hành xử của một người và do đó yếu tố tâm lý hay chủ ý của người thực hiện hành vi đó sẽ không được xem xét. Tuy nhiên,đểchứng minh một người có hành xửkhông hợp lý người ta phải dựa trên giảđịnh người thực hiện hành vi đó là thiện chí. Nói cách khác, mặc dù thiện chí khách quan không xem trạng thái tâm lý là tiêu chí chủ yếu để đánh giá hành xử của các chủ thểnhưng yếu tố này vẫn được xem xét khi đánh giá hành xử của các bên tham gia quan hệhợp đồng hay khái niệm thiện chí khách quan không chỉ chứa đựng yếu tố khách quan

(các giá trị đạo đức xã hội) mà còn chứa đựng cả yếu tố chủ quan (trạng thái tâm lý của các bên tham gia quan hệ hợp đồng).

Mặc dù cách tiếp cận khái niệm thiện chí thông qua việc phân biệt thiện chí khách quan và thiện chí chủquan là cách tiếp cận được nhiều hệthống pháp luật lựa chọn nhưng như trên đã chỉ ra, sự phân biệt giữa thiện chí chủ quan và thiện chí khách quan

27

không đủ rõ ràng bởi trong thiện chí khách quan tồn tại một phần thiện chí chủ quan vàngược lại. Sự không rõ ràng trong cách tiếp cận khái niệm thiện chí thông qua việc phân biệt thiện chí khách quan và thiện chí chủ quan được thấy rõ qua việc các hệ thống pháp luật sử dụng các thuật ngữ khác nhau để chỉ đến thiện chí. Chẳng hạn như pháp luật Đức và pháp luật một số quốc gia chịu ảnh hưởng của Đức như Ý và Hà Lan sử dụng hai thuật ngữ khác nhau để chỉ đến thiện chí khách quan và thiện chí chủ quan22 trong khi

đó pháp luật Pháp và các quốc gia chịu ảnh hưởng của Pháp nhưBỉ… chỉ sử dụngmột thuật ngữ duy nhất mang cả nghĩa chủ quan và khách quan. Bên cạnh đó, các quốc gia theo truyền thống common law mặc dù cũng sử dụng hai thuật ngữ để chỉ đến thiện chílà “good faith” và “good faith and fair dealing” nhưng hai thuật ngữ này đều chứa đựng cả nghĩa chủ quan và nghĩa khách quan và được sử dụng thay thế cho nhau.

Mặc dù cách tiếp cận thiện chí theo nghĩa chủ quan và khách quan gặp phải những chỉ trích nêu trên nhưng có thể nhận thấy cách tiếp cận này cũng được pháp luật hợp đồng của các hệ thống không thừa nhận nguyên tắc thiện chí chung sử dụng. Chẳng hạn,Đạo luật Mua bán hàng hóa 1979 (Sale of Goods Act 1979) của Anh đã sử dụng khái niệm thiện chí theo nghĩa chủ quan qua việc thừa nhận quyền sở hữu của người mua ngay tình đối với tài sản tại Điều 23, Điều 24, Điều 25. Bên cạnh đó thiện chí theo nghĩa khách quan cũng được ghi nhận tại một số văn bản pháp luật về hợp đồng của Anh nhưĐạo luật Bảo hiểm hàng hải 1906 (Marine Insurance Act 1906)23, các Quy định chuyển hóa các Chỉ thị chung châu Âu như Quy định về Đại diện thương mại 1993 (Commercial Agents Regulations 1993)24, Quy định về điều khoản bất công trong hợp đồng tiêu dùng 1999 (The Unfair Terms in Consumer Contracts Regulations 1999)25, Quy định về bảo vệngười tiêu dùng (trong các giao dịch mua bán từxa) 2002 (Consumer Protection

[Distance Selling] Regulations 2002)26,…

Như vậy, thiện chí là một khái niệm vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan. Dưới góc độ chủ quan, thiện chí là giả định của một quy phạm pháp luật và khi giả định này tồn tại sẽ làm phát sinh những hậu quả nhất định mà quy phạm pháp luật đó dự liệu. Trong trường hợp này, chế tài mà pháp luật đưa ra là nhằm trừng phạt bên có trạng thái tâm lý không thiện chí. Khác với thiện chí chủ quan, thiện chí dưới góc độkhách quan được biết đến là hành xử hợp lý của một người trong một hoàn cảnh nhất định, do đó, chế tài mà pháp luật đưa ra là nhằm trừng phạt hành vi vi phạm nghĩa vụthiện chí chứ không hướng tới trừng phạt trạng thái tâm lý không thiện chí của một trong các bên. Một cách chung nhất có thể nói thiện chí khách quan tạo ra chuẩn mực ứng xử

22 Martin W. Hesselink (2011), tlđd, tr.619. 23 Điều 17 Đạo luật Bảo hiểm hàng hải 1906.

24 Điều 4, Điều 5 Quy định về Đại diện thương mại 1993.

25 Khoản 1 Điều 5 Quy định về điều khoản bất công trong hợp đồng tiêu dùng 1999 (nay được thaythế bởi Đạo luật bảo vệ người tiêu dùng 2015).

26 Khoản 2 Điều 7 Quy định về bảo vệ người tiêu dùng (trong các giao dịch mua bán từ xa) 2002.

28

của các bên trong quan hệ hợp đồng (thông qua chức năng bổ sung nghĩa vụ ngầm định) nhưng thiện chí chủ quan thì không có vai trò này.

Thứ hai, cách tiếp cận trực tiếp

Đây là cách tiếp cận khái niệm thiện chí được nhiều học giả trên thế giới sử dụng thông qua việc trực tiếp liệt kê nội hàm của khái niệm này. Chẳng hạn J. F. O’Connor cho rằng nguyên tắc thiện chí là “một nguyên tắc cơ bản có nguồn gốc từ nguyên tắc pacta sunt servanda và các quy tắc pháp lý khác, liên quan rõ ràng và trực tiếp tới sựtrung thực, công bằng, hợp lý, việc áp dụng thiện chí được quyết định trong một khoảng thời gian cụ thể thông qua chuẩn mực trung thực, công bằng và hợp lý đang chiếm ưu thế trong xã hội được coi là phù hợp để xây dựng các quy tắc pháp lý mới hoặc sửa đổi các quy tắc pháp lý”27.

Tương tựnhư J. F. O’Connor, William Tetley cho rằng thiện chí trong quan hệhợp đồng là“hành vi chính trực và trung thực giữa các bên và thậm chí đối với người thứ ba, người có liên quan là điều mà các bên mong đợi khi tham gia giao dịch. Nguyên tắc thiện chí đòi hỏi mỗi bên phải công bằng và trung thực trong đàm phán và khi đãđạt được thỏa thuận thìcác bên phải thực hiện nghĩa vụ và thực thi các quyền của mình một cách trung thực và công bằng”28.

Xem nguyên tắc thiện chí là côngcụ bảo vệ kỳ vọnghợp lý của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, Paul J. Powers cho rằng nguyên tắc thiện chí tương tự như nguyên

tắc vàng do Jean Jacques Rousseau đưa ra là “hãy đối xử với người khác theo cách mà bạn mong muốn được đối xử”29. Trên cơ sở đó Powers đã đánh đồng thực hiện hợp đồng một cách trung thực, công bằng và hợp lý với thực hiện nghĩa vụ thiện chí.30 Nói cách khác, theo Powers, nguyên tắc thiện chíđòihỏi “cácbên phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồngcủa họ một cách trung thực và công bằng theo cách mà cộng đồng thương mại có thể chấp nhận được”31.

Khác với các học giả trên, Simon Whittaker và Reinhard Zimmermann dựa trên việc phân tích các thành tố của thuật ngữ “treu und glauben” được ghi nhận tại Điều 242 BLDS Đức để đưa ra khái niệm thiện chí. Theo đó, “Treue … biểu thị sự trung thành trong tâm trí và trong hành động, sự trung thực, đáng tin cậy; glaube có nghĩa là sự tin cậy hoặc sự tín nhiệm. Sự kết hợp của “treu und glauben” đôi khi được xem là có nghĩa rộng hơn hai thành tố tạo nên nó và được hiểu là một khái niệm độc lập. Nguyên tắc này cho thấy một chuẩn mực hành xử trung thực, trung thành và ân cần, hànhxử cótính

27 J. F. O’Connor (1990), Good Faith in English Law, Dartmouth Publishing, tr.102.

28 William Tetley (2004), “Good faith in contract: particularly in the contracts of arbitration and chartering”, Journal of Maritime law and commerce, (35), tr.563-564.

29 Paul J. Powers (1999), “Defining the Undefinable: Good Faith and the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods”, Journal of Law and Commerce, (18), tr.352.

30 Paul J. Powers (1999), tlđd, tr.352. 31 Paul J. Powers (1999), tlđd, tr.352.

29

đến lợi íchcủa nhau, nguyên tắc này ngầmđịnh vàbao hàm sự bảo vệ niềm tin hợp lý”32.

Thứ ba, cách tiếp cận dựa trên phân tích loại trừ (excluder analysis)

Đây là cách tiếp cận do Robert Summers đưa ra năm 1968 khi bình luận nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng nói chung và các quy định về hợp đồng mua bán

của Bộluật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ33 (UCC) nói riêng. Cách tiếp cận của Summers có tầm ảnh hưởng rất lớn trong khoa học pháp lý hợp đồng Hoa Kỳ nói riêng và pháp luật hợp đồng common law nói chung và được ghi nhận tại Điều 205 Tuyển tập lần thứ hai về Luật hợp đồng.34

Xuất phát từ nhận định thiện chí có bản chất là một nguyên tắc nhưng không thểđưa ra một định nghĩa thiện chí chung do đặc tính mở của khái niệm này,35 Summers đãdựa trên nhận xét về từ ngữ của triết gia lỗi lạc Aristotle36để chỉ rathiện chí không có nội hàm riêng. Theo Summers, “thiện chí là một từ mà bản thân nó không có nghĩa vàđóng vai trò loại trừ các biểu hiện không thiện chí khác nhau”37 và “nghĩa của thiện chí phụ thuộc vào từng bối cảnh cụ thể, nhưng thông thườngchỉ được xác địnhbằng cách loại trừ các biểu hiện không thiện chí thực tế hoặc giả định”38.

Trên cơ sở các nhận xét đó, Summers cho rằng nội hàm của khái niệm thiện chíđược xác định thông qua việc loại trừ những gì là không thiện chí – các hành xử không đúng chuẩn mực.39 Chẳng hạn, hành vi che giấu khiếm khuyết của hàng hóa của người bán là hành xử không đúng chuẩn mực và trái với nghĩa vụ thiện chí. Mặt khác, Summers cũng chỉ ra hành xử không đúng chuẩn mực của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng không nhất thiết là hành xử vô đạo đức và ngược lại hành xử của một người với suy nghĩ chủ quan là tốt nhất cho bên kia cũng có thể bị xem là hành xử trái với nghĩa vụthiện chí.40

Thứ tư, cách tiếp cận dựa trên học thuyết bỏ qua cơ hội (foregone oppotunities)Đây là cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế luật do Steven J. Burton đưa ra. Với những

phân tích tập trung vào khía cạnh kinh tế của nguyên tắc thiện chí, cách tiếp cận này cóvai trò quan trọng trong việc phát triển học thuyết thiện chí ở Hoa Kỳ.41

32 Simon Whittaker and Reinhard Zimmermann (2000), tlđd, tr.30-31. 33 Uniform Commercial Code (UCC).

34 Restatement (Second) of Contracts.

35 Emily M.S. Houh (2005), “The Doctrine of Good Faith in Contract Law: A (Nearly) Empty Vessel?, Utah Law Review, (1), tr.7.

36 Aristotle cho rằng một số từ và cụm từ không có chức năng truyền tải ý nghĩa của riêng của nó mà có chức năng loại trừ một hoặc nhiều từ hoặc cụm từ khác.

37 Robert S Summers (1968), ““Good faith” in General Contract Law and the Sales Provisions of the Uniform Commercial Code”, Virginia Law Review, (54), tr.201.

38 Robert S Summers (1968), tlđd, tr.201.

39 Robert S. Summers (1982), “The General Duty of Good Faith – Its Recognition and Conceptualization”, Cornell Law Review, (67), Tr.811.

40 Robert S Summers (1968), tlđd, tr.204. 41 Emily M.S. Houh (2005), tlđd, tr.8.

30

Theo cách tiếp cận này, thiện chí được xem là công cụ đánh giá hành vi thực hiện quyền quyếtđịnhcó được từhợp đồngđã được ký kết. Dựa trênlậpluận khi kýkếthợpđồng giữa các bên có một sự tin tưởng nhất định bởi các bên sẽ không ký kết hợp đồng nếu họ không tin tưởng lẫn nhau, Burton cho rằng trong hợp đồng nếu một bên được trao quyền quyết định trong tương laivề một số vấn đề nhất định thìbên trao quyền cócơ sở hợp lý để tin rằng bên được trao quyền sẽ không sử dụng quyền được trao để gây hại cho mình qua việc lấy lại cơ hội đã bỏ qua.42

Dựa trên thực tiễn xét xử liên quan đến bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, Burton cho rằng trong trường hợp hợp đồng trao cho bên vi phạm hợp đồng quyền quyết

định trong tương lai một số vấn đề như giá cả, số lượng, thời gian thực hiện hợp đồng… thì mức bồi thường thiệt hại được xác định dựa trên lợi ích kỳ vọng truyền thống sẽkhông bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm hợp đồng bởi lợi ích mà bên bị vi phạm có thể kỳ vọng hoàn toàn phụ thuộc vào việc thực hiện quyền quyết định của bên vi phạm hợp đồng.43 Nói cách khác, trong trường hợp này lợi íchcủabên bị vi phạm hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của bên vi phạm hợp đồng trong việc thực hiện quyền quyết định các vấn đề nhất định. Do đó, mức bồi thường thiệt hại được xác định dựa trên lợi ích kỳ vọng từ hợp đồng không bảo vệ được bên bị vi phạm hợp đồng nếu bên vi phạm hợp đồng không thiện chí trong việc thực hiện quyền quyết định của mình.

Trên cơ sở nhận định đó, Burton đề xuất mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợpđồng nên được xem xéttừgóc độ thực hiện quyền quyết định được trao cho bên vi phạm hợp đồng bởi cách tiếp cận này cho phépbảovệ cân bằng hơnlợiích của bênbịvi phạm hợp đồng dựa trên thiện chí.44 Burton cũng cho rằng nghĩa vụ thiện chí ngầm định trong hợp đồng chính là cơ sở để đánh giá hànhxửcủa bên được trao quyền quyết định theo hợp đồng, theo đó bên được traoquyền quyết định đượcđánh giá là đã hànhxửthiện chí nếu bên này thực hiện quyền quyết định trong phạm vi dự tính hợp lý của các bên.45 Ngược lại bên được trao quyền quyết định bị đánh giá là đã hành xử không thiện chí nếu bên này thực hiện quyền quyết định với mục đích lấy lại cơ hội đã bỏ qua khi ký kết hợpđồng bịvi phạm bởi hành vi lấy lạicơ hội đãbỏ qua rõ ràng đã gây hại cho bên bị vi phạm hợp đồng.46

Thứ năm, cách tiếp cận dựa trên chức năng

Cách tiếp cận dựa trên các chức năng của thiện chí do giáo sư luật tư nổi tiếng Martin W. Hesselink đưa ra. Xuất phát từ việc đồng nhất các chức năng của nguyên tắc

42 Steven J. Burton (1980), “Breach of Contract and the Common Law Duty to Perform in Good Faith”, Harvard Law Review, (94), tr.392.

43 Steven J. Burton (1980), tlđd, tr.369-373. 44 Steven J. Burton (1980), tlđd, tr.379-384. 45 Steven J. Burton (1980), tlđd, tr.373.

46 Steven J. Burton (1980), tlđd, tr.385, 387.

31

thiện chí với hoạt động của thẩm phán,47 Hesselink đã khẳng định nguyên tắc thiện chí “chỉ đơn thuần là một công cụ thông qua đó hình thành nên những quy định mới, hay nói cách khác nguyên tắc thiện chí là cái nôi tạo ra các quy định mới. Những gì thẩm phán thực sự làm khi áp dụng nguyên tắc thiện chí là tạo ra các quy định mới. Những quy định mới này là những giải thích, bổ sung và sửa đổi các quy định và bộ luật”48. Do đó, Hesselink cho rằng nội dung của nguyên tắc thiện chíđược xác địnhthông qua các chức năng của nguyên tắc này.49

Trong nghiên cứu của mình, Hesselink cũng chỉ ra hầu hết các quốc gia ghi nhận thiện chí là một nguyên tắc chung của luật hợp đồng đều thừa nhận ba chức năng của thiện chí50 gồm: chức năng giải thích (interpretative function), chức năng bổsung (supplementive function) và chức năng hạn chế (restrictive function/ limiting function). Ngoài ra, một sốhệthống pháp luật còn thừa nhận chức năng điều chỉnh (adaptive function) là chức năng thứ tư của nguyên tắc thiện chí nhưĐức,Hà Lan, Ba Lan, Bồ

Đào Nha…51 Xuất phát từ thực tế là ranh giới của các chức năng của nguyên tắc thiện chí không hoàn toàn độc lập với nhau mà có mối liên hệ mật thiết nên có thể nhóm hoặc tách các chức năng sau của nguyên tắc thiện chí.52

Chức năng hạn chế là chức năng giới hạn việc thực hiện quyền của một bên tham gia quan hệ hợp đồng nếu việc thực hiện quyền đó trái với đòi hỏi của thiện chí và dẫn tới hành vi lạm quyền. Nói cách khác, chức năng hạn chế là chức năng giới hạn việc thực hiện quyền của các chủ thể ở một mức độ nhất định và do đó chức năng này thểhiện rõ tính tương đối của quyền trong quan hệ hợp đồng.

Chức năng bổ sung của nguyên tắc thiện chí là chức năng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống hợp đồng. Chức năng bổ sung của nguyên tắc này không chỉ tồn

tại trong giai đoạn thực hiện hợp đồng mà tồn tại cả trong giai đoạn tiền hợp đồng – giaiđoạn giữa các bên chưa tồn tại quan hệ hợp đồng. Trong giaiđoạn tiền hợp đồng,chức năng bổ sung của nguyên tắc thiện chí cho phép tạo ra các nghĩa vụ phụ dựa trên giảđịnh giữa các bên tồn tại một quan hệ đặc biệt và quan hệ đặc biệt đó sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định như nghĩa vụ hợp tác, nghĩa vụ cẩn trọng, nghĩavụ

thông tin,… Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, chức năng bổ sung của nguyên tắc thiện chí cho phép Tòa án hoàn thiện hợp đồng thông qua việc bổ sung các nghĩa vụ phụkhông được các bên ghi nhận trong hợp đồng (nghĩa vụ ngầm định), qua đó cho phép

47 Martin W. Hesselink (2011), tlđd, tr.619 – 649. 48 Martin W. Hesselink (2011), tlđd, tr.645.

49 Martin W. Hesselink (2011), tlđd, tr.620

50 Bénédicte Fauvarque-Cosson and Denis Mazeaud (2008), tlđd, tr.183; Martin W. Hesselink (2011), tlđd, tr.627; Paulo Nalin (2010), “Good-faith: Contemporary contextualization and functions”, Revista da Faculdade de Direito

– UFPR, Curitiba, (52), tr.71-72.

51 Bénédicte Fauvarque-Cosson and Denis Mazeaud (2008), tlđd, tr.189; 52 Martin W. Hesselink (2011), tlđd, tr.624-627.

32

xác định đầy đủ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ nhằm bảo đảm hợp đồng được thực hiện một cách hiệu quả.

Chức năng giải thích là chức năng cho phép diễn giải các văn bản pháp lý hoặc hợp đồng giữa các bên dựa trên tinh thần của hợp đồng chứ không phải dựa trên nghĩađen của câu chữ trong các văn bản đó. Chức năng này cho phép Tòa án tiến hành đánh giá hành xử của các bên trong việc thực hiện hợp đồng để xácđịnhhành xử của các bên có phù hợp với mục tiêu không được thể hiện rõ trong hợp đồng hay không. Mục đích của chức năng này là phân tích hành vi của các bên tham gia quan hệ hợp đồngđể xác định nội dung của hợp đồng. Do đó, chức năng này của nguyên tắc thiện chí không cónhiệm vụ làm sáng tỏ nội dung của hợp đồng mà phân tích hành xử của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, theo đó nội dung của hợp đồng sẽ được giải thích dựa trên tiêu chí hành xử hợp lý của một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự.

Chức năng điều chỉnh là chức năng cho phép điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quanhệ hợp đồngkhi có sự thay đổi cơ bản về hoàn cảnh dẫn đến việc thực hiện hợp đồng của một bên trở nên hoàn toàn vô nghĩa hoặc cực kỳ khó khăn hoặc dẫn tới việc một bên phải gánh chịu những bất lợi quá mức về kinh tế. Xuất phát từ mục đích của hợp đồng là đáp ứng mong đợi chung của các bên tham gia quan hệ hợp đồng, nguyên tắc thiện chí cho phép Tòa án cân nhắc lợi ích của các bên đồng thời xét tới hoàn cảnh cụ thể và sự hợp tác của các bên để đạt được mục đích mà các bên đã đặt ra.

Các cách tiếp cận nêu trên mặc dù được khoa học pháp lý biết đến rộng rãi nhưng không có cách tiếp cận nào được chấp nhận chung. Chẳng hạn cách tiếp cận chủ quan và khách quan bị chỉ trích do việc phân biệt này không hoàn toàn rõ ràng bởi xét cho cùng trong thiện chí chủquan tồn tại yếu tốkhách quan và ngược lại trong thiện chíkhách quan tồn tại yếu tố chủ quan. Cách tiếp cận trực tiếp bị cho là không đảm bảo tính khái quát của khái niệm thiện chí do không thể liệt kê đầy đủ nội hàm của nguyên tắc thiện chí. Cách tiếp cận dựa trên phân tích loại trừ mặc dù có ưu điểm là dễ dàng xácđịnh cách xử sự nào là không thiện chí nhưng tương tự như cách tiếp cận trực tiếp, cách tiếp cận này không cho phép bao quát tất cả các hành xử không thiện chí để đưa ra một khái niệm khái quát chung đúng với mọi trường hợp do thiện chí không hoàn toàn đối lập với không thiện chí. Cách tiếp cận dựa trên học thuyết bỏ qua cơ hội cũng bị chỉtrích do đã kinh tế hóa một khái niệm pháp lý mang tính đạođức đãtồn tại rất lâu trong

lịch sử.53 Cách tiếp cận theo chức năng của nguyên tắc thiện chí cũng không hoàn toànđược đón nhận do thiện chí không được mọi hệ thống pháp luật hợp đồng thừa nhận lànguyên tắc chung và ngay cảcác hệthống pháp luật thừa nhận nguyên tắcthiện chíchung cũng có sự khác biệt trong việc nhìn nhận các chức năng của nguyên tắc này.

53 Robert S. Summers (1982), tlđd, Tr.827.

33

Mặc dù khoa học pháp lý thế giới hiện nay chưa có sự thống nhất về cách tiếp cận khái niệm thiện chí nhưng đều thống nhất thừa nhận thiện chí là một khái niệm đa nghĩa, có ranh giới không xácđịnh,54 khó nắm bắt,55 cực kỳ linh hoạt,56 mềm dẻo, một chuẩn mực mở57 mà nội dung được xác định tùy thuộc vào hoàn cảnh và tranh chấp cụ thể58 và “việc xác định nội hàm của thiện chí tốt nhất để các luật sư và thẩm phán thực hiện tùy thuộc vào từng thời kỳ và từng hoàn cảnh”59 hay nội dung của thiện chí “không thểđược xác định một cách trừu tượng mà chỉ có thể xác định dựa trên cách mà nguyên tắc này được áp dụng”60 hay “nghĩa của thiện chí phụ thuộc vào từng bối cảnh cụ thể”61.

Sự khác biệt về cách tiếp cận thiện chí trong khoa học pháp lý thế giới xuất phát từ phạm vi điều chỉnh của nó trong các hệ thống pháp luật khác nhau nhưmột số hệthống pháp luật xem thiện chí là một quy phạm pháp luật, một quy tắc pháp lý, một châm ngôn pháp lý, một nghĩa vụ trong khi một số hệ thống pháp luật khác xem thiện chí là một chuẩn mực hành xử, một nguyên tắc chung (nguyên tắc cơ bản).62

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thiện chí được ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự với quy định: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sựcủa mình một cách thiện chí, trung thực”tại khoản 3 Điều 3 BLDS 2015. Cùng với các nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật dân sự, nguyên tắc thiện chí, trung thực là một trong những thành tố quan trọng tạo nên “khung pháp lý chung”63 điều chỉnh mọi hoạt động cũng như ứng xử của các cánhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự và được xem là “xuất phát điểm, tưtưởng chỉđạo quan trọng nhất xuyên suốt các quy định của Bộ luật và cũng là căn cứ để Bộ luật dân sự nói riêng, pháp luật dân sự nói chung thực hiện vai trò điều chỉnh của mình đối với các quan hệ xã hội”64.

Tuy nhiên, thuật ngữ “thiện chí, trung thực” được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam không thực sự hợp lý bởi như các phân tích trên đã chỉ ra “trung thực” chỉ là một thành tố quan trọng của thiện chí, do đó, việc sử dụng thuật ngữ “thiện chí, trung thực” không làm rõ hơn nội hàm của nguyên tắc thiện chí mà còn có thể dẫn tới việc hiểu không chính xác rằng “thiệnchí”là “trung thực”. Hơn nữa, việc sửdụng thuật ngữ “thiện chí, trung thực” còn có thể gây hiểu lầm là “thiện chí”và “trungthực”

54 F.K. Juenger (1995), “Listening to law professors talk about good faith: Some afterthoughts”, Tulane Law Review, (69), tr.1254.

55 Paul J. Powers (1999), “tlđd, tr.333.

56 Troy Keily (1999), “Good Faith and the Vienna Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG)”, Vindobona Journal of International Commercial Law and Arbitration, (01), tr.18.

57 Martin W. Hesselink (2011), tlđd, tr.622, 623.

58 Bénédicte Fauvarque-Cosson and Denis Mazeaud (2008), tlđd, tr.181. 59 Paul J. Powers (1999), tlđd, tr.333.

60 Simon Whittaker and Reinhard Zimmermann (2000), tlđd, tr.30-31; Martin W. Hesselink (2011), tlđd, tr.622. 61 Robert S Summers (1968), tlđd, tr.201.

62 Bénédicte Fauvarque-Cosson and Denis Mazeaud (2008), tlđd, tr.157.

63 Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình luật dân sự, Nxb Công an nhân dân, tr.33.

64 Bộ Tư pháp (1997), Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, tr.40.

34

là hai nguyên tắc song hành trong khi “trung thực” chỉ loại trừ những gì không trung thực65 mà cụ thể là những hành vi được thực hiện với mục đích xấu chứ không chứa đựng những hành vi được thực hiện một cách không hợp lý, không quan tâm đến lợi ích của đối tác. Khi nói đến thiện chí có nghĩa là pháp luật đòi hỏi các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng không chỉ hành xử trung thực mà còn đòi hỏi các chủ thể này phải hành xửmột cách hợp lý, hợp tác, quan tâm đến quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Nói cách khác là “thiện chí có thể đòi hỏi nhiều hơn trung thực”66. Do vậy, NCS cho rằng BLDS Việt Nam nên sử dụng thuật ngữ“thiện chí”thay cho thuật ngữ “thiện chí, trungthực” và NCS xin được sử dụng thống nhất thuật ngữ “thiện chí” trong luận án này.

Mặc dù chưa hoàn toàn chính xác về mặt thuật ngữ cũng như không đưa ra khái niệm thiện chí nhưng BLDS Việt Nam tương tự như các hệ thống pháp luật theo truyền thống civil law đã ghi nhận thiện chí là nguyên tắc chung của pháp luật dân sự. Bên cạnhđó, ở một mức độ nhất định BLDS 2015 đã tiếp cận nguyên tắc thiện chí dưới cả gócđộchủ quan và khách quan. Điều này được thể hiện qua việc BLDS 2015 sử dụng thuật ngữ“ngay tình” bên cạnh thuật ngữ “thiện chí, trung thực” để nhấn mạnh nghĩa chủquan của khái niệm này. Mặc dù vậy, cho đến nay khoa học pháp lý Việt Nam vẫn chưa thực sự quan tâm làm sáng tỏ khái niệm thiện chí, dođóviệc hiểu và vận dụng nguyên

tắc thiện chí trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hợp đồng Việt Nam nói riêng còn hạn chế.

Dựa trên một sốcách tiếp cận khái niệm thiện chí điển hình trên thếgiới, NCSđồng tình với nhận định chung là không cần thiết đưa ra định nghĩa chính xác về nguyên

tắc thiện chí bởi không một định nghĩa nào có thể khái quát được toàn bộ nội hàm của nguyên tắc này do nó có nội hàm mở, mềm dẻo cho phép áp dụng linhhoạt để điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực hợp đồng. Do đó, nội hàm của nguyên tắc thiện chí nên được Tòa án xác định và hoàn thiện dần thông qua thực tiễn xét xử.

Tuy nhiên,để cóbước khởi đầu trong việc xây dựng nội hàm của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, trên cơ sở ba cách tiếp cận đầu, NCS xin mạnh dạn đưa ra khái niệm thiện chí trong pháp luật hợp đồng Việt Nam mang tính gợi mởnhư sau:

Thiện chí là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam điều chỉnh quan hệgiữa các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng, thực hiện hợp đồng và chấm dứt hợp đồng. Nguyên tắc thiện chí tạo ra chuẩn mực ứng xử cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng dựa trên các tiêu chí hành xử trung thực, hợp lý trên tinh thần hợp tác và quan tâmđến lợi ích của nhau, loại trừ các hành xử có dụng ý xấu cũng như mọi hành xử trái với sựtin tưởng hợp lý của đối tác.

1.2. Đặc điểm và ý nghĩa của nguyên tắc thiện chí

65 Robert S. Summers (1982), tlđd, tr.821. 66 Robert S. Summers (1982), tlđd, tr.821.

35

Để hiểu rõ hơn nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng, NCS sẽ chỉ ra cácđặc điểm và ý nghĩa của nguyên tắc này trong pháp luật hợp đồng.

1.2.1. Nguyên tắc thiện chí là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng chứa đựng các giá trị đạo đức

Là quy phạm pháp luật dân sự nhưng nguyên tắc thiện chí khác với hầu hết các quy phạm pháp luật dân sự nói chung và phápluật hợp đồngnói riêng ở chỗ quy phạm này được ghi nhận dưới dạng một nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Nghĩa là nếu như một quy phạm pháp luật thông thường chỉ trả lời cho một câu hỏi cụ thể thì nguyên

tắc thiện chí đưa ra chỉ dẫn pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể tham gia quan hệpháp luật đó cũng như định hướng giải quyết tranh chấp cho cơ quan xét xử, quan trọng hơn, nguyên tắc này còn là nền tảng cho các quy phạm pháp luật thông thường và là cơ sở để biện giải cho các quy phạm pháp luật đó.67 Nói cách khác, nguyên tắc thiện chí chứa đựng những chỉdẫn pháp lý dưới dạng“chuẩn mực” trong khi hầu hết các quy phạm pháp luật dân sự khác chỉ đưa ra cách ứng xử cụ thể trong một tình huống nhất định hoặc đưa ra một định nghĩa cụ thể.

Trong pháp luật hợp đồng, nguyên tắc thiện chí đưa ra chuẩn mực ứng xử cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng hàm chứa các giá trị đạo đức. Các chuẩn mực này phản ánh gốc rễ của nguyên tắc thiện chí là những chuẩn mực đạo đức đã dần được luật hóa cùng với sự phát triển của xã hội loài người và chính điều này đã tạo nên đặc trưng của nguyên tắc thiện chí là vừa có đặc điểm của quy phạm pháp luật vừa có đặc điểm của quy phạm đạo đức, nói cách khác nguyên tắc thiện chí hội tụ cả yếu tố pháp lý vàyếu tố đạo đức. Đặc điểm này của nguyên tắc thiện chí là do các chuẩn mực của thiện chí đã rời bỏ một phần đặc tính của quyphạm đạo đức nhưthuộc về ý chí chủ quan của mỗi cá nhân, có thể thay đổi tùy thuộc mỗi chủ thể và có mục đích làm chomỗi chủ thểtrở nên tốt đẹp trong quá trình được chuyển hóa thành quy phạm pháp luật. Mặc dù vậy, khi đã được chuyển hóa thành quy phạm pháp luật nguyên tắc thiện chí vẫn giữ lại đặc tính trừu tượng, không rõ ràng của quy phạm đạo đức. Hệ quả là, các chỉ dẫn ứng xửdưới dạng chuẩn mực đạo đức pháp lý của nguyên tắc thiện chí khiến nó không dễ hiểu như các quy phạm pháp luật cụ thể bởi quy phạm ghi nhận nguyên tắc này không quyđịnh rõ các điều kiện cũng như hệ quả pháp lý của việc áp dụng nó, nói cách khác là quy phạm này không chỉ rõ logic của quan hệ nhân quả trong việc áp dụng nguyên tắc này.

1.2.2. Nguyên tắc thiện chí là công cụ truyền tải các giátrị tốt đẹp của Hiến pháp vào pháp luật hợp đồng

Với tính cách là nguyên tắc cơ bản tạo ra chuẩn mực ứng xử cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng, nguyên tắc thiện chí đã chuyển tải các giá trị cơ bản của quyền con người về dân sự, kinh tế được thể hiện dưới dạng các quyền và lợi ích hợp pháp, các giá

67 Steven Reinhold (2013), “Good faith in International law”, UCL Journal of Law and Jurisprudence, (2), tr.41.

36

trị công như lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng được ghi nhận trong Hiến pháp mỗi quốc gia nhằm đánh giá sự thiện chí trong hành xử của các chủ thể đó.

Ở Việt Nam, thông qua chức năng hạn chế của nguyên tắc thiện chí, Điều 2 BLDS 2015 đã chuyển hóa tinh thần của Điều 14 Hiến pháp 2013 để khẳng định các quyền dân sựởnướcCộng hòa xã hội chủnghĩa (CHXHCN) Việt Nam được“côngnhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”68 và mặt khác cũng nhấn mạnh các quyền này “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”69. Thông qua chức năng hạn chế và chức năng bổ sung của nguyên tắc thiện chí, BLDS 2015 cũng chuyển hóa tinh thần của khoản 4 Điều 15 Hiến pháp 2013 để cụ thể hóa nguyên tắc cấm lạm quyền cũng như nghĩa vụ quan tâm đến lợi ích hợp pháp của đối tác thông qua quy định tại khoản 4 Điều 3 BLDS 2015, theo đó, BLDS 2015 buộc các chủ thể khi “xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự khôngđược xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Nói cách khác, dựa trên nguyên tắc thiện chí, các quyền dân sựnói chung cũng như quyền của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng nói riêng chỉ cóthể bị hạn chế“theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”70. Với các quy định nêu trên, có thể nhận thấy quyền tự do hợp đồng của các chủ thể nhất thiết phải được giới hạn trong một khuôn khổ luật định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng cũng như các chủ thể khác.

1.2.3. Nguyên tắc thiện chí có nội dung biến đổi linh hoạt

Do chứa đựng chỉ dẫn ứng xử dưới dạng chuẩn mực đạo đức pháp lý cũng như có nội dung dao động giữa cực chủ quan và cực khách quan nên nguyên tắc thiện chí không cứng nhắc như các quy phạm pháp luật cụ thể và có nội hàm linh hoạt hơn các nguyên

tắc cơ bản khác.

Về phương diện chủ quan, nguyên tắc thiện chí được xem xét dưới gócđộ làsự tin tưởng của các bên đối với nhau và niềm tin của các bên vào hợp đồng (mục đích của hợp đồng). Sự tin tưởng của các bên đối với nhau sẽ được xác định dựa trên phẩm chất, lợi ích, kỳ vọng cũng như hành xử của mỗi bên. Niềm tin của các bênđối với hợp đồng hay mục đích của hợp đồng được thể hiện chủ yếu qua các điều khoản của hợp đồng do các bên thỏa thuận. Niềm tincủacác bên vào hợpđồng vềnguyên tắc khôngbịảnh hưởng bởi niềm tin riêng của mỗi bên trừ trường hợp trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất hiện các yếu tố khách quan nằm ngoài khả năng dự liệu của các bên vào thời điểm giao kết hợp đồng.

68 Khoản 1 Điều 2 BLDS 2015. 69 Khoản 2 Điều 2 BLDS 2015.

70 Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013; Khoản 2 Điều 2 BLDS 2015.

37

Về phương diện khách quan, nguyên tắc thiện chí được xem xét dưới góc độ chuẩn mực ứng xử khi tham gia quan hệ hợp đồng. Các chuẩn mực này được hiểu là nhữngứng xử hợp lý thể hiện sự thiện chí của các bên. Các chuẩn mực ứng xử thiện chí có thểlà các tập quán, thói quen đã được xác lập giữa các bên hoặc các giá trị đạo đức được xãhội thừa nhận. Đây là những yếu tố cho phép Tòa án xác định kỳ vọng hợp lý của các bên tham gia quan hệ hợp đồng và quađóxác định quyền, nghĩavụcủa các chủ thể bởi kỳ vọng hợp lý là yếu tố ảnh hưởng tới quyết định việc tham gia một quan hệ hợp đồng cụ thể của các bên hình thành trên cơ sở dự đoán hành xử của đối tác được phỏng theo mô hình đã được cộng đồng, ngành nghề thừa nhận chung hoặc thói quen hànhxử được xác lập giữa các bên. Nói cách khác, đây là những yếu tố khách quan điều chỉnh khía cạnh thiện chí chủ quan trong quan hệ hợp đồng.

Do có nội dung dao động giữa cực chủ quan và cực khách quan nên nguyên tắc thiện chí được biết đến với tính cách là một quy phạm mở, có nội dung linh hoạt. Sựlinh hoạt này một mặt giúp nhận biết nội dung của nguyên tắc, mặt khác giúp Tòa án kiểm soát thích đáng việc áp dụng nguyên tắc này. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng nguyên tắc thiện chí không phải là một quy phạm hoàn toàn mở bởi nội dung của nguyên tắc này được giới hạn bởi các giá trị đạo đức pháp lý cốt lõi đã hình thành và phát triển qua hàng thế kỷ như công bằng, trung thực, trung thành với cam kết, bảo vệ kỳ vọng

hợp lý, chống lại sự lạm quyền… Do có nội dung dao động giữa cực chủ quan và cực khách quan nên người ta không thể khái quát được nội dung của nguyên tắc thiện chímà nội dung của nguyên tắc này phải được xác định tùy thuộc vào hoàn cảnh của mỗi vụ việc dựa trên cảm nhận về công lý và suy luận của Tòa án trong mỗi vụ việc cụ thể.

1.2.4. Nguyên tắc thiện chí là nguồn của pháp luật hợp đồng

Với vai trò là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, nguyên tắc thiện chí có vịtrí, vai trò cao hơn các quy phạm pháp luật hợp đồng cũng như các nguyên tắc cụ thểcủa pháp luật hợp đồng. Bên cạnh đó với đặc tính trừu tượng, nguyên tắc thiện chí cókhả năng tập hợp, liên kết các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc cụ thể của pháp luật hợp đồng cócùng bản chất hoặc tinh thần, do đó nguyên tắc này có những tác động nhất định đến pháp luật hợp đồngthực định. Điều này được thể hiện qua các biểu hiện của nguyên tắc thiện chí trong các quy phạm pháp luật cụ thể. Ở Việt Nam, với tính cách nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc thiện chí là nền tảng của các quy phạm pháp luật dân sự, định hướng cho các quy phạm đó và là căn cứ để BLDS Việt Nam cũng như pháp luật dân sự thực hiện vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đó có các quan hệ hợp đồng. Xuất phát từ khả năng chuyển hóa các giá trị đạo đức, xã hội mang tính tích cực,

phù hợp với đòi hỏi của xã hội vào pháp luật thực định nên nguyên tắc thiện chí còn là cơ sở hình thành các quy phạm pháp luật mới. Đó là trong quá trình được bồi đắp, làm phong phúđáp ứng đòihỏi của đời sốngxã hội, nguyên tắc thiện chí đã góp phần tạo ra

38

các quy phạm pháp luật mới, nguyên tắc cụ thể áp dụng chung cho các chủ thể trong mọi hoàn cảnh.

Với vai trò này, nguyên tắc thiện chí là nguồn của pháp luật dân sự nói chung vàpháp luật hợp đồng nói riêng. Chẳng hạn, nguyên tắc chống lạm quyền hay các quy phạm chống lại hành vi lạm quyền đã được hình thành dựa trên nguyên tắc thiện chí. Theo đó, pháp luật đặt ra giới hạn đối với việc thực hiện quyền của các chủ thể theo hướnghành vi thực hiện quyền phải phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc thiện chí. Nói cách khác là nguyên tắc thiện chí hạn chế việc thực hiện quyền sẵn có của cácchủ thểnếu việc thực hiện quyền này dẫn đến sự bất công. Chẳng hạn, một chủ thể sẽ bị hạn chếquyền nếu hành vi thực hiện quyền mâu thuẫn với hành xử trước đó của anh ta và hành xử này đã khiến đối tác tin tưởng một cách hợp lý71 hay quyền của người giám hộ (thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ) được giới hạn bởi chính lợi ích của người được giám hộ (phải vì lợi ích của người được giám hộ)72.

Quá trình bồi đắp, làm phong phú của nguyên tắc thiện chí được thể hiện thông qua hoạt động lập pháp cũng như tư pháp của Việt Nam. Chẳng hạn nhưđể xây dựngĐiều 420 BLDS 2015, cơ quan lập pháp Việt Nam đã dựa trên các ý tưởng do các nhà khoa học pháp lý đề xuất dựa trên đòi hỏi thực tế của đời sống hợp đồng là cần có quy phạm điều chỉnh việc thực hiện hợp đồng khi có sự biến động lớn về hoàn cảnh thực hiện hợp đồng. Thông qua các tranh luận khoa học, ý tưởng về việc xây dựng quy phạm này đã dần được hoàn thiện dựa trên nguyên tắc thiện chí và các nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật dân sự.

Bên cạnhđó,Tòa án với vai trò là cơ quan thực hiện quyền tư pháp có nhiệm vụ“bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,bảo vệchế độ xãhội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhànước,quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”73 khi tiến hành giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực hợp đồng cũng như trong lĩnh vực dân sự phải luôn dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quyđịnhtại Điều 3 BLDS 2015, trong đó có nguyên tắc thiện chí. Việc Tòa án dựa trên nguyên tắc thiện chí để quyết định áp dụng hay không áp dụng một quy phạm pháp luật cụ thể đồng nghĩa với việc Tòa án phải giải thích (cụ thể hóa) nguyên tắc thiện chí trong bối cảnh của các quy phạm cụ thể bởi khoản 3 Điều 3 BLDS 2015 không quy định điều kiện áp dụng cũng như hệ quả pháp lý cụ thể của việc áp dụng nguyên tắc này. Tuy nhiên, Tòa án không thể áp dụng nguyên tắc thiện chí một cách tùy tiện bởi một mặt việc áp dụng nguyên tắc này chỉ được thực hiện khi việc áp dụng cứng nhắc các quy phạm pháp luật cụ thể sẽ dẫn tới sự bất công, mặt khác việc áp dụng nguyên tắc này còn được kiểm soát bởi các cấp xét xử cao hơn.

71 Khoản 2 Điều 386 BLDS 2015. 72 Khoản 1 Điều 59 BLDS 2015.

73 Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp 2013.

39

1.2.5. Nguyên tắc thiện chí là nguồn tạo ra nghĩa vụ

Không giống với các nguyên tắc cơ bản khác, nguyên tắc thiện chí không chỉ lànguồn của pháp luật hợp đồng mà còn là nguồn tạo ra nghĩa vụ. Nghĩa là nguyên tắc thiện chí không chỉ là cơ sở làm phát sinh các quy phạm pháp luật – các quy tắc ứng xửkhách quan có hiệu lực đối với mọi chủ thể pháp luật dân sự mà ở một phương diện hẹp hơn, nguyên tắc thiện chí còn tác động tới quyền chủ quan của các chủ thể pháp luật dân sự đã tạo lập quan hệ pháp lý và chi phối quan hệ pháp lý đó. Ở phương diện tác động

tới quyền chủ quan, nguyên tắc thiện chí được biết với chức năng bổ sung khi cho phép Tòa án xác định các nghĩa vụ hợp đồng mới của các bên phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với từng vụ việc cụ thể.

Ở Việt Nam cũng như các quốc gia theo truyền thống civil law, BLDS cũng nhưcác văn bản pháp luật hợp đồng thường không thể chứa đựng mọi quy phạm ghi nhận đầy đủ nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Thay vàođó,các văn bản pháp luật này thường chỉ quy định các nghĩa vụ chính phát sinh từ hợp đồng chung nhất chứkhông quy định đầy đủ mọi nghĩa vụ theo hợp đồng của các bên, do vậy, nếu hợp đồng không quy định rõ ràng thì không thể xác định được nghĩa vụ của các bên nếu dựa trên các quy phạm trực tiếp. Để giải quyết tranh chấp trong các trường hợp này, nguyên tắc thiện chísẽ được Tòa án vận dụngđể xác định nghĩa vụ của các bên. Theo đó, Tòa án dựa trên nguyên tắc thiện chí để xác định các nghĩa vụ mới (phụ) phù hợp với từng vụviệc cụ thể bằng cách đưa vào nội dung hợp đồng các điều khoản phù hợp với quy định của pháp luật (nghĩa vụ phụ ngầm định) ngay cả khi các bên không có ý định xây dựng các điều khoản này. Điểm chung của các nghĩa vụ phụ ngầm định này là chúng đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ chính của các bên. Những nghĩa vụ này có thể là nghĩa vụ cẩn

trọng, nghĩa vụ hợp tác, nghĩa vụ không gây phương hại đến lợi ích của người khác,…

Nguyên tắc thiện chí có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòaán bởi dựa trên nguyên tắc thiện chí Tòa án có thể đưa ra nhận định về cách hànhxử của các chủthểtham gia quan hệhợp đồng có đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc này hay không cũng như xác định các hành xử đó có đáng phải chịu trách nhiệm pháp lý hay không. Bên cạnh đó, việc xác định các nghĩa vụ phụ ngầm định cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng của Tòa án chính là hoạt động tạo ra nghĩa vụ mới, hay nói cách khác là Tòa án đã vận dụng nguyên tắc thiện chí như là nguồn tạo ra nghĩa vụ.

Các đặcđiểmnêu trên chính là cácyếutốquyết định ýnghĩa quan trọng của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng.

Trước hết, nguyên tắc thiện chí là công cụ hữu hiệu đảm bảo cân bằng quyền vàlợi ích của các bên tham gia quan hệ hợp đồng thông qua việc tạo ra chuẩn mực hành xử chung cho cộngđồngnhằm hướng các bên tham gia quan hệ hợp đồng là các chủ thểcó đạo đức cũng như đảm bảo mọi quan hệ dân sự hợp pháp được diễn ra an toàn, suôn sẻ.

Thứ hai với đặc điểm là công cụ chuyển tải các giá trị tốt đẹp của Hiến pháp vào pháp luật dân sự, nguyên tắc thiện chí có ý nghĩa là một công cụ hữu hiệu để bảo đảm cho các quyền con người về dân sự, kinh tế được ghi nhận trong Hiến pháp được tôn trọng và bảo vệ trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc và lợi ích công cộng.

Thứ ba, với đặc điểm là một quy phạm mở có nội hàm được giới hạn bởi các giátrị đạo đức pháp lý cốt lõi đã hình thành và phát triển qua hàng thế kỷ, nguyên tắc thiện chí có ý nghĩa là một công cụ linh hoạt có thể điều chỉnh mọi tình huống phát sinh trong đời sống xã hội khi thiếu vắng các quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp.

Thứ tư, với khả năng liên kết, tập hợp các quy phạm pháp luật cụ thể, nguyên tắc thiện chí có ý nghĩađịnh hướngcho việc xây dựng các quy phạm pháp luật và cho phép Tòa án thông qua hoạt động xétxử đónggóp vào việc phát triển các quy phạm pháp luật mới cũng như tạo ra các học thuyết pháp lý, qua đó góp phần hoàn thiện pháp luật hợp đồng.

Thứ năm, với đặc điểm là nguồn tạo ra nghĩa vụ phụ, nguyên tắc thiện chí là công cụ định hướng cho cơ quan xét xử giải quyết các tranh chấp hợp đồng một cách chính xác, công bằng và bảo vệ niềm tin hợp lý của các chủ thể tham gia quan hệ này.

Cuối cùng và quan trọng hơn cả là nguyên tắc thiện chí với các đặc điểm của mình có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho sức sống lâu bền của BLDS.

1.3. Lược sử phát triển của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Nguyên tắc thiện chí là nguyên tắc được hình thành và phát triển trước hết dựa trên

sự tin tưởng của con người với con người trong xã hội, tiếp đó nguyên tắc này còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các tư tưởng tôn giáo, đạo đức, triết học và sự phát triển của kinh tế xã hội, do vậy, việc nghiên cứu nguyên tắc thiện chí không thể tách rời với các quan điểm về đạo đức, tôn giáo và triết học.

Nguyên tắc thiện chí được xem là có nguồn gốc từ đòi hỏi về sự tin cậy và hợp tác giữa con người với con người ngay từ buổi ban đầu của văn minh nhân loại. Điều này có thể được nhận thấy qua hoạt động săn bắn theo nhóm, theo đó, một hoặc một số thành viên của nhóm săn bắn được cả nhóm tin tưởng và mong đợi hoàn thành nhiệm vụ thu hút con mồi vào một vị trí thuận tiện để các thành viên khác có thể bắt hoặc giết nó. Thông qua việc mọi thành viên trong nhóm tin cậy lẫn nhau, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy để làm tốt nhiệm vụ được giao vì lợi ích của nhóm cho thấy bổn phận “thực hiện nghĩa vụ” đã tồn tại ngay từ buổi đầu của văn minh nhân loại hay “yêu cầu về thiện chícó thể được xem là bắt nguồn từ sự phát triển của văn minh nhân loại”74. Về vấn đề này J. F. O’Connor đã khẳng định: “để một nhóm người có thể hình thành và duy trì sự tồn tại đòi hỏi phải có sự hợp tác và lòng khoan dung tối thiểu của mỗi người trong nhóm.

Xuất phát từ đòi hỏi phải có sự hợp tác và lòng khoan dung, sự xuất hiện của khái niệm thiện chí dường như là không thể tránh khỏi”75.

Khi tôn giáo được sử dụng như một côngcụ hữu hiệu để điều tiết cácquan hệ xã hội dần trở nên phức tạp với sự hình thành của các nhà nước thành bang và đế chế thì tôn giáo có vai trò không nhỏ đối với sự phát triển của khái niệm thiện chí bởi sự vi phạm lời thề tôn giáo sẽ bị coi là tội ác ghê gớm, do đó phải chịu sự trừng phạt của thế

lực thiêng liêng.76 Nói cách khác, tôn giáo có vai trò bảo vệ niềm tin của một người đối với việc thực hiện nghĩa vụ của một người khác.77 Trong xã hội La Mã cổ đại, thiện chíbắt nguồn từ sự tôn sùng của người La Mã với nữ thần Fides – nữ thần hiện thân của sựtín nhiệm, trung thực và bảo vệ kẻ yếu thế, bảo vệ sự trung thành trong việc thực hiện nghĩa vụ,78 theo đó, người La Mã luôn đề cao sự trung thành, tín nhiệm và xem đây làyếu tố đảm bảo cho mọi cam kết được thực hiện.79

Vào khoảng năm 500 trước công nguyên (TCN), triết gia Hy Lạp Heralitus đã đưa ra ý tưởng về vạn vật đều chịu sự điều chỉnh của quy luật và đưa ra mối liên hệ trực tiếp giữa công lý và thiện chí thông qua nhận định mọi sự gian dối đều bị nữ thần công lý Diké phát hiện và trừng phạt.80 Tư tưởng của Heralitus sau đó được các triết gia Hy Lạp vĩ đại là Socrates, Plato và Aristole kế thừa, phát triển để hình thành lý luận về luật tựnhiên và công lý.81 Theo đó, Socrates đưa ra lập luận công lý là tuân thủ pháp luật mà pháp luật chính là đạo đức, do đó, công lý chính là tuân thủ đạo đức.82 Tương tự, Plato

lập luận công lý là phẩm chất cho phép con người phân biệt giữa công bằng và bất công, và con người chỉ có thể nhận thức được “sự tốt đẹp” dựa trên lý trí do lý trí độc lập với con người và là hình thái tối cao của thế giới.83 Theo dòng chảy của triết lýđạo đức, Aristotle cho rằng việc tạo ra một xã hội đạo đức là rất quan trọng bởi công lý tự nhiên là bất biến (có thể nhận thức được thông qua lý trí), cao hơn công lý do con người tạo ra (luật) và công bằng chính là sự sửa đổi luật do con người tạo ra.84 Với quan điểm đó,ông chỉ ra yêu cầu hành xử thiện chí là yêu cầu của xã hội đối với mọi thành viên không chỉ đối với các giao dịch thương mại, mà còn đối với mọi giao dịch hàng ngày khác85 với khẳng định“nếuthiện chí không tồn tạithì mọi trao đổi giữa con người sẽbiến mất”86. Dựa trên triết lý đạo đức của Aristotle và các quy tắc đạo đức mà thiện chí là một trong số chúng, Tòa án trong thời kỳ này đã được phép can thiệp vào quanhệ hợp đồng nếu tin rằng sự can thiệp đó là cần thiết để mang lại sự công bằng và công lý, nói cách khác là theo triết lý của Aristotle, đòi hỏi về thiện chí đã trao cho các thẩm phán quyền tùy nghi87 để đưa ra hoặc loại bỏ các nghĩa vụ theo hợp đồng nếu cần thiết hay nói cách khác là điều chỉnh lại các nghĩa vụ đã tồn tại trước đó theo hợp đồng.

Chịu ảnhhưởngcủa Socrates, Plato và Aristole, một trong những trường phái triết học Hy Lạp nổi bật là triết học theo chủ nghĩa khắc kỷ (Stoics) đưa ra hai luận điểm liên quan đến khái niệm thiện chí (1) thếgiới là sản phẩm của lý trí và quy luật tựnhiên hướng tới những kết quả hợp lý, (2) mọi người thuộc các thành bang, cộng đồng riêngđều tự do và bình đẳng với nhau nhưng cần được điều chỉnh bằng một luật chung tuân theo quy luật tự nhiên (luật tự nhiên) do họ đều là thành viên của cộng đồng rộng lớn.88 Bên cạnh việc mở rộng khái niệm thiện chí từ phương diện tôn giáo đơn thuần, theo đó mọi người đều phải giữ lời hứa và thực hiện đúng cam kết đến khái niệm thiện chí vềphương diện đạo đức – yếu tố cơ bản của luật tự nhiên, các triết gia Stoics còn truyền báluận điểm này và tư tưởng của Aristole vào La Mã.

Tương tự như Hy Lạp, người La Mã cổ đại tin rằng thần linh chi phối mọi hành xửcủa con người và hành vi không trung thực, không giữ đúng lời hứa sẽ phải chịu sự trừng phạt của các vị thần. Với niềm tin đó mọi thỏa thuận của người La Mã cổ được tiến hành dựa trên lời thề tôn giáo. Đến thời kỳ cộng hòa, các thỏa thuận của người La Mã dần không còn tính tôn giáo mà thay vào đó các thỏa thuận này mang tính pháp lý. Trong thời kỳ này mọi thỏa thuận (hợp đồng)của công dân LaMã đượcđiều chỉnh bởi ius civile, theo đó các hợp đồng này để có giá trị pháp lý buộc phải tuân theo yêu cầu nghiêm ngặt về quy trình, hình thức mà stipulatio (hợp đồng bằng lời nói)89 là ví dụ điển hình. Stipulatio đòi hỏi phải tuân thủ hình thức hỏi đáp nghiêm ngặt, theo đó, khi ký kết hợp đồng các bên phải có mặt và cùng xây dựng các điều khoản của hợp đồng dựa trên mẫu các câu hỏi và trả lời nhất định.90 Nếu các bên tuân thủ đúng yêu cầu hình thức này thì hợp đồng được coi làđãtồn tại và người hứa phải tôn trọng tuyệt đối cam kết của mình.91

Do luật La Mã chỉ bảo vệ các quyền nếu quyền đó gắn liền với các yêu cầu kiện được ius civile quy định cụ thể nên hệ quả là quyền của một bên trong quan hệ hợp đồng chỉ được pháp luật bảo vệ nếu yêu cầu kiện của anh ta thuộc một trong năm thể thức luật định. Các quy trình này được biết đến là tố tụng legis actiones trong đó các yêu cầu kiện phải được thực hiện đúng theo các loại hình luật định (yêu cầu kiện dựa trên ius civile –iudicia stricti iuris). Theo tố tụng legis actiones, trước hết pháp quan (praetor) sẽ xem xét yêu cầu kiện của nguyên đơn có đúng với những từ ngữ cụ thể được nêu rõ trong luật để đưa ra quyết định chấp nhận hay từ chối yêu cầu kiện này, sau đó pháp quan sẽchỉđịnhthẩm phán tư (iudex) giải quyếtvụviệc đồngthời đưa ra chỉdẫn xét xử

(formulae) cho thẩm phán. Trên cơ sở formulae của pháp quan, thẩm phán sẽ xét xử vụviệc và đưa ra phán quyết. Nói cách khác, formulae không cho phép thẩm phán xem xét các yếu tố công bằng giữa các bên ngay cả khi các bên không có thỏa thuận thực sự,92 nghĩa là nếu bị đơn đã trả lời (hứa) đúng như những gì nguyên đơn đã hỏi (yêu cầu) thì thẩm phán sẽ buộc phải đưa ra phán quyết buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ93 cho dù trên thực tế bị đơn bị lừa dối hoặc cưỡng ép.94 Như vậy, mặc dù stipulatio là hợp đồng ít nhiều chứa đựng yếu tố thiện chí (đòi hỏi người hứa phải tôn trọng tuyệt đối cam kết của mình) nhưng loại hợp đồng này không hoàn toàn bảo đảm được sự thỏa thuận thực sự của các bên, hơn nữa tố tụng legis actiones cho thấy là hình thức tố tụng cứng nhắc, không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do không cho phép thẩm phán xem xét các yếu tố công bằng giữa các bên.

Cùng với sự phát triển của kinh tế và xã hội, người La Mã dần nhận thấy stipulatio không đápứng được nhu cầu giao thương do thể thức hỏi đáp cứng nhắc nênđã dần thừa nhận nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng không buộc tuân thủ yêu cầu nghiêm ngặt về hình thức, trong đó hợp đồng ưng thuận (contractus consensus) là ví dụ tiêu biểu.95 Bên cạnh đó, tố tụng legis actiones cũng không đáp ứng được yêu cầu giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ xã hội mới, quan trọng hơn là sự bó buộc của legis actiones đối với thẩm quyền của pháp quan cũng như thẩm phán giải quyết vụ việc. Hệquả là vào thế kỷ thứ hai TCN, hệ thống tố tụng linh hoạt (tố tụng per formulam) đã ra đời dựa trên việc ban hành lex Aebutia.96 Thông qua lex Aebutia, pháp quan được phép mở rộngphạm vi chấp thuận các yêu cầu kiện nhưng hàng năm phải ban hành sắc lệnh công bố danh sách các thể thức kiện. Nói cách khác, lex Aebutia đã trao cho pháp quan quyền tạo ra các yêu cầu kiện mới đểgiải quyết các yêu cầu của nguyên đơn không thuộc legis actiones truyền thống. Theo đó,đối với các tranh chấp liên quan đến stipulatio nếu pháp quan nhận thấy yêu cầu kiện của nguyên đơn cóthể dẫn tới sự bất công thì theo yêu cầu của bị đơn, pháp quan sẽ bổ sung chỉ dẫn cho phép bị đơn tự bảo vệ vào formulaeđược gọi là exceptio doli (ngoại lệ cho phép bị đơn để tự bảo vệ mình có quyền nại ra nguyên đơn đã không hành động một cách thiện chí).97 Chỉ dẫn bổ sung này của pháp quan cho phép thẩm phán xét xử vụ việc dựa trên sự công bằng và hợp lý.98 Đối với các tranh chấp liên quan đến contractus consensus (hợp đồng ưng thuận) do trong formulae luôn chứa đựng ex fide bona (chỉ dẫn cho phép thẩm phán xét xử dựa trên thiện chí) nên loại hợp đồng này còn được biết đến là hợp đồng thiện chí (bonae fidei contractus).99 Formulae giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng ưng thuận cho phép thẩm phán có thẩm quyền lớn hơn là có thể xem xét một cách công bằng mọi sự kiện liên quan đến vụ việc cho dù chúng không được nêu rõ trong formulae dựa trên việc pháp quan bổ sung thêm ex fide bona vào formulae. Các yêu cầu kiện dựa trên thiện chí (actiones bonae fidei) cho phép thẩm phán có thể xem xétý định thực sự của các bên cũng như cho phép bị đơn có thể phản tố dựa trên yếu tố thiện chí cho dù trong formulae không nêu rõ bởi theo ex fide bona, thẩm phán có quyền xác định những gì mà bị đơn đáng lẽ phải thực hiện vì lợi ích của nguyên đơn dựa trên thiện chí.100

Có thể nhận thấy nhờ sự linh hoạt của tố tụng per formulam, sự cứngnhắc của tố

tụng legis actiones đã được khắc phục. Đó làtố tụng per formulam trao cho pháp quan quyền tự do nhất định trong việc tạo ra các thể thức kiện mới, hướng dẫn thẩm phán giải quyết các tranh chấp dựa trên tình huống thực tế, cho phép thẩm phán quyền chủ động can thiệp, bảo vệ các yêu cầu kiện của đương sự phát sinh từ các quan hệ xã hội mới không thuộc năm thể thức luật định mà dựa trên thiện chí.101 Nói cách khác, lex Aebutiađã trao cho pháp quan quyền tạo ra nghĩa vụ mới dựa trên cơ sở đạo đức thông qua việc tạo ra các yêu cầu kiện dựa trên thiện chí của tố tụng per formulam.102 Trên cơ sở tạo ra các yêu cầu kiện thiện chí, pháp quan đã khắc phục được bất công do tốtụng legis actiones gây ra và thực hiện tốt hơn vai trò bảo vệ công lý. Hệ quả của yêu cầu kiện thiện chí là thẩm quyền tư pháp của các thẩm phán đã được mở rộng tới việc có thể xem xét bản chất của quan hệ tranh chấp, mục đích của các bên, đánh giá mọi tình tiết liên quan đến vụ việc cũng như cách xử sự của mỗi bên để xác định ý chí thực của họ dựa

trên chuẩn mực thiện chí – những gì mà một người trong hoàn cảnh tương tự nên thực hiện.103 Nói cách khác, thẩm phán đánh giá hành xử của các bên tranh chấp có phù hợp với hành xử của một “người trung thực” hay không104 để đưa ra phán quyết hợp lý và công bằng.105 Đây chính là lý do mà Martin Schermaier nhận xét:“Sựmởrộng thẩm quyền tư pháp trong việc đánh giá các tình tiết của một vụ việc được xem là tâm điểm trong sự phát triển rực rỡ của luật hợp đồng La Mã từ cuối thời kỳ Cộng hòa đến cuối thời kỳcổđiển”106. Do vậy, có thểnói bonae fidei iudicia nói riêng và tốtụng per formulam nói chung có vai trò quan trọng trong việc đưa fidestừmột khái niệm tôn giáo, xã hội đơn thuần trở thành bona fides – một khái niệm pháp lý107 và là một chuẩn mực mà thẩm phán có thể dựa vào để quyết định điều gì là công bằng đối với các bên.108 Trên cơ sở các phân tích trên có thể nhận thấy sự phát triển của pháp luật tố tụngLa Mã có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật hợp đồng La Mã mà cụ thể là sự phát triển của nguyên tắc thiện chí.109

Vào thời trung cổ, thiện chí cũng được sử dụng nhằm hạn chế những bất công làhệ quả của việc áp dụng luật một cách cứng nhắc. Song hành với bona fides, người ta còn biết đến khái niệm aequitas (công bằng), tuy nhiên chức năng của bona fides vàaequitas trong một giai đoạn nhất định của thời kỳ trung cổ được cho là chồng chéo với nhau do sự mở rộng của khái niệm bona fides.110 Các luật gia thời trungcổ mặc dù đềcập đến khái niệm thiện chí và công bằng trong luật hợp đồng nhưng hầu hết không chỉra cụ thể các trường hợp áp dụng thiện chí và công bằng.111 Thay vào đó, các học giảnày đã sử dụng thuật ngữ thiện chí hoặc công bằng để mô tả ba loại xử sự mà các bên tham gia hợp đồng nên thực hiện, gồm: (1) giữ đúng cam kết; (2) không được lừa dối hoặc hành xử bất công; (3) hành xử như một người trung thực.112

Vào thế kỷ XI, XII cùng với sự gia tăng của tầng lớp thương nhân, các thương gia đã phát triển luật thương mại (lex mercatoria) gồm các quy tắc được phát triển dựa trên tập quán thương mại, quy tắc ứng xử bắt buộc, thói quen thương mại được áp dụng thống nhất trên toàn châu Âu.113 Cũng vào thời gian này tầng lớp thương nhân đặc biệt quan tâm nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng114 với nhận thức quan hệ hợp đồng cần được điều chỉnh bởi nghĩa vụ hành xử thiện chí chung của các bên.115 Nói cách khác vào thời kỳ trung cổ và đầu thời kỳ hiện đại nguyên tắc thiện chíđãchi phối các quan hệ thương mại và trở thành nguyên tắc cơ bản của lex mercantoria.116

Vào thế kỷ thứ XIV, Baldus de Ubaldis dựa trên tư tưởng triết học của Aristotle và Thomas Aquinas117 đã tiếp cận thiện chí, công bằng và chỉ ra giới hạn của việc giữ

lời hứa, theo đó một người chỉ cần giữ lời hứa khi có nguyên nhân (causa) cho dù nguyên nhân đó xuất phát từ sự tự nguyện hay từ sự trao đổi ngang giá.118 Tiếp cận thiện chí vàcông bằng của Baldus có tầm ảnh hưởng lớn vào nửa sau của thế kỷ XIV nhưng đến cuối thế kỷ XIV thì cách tiếp cận này không còn giữ được tầm ảnh hưởng ban đầu.119

Vào thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, các luật gia theo trường phái “late scholatics” không sử dụng phổ biến thuật ngữ thiện chí và công bằng mà sử dụng các diễn đạt như

khác giữ lời hứa, lừa dối, hợp đồng khôngcó đền bù,…120 mặc dù họ vẫn chịu ảnh hưởng của luật La Mã và triết học đạo đức của Aristotle và Thomas Aquinas. Mặc dù lý luận về công bằng tự nhiên của Baldus chỉ có tầm ảnh hưởng lớn đến nửa sau của thế kỷ XIV nhưng cách tiếp cận khái niệm thiện chí của Baldus có ý nghĩa rất lớn trong việc khái quát các tình huống đòi hỏi phải xử sự một cách thiện chí thay vì các tình huống rời rạc mà các luật gia trước Baldus mô tả.121

Trong xã hội hiện đại,thiện chí vẫn không ngừng được hoàn thiện và được ghi nhận rộng rãi trong nhiều hệ thống pháp luật quốc gia cũng như quốc tế với tính cách làmột nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện đại, tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc này trong các hệ thống pháp luật không hoàn toàn giống nhau.

1.4. Phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Trong pháp luật hiện đại, nguyên tắc thiện chí được các quốc gia theo truyền thống

civil law ghi nhận sớm hơn so với các quốc gia theo truyền thống common law, điều này là do các quốc gia theo truyền thống civil law chịu ảnh hưởng lớn hơn của luật giáo hội trong khi các quốc gia theo truyền thống common law lại chủ yếu chịu ảnh hưởng của thực tiễn thương mại.122 Bên cạnh đó, các quốc gia theo truyền thống civil law quan tâm hơn đến mối quan hệ giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng123 như sự đồng thuận, khía cạnh đạo đức trong hành xử của các bên trong quan hệ hợp đồng trong khi các quốc gia theo truyền thống common law lại chú trọng hơn đến khía cạnh trao đổi kinh tế giữa các bên.124 Điều này dẫn đến sự khác biệt trong cách tiếp cận nguyên tắc thiện chí của hai truyền thống pháp luật này, đó là nếu hệ thống civil law có xu hướng áp dụng nguyên

tắc thiện chí rộng không chỉ cho quá trình hình thành, thực hiện hợp đồng mà thậm chícòn áp dụng cho cả quá trình chấm dứt hợp đồng thì hệ thống common law có cách tiếp cận hẹp hơn là chỉ áp dụng nguyên tắc thiện chí đối với giai đoạn thực hiện hợp đồng.125 Hệ quả là các quốc gia theo truyền thống civil law thường ghi nhận nguyên tắc thiện chí với tính cách là một điều khoản chung của BLDS, một chính sách công quan trọng màcác bên có thể dựa vào để bảo vệ quyền của mình,126 trong khi đó, các quốc gia theo truyền thống common law lại thường không ghi nhận thiện chí với tính cách là nguyên tắc chung mà thay vào đó các quốc gia này (điển hình là Anh) lại sử dụng giải pháp từng phần.127

Sự khác biệt trong cách tiếp cận nguyên tắc thiện chí trong hai truyền thống pháp

luật trên được thể hiện rõ qua pháp luật hợp đồng Đức và pháp luật hợp đồng Anh – hai hệ thống pháp luật điển hình đại diện cho quan điểm đối lập về nguyên tắc thiện chí của civil law và common law.

Hệ thống pháp luật Đức có cách tiếp cận nguyên tắc thiện chí rộng nhất. Nguyên tắc thiện chí được ghi nhận tại Điều 157 và Điều 242 BLDS Đức (điều khoản chung)

cũng như được đề cập trong các ngữ cảnh cụ thể xuyên suốt BLDS này. Sự ghi nhận nguyên tắc thiện chí trong BLDS Đức chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi quan điểm rằng việc áp dụng cứng nhắc các quy định nghiêm ngặt của BLDS Đức sẽ khôngđảm bảo công bằng và công lý trong quan hệ hợp đồng vào cuối thế kỷ XIX cũng như lập luận “cách duy nhất để hiểu luật là giải thích luật trong bối cảnh các lợi ích liên quan; luật pháp được thông qua bởi các cá nhân để bảo vệ lợi ích của cá nhân, khái niệm công lý và quyền phải được lan tỏa khắp hệ thống pháp luật và phải được tính đến khi áp dụng pháp luật”128 của Rudolf Von Jhering. Với sự ghi nhận nguyên tắc thiện chí, Điều 242 BLDS Đức nổi tiếng là điều khoản “vua” của các quy định bởi vai trò “siêu quyđịnh” của nó trong việc sửa đổi các quy định khác của BLDS Đức, là cơ sở đạo đức của toàn bộ hệ thống pháp luật Đức và là công cụ điều chỉnh pháp luật hợp đồng để thích ứng với những thay đổi lớn của xã hội.129 Bên cạnh đó, các công trình phân tích, nghiên cứu việc áp dụng nguyên tắc thiện chí của Tòa án Đức tronghoạt độngxétxử đã gópphần mởrộng phạm vi áp dụng nguyên tắc thiện chí cũng như làm phong phú hơn nội dung của nguyên tắc này. Đó là, mặc dù Điều 242 BLDS Đức chỉ quy định về nguyên tắc thiện chí trong giai đoạn thực hiện hợp đồng nhưng dựa trên thực tiễn xét xử, khoa học pháp lý Đức đã chỉ ra nguyên tắc thiện chí không chỉ được áp dụng trong giai đoạn thực hiện hợp đồng mà còn được áp dụng trong cả giai đoạn đàm phán tiền hợp đồng cũng nhưchấm dứt hợp đồng.130

Nguyên tắc thiện chí tại Điều 242 BLDS Đức được người Đức xây dựng dựa trên cảm hứngtừ“bona fides”, “exceptio doli” cũng như các châm ngôn Latin điều chỉnh hợp đồng ưng thuận trong luật La Mã, chẳng hạn như một người sẽ bị hạn chế việc thực hiện quyền phát sinh từ hợp đồng nếu việc thực hiện quyền này mâu thuẫn với hành xửtrước đó của anh ta (venire contra factum proprium), hoặc nếu người này không hành xử đúng với nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng (tu quoque), hoặc nếu người này yêu cầu chuyển giao một vật mà sau đó anh ta sẽ phải trả lại cho bên đã chuyển giao vật đó (dolo agit qui petit, quod statim redditurus est).131

Pháp luật hợp đồng Đức sử dụng nguyên tắc thiện chí hướng tới ba mục đích cơbản. Thứ nhất là cụ thể hóa những nghĩa vụ hợp đồng không hoàn chỉnh bằng cách ápđặt cácnghĩa vụ thứ cấp (phụ) như nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu, nghĩa vụ hợp

tác,132… buộc các bên phải hành xử đúng và quan tâm đến lợi ích của nhau để đảm bảo sự thành công của giao dịch cũng như bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên.133 Theo đó, bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ thứ cấp có thể phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.134 Thứ hai là giới hạn việc thực hiện quyền nếu việc thực hiện quyền của một bên là không thể chấp nhận được. Theo đó, quyền của một bên có thể bị tòa án hạn chế hoặc bị tước bỏ nếu đó là lạm quyền, chẳng hạn như một bên yêu cầu chấm dứt hợp đồng hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại do bên kia vi phạm một nghĩa vụ không cơ bản.135 Thứ ba là can thiệp vào các quan hệ hợp đồng nhằm tránh sự bất công thái quá, được thể hiện qua việc sử dụng nguyên tắc thiện chí tạo ra luật mới, cung cấp cơ sở bảo vệcác quyền tư và phân bổ rủi ro trong các hợp đồng tư.136Cụ thể làsau năm 1921, Tòaán Đức đã áp dụng học thuyết cơ sở của hợp đồng (the doctrine of contractual basis) do giáo sư Oertmann đưa ra dựa trên châm ngôn latin“clausula rebus sic stantibus (miễn là mọi việc không thayđổi đáng kể)” để giải quyết các tranh chấp là hệ quả của việc đồng tiền Đức mất giá hoàn toàn, nền kinh tế Đức kiệt quệ do tình trạng lạm phát. Năm 1922, Tòa án Tối cao (TATC) Đức đã quyết định trên cơ sở nguyên tắc thiện chí bên bất lợi do sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh có quyền chấm dứt hợp đồng (từ chối thực hiện hợp đồng) hoặc có quyền yêu cầu điều chỉnh lại hợp đồng nếu cơ sở ban đầu để hình thành hợp đồng không còn.137

Hệ thống pháp luật Anh được biết đến là cha đẻ của hệ thống common law,138 cóảnh hưởng lớn tới các hệ thống pháp luật theo truyền thống common law là hệ thống cócách tiếp cận nguyên tắc thiện chí hẹp nhất. Trên thực tế, lịch sử pháp luật hợp đồng Anh đã từng thừa nhận thiện chí như một nguyên tắc của pháp luật hợp đồng qua phán quyết kinh điển của thẩm phán Mansfield vào năm 1766 trong vụ Carter v. Boehm139 với khẳng định thiện chí là nguyên tắc thống trị áp dụng cho tất cả các hợp đồng và giao dịch.140 Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc thiện chí của Tòa án Anh để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực hợp đồng dần thoái trào141 do nhu cầu thúc đẩy thương mại.142 Hệ quả là pháp luật hợp đồng Anh không thừa nhận nguyên tắc thiện chí chung, do đó, các bên tham gia quan hệ hợp đồng không thể dựa trên yếu tố thiện chí để biện minh cho quyền của mình nếu như hợp đồng không quy định minh thị điều đó.143 Hơn nữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng được xem là có vị trí đối lập, có quyền theo đuổi lợi ích riêng của mình miễn là không gian dối, do đó, các bên có quyền chấm dứt đàm phán hoặc đe dọa chấm dứt đàm phán nhằm nâng cao vị thế thương lượng của mình.144

Sự miễn cưỡng của pháp luật hợp đồng Anh trong việc thừa nhận nguyên tắc thiện chí chung phần nào được thể hiện qua nhận xét của giáo sư Goode: “Ở Anh, chúng tôi thấy rất khó để chấp nhận một khái niệm thiện chí chung” hay “chúng tôi không hiểu ý

nghĩa của nó”145 bởi “…tính dự đoán được hệ quả pháp lý của một vụ việc quan trọng hơn công lý tuyệt đối”146. Quan điểm này cũng được thể hiện qua nhận định của giáo sưBridge: “Thiện chí và xử sự công bằng là bản dịch không hoàn hảo của một chuẩn mực đạo đức vàocác tư tưởng và quy tắc pháp lý”147 và “thiện chí là sự thôi thúc các thẩm phán từ bỏ nhiệm vụ đưa ra phán quyết dựa trên lập luận đúng pháp lý và tạo ra các nhận định không thuyết phục mang tính cánhân”148. Thay vì thừa nhận nguyên tắc thiện chí chung, pháp luật hợp đồng Anh đã lựa chọn các học thuyết đơn lẻ (giải pháp từng phần) thay thế cho nguyên tắc này để giải quyết các tranh chấp hợp đồng.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc thừa nhận nguyên tắc thiện chí chung trong pháp luật hợp đồng Anh dần có sự chuyển biến cho dù ở mức độ khiêm tốn nhưnhận xét của giáo sư Goode: “ngày nay chúng ta đã có một khái niệm về thiện chí, nhưngđó là một khái niệm hạn chế”149. Sự chuyển biến trong việc ghi nhận nguyên tắc thiện chí trong pháp luật hợp đồng Anh ở một phương diện nhất định chịu ảnh hưởng của Chỉthị số 93/13/EEC của Uỷ ban châu Âu ngày 05/4/1993 về điều khoản bất công trong hợp đồng tiêu dùng,150 theo đó, yếu tố đầu tiên của tiêu chuẩn chung để xác định một điều khoản không công bằng là vi phạm yêu cầu về thiện chí.151 Điều này được thể hiện qua Quy định về điều khoản bất công trong hợp đồng tiêu dùng của Anh 1994152 và hiện nay là Đạo luật về Bảo vệ người tiêu dùng 2015. Theo Điều 62 (4) Đạo luật về Bảo vệ người tiêu dùng 2015 (trước đây là Điều 4 (1) Quy định về điều khoản bất công trong hợp đồng tiêu dùng của Anh 1994), điều khoản không công bằng là điều khoản trái với các yêu cầu của thiện chí, dẫn đến sự mất cân bằng đáng kể về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng, gây bất lợi cho người tiêu dùng. Xu hướng thừa nhận nghĩa vụ thiện chíchung trong pháp luật hợp đồng Anh còn được thể hiện qua các phán quyết của Tòa án Anh (sẽ được đề cập trong các chương tiếp theo).

Khác với pháp luật hợp đồng Anh và tương tự với pháp luật hợp đồng Đức, pháp luật hợp đồngViệt Nam hiện đại luôn ghi nhận thiện chí là nguyên tắc cơ bản. Việc ghi nhận nguyên tắc thiện chí một phần là hệ quả của thực trạng “pháp luật theo mô hình Pháp tràn ngập lãnh thổ Việt Nam”153 vào cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX. Đó

là, mô phỏng quy định “Những thỏa thuận hợp pháp… phải được thực hiện một cách thiện chí” tại Điều 1134 BLDS Pháp 1804, đoạn 3 Điều 673 BLDS Bắc Kỳ 1931 vàđoạn 3 Điều 713 BLDS Trung Kỳ 1936 quy định “Phàm hiệp ước phải lấy lòng ngay thẳng mà thi hành”. “Lòng ngaythẳng”hay “ngay tình”154 là một cách gọi khác của “thiện chí”hay nói cách khác là nguyên tắc thiện chí còn được biết đến là nguyên tắc ngay tình.155 Tương tự Điều 1135 BLDS Pháp 1804,156 BLDS Bắc Kỳ 1931 và BLDS Trung Kỳ 1936 đã thông qua nguyên tắc công bằng để ghi nhận nguyên tắc thiện chítrong pháp luật hợp đồng với quy định “Hiệp ước không những bắt buộc phải theo những điều đã định rõ, lại phải tùy theo tính chất nghĩa vụ, chiểu theo lẽ công bằng, theo tục lệ cùng pháp luật mà làm mọi sự nhân đó sinh ra nữa”157. Việc ghi nhận nguyên

tắc thiện chí trong ba BLDS nói trên được xây dựng dựa trên lập luận “một sự thi hành thành ý không thể nào trái với sự công bằng. Như vậy, khi sự thi hành quá lợi cho người trái chủ và quá thua thiệt cho người phụ trái, sự thi hành ấy trái với sự công bằng, và không thành ý”158. Mặc dù mô phỏng BLDS Pháp 1804 nhưng BLDS Bắc Kỳ 1931 và BLDS Trung Kỳ 1936 đã tiến xa hơn bản gốc khi một lần nữa ghi nhận nguyên tắc thiện chí qua quy định về thứ tự ưu tiên áp dụng các loại nguồn của pháp luật dân sựđể giải quyết tranh chấp là “Khi nào không có điều luật thi hành được, thì quan Thẩm phán xửtheo tập quán phong tục, và nếu không có phong tục, thì xử theo lẽ phải và sự công

bằng, cùng là châm chước tục riêng, thói quen và tình ý của người đương sự…”159

Sau khi giànhđượcđộc lập, với việc ban hành Sắc lệnh số 90/SL160, Sắc lệnhsố97/SL161 và Chỉ thị số 772/CT-TATC162 các quyđịnhghi nhận nguyên tắc thiện chí trong luật hợp đồng vẫn được Nhànước Việt Nam dân chủ cộng hòasử dụngđến cuối những năm 1950.

Trong hệ thống pháp luật hợp đồng của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, nguyên tắc thiện chí được ghi nhận trong Pháp lệnhhợp đồngkinh tế 1989 và Pháp lệnhhợpđồngdânsự1991 – những vănbảnpháp lý quan trọngđiềuchỉnh quanhệhợpđồng trong giai đoạn này. Hai vănbảnpháp lý này tuy không trực tiếp ghi nhận nguyên tắc thiện chí nhưngđãgián tiếp ghi nhận nguyêntắcthiện chí trong giai đoạn giaokếtvàthực hiệnhợpđồngthông qua việc ghi nhậnyếutố“cùngcó lợi, bình đẳngvềquyền vànghĩavụ”163 hay “bình đẳng, không trái với pháp luật và đạo đức xã hội”164củacác bên tham giahợpđồng. Mặtkhác, các văn bản này cònđòihỏicác bên tham gia quan

hệhợpđồng phải“có nghĩa vụ trao đổi thông tin và hợp tác trong quá trình thực hiện hợp đồng”165, “hợp tác, tôn trọng lợi ích của nhau”166 hoặc tuy khôngsửdụng trực tiếp cụmtừnày nhưng cũng thể hiện tinh thần của nó quađòihỏibêngặpkhó khăn cóthểdẫntớivi phạmhợpđồngphải báo cho bên kia biết cũng như phải tìm mọi biện pháp đểkhắc phục khó khănđóvà ngượclạiđòi hỏi bên được thông báo “tùy theo khả năng” phải góp phần khắc khục khó khăn đó cũng như hạn chế thiệt hại có thể xảy ra.167

Nguyên tắc thiện chí ngày càng được khẳng định và nâng cao trong pháp luật hợpđồng Việt Namvớisựghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và pháp luật hợp đồng Việt Nam nói riêng. Điều nàyđược thểhiện rõ quasựliên tục ghi nhận nguyên tắc này trong các BLDS của Nhà nước.

CHXHCN Việt Nam. Đó là BLDS 1995 lần đầu tiên ghi nhận trực tiếp nguyên tắc thiện chí (với têngọinguyên tắc thiện chí, trung thực) với tính cách làmộtnguyên tắc cơ bản của quan hệ dânsựcũng như của quan hệhợpđồng.168 Theo đó, hành xử thiện chí được diễn giải là những hành xử không vụ lợi, biết quan tâm đến lợi ích của người khác, đặc biệt phải là hành xử trung thực, không mang tính lừa dối, lợi dụng lòng tin của người khác. Bên cạnh đó, nguyên tắc thiện chí tại Điều 9 BLDS 1995 còn đòi hỏi hành xử của các bên phải mang tính hợp tác, đảm bảo giữ gìn được bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy được phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tinh thần tương thân, tương ái, mỗi người vì cộngđồng,cộng đồngvìmỗingười và các giá trịđạođức cao đẹp của các dân

tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, Điều 9 BLDS 1995 có điểm hạn chế là chưa làm rõ phạm vi áp dụng nguyên tắc này khi chỉ quy định chung “Trong quan

hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trungthực,…”. Để làm rõ hơn phạm vi áp dụng nguyên tắc này, bên cạnh việc ghi nhận thiện chí, trung thực với tính cách là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự tại Điều 9 BLDS 1995 còn đề cập đến nguyên tắc này với tính cách là nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ nói chung169, nguyên tắc giao kết hợpđồng170 và là nguyên tắc thực hiện hợp đồng171.

Trong BLDS 2005, thiện chí tiếptụcđượcghi nhận với tính cách là mộttrong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự với quy định: “Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩavụdân sự, không bên nào được lừa dối bênnào”172. SovớiBLDS 1995, nguyên tắc thiện chí trong BLDS 2005 được quy định cô đọng, rõ nét hơn và có những bổ sung làm rõ phạm vi áp dụng nguyên tắc này không chỉ trong giai đoạn xác lập mà còn cả trong giai đoạn thực hiện hợp đồng. Kế thừa quy định của BLDS 1995, BLDS 2005 cũng làm rõ phạm vi áp dụng nguyên tắc thiện chí thông qua việc ghi nhận thiện chí là nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ173, nguyên tắc giao kết hợp đồng174 và nguyên tắc thực hiệnhợpđồng175. Với vai trò là một nguyên tắc cơ bản tương tự như BLDS 1995, nguyên tắc thiện chí được ghi nhận trong BLDS 2005 được“ápdụng một cách nhấtquán đểgiải thích các quyđịnh của BLDS, giải thích các giao dịch dân sự, hợp đồng và đặc biệt là khi giải quyết các tranh chấp dân sự”176.

Trong BLDS 2015, nguyên tắc thiện chí tiếp tục được ghi nhận với tính cách lànguyên tắc cơ của pháp luật dân sự với khẳngđịnh “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập,

thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực”177. Với quy định tại khoản 3 Điều 3 BLDS 2015, có thể nhận thấy BLDS 2015 không chỉdừng lại ở đòihỏi các bên phải hành xử một cách thiện chí, trung thực trong giai đoạn xác lập, thực hiện mà còn đòi hỏi các bên phải hành xử một cách thiện chí, trung thực trong cả giai đoạn chấm dứt quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng nói riêng.Điều đó có nghĩa là phạm vi áp dụngcủanguyên tắc thiện chí được ghi nhận trong BLDS 2015 rộng hơn so với BLDS 1995 và BLDS 2005. Ngoài ra, so với BLDS 1995 và BLDS 2005, nguyên tắc thiện chí được ghi nhận trong BLDS 2015 có mức độ khái quát cao hơn. Điều này là hoàn toàn phù hợp với quan điểm chỉ đạo xây dựng dự án bộluật là “xây dựng Bộ luật dân sự thành bộ luật nền, có vị trí, vai trò là luật chung của hệ thống pháp luật tư, có tính khái quát, tính dự báo và tính khả thiđể một mặt, bảo đảm tính ổn định của Bộ luật, mặt khác, đápứng được kịp thời sựphát triển thường xuyên, liên tục của các quan hệ xã hội vốn rất năng động thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự”178.

Như vậy, trong ba hệ thống pháp luật, pháp luật hợp đồng Anh ghi nhận nguyên

tắc thiện chí ở phạm vi khiêm tốn nhất khi chỉ ghi nhận nguyên tắc này trong việc điều chỉnh các điều khoản bất công trong hợp đồng tiêu dùng, hợp đồng bảo hiểm. Khác với pháp luật hợp đồng Anh, nguyên tắc thiện chí là một nguyên tắc quan trọng trong hệthống pháp luật tư nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng của Việt Nam và Đức. Mặc dù có sự khác biệt trong việc ghi nhận minh thị phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc này nhưng cả hệ thống pháp luật Việt Nam và Đức đều thừa nhận nguyên tắc thiện chí có phạm vi điều chỉnh rộng, xuyên suốt toàn bộ đời sống của hợp đồng bao gồm giai đoạn tiền hợp đồng, thực hiện hợp đồng và chấm dứt hợp đồng.

1.5. Mối tương quan giữa nguyên tắc thiện chí và nguyên tắc tự do hợp đồng

Nguyên tắc tự do hợp đồng và nguyên tắc thiện chí là hai trụ cột chính của pháp luật hợp đồng Việt Nam cũng như pháp luật hợp đồng của các quốc gia theo truyền thống civil law. Hai nguyên tắc này chi phối cơ bản quan hệ hợp đồng và là cơ sở của các nguyên tắc khác như nguyên tắc hiệu lực bắt buộc của hợp đồng, nguyên tắc cấm lạm quyền, nguyên tắc trách nhiệm dân sự, … Các quốc gia theo truyền thống common law xem nguyên tắc tự do hợp đồng là nguyên tắc quan trọng nhất của pháp luật hợp đồng nhưng lại khác biệt trong việc ghi nhận nguyên tắc thiện chí. Do vậy, mối tương quan giữa nguyên tắc thiện chí với các nguyên tắc cơ bản (nguyên tắc chung) của pháp

luật hợp đồng sẽ được xem xét chủ yếu thông qua tương quan giữa nguyên tắc thiện chívà nguyên tắc tự do hợp đồng.

Thoạt nhìn, nguyên tắc thiện chí và nguyên tắc tự do hợp đồng thường bị xem làhai nguyên tắc đối lập nhưng thực chất chúng có mối quan hệ tương hỗ, hay nói cách khác là hai nguyên tắc này không hoàn toàn đối lập mà ở một khía cạnh nhất định chúng còn hỗ trợ cho nhau.

Cũng như nguyên tắc thiện chí, nguyên tắc tự do hợp đồng có nguồn gốc từ luật La Mã và được đặc biệt chú trọng, phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ XVIII và thế kỷXIX do chịu ảnh hưởng của học thuyết tự do ý chí của triết học khai sáng ở châu Âu. Với quan niệm ý chí con người là tối thượng và tự chủ, học thuyết tự do ý chí cho rằng con người chỉ chịu ràng buộc bởi chính ý chí của họ. Theo đó, nguyên tắc tự do hợp đồng cho phép các chủ thể toàn quyền tự do sắp xếp các mối quan hệ của mình với chủthể khác thông qua hợp đồng.179

Tự do hợp đồng theo quan điểm truyền thống có thể được tiếp cận dưới góc độhành động hoặc không hành động180 hay còn được biết đến với hai chức năng. Chức năng thứ nhất là bảo vệ quyền tự do ký kết hợp đồng và tự do quyết định nội dung của hợp đồng. Chức năng này thể hiện khía cạnh tích cực của nguyên tắc tự do hợp đồng. Theo đó, nguyên tắc này trao cho các chủ thể quyền tự do kýkết hợp đồng,tự do lựa chọn đối tác, tự do quyết định nội dung cũng như hìnhthức của hợp đồngtheo mong muốn của họ cũng như chịu những rủi ro có thể phát sinh hoặc những chi phí bỏ ra trong quá trình đàm phán hợp đồng.181 Như vậy, chức năng thứ nhất của nguyên tắc tự do hợp đồng chú trọng đến sự sáng tạo trong việc xây dựng các điều khoản (nội dung)hợp đồng của các chủ thể trong giai đoạn hình thành hợp đồng và trên cơ sở đó luật hóa các quyền và nghĩa vụ ràng buộc các chủ thể đó. Hệ quả là khi các bênđã đồng ý,lựa chọn các điều khoản của hợp đồng thì hợp đồng đó sẽ có hiệu lực ràng buộc các bên (pacta sunt servanda). Nói cách khác, nguyên tắc pacta sunt servanda (mọi cam kết phải được thực hiện) là hệ quả của chức năng thứ nhất của nguyên tắc tự do hợp đồng.

Trên cơ sở phân tích này có thể nói nguyên tắc pacta sunt servanda (hệ quả nguyên tắc tự do hợp đồng) và nguyên tắc thiện chí có bản chất đạo đức tương tự nhau bởi hai nguyên tắc này đều hướng tới bảo vệ niềm tin của các bên vào quan hệ hợp đồng. Đó là

nguyên tắc tự do hợp đồng mà hệ quả của nó là nguyên tắc pacta sunt servanda buộc các bên giao kết hợp đồng phải giữ đúng lời hứa (cam kết) của mình, tương tự như vậy nguyên tắc thiện chí ở một khía cạnh nhất định cũng buộc các bên tham gia quanhệ hợp đồng phải giữa đúng lời hứa của mình nhằm thỏa mãnkỳ vọnghợp lý của đối tác. Tuy

179 Chantal Mak (2008), Fundamental Rights in European Contract Law, Kluwer Law International, tr. 25.

180 Nili Cohen (1995), “Pre-contractual duties: Two Freedoms and the contract to negotiate”, Good faith and fault in contract law, Oxford university press, tr.25.

181 Emily M. Weitzenbock (2004), “Good Faith and Fair Dealing in Contracts Formed and Performed by Electronic Agents”, Artificial Intelligence and Law, (12), tr.97.

55

nhiên, phạm vi điều chỉnh nghĩa vụ hợp đồng của nguyên tắc thiện chí rộng hơn nguyên tắc pacta sunt servanda bởi nếu như nguyên tắc pacta sunt servanda chỉ tạo ra nghĩavụ

theo hợp đồng trên cơ sở thỏa thuận của các bên khi giao kết hợp đồng thì nguyên tắc thiện chí còn tạo ra những nghĩa vụ khác cho các chủ thể đó dựa trên các nguyên tắc liên quan với nguyên tắc thiện chí như nguyên tắc công bằng, hợp lý, …

Với chức năng thứ hai, nguyên tắc tự do hợp đồng được hiểu là tự do không xác

lập hợp đồng. Theo đó, dựa trên quyền tự do không xác lập hợp đồng, các bên tham gia đàm phán hợp đồng không phải chịu bất cứ ràng buộc nào về quyền và nghĩa vụ cho đến khi hợp đồng được ký kết.182 Có thể nhận thấy về bản chất chức năng thứ hai của nguyên

tắc tự do hợp đồng bắt nguồn từ chức năng thứ nhất của nguyên tắc này bởi để hợp đồng có hiệu lực hay bất cứ một nghĩa vụ theo hợp đồng nào có giá trị ràng buộc thì nghĩa vụđó phải được hình thành trên cơ sở thỏa thuận (ý chí) của các bên, do đó, các bên tham gia đàm phán hợp đồng có quyền tùy ý chấm dứt đàm phán, thậm chí chấm dứt đàm phán với thái độ không hợp tác nếu như hành vi đó được thực hiện trước thời điểm hợp đồng được ký kết. Nhưvậy, dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng truyền thống, pháp luật hợp đồng của các quốc gia về nguyên tắc không buộc các bên tham gia đàm phán tiền hợp đồng phải đi đến giao kết hợp đồng.183

Mặc dù được xem là nguyên tắc cơ bản chi phối quan hệ hợp đồng nhưng nguyên tắc tự do hợp đồng truyền thống chỉ chú trọng đến quyền tự do đơn lẻ của mỗi chủ thểmà không xem xét quyền tự do này trong tương quan giữa các chủ thể tham gia quanhệ

hợp đồng. Hệ quả của chức năng thứ nhất của nguyên tắc tự do hợp đồng là một khi hợp đồng đã được ký kết hợp pháp thì hợp đồng đó không thể bị tuyên vô hiệu cho dù được xây dựng trên nền tảng bất công hoặc không hợp lý bởi “công lý theo pháp luật hợp đồng (truyền thống) có nghĩa là tôn trọng thỏa thuận của các bên mà ít quan tâm đến nội dung của thỏa thuận”184. Do vậy, nguyên tắc tự do hợp đồng truyền thống mang lại lợi thế đáng kể cho bên có lợi thế hoặc hiểu biết và ngược lại mang đến rủi ro cho bên có vị thế bất lợi và thiếu hiểu biết khi giao kết hợp đồng. Hệ quả là bên có lợi thế, hiểu biết hơn có thể lợi dụng vị thế của mình để đưa vào hợp đồng những nội dung bất lợi cho đối tác, hơn nữa chủ thể tham gia đàm phán không thiện chí còn có thể tránh được trách nhiệm dân sự theo hợp đồng dựa trên việc không tuân thủ điều kiện về hình thức của hợp đồngbởi trong trường hợp này Tòa án không thể buộc các bên phải thực hiện đúng cam kết.

Như vậy, chức năng thứ nhất của nguyên tắc tự do hợp đồng truyền thống ít xem xét đến yếu tố bình đẳng giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng cũng như ít xem xét

đến áplực về kinh tế, xã hội mà các chủ thể này phải chịu – những yếu tố trênthực tếkhiến một trong các bên buộc phải giao kết hợp đồng trái với mong muốn thực của mình.185 Hơn nữa cùng với học thuyết tự do kinh tế (laissez-faire), Tòa án không thể can thiệp để bổ sung nghĩa vụ cho các bên nhằm loại bỏ bất công trong quan hệ hợp đồng mà các bên đã tự do xác lập.186 Hệ quả của chức năng thứ hai của nguyên tắc tự do hợp đồng là bên không có ý định nghiêm túc trong việc giao kết hợp đồng khi tham gia đàm phán có thể sử dụng quyền tự do không giao kết hợp đồng gây bất lợi cho đối tác đã tin tưởng vào hợp đồng sẽ được giao kết.

Hạn chế của nguyên tắc tự do hợp đồng truyền thống xuất phát từ việc nguyên tắc này được xây dựng dựa trên luận điểm tự do ý chí của các bên là tuyệt đối và các bên tham gia đàm phán hợp đồng được giả định là có năng lực, kỹ năng đàm phán, có kiến thức ngang nhau187 cũng như có vị thế bình đẳng với nhau khi tham gia đàm phán hợp đồng nên bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài dù là can thiệp của Nhà nước cũng vi phạm nguyên tắc tự do hợp đồng.188 Tuy nhiên, qua thời gian, cùng với sự phát triển của các quan hệthương mại, các hệthống pháp luật đều nhận thấy việcđềcao quá mức quyền tự do hợp đồng có thể dẫn tới bất công cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng cũng như không bảo đảm mục đích xã hội của hợp đồng bởi trong hầu hết các trường hợp các bên tham gia đàm phán không có vịthếngang bằng vớinhau,189 do đó, bên

mạnh thế có khả năng áp đặt những điều khoản bất lợi,… vào hợp đồng. Nói cách khác là khi các bên không thực sự bình đẳng về kinh tế, về năng lực đàm phán thì tự do hợp đồng chỉ là vỏ bọc tạo nên sự bất công và bóc lột.190

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NGUYÊN TẮC THIỆN CHÍ TRONG PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA DƯỚI GỐC ĐỘ SO SÁNH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *